Thứ tư, ngày 08 tháng hai năm 2012

Bài thơ Đôi Dép

Nguyễn Trung Kiên

Bài thơ đầu tiên anh viết tặng em
Là bài thơ anh kể về đôi dép
Khi nỗi nhớ ở trong lòng da diết
Những vật tầm thường cũng viết thành thơ

Hai chiếc dép kia gặp gỡ tự bao giờ
Có yêu đâu mà chẳng rời nửa bước
Cũng gánh vác những nẻo đường xuôi ngược
Lên thảm nhung, xuống cát bụi cùng nhau

Cùng bước cùng mòn không kẻ thấp người cao
Cùng chia sẻ sức người chà đạp
Dẫu vinh nhục không đi cùng người khác
Số phận chiếc này phụ thuộc chiếc kia

Nếu ngày nào một chiếc dép mất đi
Mọi thay thế sẽ trở thành khập khễnh
Giống nhau lắm nhưng người đi sẽ biết
Hai chiếc này chẳng phải một đôi đâu

Cũng như mình trong những phút vắng nhau
Bước hụt hẫng cứ nghiêng về một phía
Dẫu bên cạnh đã có người thay thế
Mà trong lòng nỗi nhớ cứ chênh vênh

Đôi dép vô tư khắn khít bước song hành
Chẳng thề nguyền mà không hề giả dối
Chẳng hứa hẹn mà không hề phản bội
Lối đi nào cũng có mặt có đôi

Không thiếu nhau trên những bước đường đời
Dẫu mỗi chiếc có một bên phải trái
Nhưng anh yêu em bởi những điều ngược lại
Gắn bó đời nhau bởi một bước đi chung

Hai mảnh đời thầm lặng bước song song
Sẽ dừng lại khi chỉ còn một chiếc
Chỉ còn một là không còn gì hết
Nếu không tìm được chiếc thứ hai kia…

Họa bài thơ Đôi Dép của Nguyễn Trung Kiên

Anh không muốn tình ta như Đôi Dép
Để tặng em trong nỗi nhớ niềm thương

Dẫu bước chung nhau trên vạn nẻo đường

Nhưng kẻ trước người sau, không gặp mặt.

Anh không muốn nhìn trời, rồi đạp đất.

Cho kẻ sang hèn đở gót vào ra.

Trôi theo dòng đời bảo táp phong ba

Mặc người dày xéo, hết vinh rồi nhục.

Anh không muốn chúng ta cùng một lúc,

Vứt bỏ nhau khi chiếc đứt, chiếc mòn,

Dù thế nào vẫn giữ dạ sắt son.

Cho trọn vẹn tình thủy chung sau trước.

Anh không muốn đua đòi hay mong ước.
Trên thảm nhung hay cát bụi đời thường.

Mỗi bước đi, mỗi nặng trĩu vấn vương.

Bao hệ lụy của kẻ chà người đạp.

Anh không muốn một cuộc tình bi đát.

Yêu nhau rồi đến lúc lại thôi nhau.

Xa mặt cách lòng, gây cảnh thương đau.

Để thổn thức nghẹn ngào bao tủi hận.

Anh không muốn đời mình thêm cay đắng.

Hết chung đường, chung lối, chịu bơ vơ.

Tình cho nhau mà sao vẫn hững hờ.

Đừng ngoảnh mặt “núi này trông núi nọ”.

Anh không muốn em trọng giàu phụ khó.

Mặc cho đời cứ lên án khinh khi.

Phải trái làm chi, xấu tốt làm gì ?

Tâm điên đảo, thì mộng tình điên đảo !

Này em hỡi! Hiểu và Thương rốt ráo.

Thì cuộc tình mới hạnh phúc bền lâu.

Đôi dép kia chẳng phải thật bên nhau.

Có bao giờ dép đứt cùng một lúc.

Hãy tỉnh thức ! em yêu hãy tỉnh thức !

Đời đôi ta đâu phải mãi song hành?

Để một mai nuối tiếc mộng ngày xanh.

Hãy vui hưởng kẻo ngày tàn kéo đến.

Quá khứ đã qua, đừng nên lưu luyến.

Tương lai chưa đến, mơ ước hảo huyền.

Thực tại bây giờ mầu nhiệm thiêng liêng.

Hãy sống thật trong Tình yêu bất diệt !

Saigòn, Ngày Tình Yêu, 2012

Thái không

V

Thứ sáu, ngày 20 tháng một năm 2012







VIỆT NAM – TƯƠNG LAI MỘT ĐẠO PHẬT ?


VIỆT NAM – TƯƠNG LAI MỘT ĐẠO PHẬT ?

