Thứ Sáu, ngày 24 tháng 6 năm 2016

Nhân ngày từ phụ (Father's Day):


- Con ơi, trước khi nhắm mắt 
Cha con dặn con suốt đời 
Phải làm một người chân thật.
 

Lời mẹ dặn
Phùng Quán

Tôi mồ côi cha năm hai tuổi 
Mẹ tôi thương con không lấy chồng 
Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải 
Nuôi tôi đến ngày lớn khôn. 
Hai mươi năm qua tôi vẫn nhớ 
Ngày ấy tôi mới lên năm 
Có lần tôi nói dối mẹ 
Hôm sau tưởng phải ăn đòn. 
Nhưng không, mẹ tôi chỉ buồn 
Ôm tôi hôn lên mái tóc 
- Con ơi, trước khi nhắm mắt 
Cha con dặn con suốt đời 
Phải làm một người chân thật. 
- Mẹ ơi, chân thật là gì? 
Mẹ tôi hôn lên đôi mắt 
Con ơi một người chân thật 
Thấy vui muốn cười cứ cười 
Thấy buồn muốn khóc là khóc. 
Yêu ai cứ bảo là yêu 
Ghét ai cứ bảo là ghét 
Dù ai ngon ngọt nuông chiều 
Cũng không nói yêu thành ghét. 
Dù ai cầm dao dọa giết 
Cũng không nói ghét thành yêu 
Từ đấy người lớn hỏi tôi: 
- Bé ơi, Bé yêu ai nhất? 
Nhớ lời mẹ tôi trả lời: 
- Bé yêu những người chân thật. 
Người lớn nhìn tôi không tin 
Cho tôi là con vẹt nhỏ 
Nhưng không! những lời dặn đó 
In vào trí óc của tôi 
Như trang giấy trắng tuyệt vời.
In lên vết son đỏ chói.
Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi 
Đứa bé mồ côi thành nhà văn 
Nhưng lời mẹ dặn thuở lên năm 
Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ. 
Người làm xiếc đi dây rất khó 
Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn 
Đi trọn đời trên con đường chân thật. 
Yêu ai cứ bảo là yêu 
Ghét ai cứ bảo là ghét 
Dù ai ngon ngọt nuông chiều 
Cũng không nói yêu thành ghét 
Dù ai cầm dao dọa giết 
Cũng không nói ghét thành yêụ 
Tôi muốn làm nhà văn chân thật 
chân thật trọn đời 
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi 
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã 
Bút giấy tôi ai cướp giật đi 
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá. 
Phùng Quán
1957
“Lời mẹ dặn” là bài thơ tự sự rất dễ hiểu dễ thuộc không có gì mới lạ về cấu trúc ngôn ngữ thơ nhưng lại chứa đựng một tư tưởng nhân văn cực kỳ lớn lao thể hiện bản lĩnh cao cường của tác giả trước cuộc đời. Vì thế nó đã trở thành một kiệt tác thơ Việt thế kỷ XX. Mở đầu bài thơ nhà thơ kể chuyện tỉ tê rất văn xuôi như không có gì đáng chú ý: “Tôi mồ côi cha năm hai tuổi/ Mẹ tôi thương tôi không lấy chồng…/ Ngày ấy tôi mới lên năm/ Có lần tôi nói dối mẹ/ Hôm sau tưởng phải ăn đòn / Nhưng không mẹ tôi chỉ buồn/ Ôm tôi hôn lên mái tóc…”

Con ơi… trước khi nhắm mắt
Cha con dặn con suốt đời
Phải làm một người chân thật

Đến đây thì tư tưởng bài thơ bắt đầu xuất hiện. “Mẹ ơi chân thật là gì?” - Đúng là câu hỏi rất ngây thơ của một đứa trẻ lên năm nhưng lại là một câu hỏi lớn rất khó trả lời đối với không ít người lớn giữa trường đời. “Chân thật” bản tính hồn nhiên của con người đang bị méo mó mai một biến dạng dần đi do mọi người phải tìm cách bon chen nịnh hót nói dối để tồn tại hoặc để được vinh thân. Thậm chí có người đã không chân thật rồi lại còn ghét những người chân thật. Tục ngữ ta có câu “Nói thật mất lòng”. Đó là thực tế vô cùng trớ trêu của con người. Nhớ lời mẹ dặn từ nhỏ người lớn hỏi Phùng Quán: "Bé ơi bé yêu ai nhất?/ Bé yêu những người chân thật." Từ chỗ phải làm người chân thật đến thái độ “yêu những người chân thật” là đi từ mình đến xã hội.

Mẹ tôi hôn lên đôi mắt
Con ơi một người chân thật
Thấy vui muốn cười cứ cười
Thấy buồn muốn khóc là khóc

Câu giải thích bước đầu của người mẹ cho con vô cũng dễ hiểu. Thấy vui muốn cười là cười - thấy buồn muốn khóc là khóc. Vì con người từ khi lọt lòng mẹ là thế đó là bản tính tự nhiên không thể khác được. Nhưng chân lý giản đơn ấy làm nhiều người ngạc nhiên tán thưởng bởi vì đã từ lâu con người luôn sống ngược lại với ý nghĩ của mình không dám nói thật ý nghĩ của mình. Có khi vui mà dối lòng không cười được. Khi buồn lại nén lòng mà cười để vui lòng người khác. Sống dối lòng như thế con người dần dà bị biến thành một kẻ dối trá!

Sau cười khóc hồn nhiên là đến chuyện yêu ghét một cấp độ cao hơn của thái độ và nhận thức ứng xử của con người trong xã hội:

Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét

Nhắc đến nhà thơ Phùng Quán là người ta nhớ ngay đến “Yêu ai cứ bảo là yêu - Ghét ai cứ bảo là ghét…”. Yêu ghét rạch ròi là thái độ sống của người quân tử của kẻ sĩ ở đời. Thái độ dứt khoát thể hiện ở động từ “cứ bảo”. Cứ bảo là nói ngay nói không cần đắn đo suy tính.

Nhưng sự đời không phải bao giờ cũng “Yêu ai cứ bảo là yêu - Ghét ai cứ bảo là ghét” được mà có rất nhiều sức ép buộc con người phải nói khác ý mình đi dối trá biến mình thành tôi tớ “nói theo nói leo” làm lợi cho những người có thế lực. Vấn đề là anh có đủ dũng khí để yêu là nói yêu ghét là nói ghét hay không! Đoạn thơ sau đây là một cung bậc cao hơn có thể gọi là thái độ bất khuất không chịu luồn cúi của tác giả trước những thế lực cường quyền:

Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao doạ giết
Cũng không nói ghét thành yêu

