Thứ Bảy, 11 tháng 11, 2017

* THẾ LUẬT VÀ ĐẠO LUẬT



Từ một ngày bất ngờ, thư gửi đến một xấp tư liệu lý lịch của một vị đầu tròn áo vuông, do ai đó, kèm theo hai câu hỏi về “THẾ LUẬT VÀ ĐẠO LUẬT”.

Thật tình mà nói, xã hội hiện nay, đời và đạo không khác xa nhau mấy, khác chăng là chiếc áo, ngoại trừ những bậc xuất thế đúng nghĩa, ý chí vời vợi, thoát ly trần nhiễm, hình ảnh của những bậc xuất sĩ này không thể so sánh với trần tục.

Nếu những vị đầu tròn áo vuông mà chỉ khác thế tục với chiếc áo, thì ông cha ta gọi là cư sĩ trọc đầu.

Các bậc xuất trần còn mang thân tướng nghiệp báo, luôn tâm niệm:

“Phù nghiệp hệ thọ thân, vị miễn hình lụy. Bẩm phụ mẫu chi di thể, giả chúng duyên nhi cộng thành. Tuy nãi tứ đại phù trì, thường tương vi bội. Vô thường lão bịnh bất dữ nhân kỳ. Triêu tồn tịch vong, sát na dị thế. Thí như xuân sương, hiểu lộ, thúc hốt tức vô; ngạn thọ, tỉnh đằng, khởi năng trường cửu. Niệm niệm tấn tốc, nhất sát na gian, chuyển tức tức thị lai sanh. Hà nãi yến nhiên không quá?”

Nghĩa là: Bởi do nghiệp trói buộc mà có thân, tức chưa khỏi khổ lụy về thân. Bẩm thụ tinh cha huyết mẹ, tạm mượn các duyên hợp thành. Tuy nhờ tứ đại giữ gìn, nhưng chúng thường trái nghịch. Vô thường, già, bịnh chẳng hẹn cùng người. Sáng còn tối mất, chỉ trong khoảng sát na đã qua đời khác. Ví như sương mùa xuân, mốc sáng sớm, phút chốc liền tan. Cây bên bờ vực, dây trong miệng giếng há được lâu bền. Niệm niệm qua nhanh, chỉ trong khoảng sát na, chuyển hơi thở đã là đời sau, sao lại an nhiên để ngày tháng trôi suông vô ích? (do HT Thanh Từ dịch).

Một quyển luận của Thiền sư Linh Hựu ở núi Quy trở thành sách gối đầu giường cho bất cứ ai bước vào chùa làm Tiểu để thọ giới Sa Di. Bốn bộ luật căn bản của Sa Di đã un đúc rèn luyện một tu sĩ bước đầu tu Phật, từ đó, thành thầy Tỳ Kheo đã đủ giới đức tinh nghiêm, hạnh giới vẹn toàn, xứng danh Thích tử Như Lai. Chính vì thế, xa xưa, thầy tổ chúng ta luôn là bậc mô phạm đáng kính, làm giềng mối duy trì Phật chủng cho hàng tiếp nối hậu lai, được gọi là“truyền đăng tục diệm”.
Một người được thẩm thấu kỹ về luật giới nhà Phật khi còn nương náu chốn Thiền môn, cho dù hết duyên với cửa chùa, vẫn là một cư sĩ mộ đạo, ủng hộ Phật pháp, cư trần bất đọa lạc theo dục vọng. Những ai xuất thân từ chùa mà sống không xứng một bạch y cư sĩ thì biết là quá trình ăn cơm chùa mà không tự rèn luyện chí hướng xuất trần.

Thà là ẩn cư nơi trần tục, giới hạnh duy trì được hay không là lợi ích cá nhân tự biết, nhưng một khi mặc áo Như Lai, ngồi nhà Như Lai, ăn cơm Như Lai lại hành theo tà dục, chính những vị này đã phá hoại giáo pháp Như Lai, dẫn đắt quần chúng đi vào con đường ma đạo.

Không chỉ hiện tại mà thời Phật còn tại thế, vẫn không thiếu những Tỳ Kheo sống buông lung, còn đưa ra những luận điệu phóng túng gọi là phương tiện hòa đồng giáo hóa chúng sanh. Đây là ngụy biện!

Ông cha ta có câu: - “Chừng nào củi quế gạo châu, hiền lương thì ít, hiểm sâu thì nhiều.” xã hội ta ngày nay, không còn là củi quế gạo châu nữa, mà danh vọng vật dụng tràn ngập đã lôi kéo những kẻ thế gian phạm tội, trong đạo cũng không tránh khỏi những hình ảnh mượn đạo tạo đời để hưởng dục, mà mắt quần chúng biến mình thành Thánh.

Phật giáo Việt Nam hiện nay là một cơ thể phát phì mà nội tạng sanh nhiều bệnh hoạn khó chữa. Một cơ thể được cung dưỡng tràn ngập mọi nhu cầu thừa mứa, để rồi, cơ thể không còn muốn hoạt động, từ đó bệnh tật dễ phát sinh. Sở dĩ tính thụ động lấn át tính chủ động sáng tạo là vì được cưng chiều, bao bọc quá đáng, chỉ đâu làm đó, thậm chí cầm tay chỉ việc mà làm vẫn không xong; lúc thực hiện nhiệm vụ lại bị tâm phàm chủ động lạm quyền vì lợi dưỡng gây khó cho kẻ khác.

***

Tình trạng PGVN hiện nay nói suốt vẫn chưa hết, nhưng không nói thì ung nhọt càng phát triển. Kẻ bi quan bảo – việc ai nấy làm, ai tu nấy nhờ. Thế uy tín, danh dự của tập thể và đức tin của quần chúng thì sao?

Cái chung chung tuy là vậy, ít đáng ngại, nhưng trong vũng nhầy tiêu cực, luôn xuất hiện nổi trội cái “cực tiêu cực” của con sâu đóm ma mãnh nào đó muốn vượt trội lấn át những tiêu cực khác để thể hiện cá tánh đặc thù được gọi là thiên tài hay Thánh tăng… Biết là có lúc nghiệp vận Phật giáo trong một giai đoạn, tận cùng bế tắt để rồi con đường thông thoáng sẽ xuất hiện –“cùng tất biến, biến tất thông”. Nếu rác rưởi ngập lối đi mà không dọn dẹp liệu con đường có thông thoáng không? Chính sự bế tắt đó cần có chủ trương dọn dẹp mới có con đường thông thoáng.

Đại hội VIII hiện nay đang bước vào giai đoạn quyết định con đường sáng cho nhiệm kỳ tới, tất phải thay đổi cách nhìn và cách sử dụng nhân sự. Sự nghiêm minh công chính sẽ thanh lọc được những thành phần “chạy chọt” leo cao chui sâu vào tổ chức, để mượn chức danh nào đó mà triển khai bè phái và lợi dưỡng.

Hàng chục ngàn Tăng Ni luôn theo dõi diễn tiến Đại hội, nhưng cũng có người bi quan bỏ mặc ngoài tai vì nghĩ rằng có thêm hay bớt vẫn chỉ có thế thôi khi mà cổ máy Giáo hội không đủ quyền tự quyết, không thể hiện tính chủ động điều hành nội bộ.

***

Đọc xấp tư liệu, ngưởi gửi tóm tắt:

Mọi người xem bản lý lịch ngụy tạo của tà sư Thích Chân Quang.
Bản LÝ LỊCH (1) do Chân Quang viết tay năm 2002, kèm theo CMND và Sổ Hộ Khẩu có cùng quê quán ở tỉnh Tây Ninh.

Nhưng khi nộp hồ sơ để xin trụ trì chùa Viên Quang (Nghệ An) thì Chân Quang làm BẢN LÝ LỊCH GIẢ (2) khai quê quán ở tỉnh Nghệ An và tự xung các các chức vụ như:

1) v Viên Nghiên Cứu Phật Học TW.GH.
2) Uv Ban Hoằng Pháp TW.
3) Thành Viên Ban Hoằng Pháp Tỉnh BRVT.

Việc ở ngoài đời, thì mọi người công dân đều có quyền tố cáo những người sử dụng giấy tờ bằng cấp giả, gây hậu quả nghiêm trọng cho dân, cho nước.