Lạt Ma SONAM LUNDRUP, một tu sĩ người Tiệp, thuộc giòng truyền thừa Gelug Tây Tạng. Dòng nầy đã hiện diện sau khi sơ tổ Tsongkhapa qua đời vào thế kỷ XIV. Gelug có nghĩa là Hạnh Đức, biểu tượng mũ vàng gọi là Hoàng mão. Do Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 lãnh đạo. Theo giáo sử tông môn, Linie Gelug khởi đầu từ Đức Thích Ca Mâu Ni truyền cho Đức Đại Thế Chí và Bồ Tát Di Lạc, cùng nhiều vị Bồ Tát khác, trong đó có Ngài Atisha. Bồ Tát Atisha truyền bá Phật giáo vào Tây Tạng vào thế kỷ thứ X. Từ đó, Tây Tạng xuất hiện nhiều bậc Bồ Tát nổi tiếng như Tsongkhapa vào thế kỷ 14-15.

Ngài Sonam là đệ tử của một hóa thân Rinpoche hiện ngụ tại Cộng Hòa Sec. Đồng thời Ngài là sáng lập viên chùa Rabten Choedarling, tại Kubelikova 86, 460 07 Liberec IX, Janov Dui.

Trước đây, thầy của Ngài trong lúc thiền định, một linh ảnh xuất hiện cho biết tại Việt Nam đang có nhục thân của một vị Phật; tương lai Việt Nam sẽ là quốc gia đứng đầu Phật giáo thế giới. Hai vị sư được cử sang Việt Nam trước đây, vừa tìm nhục thân của Phật, vừa tìm người kế thừa dòng tộc Gelug để phát triển tại Việt Nam, nhưng các vị tiền trạm đã không thành công.

Trong chuyến công du với sứ mạng như trên, ngài qua Việt Nam cùng một gia đình Phật tử Việt kiều đang sinh sống tại Tiệp. Vợ chồng anh Hoàng chị Nguyệt là một Việt kiều Phật tử, đang sinh sống tại Cộng hòa Séc, có người anh cũng là một Tăng sĩ trụ trì một tự viện Bà Rịa- Vũng Tàu. Do duyên lành đưa đẩy, sư Giác Lộc, anh của vợ chồng chị Hoàng, cùng với anh Cường tại TP Hồ Chí Minh, đưa sư Sonam Lundrup về gặp một số danh Tăng và trao đổi nhiều vấn đề Phật sự. Đoàn cũng đã gặp thầy Nhật Từ, thầy Trí Chơn cùng một vài vị Tăng khác.

Sáng nay, 20/01/2012, đoàn đến viếng TT T. Chân Tính tại chùa Hoằng Pháp, Hốc Môn. Lạt Ma Sonam cũng trình bày mục đích qua Việt Nam; Ngài luôn hỏi thăm các bậc Thiện tri thức, học giả, cao Tăng về nhục thân của Phật tại Việt Nam. Ai cũng xác nhận là không có vấn đề đó, ngoại trừ Ngọc Xá Lợi. Nhưng tôi chợt nhớ đến Phật Hoàng Trần Nhân Tông còn lưu lại bảo tháp trên Yên Tử. Mọi người đồng thuận, có lẽ vì thế, ba tuần còn lại đoàn sẽ ra Hà Nội.

Ngài ca ngợi về công đức hoằng dương Phật Pháp của TT Chân Tính, ngài cũng chuyển ngữ những băng đĩa của chùa cho Phật tử Tiệp hiểu được sinh hoạt của chùa cũng như của Phật giáo Việt Nam hiện nay. TT Chân Tính trao tặng băng đĩa sinh hoạt của chùa, và đáp lễ, Ngài Sonam cũng tặng TT trụ trì bức ảnh của bồ tát Avalokitesvara. Cũng theo tập quán Tây tạng, Ngài Sonam choàng chiếc khăn lụa màu xanh vào cổ TT Chân Tính, tế nhị hơn – ngài giải thích, đáng ra là tấm khăn màu trắng, nhưng ngài sợ rằng người Việt Nam kỵ màu trắng tang tóc cuối năm.

Hơn nửa giờ giao tiếp, trước khi đoàn xin phép TT ra về, hình kỷ niệm được chụp chung tại nhà khách. TT Chân Tính không quên mời đoàn sẽ đến lần nữa trước khi lên máy bay trở về cố hương.

Nước da trắng, gương mặt trong sáng như ẩn hiện ánh hào quang của bậc chân tu sau cặp kính trắng, Ngài vui vẻ hồn nhiên- Lạt Ma Sonam để lại một ấn tượng khó phai cho người gặp gỡ. Theo tiết lộ của anh Hoàng, Ngài Sonam có những hành tung cứu giúp nạn nhân rất vi diệu, không những tại Tiệp mà ngay cả vừa đặt chân đến Việt Nam.

Những năm gần đây, các Lạt Ma thường xuyên đến Việt Nam, đó là một dấu hiệu an lành cho một dân tộc. Mong rằng, qua tháng năm đau thương của một dân tộc như Việt Nam và Tây Tạng, Phật pháp sẽ đem lại nguồn an lành hạnh phúc cho một dân tộc luôn hướng thiện tu tập.