Đây là đoạn thơ hay nhất trong bài thơ đã thành chân lý vĩnh hằng trong lòng người yêu thơ Việt Nam từ 50 năm qua đọc lên nghe như kinh nguyện. Nói yêu thành ghét - nói ghét thành yêu chính là bản chất của những kẻ cơ hội tâm địa xấu xa hèn yếu. Chỉ cần kẻ xấu “ngon ngọt nuông chiều” hứa hẹn tiền tài địa vị hoặc “cầm dao doạ giết” là ngoan ngoan nói và làm theo chúng. Lịch sử Việt Nam đã có nhiều danh liệt nêu tấm gương trung nghĩa không khuất phục trước cường quyền như Bà Trưng Bà Triệu Trần Quốc Toản Cao Bá Quát Lê Lợi Trương Định Vua Hàm Nghi v.v… cùng hàng ngàn chiến sĩ kiên trung trong các nhà tù hay trên các pháp trường của thực dân đế quốc trong hai cuộc kháng chiến. Chỉ mấy câu thơ của Lý Thường Kiệt trước quân nhà Tống phương Bắc cách đây gần 1000 năm thôi cũng đủ nói lên ý chí chí đó của người quân tử nước Nam: Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư / Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm / Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Ngược lại nhiều việc nói theo người cầm quyền làm theo ý đồ ngoại bang đã gây ra những thảm hoạ đau thương cho nhân dân đất nước. Từ chỗ sợ sệt người ta trở nên hèn nhát. Một thời xứ ta sinh ra không ít “trí thức hèn” “nhà văn hèn”. Những “Đại nhân hèn” ấy không dám mở miệng nói chính kiến của mình dù biết cấp trên sai vẫn ngoan ngoãn vâng lời đã đào tạo ra nhiều thế hệ “người hèn” “gọi: dạ bảo: vâng” không có tính độc lập suy nghĩ

Từ chuyện “chân thật” “khóc cười” “yêu ghét” nhà thơ đã đưa người đọc đến bản lĩnh người cầm bút. Đây là mục tiêu cuối cùng mà bài thơ muốn đạt tới:

Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi
Đứa bé mồ côi thành nhà văn
Nhưng lời mẹ dặn thuở lên năm
Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ
Người làm xiếc đi trên dây rất khó
Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
Đi trọn đời trên con đường chân thật

Đoạn thơ này chứng tỏ Phùng Quán nhận thức rất rõ một điều: Vì làm nhà văn chân thật là rất khó nên đã có không ít nhà văn không đi trọn đời trên con đường chân thật. Trước sức ép của cường quyền nhiều nhà văn đã cam tâm “bẻ cong ngòi bút” phục vụ cho những mục đích xấu xa. Ca ngợi cái xấu đả kích cái tốt. Tập thơ Chân dung của Xuân Sách vẽ rất rõ chân dung méo mó khốn khổ của hàng trăm nhà văn Việt Nam một thời vì lý do này lý do khác đã không đi trọn đời trên con đường chân thật!

Còn Phùng Quán thì tuyên chiến với thói nịnh bợ giả dối:

Tôi muốn làm nhà thơ chân thật
Chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

Bài thơ lớp lang đẩy triết lý “sống thật yêu thật nói thật viết thật” đến tận cùng. Đoạn kết bài thơ là một tuyên ngôn sống tuyên ngôn thơ. Mới 25 tuổi đời mà viết như thế là bản lĩnh tiết tháo lắm lắm. Điều đáng khâm phục hơn là Phùng Quán suốt cuộc đời mình cho đến khi “nằm dài dưới đáy huyệt” đã sống như thế viết như thế. Năm 1984 gần 30 năm khi về thăm quê nội Huế Phùng Quán tâm sự: Ba mươi năm tôi bị dìm trong bùn-nhơ-lăng-nhục / Nhưng cuối cùng/ Quê hương đã nhận ra/ Trái–tim–thơ–trong-sạch / Và gương-mặt-Thơ-bi-thiết của tôi… (Thơ Phùng Quán NXB Văn học 2003). Trong tiểu thuyết tình 13 chương bằng thơ Trăng Hoàng Cung viết ở Huế Phùng Quán một lần nữa nhắc lại tuyên ngôn này trong bài thơ “Tôi thích viết trên giấy có kẻ dòng”: 
Ngô Minh

__,_._,___

MUỐN CHÍN NHỮNG ĐÓA HOA


~ Nguyễn Duy Nhiên


Có một vị giáo thọ Tây phương kể lại một kinh nghiệm về thiền tập của mình.  Có lần anh tham dự một khóa tu thiền nhiều ngày.  Vị thầy hướng dẫn là một thiền sư lớn tuổi người Nhật, ông thuộc dòng thiền Lâm Tế, và có một lối dạy rất thẳng và mạnh bạo.  Phương pháp của ông là sử dụng công án.