Trong đạo thì tất cả Phật tử cũng phải có quyền tố cáo những kẻ đội lốt tu sĩ, mượn đạo tạo đời, phá hoại Phật Pháp.

Mong mọi người chia sẻ rộng rãi để các cấp Lãnh Đạo Chính Quyền và Giáo Hội Phật Giáo VN được biết.

Trong hai bản lý lịch, cùng một tên, cùng một ngày – 15/1/1980, xuất gia tại tu viện Thường Chiếu, Bổn sư HT T. Thanh Từ. Một lý lịch khác, xuất gia cùng ngày 15/1/1980 tại tu viện Huệ Quang, bổn sư HT T. Huệ Hưng.

Cũng 2 bản lý lịch – một cái quê quán tại Tây Ninh – một cái tại Nghệ An là thế nào?

Về thế luật, ngụy tạo lý lịch đã là việc phạm pháp, về giáo luật, không thể chấp nhận sự lươn lẹo từ một nhân thân đầu tròn áo vuông như thế.

Với dụng ý gì để lập lờ đánh lận con đen dối đời gạt đạo mà thủ phạm vẫn nhởn nhơ trước pháp luật và giáo luật?

Trong lý lịch Tư pháp của nước CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 8. Các hành vi bị cấm
1. Khai thác, sử dụng trái phép, làm sai lệch, hủy hoại dữ liệu lý lịch tư pháp.
2. Cung cấp thông tin lý lịch tư pháp sai sự thật.
3. Giả mạo giấy tờ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp.
4. Tẩy xoá, sửa chữa, giả mạo Phiếu lý lịch tư pháp.
5. Cấp Phiếu lý lịch tư pháp có nội dung sai sự thật, trái thẩm quyền, không đúng đối tượng.

Điều 9. Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan trong quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp.
2. Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm phối hợp với Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp…

Luật định nêu rõ như thế, tất nhiên xử phạt cũng phải có. Ngụy tạo lý lịch để làm gì nếu không vì một tà tâm qua mặt pháp luật và dối gạt Giáo hội?

Việc thắc mắc của quần chúng trên đây xin nhường lại cho những ai quan tâm đến, nhất là giáo hội hiện nay đang cân nhắc đề bạt nhân sự. Những nhân sự như thế lọt vào Giáo hội chắc chắc Phật giáo sẽ không yên, vì giới lãnh đạo hoặc quá hiền hoặc thụ động cả nể sẽ khó mà kiểm soát những cao thủ ma mãnh như thế.

***

Trở lại chí hướng xuất trần của những bậc thoát ly tam giới còn đang cư trần bất nhiễm trần, cổ đức có khuyên:

 Siêng năng quét sạch đất chùa
Để cho trí huệ bốn mùa phát sanh
Tuy ngày không có khách lành
Thánh nhơn thường đến kinh hành nơi đây.

Đất chùa siêng năng quét sạch mà còn được Thánh nhơn đến viếng thì tâm quét sạch “tam độc” lẽ nào chư Long thiên hộ pháp không gia trì?

Cũng thế, một tập thể trong sáng thì chắc chắn GHPGVN sẽ phát triển không ngừng và là chỗ dựa vững chắc cho niềm tin quần chúng giữa cõi hồng trần khổ đau hiện nay. Có thế, sự ủng hộ của xã hội tương xứng với nhu cầu mà Tăng Ni đang cần có.


MINH MẪN
11/11/2017

2 Tệp đính kèm
 

* GÁC KIẾM GIANG HỒ




Một chiều, sau ngày Đại hội Thành phố, gặp một tu sĩ đứng tuổi, qua ly nước khoáng trong veo, hai bên trao đổi với nhau rất nhiều điều về nội tình Phật giáo, rất cởi mở, chân thành.
-         Hỏi: – giờ thầy đảm nhiệm chức vụ gì trong Giáo hội?
-         Đáp: Từ chức tất cả để lo việc tu dưỡng và giáo hóa quần chúng. Đóng góp bao nhiệm kỳ rồi, nhường lại cho giới trẻ. Mục đích người tu là tìm con đường giải thoát. Phật sự chỉ là giai đoạn góp phần chấn hưng tổ chức Giáo hội. Mình say mê Phật sự đôi lúc đi lạc mục đích của người xuất gia lúc nào không biết.
Đúng vậy, có những vị như HT trưởng BTS Bến Tre từng xin từ chức để lo tu tập, Tăng Ni không ai đồng ý. Ngược lại không thiếu những vị đạo chúng ngán tới cổ mà vẫn không chịu từ chức. Tại vị vĩnh viễn mà chẳng giúp cho đạo phát triển thêm, làm khổ gây khó Tăng Ni, thế mà Giáo hội Trung ương đành bó tay để rồi Phật sự đình trệ.

Những bậc chân tu, không thích địa vị, danh lợi; do Tăng sai phải gánh vác Phật sự, lúc xong việc, ngoảnh lại tóc chớm bạc nên cố chối từ để tìm con đường tiến hóa tâm linh.

Ngài kể tiếp: - Anh còn nhờ một tay giang hồ quốc tế, cướp từ nước ngoài đến trong nước, đã tỉnh ngộ buông bỏ thế tục, xuất gia tu tập chuyên cần trên ngọn núi Thị Vải? Buông dao thành Phật là thế đấy. Tại sao mình là được mệnh danh là “chúng trung tôn” là “trưởng tử Như Lai” còn tham quyền cố vị trên danh vọng hảo huyền? Làm sao dạy đồ chúng?

Hy vọng, tất cả các Ht trưởng BTS nên nhường lại việc lãnh đạo cho giới trẻ năng động, có thế Phật giáo chúng ta mới phát triển đầy sáng tạo.

Một tên cướp ngoài thế gian còn biết quay đầu, chả lẽ người tu không tự giác ngộ câu: Vô thường lão bịnh bất dữ nhân kỳ. Triêu tồn tịch vong, sát na dị thế.

 Cái thân sớm còn tối mất hà huống chiếc ghế BTS hay chức vụ hảo danh từng gây phiền não, tìm cách đối phó để duy trì quyền lợi, đấu đá lẫn nhau, đến khi kết thúc, kẻ thắng lo sợ, kẻ thua thù hận thì đời cũng đã sắp tàn, nghiệp lực mang theo qua thế giới khác.

Thế mà mấy ai chịu “gác kiếm giang hồ” trong cuộc sống giả tạm, thân mạng đầy bệnh hoạn, tâm thức đầy hạt giống xấu, sử dụng đồng tiền cúng dường đổ vào chỗ không có lợi gì cho tiền đồ Phật pháp. Nhân xấu ấy cứ đeo mãi khi quên mình là Thích tử Như Lai.

***

Tâm sự không quá một tiếng, nhưng bộc lộ nỗi ưu tư của một vị chân tu trước thế sự và đạo nghiệp nhiễu nhương hiện nay. Bóng nắng tàn, màn đêm phủ dần cuộc sống, nhuung cuộc sống vẫn tiếp tục sôi động như sự sôi động của những tâm trạng đang chạy chức chạy quyền trong Đại hội VIII, nhiệm kỳ 2017-2022 mà nhiệm kỳ trước chưa được chen chân vào.


MINH MẪN
11/11/2017
Vùng tệp đính kèm

Thứ Năm, 9 tháng 11, 2017

* NỖI NIỀM TRĂN TRỞ




Sau Đại hội Phật giáo Thành phố, chuẩn bị chưa đầy 10 ngày nữa là Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc nhiệm kỳ 8 năm 2017-2022, tại Hà Nội.

Trong cuộc gặp hành lang, một số vị Tôn túc vẫn còn ưu tư cho tiền đồ Phật giáo khi mà tổ chức Giáo hội hiện nay còn quá cồng kềnh, nặng về hình thức mà chưa chu toàn đúng mức về nhân sự trong 13 ban ngành thuộc hệ thống Giáo hội.

Hẳn nhiên từ từ cũng sẽ thay đổi, nhưng thay đổi từ từ là bao lâu thì chưa ai quyết đoán được, vì còn bị ràng buộc bởi những cơ chế chằng chịt thiếu thông thoáng. Đứng về mặt tổ chức có dung mạo tầm vóc quốc tế thì Phật giáo Việt Nam hiện nay cũng đã có thế đứng và niềm tin đối với một số quốc gia Phật giáo; nhưng thật tình mà nói, do một bộ phận ngoại giao quốc tế được chỉ đạo sắp xếp bài bản để Phật giáo Việt Nam mạnh dạn bắt tay và tạo niềm tin với các quốc gia bạn, Điều này khỏi phải bàn.