Đoàn mời tháp tùng đi viếng một số nơi, nhưng những ngày cuối năm khó rỗi, đành chia tay, hẹn ngày tao ngộ.

MINH MẪN

20/01/2012

Hương gió Đông tàn


Sáng 21 tháng chạp  năm Tân Mão, nhằm 14/01/2012 trên dưới 30 anh chị em khiếm thị hội tụ tại Thiên Quang ni tự thuộc thị xã Dĩ  An, tỉnh Bình Dương, thăm viếng sư cô Hương Nhũ.

Cơ sở gọi là chùa, vì cổng Tam quan in rõ hàng chữ: "Thiên Quang Ni Tự", nhưng vào nơi thờ Tam Bảo còn lưu dấu mờ nhạt “Thiên Quang tịnh thất”. Có lẽ xưa kia, đây là ngôi tịnh thất.
Sư cô về được gần một năm, xây vòng thành và cổng Tam quan nên có chữ Thiên Quang Ni Tự để chuẩn bị tương lai nơi đây sẽ là một ngôi chùa cho xứng với vị trí rộng thoáng của khu đất không xa thành phố, còn mang không khí của vùng ngoại ô yên tĩnh.
Anh chị em khiếm thị đến bằng nhiều phương tiện khác nhau, từ những quận huyện khác nhau. Một số phật tử của đạo tràng chùa An Lạc, quận I, TP Hồ Chí Minh cũng có mặt.
Sân chùa phủ rộng những tàn cây tạp không lớn lắm, nhưng đủ đùa lá vàng bay theo làn gió Đông theo khách thập phương muốn viếng cảnh. Không khí thật trong lành, không xa hơn một km đầy khói bụi của nhịp sống vội vã trên những con đường cuối năm của Dĩ An.
Chùa thật đơn sơ như cuộc sống đơn sơ của sư cô tọa chủ. Trên chiếc bàn ghép đôi ngoài sân, bốn chú cún cưng buồn bã nằm vật vờ vì không được tự do rong ruổi; vài mươi chiếc ghế nhựa sắp sẵn trên sân cát chuẩn bị một cuộc đón tiếp thật thân thiết.
Ni chúng có 4 vị, tập sự có đến 9 cô, đặc biệt cô Diệu Định tuổi ngoài 20, mặt mũi sáng sủa, đang tập sự để hy vọng xin gia đình xuất gia, có giọng hát rất hay, cũng góp vui cho buổi gặp gỡ.
Quý cô tập sự bận tay rối rít phục vụ cà phê sữa cho khách. Sư cô Hương Nhũ cũng không giấu được niềm cảm xúc khi các anh chị em khiếm thị từ xa đến thăm. Không chỉ đơn giản là đi viếng chùa,  một số anh chị khiếm thị đã có duyên ân tình với sư cô những ba năm về trước.
Thật vậy, sau 1990, hàng trăm tăng ni sinh du học ở Ấn, khi tốt nghiệp về, chỉ có vài vị lăn xả vào công việc hoằng pháp, từ thiện, riêng sư cô Hương Nhũ, đến với người khiếm thị bằng công hạnh lạ lùng: - ngoài việc giảng dạy, in kinh chữ nổi cho người mù đọc tụng.
Ba năm về trước, sư cô tặng cho ba vị khiếm thị  bộ kinh Pháp Hoa, chi phí hoàn thành mỗi bộ trên 700 ngàn đồng lúc bấy giờ do cô Trang Thị Ngọc Phượng (Canada) hỷ cúng. Người hân hạnh nhận lãnh bộ kinh lúc bấy giờ là Phương Trâm, Kim Nga và chị Thảo. Cũng từ đó, sư cô tiếp tục làm những bộ kinh  Đại thừa khác.
Kỷ niệm ba năm trôi qua, đài truyền hình đến phóng sự việc tu tập của những anh chị em khiếm thị, đã phỏng vấn sư cô về việc làm nầy. Sư cô xúc động biết các em tinh tấn tụng đọc đến độ giấy đã ố, chữ đã mòn; và qua thời kinh hôm nay tại Thiên Quang, anh chị em đọc tụng nhuần nhuyễn kinh Vu Lan mà không cần phải dùng đến kinh như hồi mới học.
Trong số nguời khiếm thị, cũng đã có vị theo lớp giáo lý ở chùa Giác Lâm, quận Tân Bình suốt nhiều năm. Họ nắm vững giáo lý, kinh điển không thua người bình thường.
Một số anh chị trong nhóm thiện nguyện khiếm thị Hốc Môn cũng đã trường trai cả gia đình. Họ đóng góp để cứu trợ thiên tai, in băng đĩa kinh giảng của các giảng sư, và bằng nhiều cách, họ cũng hoằng pháp theo cách riêng của họ để giúp những bạn khiếm thị khác đến với Phật Pháp. Chẳng những thế,  một số băng đĩa do họ làm đã chuyển hóa được một số người dân khi xem qua.
Với tinh thần như thế, một phần nào đó đã đáp ứng xứng đáng sự quan tâm của quý thầy quý cô, trong đó, sư cô Hương Nhũ đã đến với họ bằng tấm chân tình thật hữu hiệu, vì thế, niềm cảm xúc đã đến với nhau trong ngày hôm nay.
Phải hãnh diện những người con Phật thiếu ánh sáng cặp mắt nhưng tỏ sáng cả tấm lòng. Đồng thời, Phật giáo Việt Nam ngày nay cũng hãnh diện, tuy rất ít,  đã có những tu sĩ trẻ thể hiện tài năng trên nhiều lãnh vực, được trang bị một kiến thức vững chắc và một tấm lòng phụng sự: văn hóa – xã hội – từ thiện – hoằng pháp. Sự thành công phật sự trong hoàn cảnh nghèo khó nói lên giá trị to lớn.
Trong số những tu sĩ trẻ như thế, không thiếu những vị có đời sống thật đơn giản và khiêm tốn. Có những vị vào chốn lao tù để cảm hóa, có những vị đồng hành với thế hệ đàn em trong học viện thì cũng có vị đến với thế giới mù lòa khát khao niềm tin Tam bảo.
Trong hành lang dùng làm “quá đường”, anh chị em khiếm thị được sư cô chủ lễ hướng dẫn thời kinh Vu Lan để hồi hướng công đức cho cửu huyền thất tổ cuối năm; văn nghệ bỏ túi do Diệu Kim, Diệu Cung và Diệu Khai cũng đem lại không khí vui tươi, ấm cúng và nhiều cảm xúc.
Theo chương trình dự định, sư cô sẽ có thời pháp cho đại chúng, nhưng quá cảm xúc, sư cô thổ lộ tâm tình trước những tấm lòng của anh chị em khiếm thị dành cho sư cô, và niềm tin thâm sâu đối với Phật Pháp của họ.
Thật bất ngờ, thầy Minh Trí, trụ trì và chủ quản web chùa Phúc Lâm, cũng có mặt. Cuộc hội ngộ không hẹn chưa đủ thời giờ bộc lộ những tâm tư người làm báo, trên bàn ăn đã kết nối và nói lên nhiều tình cảm của những người con cùng một đấng cha lành.
Mọi người ra về trên tay nặng trĩu quà cáp thì trong tâm cũng chan chứa niềm vui. Ngoài sân, gió Đông nhộn nhã đùa từng cánh lá  thay cho hoa trời tống tiển năm cũ để chồi non nghinh tiếp mùa Xuân đang đến.
Nếu chỉ có Hương đức hạnh mới bay ngược gió, thì chỉ có tấm lòng mới gắn kết mọi người đến với nhau trong không gian của Thiên Quang ni tự hôm nay.
Sư cô và anh chị em đều chúc tụng nhau bằng những gì tốt đẹp nhất – đó là chất liệu hương thơm của đất trời!!!
Minh Mẫn (14/01/2012)