    Công án, koan, là một câu hỏi hay vấn đề mà vị thiền sư đặt ra cho thiền sinh, và câu hỏi ấy không thể nào giải đáp bằng sự suy luận hay dùng lý trí được.  Trong khóa tu ấy, vị thầy trao cho anh một công án nổi tiếng của ngài Bạch Ẩn Huệ Hạc, “Thế nào là âm thanh của tiếng vỗ một bàn tay?”  Bổn phận của người thiền sinh là làm sao để lãnh hội cái ý nghĩa tinh yếu của công án được trao cho, và trình bày sự hiểu biết của mình lại với vị thầy.
    Không khí của khóa tu rất là căng thẳng, mọi việc đều theo một đường lối thật nghiêm khắc.  Mỗi ngày anh vào gặp vị Thầy bốn lần, để đưa câu trả lời của mình.  Nhưng lần nào anh vào trình bày xong, ông cũng chỉ nói, “Thật là ngớ ngẩn!”  Rồi ông thỉnh lên một tiếng chuông và đuổi anh ra.  Có lần sau khi anh trả lời, vị Thầy nói, “Được, nhưng đó chưa phải là Thiền.”  Và cứ sau mỗi lần vào trình pháp, anh lại càng cảm thấy căng thẳng hơn.
    Cuối cùng, có lẽ vì tội nghiệp, nên vị Thầy trao cho anh một công án khác dễ hơn.  Ông nói, “Làm thế nào để thể hiện được Phật tánh trong khi tụng kinh.” Anh mừng thầm và nghĩ câu trả lời cho công án này cũng sẽ rất dễ dàng, khi vào trình pháp anh chỉ cần ngồi trang nghiêm và xướng tụng một đoạn kinh ngắn, đơn giản thế thôi.
    Nhưng thật ra, công án này cũng đã chạm đến một vấn đề khó khăn sâu kín trong anh.  Khi còn học lớp Ba ở tiểu học, trong giờ âm nhạc anh thường bị cô giáo phê bình là cách phát âm của anh rất khó nghe.  Và từ đó đến giờ, anh vẫn rất ngại ngùng và tìm mọi cách tránh né mỗi khi phải hát trước đám đông.  Vậy mà giờ đây, anh sẽ lại phải sắp sửa xướng lên một bài kinh, trong một tình trạng rất căng thẳng, trước mặt một vị thầy rất khó khăn.
    Trong khóa tu tất cả đều hoàn toàn giữ im lặng, chỉ trừ trong giờ trình pháp.  Vì vậy mà những gì ta nghĩ trong đầu lại càng được phóng đại thêm lên.  Anh cố gắng lặp đi, lặp lại một đoạn ngắn trong bài kinh cho thật thuộc, thật đúng với âm điệu và cách phát âm.  Nỗi lo lắng của anh cứ tăng dần.
    Khi đến phiên anh vào để trả lời cho công án của mình.  Anh bước đến, cúi xuống đảnh lễ vị Thầy. Ông nhìn anh hỏi, “Nói cho ta biết, làm thế nào để thể hiện được Phật tánh trong lúc tụng kinh.”  Anh ngồi thẳng lên và tụng bài kinh mình đã tập dượt trước.  Nhưng mọi việc không như anh đã dự tính, tất cả đều sai trật và hoàn toàn lộn xộn cả lên.  Những câu kinh anh tụng lẫn lộn với nhau, và cũng không theo một âm điệu nào hết.  Trong ngay lúc đó, anh cảm thấy lòng mình như hoàn toàn bị phô bày ra trước mặt vị Thầy, nguyên sơ và dễ tổn thương, anh không còn gì để giấu giếm hay che đậy nữa hết…
    Vị Thiền sư im lặng hồi lâu, ông nhìn anh với một ánh mắt hân hoan và đầy ấp tâm từ.  Ông nói, “Câu trả lời rất tuyệt vời.”  Và trong giây phút ấy anh chợt cảm nhận được một tình thương rất lớn.  Anh ý thức được rằng, muốn tiếp xúc với tuệ giác, ta phải có can đảm buông bỏ hết tất cả, mọi toan tính của mình, dám trở nên rỗng không, không còn gì để bảo vệ hay che chở cho mình nữa hết.  Khi ta biết chấp nhận, có mặt với những gì đang xảy ra với một tình thương không mong cầu, thì tất cả mọi việc sẽ trở nên thênh thang và tự tại.
CHẤP NHẬN LÀ SỰ THẬT CÓ MẶT
Và tôi nghĩ có lẽ trong cuộc sống này cũng vậy, chúng ta sẽ không bao giờ có thể thật sự chuẩn bị trước được cho một việc gì.  Ta vẫn nghĩ mình có thể tập luyện để sẵn sàng đối diện với một mất mát, một hạnh phúc hoặc khổ đau nào đó.  Nhưng thật ra ta chỉ có thể tiếp xúc với sự sống khi nó đang xảy ra mà thôi. Bằng một thái độ rộng mở và chấp nhận.
    Nhưng bạn cũng đừng nghĩ rằng đó là một thái độ buông xuôi.  Chấp nhận không phải là một thái độ dửng dưng, sao cũng được, mà là biết xả buông những toan tính và chấp trước, để mình có thể kinh nghiệm, và hiểu sâu sắc được những gì đang thật sự xảy ra.  Tout comprendre c’est tout pardoner.  Hiểu hết tất cả thì ta sẽ tha thứ hết tất cả.  Mà tha thứ cũng là một sự buông xả phải không bạn.  Ta sẽ tha thứ cho những lỗi lầm của mình, những khó khăn, và ngay cả những muộn phiền của ta nữa.  Để cho một hạnh phúc trong sáng được phép có mặt.
    Tôi nghĩ, thiền quán là một thái độ chấp nhận sâu sắc.  Chúng ta có thể ví đó như là tự soi mình vào một tấm gương vậy.  Nếu ta biết chấp nhận thì tấm gương sẽ làm hết mọi việc cho ta.  Nó giúp ta thấy được những kinh nghiệm nào đang có mặt trong giây phút này, thân ta, cảm thọ ta, những gì đang xảy ra trong thân tâm mình.  Và khi ta thấy rõ được những điều ấy, thì những gì mình cần làm sẽ biểu hiện tự nhiên thôi.  Nghe thì đơn giản thật đó, nhưng không phải là chuyện dễ làm, phải không bạn…
MUỐN THAY ĐỔI PHẢI THẤY RÕ
Thật ra, việc ấy khó là vì chúng ta ít khi nào lại chấp nhận những gì mình đang thấy trong gương!  Ta bao giờ cũng tìm cách sửa đổi những hình ảnh ấy theo ý của mình.  Chúng ta muốn thời ngồi thiền, hay những bước chân của mình, lúc nào cũng phải được an tĩnh, hạnh phúc và thanh thản.
    Nhưng bạn biết không, trước khi có được những điều ấy thì ta phải biết chấp nhận được chính mình.  Chúng ta hãy ngồi, đi với thực tại, với những gì đang có mặt, với những gì ta đang soi thấy trong gương.  Đó có thể là những muộn phiền, lo âu, mệt mỏi… nhưng chúng không phải là những chướng ngại của hạnh phúc đâu bạn.  Vì nếu như ta biết chấp nhận những khó khăn ấy, và chịu thấy ra được những gì đang thật sự có mặt, mọi việc sẽ trở nên thênh thang và tự tại hơn.
    Nhà tâm lý học Carl Rogers nói: "Có một điều nghe rất là lạ lùng và mâu thuẫn, nhưng đó là một sự thật, là khi ta chấp nhận được mình như chính ta là, thì lúc đó ta mới có thể thay đổi.  The curious paradox is that when I accept myself just as I am, then I can change."  Cũng có nghĩa là, sẽ không có gì thay đổi, nếu như ta không chịu nhìn lại để thấy rõ được chính mình.
CÕI SƯƠNG MÙ, THẾ NHƯNG...
Tôi nghĩ, đôi khi chính vì sự mong cầu hoặc cố gắng thành tựu một cái gì đó, theo ý riêng của mình, mới khiến một hạnh phúc đang tươi đẹp lại trở thành khổ công và tăm tối.
Chúng đã muốn nở hoa
Và nở hoa là đẹp; nhưng chúng ta muốn chín
Có nghĩa thành tăm tối và khổ công
R.M.Rilke
(Thái Kim Lan dịch)
    Hạnh phúc là sẵn có và tự nhiên, chứ không thể phát xuất từ những gì do cái tôi của mình cố gắng tạo dựng lên.  Chúng ta tiếp xúc được với lẽ thật của đạo không phải bằng một sự tạo tác hay tìm cầu nào, mà khi ta biết buông xả với một tấm lòng mở rộng, phơi bày và nguyên sơ.  Vậy mà trong cái mỏng manh và dễ tan vỡ ấy lại có đầy đủ hết…
this world
is a dewdrop world
yes...
but...
Issa
cõi này
 thế giới sương
đúng rồi…
nhưng
Hay là,
trần gian
một cõi mù sương
 thôi là vậy...
thế nhưng có là...
(Vũ Hoàng Thư dịch)

Kiếp người chỉ có một lần để sống! Vậy sống như thế nào?

                  
RUPERT NUDECK ÔNG LÀ AI? 
    Ngày  31/5 vừa qua tại bệnh viện Koln  ở nước Đức đã có  một trái tim nhỏ ngừng đập ở tuổi 77. Một người  ra đi ở tuổi gọi là thất thập cổ lai hy, điều đó có gì để gây xôn xao! Vì trên hành tinh này mỗi ngày có hơn 150,000 người từ trần với nhiều nguyên nhân!
    Nhưng đây là một tin gây rúng động cho nhiều cộng đồng, đặc biệt là người VN di tản hiện đang sống tại Đức, vì người đó  là Tiến sỹ Ropert Nudeck, một nhà thần học thiên chúa giáo, một nhà báo, nhà hoạt động xã hội. Ropert Nudeck - Ông là ai? Thú thật trước đây,  Anh Tri tôi  cũng chưa biết đến tính danh của ông, nhưng tình cờ  nhận một email của một cộng đồng ngừơi Việt ở Đức đang kêu gọi nhau đến dự lễ cầu nguyện ông vào ngày 14/6/2016, tôi mới tò mò tìm hiểu tại sao  một người Đức qua đời mà cộng đồng người Việt lại xôn xao báo tin và kêu gọi nhau đến nơi sẽ an táng ông để dự lễ tưởng niệm vậy!
    Càng tìm hiểu về ông tôi lại càng say mê và ngưỡng mộ về những gì ông đã làm cho đồng bào của tôi trong  thập niên1970s, khi hàng ngày ở miền Nam có hàng trăm người vượt biển đi tìm cuộc sống tốt đẹp hơn cho họ!!!