Trở lại nội tình qua những nhiệm kỳ vừa rồi, Giáo hội có vài tiến bộ, nhưng tiến bộ không có nghĩa thay đổi chủ trương và cung cách bố trí nhân sự. Cứ 6 tháng đầu năm, 6 tháng cuối năm họp bàn rút tỉa kinh nghiệm, lắng nghe phản ảnh, không có nghĩa tất cả đều được tiếp thu và thực hiện. Chỉ riêng thành phần nhân sự từ Trung ương đến các địa phương, một vài khâu cứ như dẫm chân tại chỗ.

Đại hội Phật giáo Thành phố vừa rồi, vẫn còn vài quận huyện chưa tổ chức Đại hội, nội tình còn nhiều mắc mứu, buộc lòng Thành phố phải thông qua để hoàn thành nguyên tắc hành chánh chuẩn bị cho đại hội toàn quốc. Không riêng Thành phố, ngay cả một số tỉnh thành vẫn phải thông qua đại hội cho dù một vài quận huyện chưa có đại hội chính thức.

Địa phương đã như thế, Trung ương cũng gặp những trở ngại ở một số tỉnh thành đến nay chưa hoàn tất thủ tục tổ chức Đại hội, có nghĩa Đại hội Phật giáo toàn quốc là cổ xe buộc lòng phải cán qua những chướng ngại vật của chính tổ chức mình để tiếp tục tiến đến chương trình hoạch định trước cả năm.

Hiện nay, Phú Yên và Hải Phòng là hai Tỉnh gặp nhiều khó khăn trong nội tình Phật giáo, vẫn chưa tiến hành Đại hội. Giáo hội hiện nay chưa có một quy định nghiêm túc cho một vị lãnh đạo đầu ngành cấp tỉnh hay cấp quận, huyện với thời gian cho một nhiệm kỳ nhất định. Thiết nghĩ, một vị trưởng Ban trị sự đảm trách hai nhiệm kỳ là quá đủ. Tăng Ni trẻ tốt nghiệp học viện ra trường ngồi chơi, trong khi đó, có vị đảm nhiệm chức trưởng ban tại vị suốt đời mà chả thay đổi được bộ mặt Phật giáo địa phương. Tỉnh Bình Phước, HT Nhuận Thanh là một vị thế bất khả chuyển nhượng. Ngoài những đệ tử, khó ai có thể xen vào sinh hoạt cho dù những vùng xa xôi, vì thế mà Tin lành có đất phát triển. Đó là một ví dụ, hầu như đa số các tỉnh có những vị lớn tuổi làm trưởng BTS đều củng cố địa vị bằng tay chân thân tín như thế. Dĩ nhiên Tăng Ni trong tỉnh để được yên thân, không ai dám lên tiếng. Từ đó suy ra, hiện nay một số tỉnh chưa hoàn tất Đại hội cũng do nội tình tranh chấp, bất khả chuyển nhượng.

Với tuổi đời và tuổi đạo, các ngài nên lui về an trú tu tập để giáo huấn quần chúng, nhường lại cho tuổi trẻ năng động và sáng tạo góp phần phát triển Phật giáo nước nhà. Một khi các bậc cao niên mãi lo quyền lực địa vị thì hậu phương tất yếu trống vắng việc hành trì làm bóng mát cho đồ chúng, từ đó, Phật giáo chỉ còn lớp vỏ hào nhoáng, thiếu sức sống từ đạo lực miên mật mà chư Tổ xa xưa đã từng.

Định chế trong Hiến chương và pháp quy trong Giáo hội đã có một khoản trống quy định nhiệm kỳ có thời hạn để Phật giáo được thay da đổi thịt, chính vì thế mà các ngài tại vị vĩnh viễn. Từ cái vĩnh viễn đã tạo sự rạn nứt nội bộ trong BTS cấp tỉnh. Ngày càng tỏ ra sự bất lực trong vấn đề giải quyết nội bộ mà HĐTS chưa thể hiện được giáo quyền cần có. Một tổ chức dù thế gian cũng không thể có sứ quân một vùng, hà huống Phật giáo là tôn giác tự giác, xem đời là giả tạm thế mà ngôi vị quyền lực của BTS lại là vĩnh viễn có thật.

Cũng chưa muộn để Giáo hội duyệt xét lại nhân thân của từng vị đảm nhiệm chức vụ, tuổi tác, uy tín, đạo hạnh trong tôn giáo là điểm cơ bản khác với thế tục. Muốn Phật giáo lớn mạnh, gần 40 năm đủ để mạnh dạn thực hiện thay ngôi đổi việc những vị không làm tròn nhiệm vụ trong 2 nhiệm kỳ hoặc tạo mất đoàn kết trong tổ chức, hoặc đứng đầu một ban ngành quan trọng mà nhân thân chưa trọn giới đức. Có thể hiện giáo quyền thì công việc Phật sự mới trôi chảy. Tính cả nể chỉ tương nhượng trong gia môn , khi ra công đường phải tuân thủ giáo luật.

Hẳn nhiên còn rất nhiều vấn đề phức tạp hiện nay trong nội tình Phật giáo, từ Trung ương đến địa phương, quyết tâm thay đổi vẫn có thể vượt qua những chướng ngại đó, vì một tương lai cho PGVN xứng tầm quốc tế, mong HĐTS xắn tay vào việc.

Đại hội Phật giáo toàn quốc nằm trong thời điểm thiên tai tại các tỉnh miền Trung và phía Bắc. Chương trình đã hoạch định trước cả năm nên không thể thay đổi, tuy nhiên, việc cứu trợ vẫn được một số chư Tăng, Phật tử tiếp tục góp phần xoa dịu niềm đau nỗi khổ cho đồng bào.

Thực hiện hoàn chỉnh nhân sự trong Đại hội song song với việc dang tay cứu trợ thiên tai đều là nhiệm vụ của người con Phật, Chắc chắn, sau Đại hội toàn quốc, những lợn cợn tại một số tỉnh thành sẽ được giải quyết dứt điểm, để tránh làm tiền lệ cho những Phật giáo tỉnh thành khác về sau.