Thứ bảy, ngày 14 tháng một năm 2012

Thứ sáu, ngày 06 tháng một năm 2012

MUÔN NẺO TRẦM LUÂN


Tháng chạp, trời mát dịu, Tuấn cuốc vài nhát cỏ mồ hôi đã thấm đẩm cả áo. Cái áo nâu vải thô Mỹ Chánh tặng, tuy đã giặt nhiều lần, mùi thơm vẫn còn phảng phát loại dầu xanh con Ó nàng xài.

Những ngôi mộ hoang nhiều năm không ai nhang khói, Tuấn đốt bó nhang đi cắm từng ngôi mộ phủ cỏ chung quanh. Đọc từng tên trên tấm bia như thói quen đến thăm viếng cuối năm mỗi khi tảo mộ ông bà. Đây là vùng đất hoang nằm sát chân núi Đại Lãnh. Dân cư trộng tuổi cố bám lấy sỏi đá mà sống. Đám trẻ bỏ làng bỏ xóm tha phương lập nghiệp. Chúng vào mãi tận vùng đất quanh năm ngập nước miền Tây Nam bộ, nhờ vậy mà cái ăn cái mặc luôn được dồi dào. Trẻ con bì bỏm lội sình để bắt từng con cấy con còng về đâm nhuyễn làm mắm chấm với rau dại mọc ven sông. Cha mẹ chúng lặn xuống để mót từng bụi lúa chìm ngập trong nước. Mùa nước lớn dân cư đồng bằng sông Cửu Long sạ giống xong, cứ thế giao phó cho trời đất nắng mưa, vài tháng sau chèo ghe ra đồng mà gặt. Thời gian nhàn rỗi. vài chung rượu trắng với con khô cá sặt, họ quây quần suốt ngày để nói chuyện thời tiết, đồng áng. Những năm sau nầy, mưa bão thất thường, nhà nông chật vật lắm, cư dân miền Trung tạm trú cũng phải đi bán vé số, mì gõ khắp xóm làng để kiếm thêm thu nhập. Những người đến ở lâu năm, giáp tết họ về thăm quê, mua sắm ít quà cho gia đình, những ai mới vào, làm vất vả nhưng chỉ đủ chi tiêu hàng ngày. Thằng em trai nhỏ hơn Tuấn vài tuổi, theo bạn bè vào Nam lập nghiệp, cả năm trời chưa có tin nhắn về thăm nhà. Tuy trong Nam dễ làm ra tiền hơn cái quê “chó ăn đá gà ăn muối” nầy, nhưng Tuấn cũng không muốn xa nơi chôn nhau cắt rốn. Mồ mả ông bà tổ tiên ai chăm sóc, giỗ chạp ai cúng kính, cha mẹ già ai chăm nom! Nghĩ như thế mà Tuấn không đành bỏ xứ ra đi. Tuấn ước ao trong đời một lần phải đặt chân lên đất Sài Gòn cho biết với thiên hạ, nói chi đến những vùng xa xôi như Cần Thơ, Năm Căn Cái Nước…mà bọn trẻ trong xóm đang lưu lạc đến đó.