   Thời đó, do phương tiện truyền thông bị hạn chế, cũng như tin tức về người vuợt biên rất nhạy cảm theo quan điểm của nhà cầm quyền, nói chung chưa có face book, Twitter… như thời bây giờ! Nên những vụ đắm tàu, cướp biển tấn công, hãm hiếp người di tản, một số nước châu Á cho tàu quân đội ra xua đuổi tàu chở thuyền nhân khi vào lãnh hải của họ... ít ngừoi biết đến! Nhưng lúc đó, ở các nước phương Tây tin tức này là thời sự, nó cũng như cảnh ta đang xem trên tivi mới đây về những  người dân Somali, Lybia vượt biên chết hàng loạt trên biển!!! Tình cảnh thê lương cùng đường bị xua đuổi  như tội đồ đã đánh động trái tim của tiến sỹ Ropert Nudert. Nó thúc đẩy ông dấn thân hành- động bằng cách kêu gọi chính quyền Đức, cộng đồng xã hội,tôn giáo, các  bằng hữu hãy cứu  giúp những thuyền nhân VN đang bị nạn như thuyền hết xăng dầu, lương thực,  chết máy,  bị cướp bóc!  đang lênh đênh trên biển!!! Khi bị nhà cầm quyền từ chối, ông không nản lòng mà đã cầm cố ngôi nhà của mình, kêu gọi bạn bè thân nhân góp tiền của để đóng thuyền ra khơi cứu ngừoi VN! Câu chuyện về người có trái tim nhân ái này được ông Franz Alt, sau này là giám đốc đài truyền hình Baden kể lại vô cùng ấn tượng đối với tôi: “Ông ấy gõ cửa xin tôi phát lời kêu gọi cộng-đồng, tôi bảo không thể làm thế được, vì một ý-kiến cá-nhân!". Ông ấy kêu gào: "Chẳng lẽ chúng ta cứ nhìn thảm- cảnh như vậy mỗi ngày sao?”, tôi trả lời: "Tôi có thể làm được gì?” – ông ấy trả lời: “Tôi có thể cầm- cố ngôi nhà đang ở để khởi-sự cho chuyến đi biển” . Tôi đành nhượng bộ trước quyết tâm của con người này và cho ông ấy 2 phút để phát song!!!
   Đúng vậy, sau lời kêu gọi trên đài, chỉ 3 ngày sau cả nước Đức đã hưởng ứng với số tiền đóng góp lên đến 1.3 triệu mác (tiền Đức thời bấy giờ) - để thuê chiếc tàu CAP ANAMUR đầu tiên ra khơi vào ngày 9/8/1979 với sứ mệnh cao cả là cứu vớt người VN gặp nguy khốn trên biển Đông!!!
   Tiếp theo đó là thêm 2 chiếc Cap Anamur được hạ thủy nhờ vào sự ủng hộ của những người có lòng từ tâm!


    Trong thời gian 7 năm  hoạt động  (1979-1986) tổ chứcCap Anamur đã cứu vớt được 11.300 người vượt biển trên 223 chiếc ghe /thuyền và hầu hết được định cư tại nước Đức! Để làm được việc này chính ông, cùng với nhà văn Heinrich Boll, đoạt giải Nobel năm 1972, cùng thân hữu đã thuyết phục thành công chính quyền Đức cho thuyền nhân VN được nhập cư vào nước này!!!
   Được biết, ngoài việc cứu giúp cho người Việt; tổ chức do ông sáng lập đã có nhiều hoạt động giúp đỡ nạn nhân chiến cuộc tại Somali, châu Phi, Afganistan, Pakistan. Để tỏ lòng trân trọng công lao to lớn của ông, nhà cầm quyền Đức đã tặng ông huân-chương Chevalier cao quý! Nhưng 2 lần ông từ chối!!!
   Chính ông đã đánh động lương tâm của nhiều người, trong đó có người Mỹ và người VN tại Mỹ! Năm 1979, chính tổng thống Mỹ Jimmy Carter đã ra lệnh cho 5 tuần dương hạm đi cứu vớt những thuyển nhân và cho họ được nhập cư vào Mỹ!!!
   Hãy tưởng tượng, từ 11.300 người từ năm 1979 đến nay gần 40 năm số lượng này tăng lên bao nhiêu? Nếu tính luôn việc họ bảo lãnh cho người thân từ VN sang, thì có hàng chục ngàn số phận đã đổi thay từ nhân-duyên này!!!


   Ngày 14/6  sẽ diễn ra lễ tưởng-niệm một con người  vĩ-đại, nói như lời của ông thị-trưởng nơi thành-phố ông qua đời: "ông Rupert Neudeck làm được việc cao-cả của con người là cứu- mạng người khác, nước Đức tự-hào về ông!!!"".
     Sẽ có nhiều người Việt-Nam và con cái họ  chịu ơn cứu tử của ông từ khắp nơi trên nước Đức đến dự lễ tưởng niệm! Sẽ có nhiều lời tri ân, cảm phục tấm lòng nhân ái của ông!!! Riêng tôi, dù may mắn không là thuyền nhân trên các chuyến tàu thập tử nhất  sinh đó, tôi vẫn ngưỡng mộ ông như một nhân cách cao quý, một trái tim vĩ đại! - ông sẽ sống mãi trong lòng của những người tử tế biết trân quý tinh cảm, có lòng nhớ! Tôi cũng muốn chia xẻ thêm tin về thời niên thiếu của ông: Lúc còn bé, thời đệ nhị thế chiến, ông và gia đình đã nhỡ một  chuyến tàu tỵ nạn và chuyến tàu xấu số đó trúng thuỷ lôi của hồng quân Liên-xô chìm ngoài biển mang theo trên 9000 người. Có lẽ biến cố này đã gây ấn tượng quá lớn với một cậu bé để khi trưởng thành nó thôi thúc ông làm một nghĩa cử gì đó cho những nạn nhân trên biển cả chăng?
   Vĩnh-biệt tiến-sỹ Rupert Nudeck! - Ông ra đi về nơi thanh-thản sau khi làm được việc, là đem sự sống lần thứ hai cho hàng chục ngàn người! Và nhờ đó ông trở thành bất-tử!!!
Anh-Tri 7/6/2016 


Chùm ảnh tuyệt đẹp bên trong ngôi làng phật giáo lớn nhất thế giới

Ngôi làng này đã được ghi danh vào sách kỷ lục Guiness vì cư dân ở đây toàn các vị sư, sãi và ni cô với dân số lên đến hàng chục nghìn người.
Nằm giữa các ngọn đồi xanh mướt ở thung lũng Larung Gar là một ngôi làng với hàng ngàn căn nhà mang sắc đỏ. Nhưng đó chưa phải là điều đặc biệt nhất ở nơi này, bởi vì đây là ngôi làng phật giáo lớn nhất thế giới với 40 nghìn vị sư sãi, chú tiểu, ni cô đang tu tập.


Ngôi làng Larung Gar thắm đỏ một thung lũng.

Thực ra, đây không phải là một ngôi làng, mà nó là học viện phật học Larung Gar, nhưng vì quy mô quá lớn và đông người nên nơi này nghiễm nhiên được coi như một khu dân cư, những căn nhà gỗ đỏ được xây dựng san sát với nhau, tạo nên một cảnh quan đẹp đến kỳ lạ giữa thung lũng lộng gió.

Làng học viện này được thành lập từ năm 1980, nằm ở độ cao 3.800 mét so với mặt nước biển, cư dân của Larung Gar sống cách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài, họ phải chống chọi lại thời tiết khắc nghiệt nơi đây để học tập và nghiên cứu về Phật giáo. Thành phố gần Larung Gar nhất là Thành Đô nằm cách xa nơi này 600 cây số, du khách muốn đến đây phải ngồi xe bus hơn 20 giờ liền.


Một nhà sư trẻ đang ngồi học kinh phật.