MINH MẪN
08/11/2017

Chủ Nhật, 5 tháng 11, 2017

GƯƠNG SÁNG - KỲ 14


* PHẬT SỰ- PHÁP SỰ - NHÂN SỰ





Theo Phật Quang đại từ điển:
 "PHẬT SỰ" có nghĩa là "Lập địa". Việc Phật. Phàm các việc làm nhằm phát huy đức của Phật, gọi là Phật sự.
Theo kinh Duy Ma quyển hạ thì đức Phật đối với tất cả mọi việc đều xem là Phật sự, đó là biểu thị đức tính của Phật. Thiền tông dùng từ ngữ này để chỉ cho những việc làm nêu cao Phật pháp, như khai nhãn, an vị, niệm hương, thượng đường, nhập thất, phổ thuyết, dạy chúng... đều là Phật sự. Đời sau gọi chung những nghi thức được cử hành trước bàn thờ Phật là Phật sự.
"PHÁP SỰ" cũng gọi là Pháp yếu, Phật sự. Chỉ cho các việc làm có liên quan đến Phật pháp như tụng kinh, giảng kinh, trai hội... hoặc chỉ cho sự tu hành.
Pháp trụ ký (đại 49, 14 thượng) nói: "Nay ở trong chánh pháp của đức Phật Thích Ca Mâu Ni làm các pháp sự, để gieo trồng mầm lành".
                                                               ***
Như thế, ngày xưa, công việc làm Đạo chưa phát triển nhiều mặt, chủ yếu hành trì, hoằng dương, nếu có những việc ngoài ranh giới đó, có tính phát huy Phật pháp, cũng đều được gọi là Phật sự hoặc Pháp sự.
Ngày nay, thực hành những việc liên quan trực tiếp đến Tam Bảo thì đều gọi là "Phật sự". Những việc khác như từ thiện xã hội, công quả, xây nhà, đóng giếng, làm cầu, tạo mãi, đắp đường, giáo dục, giúp đỡ người tàn tật, mở trại cô nhi dưỡng lão... được xem là "Pháp sự", hay còn gọi là "Đạo sự".
Nếu cùng một hình thức hành sự như trên nhưng với tâm mong cầu, ý đồ bất thiện, thì gọi là "Thế sự", vì không có bản chất của đạo đức.
Việc lẫn lộn từ "PHẬT SỰ, PHÁP SỰ" lúc đầu do khởi tâm trong sáng, dần dà, nhiễm ô bởi lợi danh, đưa đến việc làm thế sự là điều không tránh khỏi nếu người hành sự thiếu cảnh giác trong mọi lúc. Những người hành sự gọi chung là "Nhân sự".
"Nhân sự" trong một tổ chức, một đoàn thể, đảm trách nhiều nhiệm vụ khác nhau, gọi chung là "Chức sự". Từ Tôn giáo đến chính trị, từ học đường đến xã hội... bất cứ tổ chức nào đều không tránh khỏi sự biến thái lệch lạc, do tâm bất định, do "Tham Sân Si" chủ động, do vọng tưởng lệch lạc nên đưa đến con đường xa với mục đích ban đầu.
Xưa có câu - "Nhất niên Phật tại tiền, Nhị niên Phật trung thiên - Tam niên Phật xuất thiên". Nghĩa là năm đầu tiên tu Phật thì luôn thấy Phật trước mắt, qua năm sau thấy Phật  lơ lững giữa tầng mây, rồi năm thứ ba trở đi không còn thấy Phật nữa mà thấy toàn chuyện phù phiếm thế tục.
Việc hành trì "Pháp mạch" cũng thế, khởi đầu là phát tâm tiến tu giải thoát, quá trình nhiếp tâm vào định, do nghiệp thức tác động, hiện tướng ma tâm, hoặc hoan lạc, hoặc hỷ xả, thể nghiệm cảnh giới an lạc, trang nghiêm... hành giả không đủ kinh nghiệm của 50 ấm ma trong kinh Lăng Nghiêm cảnh báo, dễ sa lầm cứ ngỡ là chứng đắc; bám vào thể nghiệm đó chắc chắc bị lạc dẫn vào ma ấm. Lúc bấy giờ do tâm định trợ lực nên năng lực ngũ ấm ma phát tác mạnh và hiệu quả trong mọi mưu chước, tạo thanh thế, uy tín cho  hành giả, đó là lúc hành giả trở thành quyến thuộc, con dân của ma lực. Nơi đây thuộc lãnh vực hành chứng, chúng ta không đào sâu; chỉ chú trọng vào công việc Pháp sự mà những người có nhiệm vụ thực hiện cần tự cảnh giác.
Đường lối, chủ trương của một tổ chức như Tôn giáo, mục đích luôn tốt đẹp đi đến hoàn thiện. Tổ chức như thế, việc sử dụng "Nhân sự" là điều không thể y cứ vào công trạng, vào lý lịch, vào tình cảm, vì lợi tức, hay vì phe nhóm mà công cử. Đối với Phật giáo chúng ta ngày nay, điều này hơi tùy tiện. Mặc dù cơ bản nhân thân trong Phật giáo quan trọng là luật giới, là thân giáo, là ý tưởng và khẩu thuyết. Chư Tổ xa xưa truyền giáo cho môn đồ, người thân cận như thị giả chưa chắc đã được tiếp nhận "mạch pháp" của thầy,  trường hợp Thần Tú và Huệ Năng đủ chứng minh. Ngày nay, việc giao nhiệm vụ thực hiện Phật sự, Pháp sự có vẻ tùy tiện, do vậy, đưa đến những tác phong thiếu nghiêm túc, làm lệch nhiệm vụ, tạo mất uy tín cho tập thể.
Nhân sự đứng trên cương vị càng cao, thẩm quyền càng lớn, càng dễ sa ngã bởi tâm tham dục, tâm ngã mạng ngầm phát triển. Cùng một việc làm, nếu vô tư thì việc chỉ đạo có khác hơn khi không bị tình cảm, thành kiến, lợi nhuận xen vào. Và người nhận nhiệm vụ, đừng nghĩ đến quyền lợi, thì tâm phục vụ sẽ đạt hiệu quả tốt. Nói thế chứ hiện nay Nhân sự Phật giáo không nhiều thì ít cũng đã bị quyền lợi ám ảnh nên có hiện tượng tranh chức chạy quyền, đấu đá nhau không thương tiếc.
Thế gian học để có văn bằng vào đời kiếm cơm, đó là kẻ đi làm thuê, nếu học để mở mang kiến thức, sáng tạo thì đó là người có óc lãnh đạo. Cũng thế, một tu sĩ học rộng hiểu nhiều, giới đức tinh nghiêm là người có tâm hoằng truyền Chánh pháp. Ngược lại, học vì quy chế của giáo hội sau này ra trụ trì, được phép nhận đệ tử, chọn cảnh chùa để nương thân qua ngày đoạn tháng, là người an phận thủ thường. Tuổi hạ giúp trao dồi giới đức là bậc "phát túc siêu phương", đi nhập hạ để đủ tuổi Đạo theo định chế của Giáo hội hầu được công cử đảm nhận chức việc chỉ là cán bộ của tôn giáo, dĩ nhiên lợi dưỡng sẽ theo đó mà phát triển; Danh-Lợi-Tình không chóng thì chày sẽ nhận chìm nhân sự đó vào cõi vô minh.
                                               ***
Trên 30 năm hiện hữu một GHPGVN, trải qua bao thăng trầm, học được lắm bài kinh nghiệm thành công và thất bại, thế nhưng, việc tuyển chọn nhân sự vào các chức vụ trong 13 ban ngành của Giáo hội vẫn là chuyện chưa đạt tiêu chuẩn: ĐÚNG NGƯỜI – ĐÚNG VIỆC – ĐÚNG TÀI – ĐÚNG KHẢ NĂNG và CÓ GIỚI ĐỨC. Những bậc chân tu và chuyên tu, thường họ sống lặng lẽ, cách xa một tổ chức bát nháo. "Con đường danh lợi cong cong, kẻ trông ra khỏi người mong bước vào", luôn đúng với thực tế.
Muốn một tổ chức lớn mạnh, vững chắc và hoạt động hiệu quả, Nhân sự vẫn là yếu tố quan trọng. Hiến chương GHPGVN hiện nay, việc tuyển dụng Nhân sự "vượt tuyến" là điều bất khả thi. Kế thừa chủ quản đầu ngành vẫn là phó trực. Chính đó là con đường tiến thân để những ai còn tham vọng tranh thủ lên chức "phó trực". Còn bao vị giới đức tinh nghiêm chưa được trọng dụng, đành nằm trong tay kẻ trên nhiều bất tịnh; một tổ chức như thế làm sao hoạt động hiệu quả và lớn mạnh. Tổ chức Giáo hội hiện nay chủ yếu duy trì hình thức sinh hoạt hơn là cần một tổ chức nhiều sáng kiến năng động để phát triển Phật giáo. Như thế đừng thắc mắc tại sao ngoại đạo phát triển mạnh ngay trong lòng tín đồ Phật giáo mà các sư vẫn an phận chức vị và thừa hưởng sự hỷ cúng của một số tín đồ  còn mang cặp kính màu xanh.
                                           ***
Tháng 11 năm 2017 đủ một chu kỳ 5 năm tái cấu trúc Giáo hội, dĩ nhiên, Nhân sự cũng đã được an bài để Đại hội chỉ làm thủ tục hành chánh chứ không công khai công cử, nghĩa là công khai Nhân sự chứ không lấy ý kiến về những Nhân sự "Đảng cử dân bầu" như ngoài xã hội. Thời gian này, ban tổ chức nên xét lại một cách công tâm để tuyển chọn Nhân sự xứng đáng với chức vụ và đạo đức, tài năng. Không chỉ đất nước đang hội nhập thế giới, Tôn giáo như đạo Phật cũng từng bước có mặt trên một số quốc gia châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, đòi hỏi nhân tài thật sự của một cán bộ năng động chứ không cần một nhân sự cần mẫn nghiêm túc thừa hành mệnh lệnh như lâu nay. Và dĩ nhiên, ngoài nhiệm vụ đối với Giáo hội, nhân thân cần tinh nghiêm giới đức, không chỉ làm gương cho tín chúng mà còn là hành trang cho lai sanh khi nhân thân quả mãn.
Tứ chúng hiện nay đang mong có một tổ chức Phật giáo vững mạnh và trong sạch, tự quyết và sáng tạo. Một Giáo hội chủ động hơn là thừa hành.
Ngưỡng mong cho một Đại hội có nhiều thay đổi!

