Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013

ĐỨC ĐẠT-LAI LẠT-MA

THẬT TUYỆT: 
NHỮNG LỜI KHUYÊN TÂM HUYẾT ĐỨC ĐẠT-LAI LẠT-MA

Khi ta buông bỏ hết mọi phiền não và sân hận thì mới có thể thấy được Niết Bàn. Hiện nay đức Đạt Lai Lạt Ma là người an lạc và hạnh phúc nhất. Đó là kết quả của một khảo cứu khoa học từ Hoa Kỳ, khi chụp hình và cắt lớp não của Dức Đạt Lai Lạt Ma 14 và đo não đồ (electroencephalogradiography) của Ngài!!! Những thiền sư tu và hành Thiền trong nhiều năm phải chứng tỏ não của mình giống như Đạt Lai Lạt Ma thì mới được Phật Tử chấp nhận.


Nụ cười đẹp nhất của Đức Đạt Lai Lạt Ma

NHỮNG LỜI KHUYÊN TÂM HUYẾT
ĐỨC ĐẠT-LAI LẠT-MA

Chuyển ngữ Pháp Việt: Thiền-sư 8 chùa.

LỜI KHUYÊN
NGƯỜI HAY NÓNG GIẬN


Khi rơi vào sự kiềm toả của giận dữ hay hận thù thì ta sẽ không còn cảm thấy an vui, cả thể xác lẫn tinh thần. Bất cứ ai nhìn vào cũng đều thấy được điều này và rồi sẽ chẳng có ai muốn đến gần ta nữa. Ngay cả súc vật cũng tránh xa, chỉ trừ có rận và muỗi mới đến gần để hút máu ta mà thôi! Ta ăn không ngon, ngủ không yên, có thể bị lở loét dạ dày, và nếu như tình trạng này kéo dài thì nhất định là những năm tháng còn lại của cuộc đời ta sẽ bị thu ngắn.

Như thế có hay ho gì đâu? Nếu ta buông thả cho cơn giận tung hoành thỏa thích thì ta cũng không thể thanh toán hết đám kẻ thù của ta được. Bạn đã thấy có ai thành công trong việc triệt hạ hết kẻ thù của mình chưa? Khi vẫn còn dung dưỡng trong ta kẻ thù nội tâm, tức là sự giận dữ hay oán thù, thì dù cho hôm nay ta có đánh tan hết mọi kẻ thù đi nữa, ngày mai lại sẽ có những kẻ thù mới xuất hiện.

Kẻ thù đích thực của ta là các thứ nọc độc trong tâm thức: vô minh, hận thù, tham vọng, ganh tị và kiêu ngạo. Đó là những kẻ thù duy nhất có thể phá hoại hạnh phúc của ta. Chỉ riêng giận dữ và hận thù cũng đủ là nguyên nhân gây ra vô số bất hạnh trong thế gian này, từ cảnh cãi vã trong gia đình cho đến những cuộc xung đột ở cấp độ lớn lao hơn. Nó sẽ biến bất cứ một bối cảnh thú vị nào thành một tình trạng ngột ngạt. Không có một tôn giáo nào lại ca tụng phẩm hạnh của những thứ đó. Trái lại mọi tôn giáo đều nhấn mạnh đến vai trò của tình thương và lòng nhân từ. Chỉ cần đọc những cảnh mô tả về thiên đường thì sẽ thấy người ta toàn nói đến cái an bình, đẹp đẽ, hoặc mô tả những ngôi vườn kỳ thú đầy hoa, và theo tôi biết thì không hề thấy nói đến xung đột hay chiến tranh trong cái khung cảnh đó. Người ta chẳng bao giờ gán cho sự giận dữ một đức tính nào cả.

Vậy phải xử trí như thế nào đối với sự giận dữ? Theo một số người thì giận dữ không phải là một khiếm khuyết. Những ai không quen quan sát tâm thức thì có thể cho nó là một thành phần thuộc bản chất của tâm thức, vì thế họ chủ trương không nên kiềm chế mà trái lại cứ để cho nó bộc lộ ra ngoài. Nếu quả thực là như thế thì sự dốt nát và mù chữ cũng phải được xem là thuộc vào thành phần của tâm thức vì khi vừa chào đời ta chưa hề biết được điều gì cả. Đối với những thứ ấy, tức là dốt nát và mù chữ, thì người ta tìm đủ mọi phương cách để loại trừ, chẳng những không thấy ai chống đối việc này mà cũng không thấy ai chủ trương nên duy trì chúng. Như vậy thì tại sao ta không hành động tương tợ đối với giận dữ và hận thù vì chúng còn tàn phá khủng khiếp hơn dốt nát và mù chữ nhiều? Điều ấy cho chúng ta thấy là cũng nên thử tìm cách loại trừ giận dữ và hận thù xem sao.

Muốn học hành thì ta phải bỏ ra rất nhiều thì giờ và dù cố gắng mấy đi nữa thì cũng không thể nào học hết được, tuy nhiên nếu bớt dốt nát được phần nào thì tốt phần nấy. Đối với giận dữ cũng thế, ta không thể nào loại trừ nó một cách vĩnh viễn được nhưng nếu thành công được phần nào đó thì cũng đủ và cũng đáng nên làm (1). Tuy nhiên, dù sao bạn cũng có thể bảo rằng chuyện ấy là chuyện riêng của tôi, chẳng ăn nhập gì với bạn cả! (Ngài bật cười to).

Các nhà tâm lý học có thể khuyên bạn không nên đè nén những cảm tính như sự giận dữ mà phải để cho nó biểu lộ ra ngoài. May thay là họ cũng không khuyến khích bạn tìm kiếm sự giận dữ và phát huy nó. Hãy tập tìm hiểu những khuyết điểm của giận dữ và ngay cả trường hợp bạn xem nó như là thành phần của tâm thức mình đi nữa, thì bạn cũng không thể không công nhận rằng cách tốt nhất là tìm cách vượt thoát khỏi sự kiềm toả của nó.

Hãy cố hết sức để tránh những hoàn cảnh có thể khích động những phản ứng hung bạo. Nếu chẳng may nó vụt đến thì chớ nên để cho nó khích động ta. Nếu gặp một người có cái bản tính tự nhiên khiến ta bực mình, thì ta hãy cố gắng đừng để ý đến cái điểm đáng ghét đó và hãy nhìn người ấy dưới một góc cạnh khác.

Đối với người mà ta xem là kẻ thù thì lúc mới sinh ra đời, người ấy nào có oán thù gì với ta đâu. Họ chỉ trở thành thù địch sau khi một số tư duy và thái độ nào đó phát sinh nơi họ. Và cũng từ lúc đó ta mới bắt đầu dán lên trán họ một cái nhãn gọi là « kẻ thù ». Nếu như thái độ của một kẻ thù bỗng nhiên «thay đổi toàn bộ», thì hắn lại trở thành người «bạn» của ta. Cùng một con người, nhưng hôm trước là «kẻ thù» và hôm sau lại là một «người bạn». Thật hết sức phi lý!

Vì vậy chúng ta hãy nên phân biệt thật rõ rệt một cá nhân nào đó và thái độ nhất thời của người ấy. Đừng phản ứng chống lại một con người nào cả, chỉ nên chống lại một xúc cảm hay một thái độ mà thôi. Hãy loại bỏ ngay ý định làm hại một cá nhân con người. Hãy giúp cá nhân ấy cải thiện và mang đến cho người ấy tất cả những gì an vui và tốt đẹp mà ta có thể làm được. Chỉ cần giúp cho hành vi của người ấy thay đổi và bộc lộ tình thương yêu của ta đối với người ấy, thì ta sẽ có nhiều cơ may hơn để thấy chấm dứt nhanh chóng cách cư xử thù địch của người này với ta. Biết đâu người ấy còn có thể trở thành một người bạn của ta nữa.

Nếu ta không thể dung thứ khổ đau mà người khác gây ra cho riêng ta hay cho người khác thì cứ tha hồ chống lại những hành vi ấy. Tuy nhiên đừng nên căm thù chủ nhân của những hành vi ấy và cũng đừng để bị rơi vào thái độ chống lại người ấy, hoặc tìm cách để trả thù người ấy. Nếu phản ứng của ta không phải là một sự trả thù thì khi ấy một sự giận dữ cũng sẽ không đưa đến một sự giận dữ khác. Như thế mới gọi là sự nhẫn nhục đúng nghĩa của nó. Thật hết sức khó để chọn một hành động chín chắn khi cơn giận đang bùng nổ. Hãy quên cái cơn giận ấy đi.