Các tu sĩ trong làng Larung Gar sống với những điều kiện ăn ở cơ bản tối thiểu nhất, họ dùng chung những nhà vệ sinh công cộng, bị cấm xem TV, nhưng các tu sĩ được phép dùng Smartphone để cập nhật thông tin của thế giới bên ngoài. 

Hoạt động hàng ngày của người dân nơi đây là học về phật giáo, tụng kinh, thiền tịnh. Trong làng cũng có vài hàng tạp hóa cung cấp nhu yếu phẩm, các nhà sư tự trồng rau để dùng trong bữa ăn hàng ngày.



Ở đây có rất nhiều những chú tiểu nhỏ tuổi được gia đình hoặc nhà chùa gửi tới để học tập.

Ngôi làng phật giáo Larung Gar là một trong những cộng đồng đa quốc tịch nhất ở Trung Quốc, nơi này có công dân của rất nhiều nước như Singapore, Malaysia, Ấn Độ, Hàn Quốc, bên cạnh những chú tiểu được gửi đến để tu tập, họ còn là những nhà sư đến đây để nghiên cứu sâu về triết học phương đông và Phật pháp.

Một số hình ảnh tại ngôi làng Phật giáo lớn nhất thế giới với 40.000 tu sĩ, nhà sư, chú tiểu và ni cô đang tu hành và học tập:


Những ngôi nhà gỗ đỏ xếp san sát nhau trong thung lũng.



Thời tiết ở thung lũng Larung Gar thực sự rất khắc nghiệt.



Các ni cô đang trên đường tới trường, mỗi ngày họ đi bộ khoảng 10 cây số trong thung lũng để tới trường và về nhà.


Các nhà sư đang ôn tập sau giờ học, du khách đến đây được phép vào lớp học để nghe giảng.







Trường học trung tâm của làng và cũng là ngôi chùa lớn nhất.


Các nhà sư đang nghiên cứu bên trong ngôi chùa lớn nhất làng.


Các nhà sư Tây Tạng hay còn được gọi là các Lamas đang đứng trước một cửa hàng tạp hóa.


Những lá cờ phật giáo nhiều màu sắc được cắm đầy trên đỉnh đồi.


Làng Larung Gar về đêm chỉ còn ánh đèn ở các đường chính.




Những hòn đá cầu nguyện được khắc chữ Phạn bày khắp nơi trong thung lũng.






Những chú tiểu trong giờ nghỉ ngơi giữa các tiết học.


Kiến trúc ở nơi này vô cùng đặc biệt với nhà gỗ nhỏ nhắn màu đỏ.






Theo Dailymail

__._,_.___


CHUYỆN HIẾM CÓ:


THẢ BẦY LỢN CON RA TRƯỚC MIỆNG CON HỔ
CHUYỆN XẢY RA SAU ĐÓ THẬT BẤT NGỜ



Người cho rằng chúng không bao giờ có thể làm bạn với nhau. Tuy nhiên con hổ cái tên là Sai Mai này lại là một trường hợp đặc biệt khi muốn "nhận nuôi" một đàn lợn con thay vì biến chúng thành bữa tối.

Từ lúc mới chào đời, Sai Mai cùng các anh chị em đã bị mất mẹ do kết quả biến chứng trong khi sinh. Vì vậy, các nhân viên sở thú Sriracha ở tỉnh Chonburi của Thái Lan đã nghĩ cách tìm ra một mái ấm gia đình cho chú hổ Bengal này...


Gia đình mới của Sai Mai sau khi bị mồ côi mẹ


Đàn tiểu hổ đã được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ của một con lợn cái trong vòng 4 tháng.


Ít ai ngờ được, chỉ sau một vài ngày, chúng đã sống hòa thận với nhau như anh chị em ruột
Sau 8 năm, Sai Mai đã trở thành một chú hổ trưởng thành và đã có một lãnh thổ riêng trong sở thú. Tuy nhiên vào một hôm khi các nhân viên sở thú đang dọn vệ sinh, một điều thú vị đã xảy ra. Phía sau song sắt "chiếc lồng" của Sai Mai bỗng nhiên xuất hiện một đàn lợn con.

Các du khách đã nhanh chóng lôi hết máy ảnh và máy quay ra để chuẩn bị ghi hình một pha kinh dị, nhưng điều diễn ra tiếp đó đã làm họ hoàn toàn bất ngờ.



Những ký ức thời thơ ấu cùng bản năng làm mẹ đã thúc đẩy Sai Mai bảo vệ bầy lợn con này.




Sau sự kết hợp thành công kỳ diệu này, các chuyên gia động vật trên thế giới đã bắt đầu chú trọng hơn nữa đến cách mà bản năng làm mẹ của một loài có thể áp dụng cho con của loài khác.


Các nhân viên sở thú đã quyết định bọc những chú lợn con trong trang phục da hổ để cho chúng trông giống đồng loại


Tuy nhiên kể cả khi đàn lợn con không khoác lên mình lớp da hổ, Sai Mai vẫn sẽ chăm sóc chúng như con đẻ của mình.
Sai Mai yêu đàn lợn con đến nỗi nó không cho phép ai đem bầy lợn đi.

Thứ Ba, ngày 21 tháng 6 năm 2016

* RỘNG MỞ CON TIM




77 năm kỷ niệm ngày khai Đạo Phật giáo Hòa Hảo là kỷ niệm chuỗi thời gian tồn tại và phát triển của một tôn giáo còn non trẻ so với kỷ niên nhân loại. Trong thời gian ít ỏi đó, Đạo Phật giáo Hòa Hảo trải qua bao biến thiên lịch sử kéo theo những tích cực lẫn tiêu cực do những tín giả đương thời hành xử phủ lên một Tôn giáo nội sinh nhiều lớp áo huyền thoại, nhiều bi kịch hào hùng, để rồi, nghiễm nhiên được chánh thức là một trong 14 Tôn giáo được hợp pháp hóa hiện nay.

Mỗi năm, Ban Đại diện Đạo Phật giáo Hòa Hảo đều long trọng tổ chức kỷ niệm ngày khai Đạo của một vị giáo chủ trẻ nhất, năng động nhất, sáng tạo nhất..., xuất hiện trong một giai đoạn nước nhà tăm tối nhất thời cận đại. Vì không có cơ sở khả dĩ dung chứa hàng trăm đồng đạo và đại biểu về tham dự, vì thế BĐD đã phải tạm nhờ nhà Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ tại 202 đường Võ Thị Sáu, P7, Q.3 - Sài Gòn.

Về sinh hoạt hàng năm, vẫn không có gì thay đổi, vẫn nghi thức hành chánh sau khi tuyên bố lý do, giới thiệu thành phần tham dự, nghi thức tôn giáo thật đơn giản trước khi đọc diễn văn khai mạc. Sau đó đọc thư chúc mừng, tặng quà; đọc bài "Sứ mạng của thầy"... và không quên trao học bổng Hương Sen Hòa Hảo cho HSSV nghèo, học giỏi. Liên hoan thân mật kết thúc vào lúc 11 giờ. Trong ba tiếng, Ban tổ chức gói gọn đầy đủ nội dung từ báo cáo hoạt động Đạo sự cho đến phát biểu của chánh quyền, đọc tâm thư của BTS Trung ương. Có cả một vài Tôn giáo bạn tham dự.

ĐỒNG HÀNH CÙNG DÂN TỘC:
Tinh thần chung của người con Phật, "TỨ TRỌNG ÂN - đó là: ÂN TỔ TIÊN CHA MẸ, ÂN ĐẤT NƯỚC, ÂN TAM BẢO và ÂN ĐỒNG BÀO NHÂN LOẠI." Thật rất quan trọng đối với các hệ phái và Tôn giáo nội sinh như Đạo Phật giáo Hòa Hảo.