MINH MẪN
03/11/2017


Thứ Sáu, 3 tháng 11, 2017

* ĐIỆU NHẠC KHÔNG LỜI



Ngày xưa ấy, không xưa như chuyện cổ tích,  vùng đất cát về miền Thùy dương, xứ sỏi đá, mọc hoa sen trắng, phúc báu người,  nhân giống lan tỏa miền Nam.

Chẳng bao lâu, pháp quyến nở vạn nhành hoa nơi đất lạ quê người. Bóng đại thụ chở che chồi non ấp ủ.

Rồi, thời gian lặng lẽ in bóng cổ thụ trên khung bạc rừng xanh.

Ngỡ tưởng thầy trò sum vầy sưởi ấm cỏ hoa nơi vùng đất mới.

30 năm ấy, 30 năm chai nắng - lỳ sương, cỏ dại nhường cho cây xanh tỏa bóng, trưởng dưỡng những chồi non thành thạch trụ Thiền môn, cũng từ đấy, tỏa lan ánh vàng khắp đất nước ba miền. Bước viễn hành trợ duyên bởi niềm tin cội "thông già" soi bóng.
Nhưng, mùa thu thay lá vàng, cảnh chiều buông; trời không sấm mà sét âm vang dội đến, tin buồn người thị tịch an nhiên;

Người an nhiên hướng về lạc cảnh, đóa sen hồng tỏa ngát hương từ bi.

Như gà con nháo nhác bầy đàn, sự thật vẫn là sự thật, dù ai đó ngỡ cơn mộng huyễn!.
Thế là, bếp lạnh thật ư?

Tro tàn còn ấm những niềm tin thổn thức.

Chiều sắc đỏ,  mây giăng phủ kín, phủ kín hồn người loang bóng ân sư;

Người ra đi thật rồi!

Cố hương thương nỗi nhớ, thuyền Bát Nhã thoáng hiện cõi Chân như.

Đàn con dại thẩn thờ nương tâm giới, đáp đền ân trọng nén định hương, thổn thức nhạt nhòa tứ chúng thầm nuốt lệ.

Thầy trên cao soi bóng con hạ giới. Thầm tưởng ân đức xưa, giòng sôngTừ rửa sạch ghiệp ba kỳ, con trẻ  núp bóng "Long tượng", gọt sạch tâm phàm học đòi Thánh chủng. Ngỡ chừng "tuyệt đỉnh vô chung", nhưng sông sâu có ngày cạn kiệt.Phước nghiệp vô thường đâu tránh khỏi chia ly.

Rồi từ đây, sự thật vẫn luôn là sự thật, chúng đệ tử đối diện cuộc ly tan.

Tưởng lại rằng, xưa kia miền Trung sỏi đá, đạo hạnh chớm nở trên đất phương Nam; Ngàyđêm tinh chuyên định lực, để PhướcHoa, PhướcLạc lâu dài tuhọc, giới định huệ theo gót chân thầy, hầu tỏ rạng tâm Phật.

Nào ai ngờ, đất trời ảm đạm, Thu rãi lá vàng chôn kín nỗi tiếc thương!

MINH MẪN
02/11/2017

(Tưởng nhớ tôn sư thượng Thông hạ Quả ngày đại tường!29/9 Đinh Dậu)




Thứ Tư, 25 tháng 10, 2017

* LỖI MỘT KIẾP NGƯỜI



1./- Dậy đi con - ông Khánh đánh thức lũ trẻ; bên ngoài trời còn mờ sương của núi rừng.

Mặc dù được bố báo trước mấy hôm, cha con sẽ về thăm quê sau nhiều chục năm định cư ở nước ngoài. Lũ trẻ chưa muốn rời khỏi giường, cố nấn ná như đang tiếc nuối giấc mộng vàng vào lúc tàn canh.

- Đi sớm vậy bố - miệng nói, mắt vẫn nhắm để giấc ngủ được tiếp tục, thằng cu cố liếm ngón tay như tiếc vị ngọt của cây cà rem còn dính trên mấy đầu ngón trong giấc mơ.

- Đi sớm kẻo lỡ chuyến bay, mình còn qua nhiều chặng đường. chả biết phương tiện di chuyển ngày nay trong nước mình có khá hơn không! Ông Khánh lẩm bẩm tự nói chỉ để mình nghe.

2./- Mặc dù tuổi đã xế chiều, cảm giác về quê thuở thiếu thời mỗi lần đi xa trở về, đến bây giờ vẫn không khác; hồi hộp, nôn nóng, bao ý tưởng đẹp xuất hiện trong đầu; nào là mấy chú sẽ ra tận sân bay với lũ cháu chen lấn khách đón người thân. Họ sẽ nhón gót lên nhìn từng người tay xách nách mang hành lý từ bên trong ra dần ngoài phòng chờ đợi. Rồi lũ trẻ sáng mắt nhìn từng món quà từ phương xa, được gọi là đồ ngoại có giá trị gấp đôi đồ nội. Vâng, hình như "ngoại" luôn thân thiết hơn "nội" thì phải. Thuở nhỏ, mình cũng được gần gũi với ngoại hơn, được ngoại cưng chiều và dành cho những món ăn ngon - ông Khánh nhớ lại thuở bé.

Ông Khánh nhìn cảnh vật nào cũng dễ thương, từ con trâu ngoài đồng đến chái tranh xiêu vẹo nhưng tràn đầy sức sống, giòng chảy hiền hòa của sông Hương hay chiếc cầu sắt Đông ba, thôn Vĩ Dạ cũng mang hình ảnh cổ kính. Cứ thế mà ông Khánh tin vào bản lãnh của mình khi rời mảnh đất thân yêu, bước vào xã hội xa lạ nơi chân trời viễn mộng. Ông Khánh rời quê từ tờ mờ sáng, mệ ngoại bó cho gói cơm vắt và nắm muối mè; đường làng cũng đã có người gồng gánh ra chợ, nhà nông vác cày, dắt trâu ra đồng. Không khí tinh mơ thơm mùi cỏ non, rơm rạ, đất sét, tre làng và nước sông phảng phất. Xa gia đình đi tìm sự nghiệp, trải qua nhiều tỉnh thành; nơi quê nghèo mà cứ mỗi năm có lụt, nước mấp mé gầm giường, Ông Khánh không quên được, dù đang sống trên xứ người, thi thoảng hình ảnh đua nhau bắt chuột đồng, chính phủ Ngô Đình Diệm ra giá, cứ 100 đuôi chuột sẽ lãnh 10 đồng (thời giá 1958). Khánh lội lõm bõm theo lũ mục đồng; nước lúp xúp nửa ống chân, chủ yếu lội nước cho vui chứ Khánh có bắt được gì đâu. Trong khi đó ở nhà, mệ ngoại vất vả vì đống củi ướt; mỗi lần nấu nướng là khói xông mù mịt khắp nhà. Ôn ngoại phụ mệ bê mấy tấm mẹt lên cao để những lát khoai mỳ (sắn) khô khỏi ngấm nước. Lúc về, sợ ngoại rầy, Khánh nhặt được con cá trê chết kẹt trong gốc rạ, khoe đã đi bắt cá thay vì bắt chuột như lúc xin đi. Ngoại nhìn, cái miệng móm mém trầu còn dính màu đỏ hai bên khóe, nói - cha mi, cá chết lượm về còn khoe. Nét hiền từ và giọng trìu mến đối với đứa cháu ngoại mồ côi, ông Khánh cảm thấy ấm lòng suốt thuở nhỏ sống nơi quê, gần miệt Sịa.