Mỹ Chánh trước khi vào Nam, cũng đã tâm sự nhiều về gia cảnh mình, nàng muốn Tuấn cùng đi; nhiều đêm năn nỉ trước mặt cha mẹ Tuấn, nhưng chàng vẫn khăng khăng từ chối. Gia đình hai bên cũng đã chấp nhận tình cảm giữa hai trẻ. Chúng chưa tiến đến hôn nhân vì chưa có sự nghiệp. Nhà Mỹ Chánh cũng chật vật không kém. Thôn xóm quanh năm không thiếu hụt thì cũng vừa đủ ăn giáp hạt. Trước ngày vào Nam, Mỹ Chánh dành dụm được ít tiền, mua cho Tuấn chiếc áo màu đất sét; để lại cho cha mẹ mình một cặp heo con, vài bầy gà. Dự định đi làm vài năm, Mỹ Chánh sẽ xây nhà tường bên miếng vườn kế, căn nhà tranh vách đất sét vẫn giữ lại để kỷ niệm, còn dư nữa sẽ làm đám cưới. Những tháng đầu, Mỹ Chánh vẫn liên lạc thường xuyên với Tuấn và gia đình nàng, từ lúc được tin nàng vào làm công nhân cho một công ty may mặc, lương ổn định, tin tức cũng lơi dần. Tết đến là đúng mười tháng nàng xa xứ, chẳng biết nàng có về ăn tết hay ở lại xứ phồn hoa đó. Tuấn vừa cuốc cỏ, vừa nghĩ ngợi lung tung. Xong phần mộ gia đình, Tuấn rẫy cỏ cả những phần mộ vô chủ và mộ bên nhà Mỹ Chánh. Tấm bia gỗ sẫm màu, hiện giòng chữ nguệch ngoạc của người sống viết tên người chết, đã mờ dần với nắng mưa, cho Tuấn biết, người nằm dưới kia vẫn còn rất trẻ, tuy không rõ chết vì lý do nào, nhưng dù lý do nào thì thần chết vẫn không buông tha kẻ lớn người nhỏ. Khu nghĩa địa có hơn trăm ngôi mộ, mộ vô chủ cũng khá nhiều, mộ trẻ kia cùng chung số phận đó, thân nhân lưu lạc vì cuộc sống. Những mái tranh rải rác trầm lặng trong xóm cũng chỉ là những ngôi mộ cỏi dương mà người sống đang vật vờ suốt ngày, thì những ngôi mộ nằm cạnh nhau nơi chân núi cũng là những vong linh vật vờ suốt cỏi âm.
Sáng sớm lên núi tìm củi, hôm sau gánh ra chợ. Mưa xuống là gieo mạ trên sào ruộng khô, chăm vài bầy gà để giỗ quảy; quần quật mãi mà vẫn không dư. Ông bà già được cái tuy ăn uống kham khổ, thân thể gầy đét, thế mà không hề bị trái gió trở trời. Do cuộc sống khó khăn mà chòm xóm ít ai lai vãng với nhau, vì thế cha mẹ Tuấn lủi thủi trong căn nhà tranh, sửa tấm liếp, may cái mền, vá chiếc quần rách gối. Thỉnh thoảng ông nhìn lên bàn thờ gia tiên như ôn lại quá khứ hay khần nguyện gì đó. Tấm hình ông bà cố của Tuấn cũng bị hoen ố nên không còn nhìn rõ mặt. Tấm giấy hồng đào che vách phên trên bàn thờ ám đen, cũng mục rách nhiều chỗ. Thôn xóm yên bình sau ngày cuộc chiến chấm dứt, cũng sau ngày nầy mà đám trẻ bỏ làng bỏ xóm ra đi kiếm ăn nên thôn xóm càng vắng vẻ hơn. Những tháng cuối năm, gió se lạnh, thời tiết thay đổi nên không có những cơn mưa trút nước dai dẳng như xưa. Mấy tàu lá chuối không đủ sức phe phẩy trên thân gầy yếu thiếu dinh dưỡng. Mùa hè cây cối càng xác xơ hơn. Gió Lào vượt Trường sơn mang hơi lửa nung cháy cây cỏ. Mái tranh khô rúm như con vật đang nằm trên than lửa đỏ để che cái nóng cho người ở trong nhà. Dân làng mong khấm khá để xây dựng ngôi chùa tranh; Trên tỉnh quý thầy hứa nếu có chùa họ sẽ cúng dường Thánh tượng. Bao nhiêu thanh niên trai tráng đều vắng mặt, lấy đâu ra người lên non đón cây, cắt tranh về xây dựng. Các cụ cứ ước ao phục dựng lại trên nền cũ bị chiến tranh tàn phá, thuở ấy, chùa sập, sư cụ vùi thây trong đống đổ nát đó, mấy mươi năm rồi vẫn không tái dựng lại được. Đình miếu cũng không có, người dân sống trơ trọi không còn điểm tựa cho niềm tin tâm linh, như cỏ cây trơ trọi giữa đồng mông hiu quạnh. Tuấn cũng từng được anh chị huynh trưởng Gia Đình Phật Tử ở Tỉnh cho đi sinh hoạt lúc còn ngành thiếu, sau nầy, các anh chị đi xa, Gia Đình Phật tử không còn ai đến đưa đón, cho đến khi Tuấn trưởng thành, Phật giáo chỉ còn là một kỷ niệm lý tưởng.