Tiền thân của Đạo Phật giáo Hòa Hảo là Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương do Ngài Đoàn Minh Huyên khai sáng. Trong giai đoạn lịch sử, Miền Nam Việt Nam bị bảo hộ bởi thực dân Pháp vào năm 1867, triều đình nhà Nguyễn cắt nhượng cho Pháp, đây là vùng đất đầu tiên Pháp chiếm được trong quá trình xâm lược Đại Nam. Từ vùng Nam bộ phù sa, xuất hiện một nhân vật lịch sử đầy lòng yêu nước thương dân, Đoàn Minh Huyên (dân tôn kính gọi là Phật thầy Tây An). Đạo hiệu là Giác Linh, dưới hình thái một Tôn giáo mệnh danh là Bửu Sơn Kỳ Hương, vừa giúp dân khai mở dinh điền, khai hoang nhiều vùng đất Nam bộ giáp ranh Campuchea, vừa truyền đạt tinh thần yêu nước bảo vệ cõi bờ cho những nông dân chân chất lúc bấy giờ, vừa học Phật tu Nhân. Xuất thân từ Sa Đéc vào năm 1807, tại làng Cái Tàu Thượng, nay là huyện Lấp Vò, Đồng Tháp.

Năm 1849 tại Nam kỳ xẩy ra mất mùa và đại dịch, nhân dân lâm vào cùng cực khổ đau và chết chóc, Ngài từ Tòng Sơn xuất hiện chữa bệnh cho dân, từ đó hướng dẫn khai hoang lập trại ruộng để giải quyết sinh kế và nạn đói. Việc làm ích lợi dân và được lòng dân như thế, chính quyền địa phương bắt giam và chỉ định cư trú, buộc ngài quy y cửa Phật vào dòng Lâm Tế, tại chùa Tây An dưới chân núi Sam - Châu Đốc. Tuy trụ thế 49 năm (1807-1856) Ngài đào tạo được những đệ tử giỏi, đầy tinh thần yêu nước như Cố Quản Trần văn Thành (nổi tiếng chống Pháp), Tăng Chủ (Bùi Đình Thân), Đạo Xuyến (Nguyễn Văn Xuyến), Đạo Lập (Phạm Thái Chung), Đạo Thắng (Nguyễn Văn Thắng),v.v...

Trong những lời sấm truyền của Phật Thầy để lại cho đệ tử có câu:

Chừng nào gốc mộc nên chồi,
Ta vưng sắc lệnh tái hồi trần gian.


Hay câu:
Nay già đã hết già hóa trẻ ,
Nên giữa đồng bỗng lại có sông.


Và một điều nữa, Phật Thầy Tây An cổ có ba ngấn, sau này Đức Huỳnh Phú Sổ ra đời cũng có ba ngấn cổ và Ngài viết ra quyển 2 sấm giảng nhắc lại bút tích Phật Thầy nên hầu hết tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương và Phật giáo Hòa Hảo đều nhìn nhận chung một gốc.

Phật Thầy Tây An là một nhà yêu nước ẩn dưới chiếc áo nhà tu. Ngài vừa trị bệnh cứu người, vừa quy tụ nông dân nghèo khai hoang, vừa phổ biến "TỨ ÂN", mà trong đó "ÂN ĐẤT NƯỚC" rất được chú trọng. Điểm đáng lưu ý nữa, đó là những "trại ruộng" mà Ngài lập ra, vừa làm kinh tế dân sinh, vừa là căn cứ tập hợp nông dân chống lại chính sách cai trị hà khắc của nhà Nguyễn. Sau này, khi thực dân Pháp đến xâm lược, thì những nơi ấy trở thành những căn cứ chống ngoại xâm, nhiều tín đồ của Ngài trở thành nghĩa quân (để đền ơn đất nước), mà cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa (1867 -1873) do Trần Văn Thành (đại đệ tử của Phật Thầy Tây An) phát động, là một minh chứng.

Đây là phong trào khởi nghĩa dưới hình thức Tôn giáo tại Miền Tây Nam bộ do Phật thầy Tây An khởi lập để rồi tiếp theo truyền thừa có những vị như Đức Phật Trùm (1868- 1875), Đức Bổn sư Ngô Lợi (1831- 1890), sư Vãi Bán khoai (1901-1902), ông Cử Đa rồi tới Đức Huỳnh Phú Sổ (1920 - 1947).

Đức Huỳnh Phú Sổ sinh ngày 15 tháng 1 năm 1920, nhằm ngày 25 tháng 11 năm Kỷ Mùi tại làng Hoà Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, (nay thuộc huyện Phú Tân, tỉnh An Giang); con của ông Hương Cả - Huỳnh Công Bộ và bà Lê Thị Nhậm. Thuở nhỏ Người thông minh, học hết bằng sơ học yếu lược Pháp - Việt nhưng hay bị đau ốm nên đành bỏ dở việc học. Thời gian lên núi Sam học đạo với Bửu Sơn Kỳ Hương và chữa lành bệnh.  sau đó về lại đồng bằng trị bệnh cho dân và khai Đạo tại làng Hòa Hảo. Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (4 tháng 7 năm 1939), Người đứng ra cử hành lễ "đền linh Khứu Sơn trung thọ mạng" khai đạo, lấy tên là Phật giáo Hòa Hảo.
 
Từ đó Đức Huỳnh đi chữa bệnh, tiên tri, thuyết pháp và sáng tác thơ văn, kệ giảng. Văn chương của Người rất bình dân nên dễ đi vào lòng người. Chỉ trong một thời gian ngắn số tín đồ và ảnh hưởng của Người càng ngày càng gia tăng và trở thành một phong trào tín ngưỡng mạnh mẽ khiến thực dân Pháp lo ngại. Tuy mới 20 tuổi, trong tay Người đã có hàng triệu tín đồ tại Miền Tây Nam bộ.

Ngày 18 tháng 8 năm 1940, họ đưa Người đi quản thúc tại Sa Đéc, rồi chuyển Người sang làng Nhơn Nghĩa, tỉnh Cần Thơ nhưng cả hai nơi này đều được đông đảo quần chúng đến xin nghe thuyết pháp và quy y.

Sau đó, nhà cầm quyền Pháp đưa đức Thầy vào bệnh viện Cần Thơ và chuyển lên nhà thương điên Chợ Quán tại Sài Gòn.

Tháng 6 năm 1941, Người bị đưa đi quản thúc ở Bạc Liêu. Tại đây Người không được phép trị bệnh và thuyết pháp.

Tháng 10 năm 1942, trước tin tức người Pháp sẽ đưa Huỳnh Phú Sổ đi đày ở Ai Lao (Lào), các tín đồ Phật giáo Hòa Hảo và hiến binh Nhật đã giải cứu Người rồi đem về Sài Gòn.

Từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1945, Đức Huỳnh đi thuyết pháp và khuyến nông tại 107 địa điểm ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Tiếp nối truyền thống TỨ ÂN HIẾU NGHĨA của tiền nhân. Người chủ trương "HỌC PHẬT TU NHÂN" và đáp đền ân đức đất nước.

Trong thời gian Pháp thuộc, Người cùng đệ tử thành lập và tham gia các phong trào chống Pháp. Trước lực lượng của Pháp và chính quyền đương thời quá mạnh, Người khôn khéo tùy nghi làm mọi phương tiện để bảo tồn lực lượng yêu nước còn yếu kém. Đôi khi một vài lực lượng các nơi phải giả hàng Pháp để lấy vũ khí, sau đó đánh lại Pháp, vì vậy bị hiểu lầm là "sáng đầu tối đánh".