Cứ thế, những kỷ niệm ấu thời trôi qua ký ức mỗi khi nhớ về quê hương. Bươn chãi với mưu sinh, tha phương lập nghiệp, thế nhưng, ông Khánh không bao giờ bỏ giọng Huế. Những lúc vào Nam sinh sống, dịp Tết ông hay về thăm ngoại, vài món quà mọn cũng làm cho ôn mệ vui. Biết Khánh về, chòm xóm cứ đến đầy nhà nhìn như người hành tinh vừa xuất hiện, đua nhau hỏi han mà ông Khánh không tài nào nghe hết, người miền quê là vậy. Nghe Ngoại thường khoe với bà con chòm xóm - thằng nhỏ có hiếu, sống xa gia đình mà luôn nhớ ôn mệ, lại không ăn chơi sa đọa như bầy trẻ Sài Gòn...

3./- Theo tàu vượt biên đã hơn hai mươi năm, thời gian đầu chưa quen ngôn ngữ, chưa hội nhập tập quán với cư dân địa phương, ông Khánh cảm thấy khó khăn và có lúc thối chí, muốn quay về lại quê nhà. Được các tổ chức thiện nguyện giúp, ông Khánh có việc làm, tối về đi học ngoại ngữ miễn phí, nhờ môi trường này, ông quen với "O" đồng hương, họ tự nguyện đến với nhau rồi ra county làm giấy kết hôn. Thấp thoáng thế mà đã 38 tuổi, ông thầm nghĩ, cái tuổi này ở quê mình chắc gì đã ổn định cho cuộc sống, trên đất khách quê người, tuy  trắng tay nhưng chắc gì vẫn hoàn tay trắng. Ông tự nhủ, tương lai còn sáng. Con đầu lòng ra đời một năm sau đó. "O" vợ được công ty cho nghỉ dưỡng, chẳng những thế, quản đốc còn cho người mang quà mừng cháu bé, bạn bè đồng nghiệp cũng chia vui. Ông Khánh ngạc nhiên về sự đối đãi của người không cùng giòng máu; họ đã đùm bọc, cưu mang bao nhiêu gia đình xa lạ, họ săn đón nhiệt tình mỗi khi thuyền nhân cần. Không khí gia đình đầm ấm hẳn, giờ đã quen với nếp sống mới.

4./- Những năm trước về thăm quê, bà con giòng họ tấp nập nhộn nhịp từ sân bay, thuê xe nhiều chỗ tháp tùng về đến làng. Ông Khánh nhìn từng ngôi nhà, từng lũy tre, từng con trâu thong dong gặm cỏ, từng "O" gánh bánh bèo bột lọc, cơm hến ra phố, gánh bún bò Huế bốc khói thơm lựng, nổi lềnh bềnh nước đỏ sẩm trông bắt mắt, lâu rồi ông Khánh chưa được biết mùi vị món ăn địa phương. Những cảnh tượng đó như hương vị đậm đà thẩm thấu vào da thịt mình; ông hít thật sâu khí hậu trong lành, hương lúa chín từ hai bên đường ruộng phả vào tóc, vào mặt như len vào cả người ông, ông lẩm nhẩm - Ôi quê ta, hơn 10 năm xa cách! Ông cảm thấy thiếu vắng những tà áo dài cổ truyền mà ngay cả mụ buôn ve chai cũng lướt thướt với đôi quang gánh. Sinh hoạt cũng từ tốn, người dân trông cứ như có cái gì trơ trọi trên người!

 Hai giờ sau, từ phi trường Hội Bài về đến làng, Thanh Hà là ngôi làng nghèo nhất huyện Quảng Điền, vùng đất trũng thấp luôn ngập úng vào mùa mưa. Các xã lân cận mọc lên nhiều mái ngói đỏ. Đường từ Bao Vinh về, nhà ngói Thanh Toàn, hai lò nung gạch vẫn còn vươn khói. Cảnh vật không thay đổi mấy. Giòng sông chảy từ bờ Đông Ba xuống làng để trôi ra biển, vẫn màu xanh đục. Những rặng tre vẫn rũ bóng bao bọc khu làng trầm lắng. Cây đa đầu làng phủ tàng che mát ngôi miếu cổ, nơi mà thuở bé, ông thường trốn ngoại giờ trưa, ra đánh đổng với lũ trẻ cùng trang lứa. Cội hoa dại thu mình bên góc miếu không còn nữa.

5./- Cậu Tư  đó sao? Ôi sao mà tóc bạc hết nhìn không ra, hơn 10 năm trước, cậu tiễn con ra bến đò, vào Sg, trông cậu còn nhanh nhẹn trẻ trung thế mà giờ đây... Ông Khánh kinh ngạc nhìn hết người này đến người nọ, trông ai cũng sa sút sức khỏe, nét phong sương cơ cực sạm nắng trên khuôn mặt lộ rõ má hóp sâu làm nhô cao hai xương gò má, chìm sâu cặp mắt phờ phạc.

- Con bảo sao sung sướng như dân nước ngoài được, xưa kia quê mình tuy độn khoai sắn khô, cơm vẫn còn dính đáy nồi, giờ chỉ có bột mỳ, bo bo, không đủ ăn; làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm mà còn chưa no. Hợp tác xã không phát triển được, nhân công trẻ cũng 10 điểm một ngày, già ra đồng ngồi chơi xơi nước cũng 10 điểm một ngày, con nít phụ nữ , thanh niên ra đồng đều bình quân đầu người 10 điểm hết. Cán bộ ngồi không để chấm công cũng được 10 điểm. Mình có sức phải gồng gánh cho những người yếu, tất cả đều là bà con trong làng mình chứ có ai xa lạ đâu con. Rồi ma chay giỗ chạp trong làng, hết nhà này đến nhà khác, tuần nào cũng phải đi mấy đám, gần cuối năm lại thêm cưới hỏi, làm sao có dư. Những lúc vắng mặt ngoài đồng đều bị trừ điểm... cậu Tư than thở!

- Không được, xã hội như thế ta cũng phải giảm bớt thủ tục rườm rà. Quy định nhà nước không theo tập quán của dân thì dân phải thu xếp tục lệ cho tương thích với chính sách nhà nước. Theo con nghĩ, bà con mình giảm bớt ma chay giỗ chạp, một năm dồn chung làm một ngày, gọi là hiệp kỵ, vừa đỡ mất thì giờ, vừa bớt phần tốn kém... Đám cưới cũng thế, trong làng bao nhiêu đám, đăng ký tổ chức tập thể, tiện lợi thời gian và tiền bạc.

- Ơ hay, tập tục ông bà xưa nay mà con bảo giảm bớt sao được. Không sợ ông bà quở? Còn đám cưới cũng phải chọn ngày giờ thich hợp tùy tuổi tác của đôi lứa chứ. Con không thể đem cách tổ chức máy móc từ nước ngoài về áp dụng cho làng quê được.

- Mấy em học hành thế nào cậu?

- Chúng nó, đứa đang học phổ thông cấp ba, đứa học cấp hai; học cho có học chứ chả ra gì đâu con. Chương trình giáo dục chả hiểu thế nào mà về nhà chả thấy đứa nào ôn tập; suốt ngày ngoài giờ ở trường, về nhà là chúng lêu lỏng... cậu Tư than vãn.

- Thế là không được, cậu phải tịch thu hết phương tiện giải trí, xe máy; cho chúng đi bộ đến trường; ngày xưa tuổi cậu và con có được sướng như thế đâu. Đi học về là phụ giúp việc nhà, để ở không mà sanh tệ. Tập cho chúng canh tác quanh nhà, kiếm thêm nghề mà học...

- Mỗi thời đại mỗi khác con ơi, không thể đem cuộc sống xa xưa áp dụng thời nay được. Mình không thể sống khác biệt với xã hội bên ngoài. Nhiều đứa con nhà nghèo phải bỏ học, bỏ làng lên tỉnh học đòi se sua, ăn chơi, kết bè lập đảng đi ăn trộm, nghiện xì ke hút chích. Trẻ con bây giờ căng quá nó sẽ bung đấy con. Giáo dục con trẻ bây giờ khó lắm. Con trai thì sợ chúng hư hỏng, con gái thì như quả mìn nổ chậm, theo dõi kiểm soát còn thì giờ đâu mà kiếm cái ăn!