Tiếng xe thồ ngưng đầu xóm, trẻ con hò reo đón người thân; cu Tĩnh từ Sài Gòn về, vai mang ba lô, hai tay xách giỏ trông nặng lắm. Chắc năm nay nhà ông bà Thông ăn tết lớn. Mấy đứa con đều tha phương lập nghiệp. Nghe tiếng chào, Tuấn ngẩng đầu cười, vẫy tay chào lại:
- Có tin cho anh đây – cu Tĩnh lém lỉnh nháy mắt cười.
Tuấn thầm nghĩ, bọn trẻ sống ở thành phố có khác, không còn bản chất ngây thơ hồn nhiên như xưa. Cu Tĩnh ngày xưa ốm yếu bao nhiêu, xa quê không bao lâu đã thành một thanh niên tràn trề sức sống. Tuấn nghĩ ngợi mông lung về Mỹ Chánh. Mặt trời khuất núi, cố le lói vài tia sáng để nhường lại hơi lạnh phủ trùm lên thôn làng. Tuấn rửa tay, dọn cơm mời cha mẹ, ăn vội, đi qua nhà ông bà Thông cách bốn hàng rào bông bụp. Cả nhà vui vẻ bên mâm cơm tối, ông bà Thông nhìn cu Tĩnh như tuồng mãn ý lắm. Bọn trẻ trong xóm bu quanh ngoài cửa trầm trồ nhìn cu Tĩnh như một người hùng về từ mặt trận. Đứng lên, cu Tĩnh móc trong ba lô phong thư của Mỹ Chánh, đưa cho Tuấn.