Gần đây trong thời gian ở Jérusalem, tôi có tham dự một buổi thảo luận giữa các sinh viên người Do thái và Palestin. Khi buổi hội thảo chấm dứt, một thanh niên Palestin đứng lên ngỏ lời bày tỏ cảm tưởng rằng từ đây mọi sự sẽ tốt đẹp, thế nhưng khi kéo nhau ra đường thì mọi việc lại đổi khác. Khi cảnh sát Do thái bắt những thanh niên Palestin thì họ sẽ điên tiết lên và xem mọi người Do thái như là kẻ thù. Vậy thì cần tự hỏi bây giờ phải làm sao đây ? Họ cũng đã bàn thảo vấn đề này với nhau trong buổi họp và có một ý kiến được nêu lên là hãy nhìn nhau như «hình ảnh của Thượng đế». Một sinh viên đứng lên tuyên bố: «Mỗi khi đứng trước một người gây ra sai trái cho ta, bất cứ người ấy là ai, thì hãy nhìn người ấy như là hình ảnh của Thượng đế và sự giận dữ sẽ tan biến». Ý kiến ấy có đúng không? Riêng phần tôi , thì tôi nghĩ rằng ý kiến ấy thật tuyệt vời.

Nếu chúng ta có đủ đức tin giống như họ đối với một tôn giáo nào đó và ta đem áp dụng phương pháp ấy theo cách của ta thì tự nhiên sự giận dữ cũng sẽ giảm xuống. Có một người viết thư cho tôi kể chuyện là mỗi khi ngồi thiền thì hình ảnh của Đạt-Lai Lạt-Ma lại hiện ra trong tâm thức và mang lại thật nhiều an vui trong lòng người ấy. Vậy thì từ nay đây, nếu người viết thư cho tôi chẳng may có nổi giận thì cứ nghĩ đến tôi, biết đâu cơn giận sẽ tan biến ngay. Tôi cũng không biết là một tấm ảnh của tôi có đủ sức làm hạ bớt một cơn giận hay không? (Ngài cười). Dầu sao thì tôi cũng nghĩ là khi cơn giận bất thần bùng nổ, thay vì tập trung sự giận dữ vào đối tượng đã làm cho ta nóng giận, thì ta hãy nên nghĩ đến một người hay một vật nào đó mà ta yêu quý, tâm thức ta sẽ lắng xuống hay ít ra cũng vơi được một phần nào. Hãy nghĩ đến một người đàn ông hay một người đàn bà mà ta si tình chẳng hạn (2). Khi đó tâm thức ta sẽ bị xao lãng ngay bởi vì người ta thường nói rằng «hai ý nghĩ không thể nào xuất hiện cùng một lúc được». Tâm thức ta sẽ tự động hướng về hình ảnh mới, miễn là hình ảnh đó phải thật mạnh – mạnh hơn cái hình ảnh mà ta vừa mới có trước khi nó biến mất. Tuy thế nó chỉ tạm thời biến mất mà thôi và do đó ta phải thật cảnh giác đừng cho nó trở lại. Hãy ghi nhớ trong tâm những hậu quả khốc hại của nó.

Tôi vẫn thường nói rằng nếu để cho cơn giận thắng thế thì chẳng những ta không thể chứng tỏ cho thấy là kẻ thù của ta làm điều sai trái, nhưng ngược lại ta còn làm hại đến bản thân ta. Khi đánh mất sự an bình của nội tâm, ta sẽ chẳng còn giữ được một khả năng nào để làm bất cứ một thứ gì gọi là đúng đắn. Dạ dày ta không tiêu hoá được thức ăn, đêm về không ngủ được, ta xô đuổi những kẻ đến thăm, phóng những cái nhìn điên tiết vào mặt những ai làm vướng lối đi của ta. Nếu có nuôi một con vật làm bạn thì rất có thể ta cũng quên không cho nó ăn. Ta tạo ra cho những người chung quanh một bầu không khí ngột ngạt không sao sống nổi và xô đuổi cả những người bạn thân thiết nhất của ta. Chung quanh ta, những người có lòng từ bi ngày càng hiếm hoi để rồi ta càng cảm thấy lẻ loi.

Về phần người mà ta cho là kẻ thù thì biết đâu hắn đang ngồi thản nhiên trong nhà. Nếu như một hôm có người hàng xóm kể cho hắn nghe những gì mà họ được nghe thấy thì biết đâu hắn sẽ rất thích chí. Nếu như hắn được nghe kể rằng:«Anh chàng ấy thật vô cùng khổ sở, ngày ăn không ngon, mặt mày phờ phạc, đầu tóc bù xù, tối ngủ không yên, phải uống thuốc an thần, không có ai đến thăm và ngay cả con chó anh chàng ấy nuôi cũng không dám đến gần mà cứ chu mõm sủa», thì chắn chắn là hắn ta sẽ vui thích lắm. Và nếu như hắn biết thêm là người ta sắp đưa anh chàng ấy vào bệnh viện thì lúc đó thật quả là trọn vẹn!

Nóng giận chẳng có một ý nghĩa gì cả. Nếu thật sự mục đích của ta là trừng phạt kẻ thù thì tốt hơn hết là hãy nên giữ bình tĩnh để tưởng tượng ra cảnh khổ mà ta sẽ đem ra để trừng phạt hắn. (Ngài bật cười to). 

Thứ Hai, 29 tháng 7, 2013

50 DANH NGÔN CỦA ĐỨC DALAI LAMA THỨ 14

  

Thích Nhật Từ sưu tầm và dịch























Trong thời gian làm trưởng Ban tổ chức Pháp hội đức Dalai Lama 14 thuyết giảng cho cộng đồng Việt Nam tại Tu viện Namgyal, Dharmasala, Ấn Độ, từ ngày 1-3/7/2013, tôi có cơ hội đọc các danh ngôn của đức Dalai Lama được viết thành thư pháp trong Phòng phát hành của tu viện. Tìm thêm trên trang Wikiquote và Ineedmotivation.com, tôi tuyển chọn thêm, phân loại và dịch sát nghĩa 50 câu danh ngôn dưới đây. Hy vọng, các danh ngôn này soi sáng và giúp chúng ta sống hạnh phúc bây giờ và tại đây.
 TRIẾT LÝ SỐNG BÌNH DỊ

1- Hạnh phúc không phải là thứ có sẵn. Hạnh phúc đến từ hành động của chính ta.
 
(Happiness is not something ready-made. It comes from your own actions).
2- Nếu có thể, hãy giúp người khác. Nếu không có thể thì ít nhất không nên hại ai. (If you can, help others; if you cannot do that, at least do not harm them).

3- Nếu bạn muốn người khác được hạnh phúc, hãy thực tập từ bi. Nếu bạn muốn được hạnh phúc, hãy thực tập từ bi. (If you want others to be happy, practice compassion. If you want to be happy, practice compassion).

4- Tôn giáo của tôi rất đơn giản. Tôn giáo của tôi là sự tử tế. (My religion is very simple. My religion is kindness).

5- Hãy nhớ rằng khi không đạt được những gì bạn muốn, đôi lúc, lại là sự may mắn tuyệt vời. (Remember that not getting what you want is sometimes a wonderful stroke of luck).

6- Thẩm quyền tuyệt đối luôn dựa vào lý trí và sự phân tích nghiêm túc. (The ultimate authority must always rest with the individual’s own reason and critical analysis).

7- Chúng ta có thể sống thiếu tôn giáo và thiền định, nhưng chúng ta không thể tồn tại nếu không có tình người. (We can live without religion and meditation, but we cannot survive without human affection).

8- Chúng ta không bao giờ đạt được hòa bình trên thế giới, ngoại trừ chúng ta phải thực sự có hòa bình trong chính mình. (We can never obtain peace in the outer world until we make peace with ourselves).

9- Hãy trở nên tử tế bất cứ khi nào có thể. Trên thực tế, ai cũng có thể trở nên tử tế. (Be kind whenever possible. It is always possible).

10- Nếu bạn có sợ hãi về nỗi khổ niềm đau, bạn nên quan sát xem bạn có thể làm được gì với nó. Nếu bạn có thể, không có gì phải lo lắng về nó. Nếu bạn không thể làm được, lại càng không nên lo lắng về nó. (If you have fear of some pain or suffering, you should examine whether there is anything you can do about it. If you can, there is no need to worry about it; if you cannot do anything, then there is also no need to worry).
LỜI VÀNG  

11- Nếu không yêu thương chính mình, bạn không thể yêu thương người khác. Nếu bạn không có từ bi đối với mình, bạn không thể phát triển lòng từ bi đối với người khác.
(If you don’t love yourself, you cannot love others. If you have no compassion for yourself then you are not able of developing compassion for others).

12- Tiềm năng con người vốn bằng nhau ở mỗi người. Cảm giác: “tôi không có giá trị” là sai lầm. Hoàn toàn sai lầm. Bạn đang lừa dối chính mình. Chúng ta có năng lực tư duy, do vậy, thử hỏi ta thiếu cái gì đây? Nếu ta có năng lực ý chí, bạn có thể thay đổi mọi thứ. Bạn có thể nói rằng: “Bạn là chủ nhân của chính bạn.”
(Human potential is the same for all. Your feeling, “I am of no value”, is wrong. Absolutely wrong. You are deceiving yourself. We all have the power of thought – so what are you lacking? If you have willpower, then you can change anything. It is usually said that you are your own master).