Dẫu sao, Lực lượng Hòa Hảo lúc bấy giờ đã thể hiện lòng yêu nước không kém so với các tổ chức chống Pháp lúc bấy giờ. Người không chỉ tổ chức và tham gia các phong trào chống Pháp, còn giúp dân khai hoang lập ruộng, dạy dân đời sống đạo đức tu thiện, giữ gìn phong hóa dân tộc như mặc đồ đen, búi tóc, thờ cúng Cửu huyền thất Tổ, đoàn kết tình làng nghĩa xóm. Bình dân hóa kinh điển giáo lý nhà Phật qua văn vần dễ hiểu dễ nhớ, dịch và chuyển thành thơ Tỳ ni Nhật dụng rất giản dị khi mà nông dân nhìn chữ Hán như đám rừng vô nghĩa. Pháp tu là hằng ngày niệm Phật, cầu nguyện, không thờ hình cốt và nghi thức rườm rà, nếu không trường trai thì cũng phải nhị trai, lục trai tiến dần lên.

Sau khi đất nước chấm dứt chinh chiến, tín đồ Đạo Phật giáo Hòa Hảo hướng đến công tác từ thiện như mở bếp ăn tình thương giúp đỡ bệnh nhân và thân nhân bệnh nhân nghèo trong các bệnh viện. Phong trào nầy phủ trùm hầu hết các Tỉnh Miền Tây Nam bộ và lan tràn lên Thành phố lớn như Cần Thơ, Sài Gòn, Bình Dương, Bà Rịa Vũng Tàu, Đồng Nai... Xây nhà tình thương, làm cầu, đóng giếng, hỗ trợ học sinh nghèo, cấp thuốc từ thiện, cho xe chuyển vận bệnh nhân nghèo từ Tỉnh lên Thành phố hoặc ngược lại, bảo trợ quan tài, xe lăn... Tuy làm từ thiện âm thầm, không phô trương quảng cáo, nhưng vẫn không thiếu đâu đó mạnh thường quân chung tay góp phần hỗ trợ.

Việc từ thiện là hành động truyền thống con nhà Phật có từ xa xưa dù là trong thời chiến, tuy không phát triển đa dạng như ngày nay. Lúc bấy giờ chỉ mở phòng thuốc Nam từ thiện do Tịnh Độ cư sư chủ trương và một ít chùa. Sau năm 1975, một vài địa phương do cán bộ phía Bắc vào quản lý, không đồng ý phát thuốc miễn phí, buộc phải thu tiền, và những việc từ thiện khác họ không tin vào việc làm xa lạ khó hiểu khi Miền Bắc chưa hề có như thế, vì ngại rằng, đây là âm mưu chính trị, hay thủ đoạn lừa lọc nào đó. Nhưng sau một thời gian họ đã hiểu, vì thế, bao chướng ngại lá lành đùm lá rách được cởi mở, và sau hơn 40 năm, nay là lá rách đùm lá nát được nhân rộng dưới mọi hình thức. Tín đồ Đạo Phật Giáo Hòa Hảo vẫn nằm lòng câu "Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng".

TINH THẦN HỘ PHÁP VÀ HỘ QUỐC AN DÂN:
Từ ngày Trịnh Nguyễn phân tranh, người dân đổ dần về hướng cực Nam, trong suốt 45 năm nội chiến mà lãnh thổ ta đã được rộng mở. Trước kia, Hán tộc đã đẩy lùi tổ tiên ta về đồng bằng sông Hồng mà dân ta từng tồn tại nơi dãy đất hẹp Quảng Đông, Quảng Tây cho đến Nghệ An. Vào thế kỷ 11 đến 14, dưới sự lãnh đạo của các triều đại Phật giáo mà nhân dân ta đã tồn tại độc lập ngang hàng với phương Bắc. Qua nhiều cuộc chiến nội loạn ngoại xâm, cha ông ta đã dần rộng mở bờ cõi cho đến khi đại đế Quang Trung thống nhất nước nhà, địa đầu giới tuyến của ta chấm dứt tại mũi Cà Mau. Những di dân từ miền Trung vào Miền Tây là những cộng đồng mang nặng giòng máu tín Phật, đến đâu đều lập chùa ở đấy. Nhưng đến thế kỷ 19 bị Pháp xâm lược, đưa Thiên Chúa giáo vào miền Lục Tỉnh, người dân chân lấm tay bùn thiếu học, lam lũ nơi miền đất mới, không được học hỏi giáo lý uyên thâm đầy chữ Hán, nên việc tin Phật có phần mê tín. Một số Tăng sĩ lớn tuổi cũng khó lòng đối đầu với trào lưu văn hóa mới, không có điều kiện tiếp thu kiến thức Phật học trong thời buổi nhiễu nhương, nên đành co cụm trong thôn xóm, gần gũi dân qua ma chay đám cúng, đành lập gia thất để có người kế thế truyền thừa Tam bảo. Cũng từ đó, chư Tăng biến thành thầy đám, oai nghi mất dần thì niềm tin của quần chúng cũng mất dần. Để phục hồi sự trong sáng của đạo Phật cũng như bảo vệ truyền thống văn hóa ông cha, Đức Phật thầy Tây An và lần lượt các thế hệ tiếp theo chấn hưng một Phật giáo nông dân qua giáo lý đơn giản, giữ vững đạo đức dân tộc qua chủ trương "HỌC PHẬT TU NHÂN" thật gần gũi với quần chúng. Chính tinh thần cốt lõi của Phật giáo, qua giáo lý TỨ ÂN đã có một giáo chủ non trẻ Huỳnh Phú Sổ làm điểm tựa tâm linh và tinh thần yêu nước cho nông dân Nam bộ.

Từ giáo lý "TỨ ÂN HIẾU NGHĨA" đến "HỌC PHẬT TU NHÂN" trải qua 5 thế hệ mang đậm nét Phật giáo dân tộc, đã một phần an định biên cương khi một số thổ phỉ ngoại tộc được thấm nhuần đạo lý của người dân Nam bộ. Ngay cả trong số truyền thừa đó, có cả người Miên được gọi là Phật Trùm, chính nhân vật nầy đã bình ổn người dân Miên và hòa hợp với người dân Nam bộ đem lại thời ký an hòa giữa hai dân tộc chung sống tại địa đầu giới tuyến. Một khi ổn định được quần chúng thì điều ắt có và đủ để chống ngoại xâm của người dân Nam bộ dưới sự điều động của vị giáo chủ trẻ Huỳnh Phú Sổ.

(Cuộc xâm chiếm Việt Nam của giặc Pháp phần lớn là do sự xúi dục của các nhà truyền đạo Thiên Chúa Giáo. Giám Mục E Huc gởi thư cho Hoàng Đế Napoléon III trong tháng 1 năm 1857 thúc dục Pháp đem quân xâm lăng Việt Nam. Trong đó có đoạn "đánh chiếm Việt Nam sẽ dễ dàng hơn hết, sẽ không gây phí tổn gì cho nước Pháp. Dân chúng hiền lành, cần cù, rất thuận lợi cho việc tuyên truyền lòng tin Thiên Chúa Giáo... Họ sẽ đón tiếp chúng ta như những người giải phóng và những ân nhân". Lịch Sử Việt Nam, q 2, t 32).