Nằm trên chiếc võng, đong đưa kẽo kịt, ánh sáng đèn dầu làm cho những con chữ nhảy múa hay nội dung trong thư làm cho Tuấn bất an!
- Con có tin gì về Mỹ Chánh không? Mẹ Tuấn đánh tiếng hỏi
- Dạ có, nó gửi bánh mứt tết, quà của công ty thưởng. Nó không về được, có lẽ sang năm mẹ à.
Nói để mà nói cho qua chuyện chứ lòng dạ Tuấn bồn chồn lắm, phố thị đâu bằng thôn quê, tuy nghèo khó mà an lạc. Thành phố vạn sự đều phải tiền, lương công nhân ba cọc ba đồng lấy đâu ra có dư, cũng chẳng có thì giờ để tìm thêm việc làm. Đâu cũng có cái khổ riêng. Thân gái dặm trường không thân nhân quyến thuộc như Mỹ Chánh, ắt phải khó khăn chật vật với cuộc sống nơi đô thị. Trong thư vỏn vẹn mấy hàng, báo cáo công ăn việc làm, hỏi thăm sức khỏe hai gia đình, nhưng nội dung thư có cái gì lấn cấn mà Mỹ Chánh không bộc lộ. Tuấn để ý đoạn cuối thư, Mỹ Chánh viết nguệch ngoạc tuồng như vội vã: “ Anh đừng trông đợi em mà ảnh hưởng sức khỏe, hãy lo cho cha mẹ nhé”. Tuấn gọi cu Tĩnh ra sau vườn cật vấn. Tuy Mỹ Chánh làm công nhân, cu Tĩnh làm nghề tự do, những bạn đồng hương thường ở những khu nhà trọ gần nhau, nên họ biết nhau về cuộc sống.
- Chị Mỹ Chánh làm mất xe của bạn chung xưởng, phải trừ lương hàng tháng anh à. Cu Tĩnh nói thật khẽ như sợ ai nghe được. Tuấn hoang mang lo lắng. Cu Tĩnh nói tiếp : - ông ở công đoàn ứng tiền trả giúp chị ấy, chẳng biết có lấy lại tiền lương tháng của chị không, nhưng chị dặn em đừng cho anh biết. Cu Tĩnh nói tiếp –ông đó tốt lắm, giúp đỡ chị nhiều lắm. Hình như chị cũng không tốn tiền ăn thì phải, ông ta lo tất. Lúc nầy chị không đen như ở quê nữa. Tuy không sửa soạn nhiều nhưng trông chị không giống gái quê đâu.
Hình như Tuấn hiều ra điều gì; Mỗi hoàn cảnh mỗi khổ khác nhau.Quê nghèo tiền nhưng tâm hồn an ổn. Phố thị phồn hoa là cạm bẫy mọi điều. Từ tăm tối chuyển sang cuộc sống đèn màu thì tâm hồn cũng phải muôn sắc.
*
* *
Tiếng la khóc van xin của một phụ nữ bị bọn bắt cóc hãm hiếp trong góc tối. Nhiều người mất nhà mất đất tụ tập trước cơ quan công quyền. Trẻ con ốm đói áo quần rách rưới cầm cái ca sứt quai đứng co ro ngoài cửa tiệm ăn. Chập choạng hình bóng một phụ nữ son phấn lòe loẹt vừa trốn chồng, cầm tay một đàn ông sang trọng vội vã chui vào xe hơi bóng lộn. Kìa, Mỹ Chánh đang nằm trong vòng tay của gã đàn ông xa lạ, tay vẫn còn cầm xấp tiền. Chập chờn các bóng ma đói thèm thuồng nhìn phố chợ nhộn nhịp đầu Xuân. Tiếng gia súc kêu la cầu cứu khi bị mổ thịt. Có ai đó đứng sau lưng bóp cổ Tuấn, chàng cố vùng vẫy ú ớ…
- Tuấn à, tiếng bà mẹ nằm bên giường trong buồng gọi,
nhưng Tuấn vẫn không nghe, bà lay Tuấn dậy, mồ hôi ướt đẩm chiếc gối và áo thun. Giấc mơ thoáng chốc mà ngỡ như cả cuộc sống lâu dài. Hơi lạnh sương khuya làm chàng tỉnh giấc. Một cảm giác buồn xuyên suốt trong tim, chàng hiểu, cuộc sống là thế, luôn xẩy những điều không ai mong muốn. Những ngôi mộ trẻ, những bất an ngang trái của đời người luôn là tiếng chuông cảnh tỉnh cho những tâm hồn đam mê, tham luyến kiếp vô thường. Nhắc lại trong đầu Tuấn : Đời là bể khổ, là trầm luân.
Chàng ngồi dậy, nhìn vào bóng đêm phủ trùm cảnh vật, tự hỏi: Đâu là ý nghĩa cuộc sống làm thân người? Phải chăng trong bể khổ vẫn có chất an lạc?
Tuấn nhớ lại lời giáo huấn của thầy cố vấn giáo hạnh năm xưa: “ khổ đau là chất liệu của an lạc”. Tuấn chưa bao giờ nếm được hạnh phúc, nguồn vui trọn vẹn, nhưng những đau thương dồn dập của con người diễn ra hằng ngày đã làm cho trái tim Tuấn tê dại. Những giây phút như thế, Tuấn không còn biết buồn , vui, thương ghét nữa. Đọc lại lá thư của Mỹ Chánh, những con chữ không còn nhảy múa như lúc đầu, giờ đây, chúng biến thành những hoa đốm giữa hư không. Màu nâu của chiếc áo nàng tặng cũng trở thành màu đất sét khô khốc trên các ngôi mộ. Một luồng gió Xuân thổi qua, đẩy những đom đóm lập lòe phiêu dạt giữa màn đêm.


MINH MẪN
01/1/2012

Thứ năm, ngày 29 tháng mười hai năm 2011

ĐOÀN KẾT NỘI BỘ


Chiều ngay 23/12/2011, tại v/p 2 Trung ương GHPGVN, phía Nam, 294 Nam Kỳ Khời Nghĩa, có cuộc họp kín bất thường. Phía chính quyền có Ban Tôn Giáochính phủ.Bên Giáo Hội có HT Phó chủ tịch, kiêm tổng thư ký HĐTS quý thượng tọa phó chủ tịch phía bắc , HT truởng Ban Pháp chế ban kiểm soat ... Để đi đến thống nhất một vấn đề mà ngày 12/12/2011, sau sự viên tịch của HT T.Thanh Tứ tưởng như đã thống nhất.