13- Chúng ta phải thừa nhận rằng khổ đau của một người hoặc một quốc gia cũng là khổ đau chung của nhân loại; hạnh phúc của một người hay một quốc gia cũng là hạnh phúc của nhân loại.
(We must recognize that the suffering of one person or one nation is the suffering of humanity. That the happiness of one person or nation is the happiness of humanity).

14- Bằng bạo lực, bạn có thể giải quyết được một vấn đề, nhưng đồng thời, bạn đang gieo các hạt giống bạo lực khác. (Through violence, you may ‘solve’ one problem, but you sow the seeds for another).

15- Khi con người còn sống, chúng ta phải nghĩ đến các thế hệ tương lai: Một môi trường sạch được xem là nhân quyền giống như bao quyền khác. Vì vậy, một phần trách nhiệm của chúng ta về người khác là đảm bảo rằng thế giới mà ta đang sống là khỏe mạnh, nếu không nói là khỏe mạnh hơn cái ta đã thấy. (As people alive today, we must consider future generations: a clean environment is a human right like any other. It is therefore part of our responsibility toward others to ensure that the world we pass on is as healthy, if not healthier, than we found it).
16- Danh ngôn Tây Tạng có câu: “Bi kịch nên được sử dụng như nguồn sức mạnh”. Bất luận là khó khăn nào, kinh nghiệm đau khổ ra sao, nếu chúng ta đánh mất hy vọng thì đó là thảm họa đích thực.
 (There is a saying in Tibetan, “Tragedy should be utilized as a source of strength.”No matter what sort of difficulties, how painful experience is, if we lose our hope, that’s our real disaster).

17- Các sinh vật đang sống trên địa cầu này, dù là con người hay con vật, là để cống hiến, theo cách riêng của mình, cho cái đẹp và sự thịnh vượng của thế giới. (The creatures that inhabit this earth-be they human beings or animals-are here to contribute, each in its own particular way, to the beauty and prosperity of the world).

18- Cái muỗng không thể nếm được vị của thức ăn mà nó chứa đựng. Tương tự, người ngu không thể hiểu được trí tuệ của người khôn, dù cho có thân cận bậc thánh. (A spoon cannot taste of the food it carries. Likewise, a foolish man cannot understand the wise man´s wisdom even if he associates with a sage).

19- Trong cuộc chiến vì tự do, chân lý là vũ khí duy nhất mà chúng ta sở hữu. (In our struggle for freedom, truth is the only weapon we possess).

20. Từ bi và độ lượng không phải là dấu hiệu của yếu đuối, mà thực ra là biểu hiện của sức mạnh.  (Compassion and tolerance are not a sign of weakness, but a sign of strength).
 HÃY TẬN HƯỞNG HẠNH PHÚC

21. Mỗi ngày, khi thức dậy, bạn hãy nghĩ rằng hôm nay tôi may mắn còn sống, tôi có cuộc sống con người quý giá, tôi sẽ không phí phạm cuộc sống này. (Everyday, think as you wake up, today I am fortunate to be alive, I have a precious human life, I am not going to waste it).

22. Tâm con người giống như sự nhảy dù. Nó chỉ trở nên tốt đẹp nhất khi nó ở trạng thái mở bung ra. (The mind is like a parachute. It works best when it’s open).

23. Nếu bạn nghĩ rằng bạn quá nhỏ bé để tạo ra sự khác biệt, hãy thử ngủ với loài muỗi [rồi bạn sẽ biết]. (If you think you are too small to make a difference, try sleeping with a mosquito).

24. Cần ghi nhận rằng tình thương vĩ đại và các thành tựu to lớn thường dính líu đến các rũi ro lớn. (Take into account that great love and great achievements involve great risk).

25. Hãy dang tay ra để thay đổi nhưng nhớ đừng làm tuột mất các giá trị mà bạn có. (Open your arms to change but don’t let go of your values).

26. Hãy nhớ rằng im lặng, thi thoảng, là câu trả lời tốt nhất. (Remember that silence is sometimes the best answer).

27. Hạnh phúc con người và sự thỏa mãn con người cần phải phát xuất từ chính mình. Sẽ là một sai lầm nếu ta mong mỏi các thỏa mãn cuối cùng đến từ tiền bạc hoặc từ máy vi tính.
 (
Human happiness and human satisfaction must ultimately come from within oneself. It is wrong to expect some final satisfaction to come from money or from a computer).

28. Thật cần thiết trong việc phát khởi thiện chí và thái độ tốt, càng nhiều càng tốt. Với thiện chí và thái độ tốt, hạnh phúc, ngắn hạn và dài hạn, cho chính ta và tha nhân sẽ hiện hữu. (It is very important to generate a good attitude, a good heart, as much as possible. From this, happiness in both the short term and the long term for both yourself and others will come).

29. Chúng ta cần hơn một chút nữa từ bi. Nếu chúng ta không thể có từ bi thì không có chính trị gia hay ảo thuật gia nào có thể cứu nguy hành tinh này. (We need a little more compassion, and if we cannot have it then no politician or even a magician can save the planet).

30. Giới truyền thông cần có các lỗ mũi dài như con voi để ngửi thấy các chính trị gia, thị trưởng, thủ tướng và nhà kinh doanh. Chúng ta cần biết thực tại, cái tốt lẫn cái xấu, không đơn thuần chỉ là các biểu hiện bên ngoài. (Media people should have long noses like an elephant to smell out politicians, mayors, prime ministers and businessmen. We need to know the reality, the good and the bad, not just the appearance).
VÌ MỘT THẾ GIỚI AN BÌNH 

31. Tha thứ không có nghĩa là quên đi tất cả những gì đã xảy ra. Nếu điều gì đó xảy ra quá nghiêm trọng thì bạn cần phải tiến hành các biện pháp đối phó. Bạn cần có các biện pháp đối phó.
(Forgiveness doesn't mean forget what happened. … If something is serious and it is necessary to take counter-measures, you have to take counter-measures).

32. Hạnh phúc đích thực có được từ sự biết hài lòng và hòa bình nội tại. Sự hài lòng và hòa bình nội tại chỉ có thể đạt được thông qua sự phát triển tinh thần vị tha về tình thương, từ bi và sự diệt trừ vô minh, ích kỷ và tham lam.
(True happiness comes from a sense of inner peace and contentment, which in turn must be achieved through the cultivation of altruism, of love and compassion and elimination of ignorance, selfishness and greed).

33. Đã đến lúc cần giáo dục quần chúng ngừng lại các tranh cãi dưới danh nghĩa tôn giáo, văn hóa, quốc gia và các hệ thống chính trị và kinh tế khác nhau. Đấu tranh như thế là vô dụng và tự tử.
(The time has come to educate people, to cease all quarrels in the name of religion, culture, countries, different political or economic systems. Fighting is useless. Suicide).

34. Tôn giáo không có nghĩa là giới điều, đền miếu, tu viện hay các dấu hiệu bên ngoài, vì chúng chỉ là các yếu tố hỗ trợ trong việc điều trị tâm. Khi tâm trở thành sự thực tập, mỗi người mới thực sự là một hành giả tôn giáo. (Religion does not mean just precepts, a temple, monastery, or other external signs, for these are subsidiary factors in taming the mind. When the mind becomes the practices, one is a practitioner of religion).

35. Tôi cảm nhận rằng tinh hoa của thực tập tâm linh là thái độ của ta đối với tha nhân. Khi bạn có động cơ chân thành và trong sáng, lúc ấy bạn sẽ có thái độ đúng với tha nhân, trên nền tảng từ bi, tình thương và sự tôn trọng. Thực tập Phật pháp] sẽ mang lại cho bạn sự nhận thức rõ ràng về tính chân như của mỗi con người và tầm quan trọng của người khác, làm lợi lạc bởi các hành vi của bạn.
(I feel that the essence of spiritual practice is your attitude toward others. When you have a pure, sincere motivation, then you have right attitude toward others based on kindness, compassion, love and respect. Dharma Practice brings the clear realisation of the oneness of all human beings and the importance of others benefiting by your actions).

36. Tâm bồ-đề là dược liệu, có khả năng làm mới và cung cấp sự sống cho mỗi  chúng sanh, những ai chỉ cần nghe đến nó. Khi bạn dấn thân hoàn thiện các nhu cầu của tha nhân, lúc ấy các nhu cầu của bạn đang được hoàn thiện như một phó phẩm.
(Bodhicitta is the medicine which revives and gives life to every sentient being who even hears of it. When you engage in fulfilling the needs of others, your own needs are fulfilled as a by-product).