6./- Ông Khánh đưa 2 con ra thăm mộ ôn mệ cố ngoại, lên Từ đường thắp nhang cho cửu huyền. Ngôi Từ đường mái ngói âm dương phủ rêu xanh, trông nặng nề đè nặng bốn vách đất,  hấp lè tè, vách đất sét trộn rơm mang mùi ẩm mốc, làm cho không gian bên trong âm u tăm tối đến lạnh người. Bước qua ngạch cửa vào bên trong, ông Khánh phải cúi gập người; lũ trẻ con chưa quen, cứ nhìn dáo dác toàn cảnh Từ đường, có cảm giác xa lạ với ngôi nhà chúng nó đang ở với ba mẹ bên Mỹ.

Cậu Tư đưa ông Khánh và con ra thăm mộ ôn mệ ngoại. Đốt hết bó nhang, ông Khánh đưa cho thằng con lớn một ít đi cắm các mộ chung quanh, thằng con lớn hỏi - Sao mộ người ta mình phải cắm? - Người trong làng đa phần là bà con giòng họ mình - Ông Khánh giải thích. Đến dọc bờ sông, ngôi nhà ngói đỏ bề thế trội hẳn giữa những mái tranh lúp xúp, cậu Tư chỉ - đó là nhà ông Tường, bà con đầu ông đầu bà, hiện là bí thư xã kiêm chủ tịch Hợp tác xã của làng mình. Vào đến sân, cậu Tư đon đả giới thiệu ông Khánh với ông Tường; bệ vệ như quan đầu tỉnh, ông Tường đưa tay chỉ chiếc ghế sa lông mời hai cậu cháu ngồi, ông Khánh nhìn hai thằng con, chúng vội khoanh tay cúi đầu chào ông Tường.

- Nước ngoài mới về? - Ông Tường hỏi - làm ăn thế nào?
- Dạ cũng tạm đủ sống - Ông Khánh đáp
- Cháu thấy làng mình có khá hơn lúc cháu ra đi? Ông Tường hỏi
- Dạ, cũng chả khá bao nhiêu, ngoài ngôi nhà của chú.
- Sao vậy, cháu nói như vậy là sao?

- Dạ cháu xét bề mặt kiến thiết xây dựng thì trong làng chỉ có nhà chú là khang trang, một vài nhà ngói cũng chưa thay đổi được bộ mặt của làng xã. Hầu hết là mái tranh vách đất như mấy mươi năm trước.

Ông Tường có vẻ hơi khó chịu - thế theo con thì làm thế nào để quê mình phát triển?

Điều này, theo con nghĩ, chú là quan chức, phải có tầm nhìn khi mà các huyện lân cận đều có nhà ngói, cuộc sống người dân có vẻ sung túc hơn, phải chăng do sự điều hành của chính quyền và đảng bộ - ông Khánh e dè. Ông Tường nói - mỗi làng mỗi huyện đều có một lợi thế riêng, con không thể so sánh như thế. - Ông Khánh tiếp - con đồng ý, chính vị trí đặc biệt mỗi nơi mà mình phải có kế hoạch kích hoạt, trong thế bí cũng có lối thông chú ạ. Ông Tường ngẫm nghĩ giây lâu rồi hỏi - kinh nghiệm học từ nước ngoài, theo con góp ý cho làng mình thế nào? Ông Khánh mạnh dạn đáp - thưa chú, hãy bỏ Hợp tác xã, giao khoán cho dân tự sản xuất, tự canh tác theo khả năng và sáng kiến của họ. Ông Tường đáp - như thế không được, những nơi đất ruộng nhiều màu mỡ thì khác, làng mình đất ruộng trũng thấp, phải có Hợp tác xã điều hành... Ông Khánh lắc đầu - như chú đã biết, cha chung không ai khóc, mấy mươi năm nay Hợp tác xã dân mình có khá hơn đâu; hãy cho người dân mạnh dạn góp ý phê bình sửa sai; chấp nhận óc sáng tạo không nằm trong quy chế ràng buộc của chính sách. Phải can đảm thay đổi theo cách của mình, cứ y theo chỉ đạo chỉ có chết. Trên cao họ có hiểu đặc tính của từng địa phương, cứ áp dụng chung chung thì chỉ có chết. Mỗi địa phương có sự sáng tạo riêng cho mình. - Trước đây cũng có cán bộ cao cấp đề nghị như con, liền bị khiển trách và cho về vườn, khó lắm con ơi. Muốn yên thân cứ nhắm mắt theo chỉ đạo mà làm, đi ngược lại là tự sát -ông Tường phân bua.

- Chính vì thế mà đất nước luôn tuột hậu - ông Khánh than thở.
Ông Tường thầm nghĩ - bọn này ảnh hưởng tư tưởng phản quốc, muốn thay đổi chính sách có nghĩa muốn thay đổi chế độ, dám chống lại chủ trương của đảng và nhà nước... phải cho người dân trong làng học tập, cô lập ý tưởng phản động đó.

7./- Kể từ dạo đó, lần về thăm quê duy nhất, ông Khánh cứ ngỡ góp ý trung thực là góp phần xây dựng quê hương. Những năm sau, khi có đồng lương khấm khá, ông và vợ con trở về, hình như bà con xóm làng không mặn mà như trước. Căn nhà ôn mệ ngoại di chúc lại cho ông Khánh đã bị con cháu chiếm đoạt, nơi mà ông xem như ngôi Từ đường thiêng liêng của đời mình, bao kỷ niệm, bao tâm huyết, và ông thường xuyên gửi tiền về tu sửa, nay không còn thuộc quyền sở hữu của mình. Tuy nhiên, ông vẫn còn hy vọng tình đồng bào ruột thịt máu mủ, những trắc trở mang tính cục bộ nhất thời như cơn giông mùa hè rồi sẽ trôi nhanh như rác rưởi theo giòng nước ra biển khơi. Ông góp tiền tu bổ mã mồ, tái thiết Từ đường, tráng nhựa đường làng, cấp học bổng cho con em trong làng, mời cả bác sĩ về khám bệnh miễn phí. Trước ngày về lại Mỹ, ông tổ chức cúng đàn thật lớn, cầu nguyện cho bà con đã khuất, chiến sĩ trận vong, chẩn tế thập loại cô hồn, phát quà đồng bào nghèo trong thôn ấp, cấp học bổng...

8./- Tuy được hưởng lương trợ cấp tuổi hưu, nhưng ông Khánh vẫn cố làm thêm, làm part time lén lút để có đồng dư gửi về giúp xóm làng nghèo. Tâm trạng ông chùng xuống như vùng đất trũng thấp tại quê ông, mỗi khi nghĩ đến cuộc sống nghèo khó luôn dai dẳng đeo đuổi cuộc đời của họ. Một đêm mưa nhiều vùng núi Bắc Cali, không xa Sacramento bao nhiêu, ông trở mình nhiều lần. O vợ biết ý, khuyên chồng không nên quá ưu tư, mỗi người có một biệt nghiệp, mỗi quốc gia, xứ sở thôn làng có một cộng nghiệp, mình nôn nóng không giải quyết được gì, con én sao tạo được mùa Xuân, hãy yên phận tuổi già trên đất khách. Bà vừa nói vừa vỗ vào lưng ông Khánh như từng dỗ giấc ngủ cho lũ trẻ còn thơ. Tiếng thở dài của ông Khánh làm cho "O" vợ thêm não nuột.

Sáng ra, ông đánh xe lên tòa Lãnh sự Việt Nam, xin visa cho gia đình về thăm quê lần cuối; dự định sẽ lưu lại thời gian ba tháng, tận hưởng không khí quê hương, cảm nhận những thiêng liêng của dân tộc, nơi mảnh đất đã sanh ra và nuôi ông khôn lớn bằng trái bắp củ khoai. Ông sẽ ngắm nhìn giòng sông Hương thật kỹ, quan sát sự sinh hoạt chợ Đông Ba, chính tay chạm lên các hoành phi tại đình chùa. Sẽ tay bắt mặt mừng với bất cứ ai dù xa lạ. Ông sẽ đi chân đất để chạm với sự nhiệm mầu của quê mẹ. Ông hít thở thật đầy lồng phổi những đợt gió thoảng đồng quê, ông sẽ trầm mình dưới giòng nước mát từ sông Hương chảy qua làng… Ôi bao nhiêu ý tưởng phấn kích trong hồn để ngày về lần cuối với quê hương, ông thấy thật ý nghĩa và sung sướng đến lạ, như giọt sữa ngọt thấm từng đoạn ruột gan khi nó chảy qua.