Ngày 12/12/2011 Ban Thường trực HĐTSTWGH PGVN cùng các Ban ngành như Ban Dân vận TW, Ban Tôn giáo chính phủ, Bộ Công An, UBMTTQVN, sau khi nghiêm xét trên nguyên tắc hành chánh và điều khoản của Hiến Chương GHPGVN, đồng đi đến quyết định nhất tâm cung thỉnh TT. Thich Thanh Nhiễu đương nhiệm Phó Chủ Tịch HĐTS TW bổ khuyết chức danh mà HT T.Thanh Tứ vừa khuyết tịch. Chính vì thế mà Thường trực HĐTSTW GHPGVN đã có nghị quyết gửi đến các cấp chính quyền liên đới. Các cơ quan ban ngành tôn trọng Hiến chương , nội quy ban thường trực và sinh hoạt độc lập của GHPGVN, xác định không xen vào nội bộ của Tôn giáo.Tuy nhiên, sự việc ngỡ chừng ổn định, sau đó có những áp lực của một số cá nhân viên chức chính quyền vận động HT Phó chủ tịch, HT Tổng thư ký và Ban Thường Trực Giáo Hội để áp đặt nhân sự vượt ngoài nguyên tắc Hiến chương.
Sau sự mất mát của HT Phó Chủ Tịch, chư tôn đức trong Giáo Hội còn đang ưu tư, Phật sự đang chựng lại vì tang lễ, thừa khoảng trống đó, việc tham quyền cố vị của một vài nhân sự nặng danh lợi đã tạo khó khăn cho Giáo hội. Nhưng cuối cùng, trên căn bản Hiến Chương đã giúp mọi mắc mứu đi vào ổn định. Hôm nay, vẫn những toan tính quyền và lợi đó, dựa trên một số thế lực và lạm quyền lạm danh để vận động áp lực chư Tôn Giáo phẩm một lần nữa phải chùng bước trước những ý đồ vượt mọi nguyên tắc.
Thế nhưng, sau 30 năm đi vào nề nếp, lần đầu tiên, chư tôn Giáo phẩm đã thể hiện sự đoàn kết nhất trí, không chấp nhận những yêu cầu vô lý dù đến từ bất cứ đâu, để thao túng nội bộ Phật giáo, chính vì thế, cuộc họp bất thường chiều ngày 23/12/2011 tại 294 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Q 3 TP HCM đã làm thất bại mọi ý đồ đó.
Phật giáo vốn có tiếng hiếu hòa đến độ đưa tới nhu nhược trước quyền lực, song, nếu vì sự tồn vong của Phật giáo, chư tôn giáo phẩm vẫn đủ đức tính kiên cường để giữ cho ngôi nhà Phật giáo không bị méo mó. Noel năm nay, Ban Tôn Giáo chính phủ mang quà đến chúc mừng Giáo Hội Công giáo, các Giám mục can đảm từ chối thì chuyện áp đặt khuynh loát vận mạng Phật giáo bị chư tôn Giáo phẩm khước từ cũng là việc đúng, thể hiện tính tự chủ, độc lập của một tổ chức sinh hoạt trên nền tảng Hiến chương đã được nhà nước chuẩn thuận. Và đối với những tôn giáo được pháp luật công nhận, nhà nước cũng đã dành một quyền tự quyết nội bộ nhất định mà trước kia chưa hề có; chính vì thế mà sự sinh hoạt của các tôn giáo có phần khởi sắc. Phật giáo ngoài tầm vóc một tôn giáo, còn là tâm linh của dân tộc. Tinh thần Phật giáo sung mãn thì tâm linh dân tộc sung mãn, nếu Phật giáo bị khống chế như loại bonsai uốn cong theo ý nhà vườn thì Phật giáo chỉ còn là loại cây hoa trang trí vô dụng. Một nhà lãnh đạo giỏi, không ai mong muốn như thế, một người nghĩ đến tương lai của một đất nước, cũng không ai muốn các tôn giáo phải thụ động.

Thời đại mà kiến thức đóng vai trò quan trọng như hôm nay, thông tin nhanh nhạy như thời đại tên lửa, không thể dùng quyền như chế độ phong kiến để mượn oai hùm sách nhiễu qua “ Thánh chỉ” của Trung ương. Có lẽ một vài cán bộ còn nhiễm sâu đậm tính chuyên chế chưa kịp tẩy rửa để bắt kịp với thời đại nên cứ phải vi phạm luật pháp, xen vào nội bộ tôn giáo. Nhưng dẫu sao, chính nhờ thế mới thấy được tinh thần đoàn kết của chư tôn giáo phẩm của GHPGVN hiện nay. Mong rằng, Phật giáo, cũng như một vài cán bộ xâm phạm quyền tự quyết nội bộ tôn giáo sẽ an hòa, vượt qua những ách tắc để xã hội ổn định và Giáo Hội không bị bất an.

MINH MẪN
23/12/2011