37. Từ bi không phải là một phản ứng cảm xúc, mà là sự cam kết chắc chắn được xây dựng trên lý trí. Do vậy, thái độ từ bi thực sự đối với tha nhân sẽ không thay đổi, ngay cả trong tình huống bị người khác ứng xử tiêu cực. Từ bi đích thực không dựa trên các đề án hay sự mong đợi, mà thực ra là dựa trên nhu cầu của tha nhân.
(Compassion is not just an emotional response but a firm commitment founded on reason. Therefore, a truly compassionate attitude towards others does not change even if they behave negatively. Genuine compassion is based not on our own projections and expectations, but rather on the needs of the other...).

38. Các vấn nạn chúng ta đối diện ngày nay như xung đột bạo lực, sự hủy hoại thiên nhiên, nghèo đói v.v... đều là các vấn nạn do chính con người gây ra. Các vấn nạn cần được giải quyết bằng sự hiểu biết và nỗ lực của con người, cũng như sự phát triển ý thức về tình huynh đệ. Chúng ta cần phát huy tính trách nhiệm phổ quát vì nhau và vì hành tinh mà chúng ta đang chia sẻ.
(The problems we face today, violent conflicts, destruction of nature, poverty, hunger, and so on, are human-created problems which can be resolved through human effort, understanding and the development of a sense of brotherhood and sisterhood. We need to cultivate a universal responsibility for one another and the planet we share).

39. Vì chúng ta chia sẻ hành tinh nhỏ bé này, chúng ta phải học cách sống hài hòa và hòa bình, vì nhau và vì thiên nhiên. Đó không phải là giấc mơ, mà là sự cần thiết. Chúng ta tương thuộc nhau bằng nhiều cách. Chúng ta đã không thể sống trong cộng đồng cô lập và không thể bỏ qua những gì đang xảy ra ngoài cộng đồng. Chúng ta nên chia sẻ các may mắn mà chúng ta đang hưởng được.
(Because we all share this small planet earth, we have to learn to live in harmony and peace with each other and with nature. That is not just a dream, but a necessity. We are dependent on each other in so many ways, that we can no longer live in isolated communities and ignore what is happening outside those communities, and we must share the good fortune that we enjoy).

40. Mặc dù tôi nhận ra rằng đạo Phật của tôi [có giá trị] giúp ta phát khởi tâm từ bi, ngay cả đối với những ai chúng ta xem là kẻ thù, tôi tin chắc rằng mọi người có thể phát triển thiện chí và ý thức trách nhiệm phổ quát, cùng với hay không cùng với tôn giáo.
(Although I have found my own Buddhist religion helpful in generating love and compassion, even for those we consider our enemies, I am convinced that everyone can develop a good heart and a sense of universal responsibility with or without religion).

TÔN GIÁO VÀ THẾ GIỚI CỦA TÔI

41. Đây là tôn giáo đơn giản của tôi. Không cần tu viện; không cần triết học phức tạp. Bộ não và trái tim của chúng ta là chùa chiền của chúng ta; triết học là lòng tử tế.
(This is my simple religion. There is no need for temples; no need for complicated philosophy. Our own brain, our own heart is our temple; the philosophy is kindness).

42. Từ một góc nhìn, Phật giáo là một tôn giáo. Từ phương diện khác, Phật giáo là khoa học về tâm và không phải là tôn giáo. Phật giáo có thể là cây cầu giữa hai phương diện vừa nêu.
(From one viewpoint, Buddhism is a religion, from another viewpoint Buddhism is a science of mind and not a religion. Buddhism can be a bridge between these two sides).

43. Tôi không muốn cải đạo người khác theo đạo Phật. Tất cả các tôn giáo lớn, khi hiểu một cách đúng đắn, đều có tiềm năng phục vụ cái tốt.
(I don't want to convert people to Buddhism — all major religions, when understood properly, have the same potential for good).

44. Năm tháng trôi đi, càng ngày tôi càng tin rằng, bỏ qua các dị biệt về triết lý, các tôn giáo có thể làm việc cùng nhau. Mỗi tôn giáo đều nhắm tới việc phục vụ nhân sinh. Vì thế, các tôn giáo khác nhau có thể làm việc cùng nhau để phục vụ nhân loại và đóng góp cho hòa bình thế giới.
(As time passes I have firmed my conviction that all religions can work together despite fundamental differences in philosophy. Every religion aims at serving humanity. Therefore, it is possible for the various religions to work together to serve humanity and contribute to world peace).

45. Các bạn cũ ra đi, các bạn mới xuất hiện. Cũng giống như ngày tháng. Khi ngày cũ trôi qua, ngày mới lại đến. Điều quan trọng là hãy làm cho mọi thứ có ý nghĩa: một người bạn có ý nghĩa, hoặc một ngày có ý nghĩa.
(Old friends pass away, new friends appear. It is just like the days. An old day passes, a new day arrives. The important thing is to make it meaningful: a meaningful friend — or a meaningful day).

46. Giúp đỡ tha nhân là cần thiết, không chỉ trong thời khóa cầu nguyện của ta, mà phải trong đời sống thường nhật. Khi ta nhận chân rằng chúng ta không thể giúp người khác thì điều tối thiểu ta có thể làm là dừng ngay các hành động thương tổn họ.
(It is necessary to help others, not only in our prayers, but in our daily lives. If we find we cannot help others, the least we can do is to desist from harming them).

47. Chúng ta cần tự phê bình. [Chẳng hạn như] tôi đã làm được gì trong việc vượt qua giận dữ, chấp dính, hận thù, hãnh diện và ganh tỵ? Đây là những điều chúng ta cần kiểm tra trong đời sống thường nhật bằng kiến thức của lời Phật dạy.
(We must criticize ourselves. How much am I doing about my anger? About my attachment, about my hatred, about my pride, my jealousy? These are the things which we must check in daily life with the knowledge of the Buddhist teachings).

48. Chủ nghĩa cực đoan là kinh hãi vì nó dựa trên cảm xúc thuần túy, hơn là sự thông minh. Nó ngăn tín đồ không thể suy tư với tư cách là các cá nhân và không vì lợi ích của thế giới.
(Fundamentalism is terrifying because it is based purely on emotion, rather than intelligence. It prevents followers from thinking as individuals and about the good of the world).

49. Ngày nay, chúng ta thực sự là một gia đình toàn cầu. Những gì xảy ra trong một phần của thế giới có thể ảnh hưởng đến tất cả chúng ta. Điều này dĩ nhiên không chỉ đúng với sự việc tiêu cực, mà còn đúng cả với các phát triển tích cực.
(Today, we are truly a global family. What happens in one part of the world may affect us all. This, of course, is not only true of the negative things that happen, but is equally valid for the positive developments).

50. Ngày nay, chúng ta đối diện với nhiều vấn nạn. Vài vấn nạn do chính chúng ta tạo ra, do các phân biệt về ý thức hệ, tôn giáo, sắc tộc, tình trạng kinh tế, hoặc do các yếu tố khác. Vì thế, đã đến lúc chúng ta cần suy nghĩ dưới góc độ sâu sắc hơn, dưới lăng kính con người, và từ góc độ này, chúng ta nên ghi nhận và tôn trọng tính tương đồng của người khác với tư cách là nhân loại.
(Today we face many problems. Some are created essentially by ourselves based on divisions due to ideology, religion, race, economic status, or other factors. Therefore, the time has come for us to think on a deeper level, on the human level, and from that level we should appreciate and respect the sameness of others as human beings).

***************
 
 

Thứ Tư, 24 tháng 7, 2013

ĐOÀN BS PHẬT TỬ LÀM TỪ THIỆN

CHỊ TỨ, MỘT PHẬT TỬ CHÙA PHẬT QUANG Q.10 TP HCM, LUÔN L;À NGƯỜI KHỞI XƯỚNG MỜI CÁC BS THAM GIA KHÁM, PHÁT THUỐC CHO CÁC NGƯỜI DÂN VÙNG SÂU VÙNG XA. ĐOÀN ĐI TRÊN DƯỚI 40 VỊ ĐỦ CÁC CHUYÊN KHOA NHƯ:MẮT,ĐIỆN TÂM ĐỒ, ĐO LOÃNG XƯƠNG,NHỔ RĂNG, SIÊU ÂM,THỬ MÁU, HỚT TÓC, SẢN KHOA...SUỐT MỘT TUẦN LÀM VIỆC, THAY VÌ CHỦ NHẬT LÀ NGÀY NGHỈ, HỌ TÌNH NGUYỆN ĐI XA; KHỞI HÀNH TỪ 20G MÃI ĐẾN 24G MỚI ĐẾN NƠI. SÁNG BẮT TAY VÀO LÀM VIỆC MỘT CÁCH CHUYÊN NGHIỆP QUA TỔ CHỨC CÁC KHÂU. CÓ NHỮNG NƠI DÂN QUÁ ĐÔNG, BS PHẢI NHỊN ĂN TRƯA KHI 16G VẪN CHƯA XONG VIỆC. SAU ĐÂY LÀ VÀI HÌNH ẢNH GHI LẠI TẠI XÃ TRƯỜNG XUÂN-HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP NGÀY 20/7/2013.
NHỮNG GƯƠNG MẶT QUEN THUỘC THƯỜNG XUYÊN TRONG CÁC CHUYẾN  ĐI LÀM TỪ THIỆN, NGOÀI CHỊ TỨ CÒN CÓ CHỊ HÀ MÓM, CƯỜNG, CHÂU, HƯƠNG, HÔM NAY ĐẶC BIỆT CÓ BS HẠNH NHÃN KHOA, VỪA LÀ PHẬT TỬ VỪA LÀ BS CÓ TÂM VÀ NHÂN HẬU.



