9./- Lũ trẻ tỉnh hẳn khi máy bay vừa chạm đất. Không khí trong lành mùa Thu lất phất từng đợt nước bay xiên xiên trong bầu trời trắng đục. Không khí lạnh làm cảnh vật tươi tỉnh, nhưng ông Khánh vẫn cảm thấy nóng ran người. Ông nhìn quanh tìm người thân ra đón. Sân ga Đà Nẵng như thưa thớt làm lộ cái gì đó mà ông Khánh cảm thấy hụt hẩng. Đáng ra ông bay thẳng về Hội Bài, nhưng muốn kéo dài cảm giác háo hức nôn nao kỳ lạ, nghỉ dưỡng tại Đà Nẵng ít hôm để tâm thái ổn định. Mình còn những ba tháng lưu trú trên quê hương, hai lần trước về, phép thường niên của công ty cho hai tuần, không đủ đi thăm giòng họ.

Nhũng người ra đón lại là bà con xa, được người làng Thanh Hà báo tin. Hai bên có vẻ ngỡ ngàng như vừa thân quen vừa xa lạ. Đặc biệt có thằng cháu xa lạ, tuy cùng làng, lại có mặt ra vẻ xởi lởi như thân quen lắm. Linh tính cho biết sẽ không được hài lòng trong chuyến về thăm quê lần này, ông Khánh thầm nhủ, có lẽ họ ngại thời tiết không khô ráo, nên chả ai muốn ra tận sân bay...!

Xe bảy chỗ đưa ba cha con và hành lý hướng thẳng khu resort gần Hội An, nhìn ra biển. Gió thỉnh thoảng xô giạt từng cơn sóng lăn tăn chạy vào bờ. Vừa nhận phòng, lũ trẻ vội chạy ra biển, lâu lắm chúng không được nhìn thấy biển xanh và bầu trời bao la như thế. San Francisco, có cái cầu cổng Vàng mây mù lãng đãng phủ hơi sương lạnh, chưa bao giờ được thấy nước biển xanh vùng vịnh hay về miền Nam để hưởng nắng ấm Cali. Không gian bãi biển nơi đây bao la quá, thoáng đạt làm hồn bay bổng tận mây cao, chúng không hề biết người cha già nghĩ gì, chúng cũng chưa từng có kỷ niệm nào trên quê hương của ba mạ mình. Ông Khánh ngã lưng trên chiếc ghế phao tơi, hít đầy lồng phổi làn gió trong lành, nhìn tận chân trời giáp biển, xa mãi xa mãi sẽ giáp đất nước mình xem là quê hương thứ hai, sẽ gửi bộ xương khô nơi đó, cho lũ con không còn biết tiếng mẹ đẻ, lớn lên thành đạt, thế hệ thứ ba của Việt kiều là công dân thuần túy của nước Mỹ.

10./- Dự định vài tuần sau khi nghỉ dưỡng tại bãi biển Đà Nẵng, nhưng lòng dạ nôn nao cứ như có ai đó kéo dài từng khúc ruột, chỉ ba ngày sau, ông quyết định ra Huế. Xe qua hầm chui Hải Vân rồi thấp thoảng biển xanh chạy dài về Huế; ông Khánh không bỏ sót một cảnh vật nào trên đường đi. Qua khỏi Lăng Cô, tự nhiên hồi hộp như lần đầu về quê sau nhiều năm xa cách. Lũ trẻ cũng thích thú ngắm núi cao, biển xanh rồi xuống đồng bằng, lưa thưa vài nóc nhà nằm lọt thỏm giữa cánh đồng ngập nước; cái gì cũng lạ lẫm, chúng thích thú chỉ cho ba đàn cò trắng lượn lờ tìm bãi đáp. Huế đây rồi - ông lẩm nhẩm đủ mình nghe.

Xe vào bến, ông Khánh gọi chiếc xe Taxi bảy chỗ; qua Đông Ba, Bao Vinh, thẳng về làng, con đường mà xa xưa chưa có cầu, mỗi lần lên phố phải đón ghe. Ôn ngoại mỗi tháng tản bộ lên phố để lãnh tiền trợ cấp của cô dì, có lần ông Khánh được ngoại dắt theo, giờ đây hai bên đường không còn ruộng lúa, thay vào đó là những nhà ngói đỏ hoặc cơ xưởng từ đâu về lập nghiệp.

Xe dừng, ông Khánh và lũ trẻ bê va li hành trang, quà cáp xuống, vài người trong làng trông thấy, nhận ra ông Khánh, họ phụ tay giúp và đưa ông về nhà. Con Mực sủa vang cả xóm, cha con ông Khánh bước vào nhà thì con Mực lại càng thụt lùi, gầm gừ ầm ỉ. Sao cảnh tượng vắng thế, ông ngạc nhiên, tự nhủ, có lẽ họ ra đồng hết. Ông đưa lũ trẻ ra thăm mộ ôn mệ, mộ cậu Tư và Từ đường. Trời chếch bóng khỏi đọt tre, trâu lang thang về chuồng, rãi rác dân làng quần xăn khỏi gối, kẻ vác cày người vác cuốc tẻ về các ngõ đường làng. Cuối cùng, con cậu Tư cũng về đến. - chào anh Khánh và mấy cháu vừa về- miệng nói, tay cầm nón tời rách bươm như không mấy quan tâm sự hiện diện của cha con ông Khánh.
-         Bà con làng mình vẫn khỏe? Ông Khánh hỏi, con cậu Tư lại ảng nước lấy gáo dừa múc đầy gáo nước mưa, vừa uống ừng ực, vừa xối rửa tay, rửa mặt, không buồn quay lại ông Khánh, trả lời - vẫn vậy anh Khánh à.
Trời mùa Thu chóng tối, hơi lạnh từ sông thổi lên mang hơi nước mát dịu.
-         Anh và mấy cháu dùng cơm, em nấu luôn nhé - con cậu Tư lên tiếng
Ông Khánh thầm nghĩ, sao lại hỏi câu vô duyên thế, về nhà không ăn cơm chả lẽ nhịn à. Ông không trả lời, hỏi lại - em chưa có vợ, nhà một mình đơn chiếc thế sao.
-         Mình nghèo ai mà thương anh, làm không đủ sống, lấy đâu nuôi vợ con. - Con cậu Tư vừa nói, vừa khom lưng thổi ống khói cho lửa rơm đốt cháy mấy que củi khô. Ông Khánh nhìn quanh nhà, ngọn đèn điện bóng tròn, ánh sáng tù mù, không đủ soi rõ mấy tấm vách đất sét trộn rơm, được dán vài tấm hình bóng đá, tấm lịch cũ, hình các nghệ sĩ ca nhạc cải lương được quảng cáo những khi về diễn ở làng. Chính nơi đây, trên góc tối kê tấm phảng, ông Khánh từng bị con rắn lục táp vào tay, nó tưởng là con chuột, một loài rắn chuyên ăn chuột. Những kỷ niệm ấu thời còn lẫn khuất đâu đó; hình bóng mệ ngoại khom lưng thổi lửa trong mùa nước lũ... Bao ký ức tràn về giữa màn đêm cô tịch.
Bên ngoài sân, thân cây Vả rũ bóng bên cây rơm khô, in rõ khối đen sậm trên nền trời trong xanh; Ông Khánh chìm vào giấc ngủ phiền muộn, cô đơn.

11/.- "O" vợ ông Khánh ngạc nhiên nhận được điện thoại, hẹn mai ra sân bay quốc tế Ontario đón chồng con. Từ ngày ông Khánh báo tin đã về đến sân bay quốc tế Đà Nẵng hơn 10 ngày nay, bà có cảm giác không vui, bồn chồn lo lắng, quả nhiên… bà tin vào trực giác của mình. Chồng con về lại Mỹ, chả biết nên vui hay buồn, những chắc chắn, chồng mình - ông Khánh - bà nghĩ, sẽ mang về một nỗi buồn thất vọng nào đó; không phải lo về thủ tục lưu trú, nhưng chả lẽ... lòng tha thiết quê hương, cuối đời, thất vọng đến thế sao!

MINH MẪN
24/10/2017
Vùng tệp đính kèm