Thứ Bảy, 20 tháng 7, 2013

TẬN CÙNG KHỔ ĐAU



TẬN  CÙNG  KHỔ  ĐAU

Kế con kênh nước đen cạn gần đáy, mùi xú uế bốc lên từng cơn theo luồng gió, bệnh nhân Lê Hoàng Dũng nằm bất động trong căn phòng bề ngang hơn một mét, dài độ hai mét, phía sau chợ Xóm Củi quận 8.

Nhóm khiếm thị làm từ thiện (được gọi là nhóm thiện nguyện khiếm thị Hốc Môn), đến thăm và hỗ trợ tịnh tài tịnh vật cho bệnh nhân. Anh Lê Hoàng Dũng sinh năm 1960, vốn là người khiếm thị bẩm sinh, người vợ chân có tật, hai người đều bán vé số để chăm lo gia đình và trả tiền nhà thuê; chẳng may, tháng 6 năm 2011, nạn nhân bị tai biến, không đi lại được, nghe và nói cũng bị ảnh hưởng nặng nên trở thành chiếc thân bất động. Cô em gái chồng chạy xe ôm, phải đem ông anh bệnh tật nầy về nuôi để vợ nạn nhân tiếp tục lây lất sống nơi khác.

Cạnh con kênh, khi nước dâng tràn vào nhà, lối xóm cho mượn chiếc ghế bố, bình thường thì nằm đất. Chúng tôi đến thăm, ngỡ ngàng trước cảnh tượng mà chúng tôi thường gặp ở các bệnh nhân, kể cả nơi nuôi người tàn tật cũng không được sạch sẽ như vậy. Anh Dũng mặc chiếc áo thun ba lổ trắng tươm; hai hố mắt sâu không có con ngươi, người gầy không thua các đạo sĩ khổ hạnh; bước vào nhà không nghe bất cứ mùi gì của người liệt thân lâu năm; thường những bệnh nhân nằm suốt thì thân thể sẽ bị hăm lở, nhưng anh Dũng được cô em nghèo chăm sóc quá kỷ nên cứ ngỡ là người sinh hoạt bình thường. Chúng tôi trao quà  cho cô em và cũng chỉ trao đổi tìm hiểu với cô em. Ngoài cái ăn và thở, anh Dũng chỉ còn là đời sống thực vật, không nghe, không thấy, không biết, không nói, không cử động. "5 không" như thế, chúng ta cảm nhận sự đau khổ tột cùng của kiếp người bất hạnh, nhưng có lẽ anh Dũng không hề biết mình bất hạnh, không còn ý thức, vì thế chưa chắc đã  khổ đau!

Ngày mới bị tai biến, nhóm khiếm thị thiện nguyện cũng đã vào bệnh viện thăm và ủy lạo. Do đường xa và nhóm khiếm thị đi lại khó khăn nên thỉnh thoảng nhóm mới đến thăm. Anh chị em nhóm khiếm thị thiện nguyện lấy bản thân và sự bất hạnh của đồng nạn mà tự sách tấn tu tập cũng như làm từ thiện để vun bồi phúc báu cho kiếp sau. Không những nhóm hỗ trợ cho đồng nghiệp mà còn hỗ trợ cho những hoàn cảnh hiểm ngặt của người sáng. Ngay cả thiên tai Nhật Bản, họ cũng gom góp gửi qua 300 USD để góp phần xoa dịu niềm đau của xứ mặt trời.

Người lành lặn quên đi cái phước đang có nên cứ tiếp tục sống trên sự khổ đau của kẻ khác hoặc lấy sinh mạng khác để nuôi sinh mạng mình; vì thế, tật nguyền là lời cảnh báo để những anh chị em khiếm thị hướng về tâm linh, đến chùa tu niệm thường xuyên và một số đã giữ trường trai, tu tập tinh tấn.

Anh Lê Hoàng Dũng là một trong những cảnh báo của đời người; hy vọng những ai đã có tín ngưỡng, hãy tự mình vun bồi phúc báu và cùng chia sẻ những cảnh đời bất hạnh để cuộc sống chúng ta có ý nghĩa hơn.

Địa chỉ liên lạc gia đình anh Lê Hoàng Dũng:
Nhà số 296/34A Tùng Thiện Vương, F 11. Q 8.TP HCM.
Điện thoại cô em anh Dũng : 01229580742
                                      
                                       MINH MẪN
                                          20/7/2013


     
                     


                      
                                        




Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2013

LỜI DẠY TÂM HUYẾT


Mùa an cư 2557, HT T.Giác Toàn lưu hoạt khắp các miền Tỉnh đến các trường Hạ. HT thuộc hệ phái Khất Sĩ, ngài cũng là người duy nhất trong hệ phái đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ trong Giáo Hội PGVN hiện nay. Đang là vị trí phó chủ tịch HĐTS GHPGVN - Phó Ban Thường Trực Ban DGTN T.Ư, vì thế, ngài lưu giảng nhiều trường Hạ trong mùa an cư.

Khi đến chùa Từ Đàm, sư vào tham vấn đại lão HT T.Trí Quang, tiếp nhận lời dạy bảo của Đại lão HT, do vậy, mở đầu buổi nói chuyện, HT đã chuyển lời tâm huyết của Đại Lão HT T.Trí Quang đến với 800 học chúng tại giảng đường chùa Từ Đàm Huế: Đại Lão HT T.Trí Quang mong muốn chư Tăng Ni Kiết Hạ đúng với truyền thống, thật sự nghiêm túc thúc liễm thân tâm, trao giồi giới đức...

Có tiếp xúc với HT T.Giác Toàn, mới thấy được sự chân thật, tính hồn nhiên, tấm lòng vì đạo của ngài. Trong các chức sắc GH, phải nói từ sau 1975, HT là người năng động, chịu khó lặn lội khắp nơi để kết nối, hàn gắn, hoạt động, truyền đạt pháp sự. Ngài thú nhận, mình không có khả năng diễn giảng như các thầy cô trẻ hiện nay, kiến thức hạn hẹp, nhưng với tấm lòng vì đạo mà phải năng nổ, vì thế, nơi nào cần thì ngài đều đích thân đến. Cho dù ai khó tánh, khi tiếp xúc mới cảm nhận trường lực từ bi nơi ngài toát hiện dễ chuyển hóa đối tượng.

Trước 1975, chư Tăng hệ phái Khất Sĩ chuyên tu, giữ gìn truyền thống hệ phái, vì thế, giới hạnh Khất Sĩ đã phổ biến khá rộng và nhanh sau đạo PGHH. Quần chúng miền Tây Nam bộ quá quen thuộc hình ảnh nhà sư áo vàng đầu trần chân đất, tam y nhất bát theo đúng hạnh nguyện đức Phật Thích Ca. Nhưng sau 1980, để theo kịp sự chuyển hóa và phát triển xã hội, chư Tăng Khất Sĩ bắt đầu nhập cuộc, trau dồi kiến thức thế học song song với Phật học, vì vậy đã xuất hiện nhiều Tăng-Ni áo vàng trên các bục giảng học viện Vạn Hạnh với mảnh bằng Tiến sĩ thực thụ, các buổi thuyết pháp cũng lôi cuốn không ít quần chúng trí thức và tuổi trẻ. Ngày nay, chư Tăng hệ phái Khất Sĩ đảm nhận nhiều chức vụ trong GH, phần lớn nương vào uy đức của HT Giác Toàn đại diện hệ phái lưu nhiệm các chức sự từ khi GHPGVN ra đời.

Trong buổi tâm sự, HT T. GT cho biết, sư đã hầu thầy (Pháp Sư T. Giác Nhiên) từ nhỏ, nên học được nhiều kinh nghiệm và tính tháo vát, năng động, chịu khó. Tuy lớn tuổi, khi đảm nhận Phật sự, ngài cũng cố đeo đuổi đại học để trang bị một số kiến thức cần thiết. Ngài kể: thời bao cấp, sư đi về miền Tây, mặc dù giấy tờ đầy đủ, có cả giấy chứng nhận của Công An, thế mà vẫn bị khó khăn. Ngày hôm sau, trên chuyến xe đò trở lại Thành Phố, đến trạm Tân Hương, sư cũng bị cảnh sát gọi xuống lục xét trong bình bát, vì nghi sư đem gạo về Sài Gòn. Theo sư, nhờ những chướng duyên đó mà sư ngộ được nhiều vấn đề làm cho tâm ngài an lạc và thích nghi mọi hoàn cảnh, vì thế gian là phải thế thôi! Do vậy, mọi Phật sự đều trôi chảy, vì mình không thấy có chướng duyên thì làm gì có trở ngại? Cho dù Pháp sự đa đoan, sư luôn dành thời gian tiếp đón những ai muốn gặp ngài.

Sự thành công của HT Giác Toàn do chân thành, cởi mở và chịu khó; kể từ khi tham gia sinh hoạt Phật sự GHPGVN, ngài học hỏi những đức tính ưu việt nơi từng vị cao Tăng thạc đức khi giao tiếp. Từ đó, với trọng trách Ban Giáo dục Tăng Ni, ngài truyền đạt lại những gì được học hỏi và những tâm huyết phát xuất từ nội tâm của ngài.
Trong buổi nói chuyện với chư Tăng-Ni các trường Hạ, sư đặt vấn đề: "Tinh thần trách nhiệm Hoằng dương Chánh Pháp Trước Thời Đại của Vị trụ trì Qua Sứ Mạng- TRỤ PHÁP VƯƠNG GIA-TRÌ NHƯ LAI TẠNG", ngài phân tích mặt lợi hại của văn minh khoa học hiện tại, vì thế cần áp dụng giáo lý đức Phật để cân đối, hài hòa trong cuộc sống. Ngài cũng nhắc nhở nhiệm vụ đào tạo đệ tử kế thừa, kiến trúc phát triển cơ sở thờ tự; chú trọng giáo dục quần chúng cũng như tự thúc liễm thân tâm...

Tuy ngôn từ chất phác thật thà, nhưng những cuộc nói chuyện của ngài đã thẩm thấu lòng người bằng những lời tâm huyết của một vị chân tu.

                                                                MINH MẪN
                                                                   19/7/2013


Thứ Tư, 10 tháng 7, 2013

TT. Thích Thanh Huân: Nói sinh con là sự vô minh của loài người là cách suy nghĩ cực đoan


Chuyện hiện nay có người trong giới trẻ cho rằng có con, "sinh con là sự vô minh của loài người". Về vấn đề này, Thượng tọa Thích Thanh Huân (ảnh) – Phó Văn phòng Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhận định "đó là cách suy nghĩ cực đoan, không đúng đắn".

PV: - Bạch thầy, giới trẻ hiện nay nhiều người tự nhận rằng họ mất phương hướng, không tìm thấy ý nghĩa thực của đời sống này. Họ cho rằng: có con là sự vô minh của loài người, thầy có thể nói rõ đây là quan điểm của nhà Phật hay chỉ là sự ngộ nhận hiểu sai khái niệm Vô minh?
Thượng tọa Thích Thanh Huân: - “Vô minh” có nghĩa là không sáng suốt, không hiểu biết, kém trí tuệ, si mê, tâm trí tăm tối, nhận thức sai lầm, còn có thể gọi là “tà kiến”.
Chuyện các bạn trẻ có quan điểm “có con là sự vô minh ” chỉ là cách dùng chung một từ ngữ “vô minh”, vì từ vô minh ít khi được sử dụng rộng rãi, nên có người lầm tưởng là cứ vô minh là phật giáo sử dụng.
Nói có con là vô minh của loài người có liên quan đến phật giáo điều đó hoàn toàn không đúng. Về nhận thức của giới trẻ thời nào cũng thế, có những người hiểu biết đúng đắn, nhưng cũng có những người nhận thức, hiểu biết sai lầm, lệch lạc.
Điều đó là do cách nhìn nhận của họ, và cách nhìn ấy phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, yếu tố bẩm sinh, yếu tố môi trường, giáo dục, điều kiện sống.
Chuyện hiện nay có những người trong giới trẻ cho rằng có con, sinh con là sự vô minh của loài người điều này theo tôi là không nên, đó là cách suy nghĩ cực đoan,  không đúng đắn.
Quan niệm của phật giáo thì được sinh làm người là khó, phải có nhiều phúc lành mới được sinh làm người. Thực hiện nếp sống đạo đức, không sát sinh hại vật, không trộm cắp, ăn gian nói dối, sát sinh hại vật, không tà dâm… phải chăm làm việc phúc thiện, sống cuộc đời trong sáng hiền thiện mới được làm người.
Nếu đưa ra nhận định một con người được sinh ra là vô minh thì tôi hoàn toàn không đồng ý. Con người là chân quý, con người có thể thăng hoa và tỏa sáng hơn bất kỳ một sinh mệnh nào, từ địa vị làm người có thể trở thành vĩ nhân, những người đem lại hạnh phúc an bình cho muôn loài.
Còn quan điểm có con là vô minh, đó chỉ là những nhận định cực đoan, không phát huy được giá trị sống của con người, chúng ta phải trân trọng giá trị sống của mình, con người nếu tìm được giá trị sống thì dù có lầm lỗi phải ngồi tù, họ vẫn có thể chuyển hóa thành người tốt; những người khuyết tật, họ vẫn có thể cống hiến cho xã hội.
Chúng ta phải chân quý sự sống của mình, của đồng loại và của muôn loài khác nữa, như sự sống  thiên nhiên môi trường, cho đến những con côn trùng nhỏ bé.
PV: - Đạo Phật hay bất cứ một tôn giáo nào khác cũng đều hướng tới sự sống, vì sự sống, vì đức hiếu sinh....vậy sinh đẻ có được coi là thiên chức cao quý của con người không? Vì sao?
Thượng tọa Thích Thanh Huân: - Gia đình là cái tự nhiên của con người, bậc làm cha làm mẹ có thiên chức được sinh con, nuôi con và chăm sóc cho con cái. Việc con người tồn tại, sinh ra từ thế hệ này đến thế hệ kia nối tiếp là sự tự nhiên của con người.
Cho nên đạo Phật và các tôn giáo khác rất coi trọng sự sống của muôn loài, đó là sự sống được nối tiếp từ thế hệ này đến thế hệ sau.
Do vậy, đức hiếu sinh cũng là cái tự nhiên của con người, con người có đạo đức thì đều tôn trọng sự sống. Việc nối tiếp là tự nhiên của muôn loài, đạo Phật trân trọng sự sống và bảo vệ sự sống đó.
Dòng nối tiếp trong cuộc sống con người, từ tổ tiên đến ông bà, cha mẹ đó là tự nhiên. Giáo lý của đạo Phật dạy cho con người ta hiểu biết được sự thật bản chất của cuộc đời, có một cái nhìn đúng đắn, thấy biết quy luật sự vận hành của nhân sinh vũ trụ này.
Ví dụ, con người chúng ta sinh ra lớn lên, bị các yếu tố già yếu bệnh tật và chết chi phối. Vạn vật, muôn loài cũng trải qua vòng như vậy hình thành, phát triển và mất đi, đó là quy luật tất yếu của cuộc sống.
Đạo Phật không phê phán sự có mặt của một sinh linh trên cõi đời. Đạo Phật chỉ đề cập đến một cảnh giới hạnh phúc, thánh thiện hơn, không phải mong cầu ở kiếp sau ( chết đi mới có) .
Nếu chúng ta biết chuyển hóa khổ đau, lầm lỗi, luôn có ý thức tích cực vươn lên trong cuộc sống thì hạnh phúc an lành có ngay trong cuộc sống hiện tại,Nhiều người lầm tưởng đạo Phật coi thường sự sống, sự có mặt của con người, điều đó hoàn toàn không đúng.
PV: - Sự ra đời của bất cứ một con người nào cũng đều là một sự kiện vui mừng, là tin lành của cõi người, nhưng để mỗi hài nhi ấy sau này trở thành hạt giống tốt lành trong xã hội thì rất khó khăn? Có lẽ chính vì thế mà có người trong giới trẻ ngần ngại thiên chức sinh đẻ. Thầy lý giải hiện tượng này ra sao?
Thượng tọa Thích Thanh Huân: - Điều này nó phụ thuộc môi trường sống, môi trường giáo dục, hoàn cảnh gia đình, bạn bè, tiếp xúc của mỗi con người dẫn tới những quan niệm sống khác nhau.
Không ít người ở những nước phát triển họ không muốn có gia đình, cho rằng gia đình là một sự ràng buộc, không nên sinh con, bởi vì có con sẽ mất tự do.
Nhiều phụ nữ Nhật Bản họ không muốn lập gia đình, không muốn có con, nhưng theo sinh học thì có con càng muộn thì đứa con sinh ra sẽ không được khỏe mạnh, chỉ số thông minh cũng ít hơn so với những đứa con được sinh ra khi người mẹ còn trẻ.
Chúng tôi cũng đã từng nghe nhiều bạn trẻ lo ngại không biết có nên lập gia đình, có nên sinh con hay không vì sợ những đứa con hư. Một thành viên mới sinh ra đã là một thử thách dành cho gia đình, có đứa trẻ sinh ra đã dễ nuôi nhưng cũng có những đứa con khó nuôi.
Chúng phát triển và lớn lên phụ thuộc vào môi trường giáo dục, dạy dỗ của gia đình, xã hội. Việc đứa con thông minh hay không thông minh, có hiếu hay bất hiếu nó không báo trước cho chúng ta biết khi nó chưa được sinh ra.
Không thể lấy số ít cái hay, cái dở đánh giá, hoặc định kiến cho cả một sự việc chung, thầy không đồng tình với quan điểm như vậy, nó rất phiến diện một chiều. Những quan điểm như vậy khiến cho họ có sự sợ hãi.
Trong cuộc sống chúng ta luôn đối mặt với nhiều rủi ro và thử thách đòi hỏi mỗi người phải suy xét cẩn trọng và thấy rõ trách nhiệm của mình với cuộc sống để vững lòng và có những quyết định hợp lý.
PV: - “Phật pháp bất ly thế gian pháp”, trước những băn khoăn của giới trẻ hiện nay, tinh thần "bất ly thế gian" ấy được thể hiện như thế nào?
Thượng tọa Thích Thanh Huân: - Phật pháp bất ly thế gian pháp, nghĩa là phật pháp không xa lìa thế gian, và cũng từ nơi cuộc sống nhân sinh diễn ra hàng ngày của mọi sự vật hiện tượng mà chúng ta có thể chiêm nghiệm, hiểu biết.
Phật pháp không lìa thế gian này để hiểu, để giác ngộ, giác có nghĩa là hiểu biết, phật giáo sinh ra trên cõi đời này, sinh ra ở nơi con người chứ không phải ở một loài nào khác.
Đức Phật cũng nhìn nhận sự sống của con người, các mối quan hệ của con người, nỗi khổ đau của con người, mà Ngài tìm cách cứu giúp con người thực hiện thoát khỏi khổ đau đó, có thể nói nguồn gốc của khổ đau xuất phát từ nhận thức sai lầm về cõi đời, con người.
Từ nếp sống tỉnh thức, không tránh né, không quay lưng với trần thế, mà các tu sĩ phật giáo có thể tìm thấy được mình, xây dựng một cuộc sống an lành .
Từ hiểu biết cuộc đời nhiều hơn thì mình càng trân quý cuộc đời, tình thương, trách nhiệm với mọi người trong xã hội. Mỗi cá nhân trong cuộc sống có mối liên hệ gắn bó tương nhân tương duyên chứ không xa rời nhau, đến như hạt cát cũng cần có nhau.
Người theo đạo phật là trở về với chính mình để thấy rõ được mình, và cũng thấy được mối liên hệ giữa mình với thế giới xung quanh. Vì thế mà Phật giáo có những vị đã thực hành hạnh Bồ Tát, hạnh vị tha, đem an vui, hạnh phúc đến mọi người, mọi loài.
Thực hành theo Đạo phật là một phương pháp trau dồi giúp con người tiến bộ về nhận thức, có trí tuệ, đạo đức, tình thương yêu, giúp mọi người thoát khỏi khổ đau, phiền muộn, đó là một đóng góp rất nhân văn cho xã hội.
Thanh Huyền (thực hiện) - theo Đất Việt

Mai Khôi phản hồi TT.Thích Thanh Huân


Ngay sau khi Thượng tọa Thích Thanh Huân – Phó Văn phòng Trung ương Giáo hội phật giáo Việt Nam cho rằng nói sinh con là sự vô minh của loài người là không nên, đó là cách suy nghĩ cực đoan, ca sĩ Mai Khôi liền lên tiếng phản hồi, rằng "suy nghĩ của tôi chính xác theo từng câu chữ".

PV: Thượng tọa Thích Thanh Huân – Phó Văn phòng Trung ương Giáo hội phật giáo Việt Nam cho rằng chuyện chị nói sinh con là sự vô minh của loài người là không nên, đó là cách suy nghĩ cực đoan, không đúng đắn, quan điểm của chị như thế nào trước nhận định này?
Ca sĩ Mai Khôi: Sinh con là điều tự nhiên và cũng là một trong vô số hành động vô minh của con người. Bản chất của con người là vô minh và ích kỷ, ai cũng biết điều này nhưng họ không nhận.... tại sao? Tại vì họ vô minh.

Suy nghĩ của tôi chính xác theo từng câu chữ là "ý muốn sinh con là một ý muốn ích kỷ và vô minh". Điều đó không có gì là cực đoan cả, nếu hiểu rõ tiếng Việt, và cố gắng đừng lừa mị bản thân và nhân loại.

Ích là ích lợi, kỷ là bản thân, ích kỷ là lợi ích bản thân, nó không có gì xấu cả. Ai cũng ích kỷ mà! Khi muốn sinh con, người ta muốn thoã mãn ý thích của cảm giác làm bố làm mẹ, để tình yêu của họ đơm hoa kết trái.

Họ cũng mong muốn con cái của họ lớn lên sẽ thành người có ích cho xã hội (nhưng chưa chắc) để họ được hãnh diện, họ muốn được chắm sóc đứa con thì cũng là vì ý muốn của họ, đó là niềm vui của họ.
Nhưng sự ích kỷ ở đây là họ chưa hỏi được đứa bé có muốn ra đời không mà họ đã sinh, như vậy là ích kỷ, họ có dám chắc con họ khi trưởng thành có trở thành gánh nặng của xã hội không mà họ sinh?
Như vậy là ích kỷ, chưa kể con người khi sinh con xong thì đa số nghĩ rằng đứa con đó của mình, nó sẽ chăm sóc mình lúc già lúc bệnh, nó sẽ phải làm theo ý mình cho tới lúc chết, nếu con cái không làm theo bố mẹ thì đa số các bố mẹ sẽ gào lên rằng " Trời ơi! Sao tao sinh mày ra mà mày không nghe lời tao??". Đó là ích kỷ.
PV: Thượng tọa cho rằng việc tồn tại, sinh ra từ thế hệ này đến thế hệ kia nối tiếp là sự tự nhiên của con người. Đạo Phật và các tôn giáo khác rất coi trọng sự sống của muôn loài. Tại sao chị lại có suy nghĩ sinh con là nghiệp của loài người?

Ca sĩ Mai Khôi: Sinh con là  một trong những nghiệp của loài người. Nghiệp theo quan niệm Phật giáo là kết quả của hành vi, suy nghĩ, nói năng  đã xảy ra trước đó, có thể trước từ rất lâu, có thể từ kiếp trước, hoặc nhiều kiếp trước.

Đứa con sinh ra , theo tự nhiên là vì đàn ông và đàn bà phối ngẫu, trứng và tinh trùng gặp nhau nhưng theo quan niệm phật giáo đứa con sinh ra là do còn duyên nợ với người được gọi là bố mẹ, đối với bố mẹ gọi là nghiệp vì thường thường khi đẻ con người ta rất khổ.

Khi nuôi con, người ta rất khổ, nhưng người ta không biết tại sao khổ, nhiều người con không biết là khổ, bởi vì bố mẹ nợ nần tình cảm và tiền của của đứa con ấy từ kiếp trước nên kiếp này phải đẻ ra để trả nợ.

Vậy, con cái là kết quả của sự nợ nần từ kiếp trước của hai người làm bố mẹ đối với đứa con nên kiếp này họ phải trả nợ cho đứa con ấy. Vậy gọi là nghiệp, hay còn gọi là duyên nghiệp. Chính vì cứ nợ nần lẩn quẩn như thế cộng với sự vô minh nên con người khó thoát khỏi vòng luân hồi.

PV: Rất nhiều độc giả muốn chị giải nghĩa của từ vô minh để tranh luận tới đầu tới đũa?

Ca sĩ Mai Khôi: Vô minh là gì ? Vô là không, minh là sáng, trong chữ sáng suốt. Vô minh nghĩa là không sáng suốt. Tại sao tôi nói hành động sinh con là một trong những hành động vô minh của loài người?

Vì tôi thấy rằng con người ai ai cũng than khổ, cũng có lúc sướng, nhưng hay than khổ hơn là kêu sướng.
Làm lụng vất vả cũng kêu khổ, đói cũng kêu khổ, ăn no quá đầy bụng thì đau bụng cũng than thở, người giàu khổ vì tối ngày sợ mất tiền của, sợ bị lừa, khổ vì không có thời gian thảnh thơi vì người giàu nào cũng phải làm việc rất nhiều, tính toán rất nhiều, đau đầu lắm, rồi than khổ.

Con người không ai tránh khỏi đau ốm, mà mỗi lần đau ốm thì khổ vạn lần. Trong tình yêu có hạnh phúc nhưng cũng có nhiều đau khổ.

Người đi nhà thờ thì muốn lên thiên đàng, người đi tu theo Phật thì muốn giác ngộ, thoát khỏi luân hồi, người bình thường không đi tu gì thì cũng muốn siêu thoát sau khi chết.

Thế đấy! Con người ai cũng than khổ, vậy mà vẫn cứ muốn đẻ tiếp ra những con người để tiếp tục bể khổ. Vậy có phải là thiếu sáng suốt, là vô minh không?

Sinh đẻ là điều tự nhiên, nhưng không phải là con người không kiểm soát được. Nước Việt Nam ta từng có quy định hạn chế dân số bằng cách sẽ xử phạt gia đình nào đẻ quá 2 con, rõ ràng là con người ngày nay có thể kiểm soát được chuyện sinh nở.

Nhưng ý tôi, không phải tôi cấm mọi người đừng đẻ, nhà nước cấm được chứ tôi làm sao cấm được, tôi chỉ đang giải thích lý do vì sao tôi không muốn sinh con vì có rất nhiều phóng viên hỏi tôi câu này, tôi chỉ đang nói về bản thân tôi, suy nghĩ của tôi, còn ai muốn đẻ muốn sinh thì cứ việc và hãy chấp nhận đó là hành động ích kỷ và vô minh.

Thanh Huyền (thực hiện) - theo Đất Việt

Thứ Sáu, 5 tháng 7, 2013

ĐÚNG VÀ SAI GIỮA HAI CUỘC TRANH LUẬN


Vấn đề sinh con,  theo Mai Khôi là vô minh; nhưng TT Thanh Huân cho biết - hiểu  như thế là cực đoan:
... Chuyện hiện nay có những người trong giới trẻ cho rằng có con, sinh con là sự vô minh của loài người điều này theo tôi là không nên, đó là cách suy nghĩ cực đoan,  không đúng đắn.
Quan niệm của phật giáo thì được sinh làm người là khó, phải có nhiều phúc lành mới được sinh làm người. Thực hiện nếp sống đạo đức, không sát sinh hại vật, không trộm cắp, ăn gian nói dối, sát sinh hại vật, không tà dâm… phải chăm làm việc phúc thiện, sống cuộc đời trong sáng hiền thiện mới được làm người.
Nếu đưa ra nhận định một con người được sinh ra là vô minh thì tôi hoàn toàn không đồng ý. Con người là chân quý, con người có thể thăng hoa và tỏa sáng hơn bất kỳ một sinh mệnh nào, từ địa vị làm người có thể trở thành vĩ nhân, những người đem lại hạnh phúc an bình cho muôn loài.
Còn quan điểm có con là vô minh, đó chỉ là những nhận định cực đoan, không phát huy được giá trị sống của con người, chúng ta phải trân trọng giá trị sống của mình, con người nếu tìm được giá trị sống thì dù có lầm lỗi phải ngồi tù, họ vẫn có thể chuyển hóa thành người tốt; những người khuyết tật, họ vẫn có thể cống hiến cho xã hội.
Chúng ta phải chân quý sự sống của mình, của đồng loại và của muôn loài khác nữa, như sự sống  thiên nhiên môi trường, cho đến những con côn trùng nhỏ bé....
Đoạn trên của TT Thanh Huân đang giải thích vấn đề là giá trị cao quý của con người, nếu không lầm thì ngài đã đi lệch vị trí giữa vấn đề sinh con và giá trị của một sinh vật đã được làm thân người; vì thế, những đoạn tiếp theo, ngài thường đề cập đến một con người tốt hay xấu tùy thuộc môi trường xã hội, giáo dục...ra ngoài chủ đề "muốn có con là vô minh" của Mai Khôi.Ta không nói đến điều cao quý  làm thân người, tốt hay xấu khi có thân người..., chỉ xoay quanh vấn đề muốn sinh con là một vô minh của Mai Khôi mà thôi.

Nếu đưa ra nhận định một con người được sinh ra là vô minh thì tôi hoàn toàn không đồng ý...

TT Thanh Huân lại lầm lẫn giữa vấn đề: "con người được sinh ra là vô minh" và "người muốn sanh con là vô minh" mà Mai Khôi muốn nói. Do vậy quan điểm giữa Mai Khôi và TT Thanh Huân như hai con đường song song không có một điểm chung.Những luận cứ của TT rất đúng với truyền thống nhân loại, thậm chí đạo đức xã hội của Khổng giáo quan niệm; ai không con là vô phúc, nhiều con là đại phúc - người có phúc tài lộc thì giàu, người có phúc về đường thê thằng tử phược thì đông con. Ngay cả người chỉ có một con cũng bị xem là - "cây độc một trái - gái độc một con".

Sanh con có nhiều nguyên nhân: một là do truyền thống nối dõi tông đường, hai là do tình dục mà không coi trọng hậu quả, ba là kết quả tất yếu giữa hai tâm hồn hòa hợp bởi tình yêu chân chính, bốn là do cưỡng bức...Tóm lại, sanh con của con người cũng như các loài động vật khác là kết quả tất yếu của tập khí mà tạm gọi là vô thưởng vô phạt nếu không có tác ý xen vào.

Riêng ca sĩ Mai Khôi:  Sinh con là điều tự nhiên và cũng là một trong vô số hành động vô minh của con người. Bản chất của con người là vô minh và ích kỷ, ai cũng biết điều này nhưng họ không nhận.... tại sao? Tại vì họ vô minh.

Suy nghĩ của tôi chính xác theo từng câu chữ là "ý muốn sinh con là một ý muốn ích kỷ và vô minh". Điều đó không có gì là cực đoan cả, nếu hiểu rõ tiếng Việt, và cố gắng đừng lừa mị bản thân và nhân loại.

Ích là ích lợi, kỷ là bản thân, ích kỷ là lợi ích bản thân, nó không có gì xấu cả. Ai cũng ích kỷ mà! Khi muốn sinh con, người ta muốn thoã mãn ý thích của cảm giác làm bố làm mẹ, để tình yêu của họ đơm hoa kết trái.

Họ cũng mong muốn con cái của họ lớn lên sẽ thành người có ích cho xã hội (nhưng chưa chắc) để họ được hãnh diện, họ muốn được chắm sóc đứa con thì cũng là vì ý muốn của họ, đó là niềm vui của họ.
Nhưng sự ích kỷ ở đây là họ chưa hỏi được đứa bé có muốn ra đời không mà họ đã sinh, như vậy là ích kỷ, họ có dám chắc con họ khi trưởng thành có trở thành gánh nặng của xã hội không mà họ sinh?
Như vậy là ích kỷ, chưa kể con người khi sinh con xong thì đa số nghĩ rằng đứa con đó của mình, nó sẽ chăm sóc mình lúc già lúc bệnh, nó sẽ phải làm theo ý mình cho tới lúc chết, nếu con cái không làm theo bố mẹ thì đa số các bố mẹ sẽ gào lên rằng " Trời ơi! Sao tao sinh mày ra mà mày không nghe lời tao??". Đó là ích kỷ.
Mai Khôi có lý của Mai Khôi, với nhà Phật, có vô minh nên có luân hồi sanh tử, làm thân người hay thân súc sinh, ngay cả chư Thiên cũng đều là hậu quả của nghiệp lực, mà nghiệp lực là vô mình của tác ý, cho dù nghiệp thiện hay nghiệp ác. Những điều TT Thanh Huân dẫn chứng do có phước giữ giới mới làm thân người, giữ ngũ giới hay thập thiện cũng là thiện nghiệp, mà thiện hay ác nghiệp cũng làm chướng ngại của giải thoát - đó đều là vô minh. Mai Khôi muốn nói đến tinh thần rốt ráo đó, nhưng chị dẫn chứng những nhu cầu ích kỷ của đời thường để kết luận muốn sanh con là vô minh.

Cổ nhân bảo: "con là nợ, chồng vợ là oan gia, cửa nhà là nghiệp báo". Con là nợ nghĩa là mình mắc nợ nó hoặc nó mắc nợ mình, vì vậy có những gia cảnh khốn đốn vì con, cũng có những mái ấm hạnh phúc khi có con hiếu thảo. Do oan gia trái chủ nhiều đời chiêu cảm nhau mà thành quyến thuộc của nhau; chính vì quan điểm nầy, các vị xuất gia không muốn tiếp tục ái nhiễm thê thằng tử phược nên phải "ly dục ly ác pháp". Cái nhân vô minh không có thì quả vô minh không sanh.

Tóm lại, Mai Khôi muốn nói đến sự ham muôn, dù là ham muốn sanh con cũng đều là vô minh.
TT Thanh Huân đứng trên quan điểm xã hội phê phán Mai Khôi không sai mà Mai Khôi nói đếm tâm lý giải thoát để phát biểu cũng không phải không đúng. Tùy góc độ mỗi người nhìn mà đúng hay sai mà thôi. Đó là hai con đường của A và B song song với nhau.

                                                             MINH MẪN
                                                               06/7/2013