Với lý do như thế, mặc dù Thiên Chúa giáo lúc bấy giờ được Pháp nâng đỡ, vẫn không thể phát triển tại miền Tây Nam bộ, để rồi tinh thần HỌC PHẬT TU NHÂN (chỉ tu đạo làm người thôi) đã lan truyền nhanh và mạnh khắp xứ Lục Tỉnh.

Năm 1966, phong trào đấu tranh của GHPGVNTN tại miền Nam Việt Nam, một số anh em Thiên Chúa Giáo Hố Nai do LM cực đoan đã sách động, kéo lên loạn sát Phật giáo tại Việt Nam Quốc Tự, lựu đạn tung vào cô nhi viện Quách Thị Trang, một số thanh niên Phật tử trong các trường trung học đã ra tay bênh vực chư Tăng, một thanh niên Phật tử bị chặt lìa tay ở chợ Phú Nhuận. Sau đó, 200 thanh niên Phật giáo Hòa Hảo từ miền Tây kéo lên bảo vệ Phật giáo, số anh em Hố Nai đành phải rút về trú xứ.

Mặc dù ngày nay, có một vài Tăng sĩ trẻ chưa hiểu nhiều tinh thần hộ đạo và giáo lý thuần nông của tôn giáo nội sinh như Phật giáo Hòa Hảo, có những nhận định chưa chính xác, xem Hòa Hảo là không phải Phật giáo. Chả lẽ họ là Thiên chúa giáo, Tin Lành giáo mà ăn chay niệm Phật? Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo được chính phủ công nhận là một trong những tôn giáo có mặt sinh hoạt hợp pháp tại Việt Nam, đồng đẳng với các tôn giáo, có nghĩa GHPGHH không phải là GHPGVN trên phạm vi tổ chức và hành chánh, nhưng vẫn được xem là một hệ phái của Phật giáo Việt Nam như Tịnh Độ cư sĩ hiện nay.

Nếu bảo PGHH không có một hệ giáo lý đặc thù mà góp nhặt từ Phật giáo thì Đạo Phật có bị ảnh hưởng giáo lý Nhân Quả, luân hồi của Ấn Độ giáo, an cư kiết hạ có phải đó là hình thái đặc thù của Phật giáo hay đã có từ những giáo phái đương thời của Ấn Độ?

Không có cái gì tự sinh, vì cái nầy có thì cái kia có, cái nầy sinh thì cái kia sinh. Kito giáo La Mã cũng từ nền tảng Do Thái giáo mà thành. Giáo lý Đạo Hồi cũng thấp thoáng truyền tích kinh Cựu Ước. Đó là quy luật biến thiên của sự tiến hóa. Nếu Ấn Độ không bị đè nặng giai cấp của Bà La Môn giáo thì không có tôn giáo cách mạng như Đạo Phật. Phật giáo ngày nay phát triển mạnh nhờ các hệ phái dưới dạng Đại thừa. Các nước chịu ảnh hưởng Phật giáo Nguyên thủy chỉ co cụm tại Srilanka, Myanmar, Lào, Thái, Campuchea để giữ bản sắc nguyên thủy. Trong khi đó, Phật giáo Phát Triển (đại thừa) đã thiên biến vạn hóa từ giáo lý cơ bản; kinh qua các quốc độ, biến thành Kim Cang thừa, Hoa Nghiêm tông, Pháp Hoa tông, Thiền Tông, Tịnh độ tông, ngay cả Thiền tông cũng đa dạng...

Phương Tây đầu tiên biết đến Phật giáo qua cửa ngõ Phật giáo Bắc truyền, qua các Thiền sư Nhật Bản. Cái gì phát triển cũng đều mang đủ tính chất tích cực và tiêu cực. Phật giáo Đại thừa càng phát triển thì càng nhuốm màu mê tín của tế lễ, hình tướng của một Tôn giáo mà đức Phật không hề mong muốn lập thành một Tôn giáo như các Tôn giáo có mặt trong xã hội Ấn đã có. Phật giáo cũng như vài giáo phái thuộc khuynh hướng tâm linh, muốn đưa con người thoát khỏi hệ thống Tôn giáo lúc bấy giờ, nên đức Phật không khuyến khích mọi hình thức sinh hoạt Tôn giáo; càng đi sâu vào hình tướng mà kinh Kim Cang đã cảnh báo "Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thinh cầu ngã, thị nhơn hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai". Tuy nhiên, với sự đa dạng của Phật Giáo Phát triển, đạo Phật đã dễ dàng đi vào mọi ngõ ngách tâm linh và tình cảm của người dân. Một khi Phật giáo phổ biến dưới nhiều hình thức, đó là biểu tượng cái cây đang phát triển, cây phát triển thì cành lá sum sê. Cũng có thể phát triển theo từng thổ nhưỡng mà bản sắc cây giống đã bị lai căn. Cây mà suôn đuột không cành không lá thì cây sẽ chết dần chết mòn.

Tại sao có nhiều Tôn giáo, trong Tôn giáo phát sanh nhiều hệ phái? Cũng như dược phẩm, ngoài Tây dược sao còn có Đông dược, Nam dược? Cơ địa mỗi người thích hợp một dược phẩm. Cũng thế, trình độ và căn cơ quần chúng không thuần nhất thì không thể có một Tôn giáo duy nhất, và một tôn giáo không thể không phát sanh nhiều sắc màu đa dạng để tương thích với căn cơ tín chúng. Người hợp với Tịnh độ thì không thể buộc họ tu Thiền, người hạp Thiền thì không thể theo Kim Cang thừa... Vì thế không thể buộc họ đứng vào tín tuyến của mình theo kiểu cực đoan, để rồi lên án nhau.

Đạo Phật giáo Hòa Hảo cũng thế, từ một xã hội ngoại thuộc về văn hóa, tín ngưỡng, thậm chí kinh tế, một giáo chủ non trẻ đã đứng về phía nông dân, đem đạo Phật nguyên thủy, đơn giản, đến với người dân, tạo kinh tế nông nghiệp cho dân, giữ an bờ cõi Tây Nam khi mà lòng thù hận của một thiểu số còn muốn đòi lại đất mà cha ông ta đã thu hồi hợp lý, và tuy tay trắng, vẫn nêu cao ngọn cờ chống ngoại xâm, giữ gìn bản sắc dân tộc trong lúc một bộ phận lớn của Phật giáo Việt Nam lúc bấy giờ đang phải thúc thủ. Phật giáo Hòa Hảo ra đời trong tình huống với những công trạng như thế, phải chăng đã là "HỘ PHÁP AN DÂN"!!! Tội hay công đã được lịch sử phán xét.

Ngoại đạo mở rộng vòng tay đón nhận bất cứ ai, bất cứ Tôn giáo nào quy phục họ. Giáo Hoàng tiền nhiệm cũng đã từng chìa tay cho anh em Cơ đốc giáo Tin Lành, chính Thống giáo, Hồi giáo mong được giao hảo thì tại sao chúng ta xua đẩy anh em cùng niềm tin vào Tam Bảo, phủ nhận giòng máu Thích Ca mà Đức Huỳnh giáo chủ từng xác nhận: "Tôi là đệ tử trung thành của đức Phật". Khuyến khích tín đồ tôn kính và cúng dường Tam Bảo. Chưa bao giờ Người xúc phạm bậc chân tu mà chỉ lên án những ác Tăng lúc bấy giờ làm suy tổn đạo Phật.

Những nhà trí thức như Phạm Công Thiện, Ngô Trọng Anh, Lê Hiếu Liêm, Bs Trần Nguơn Phiêu, triết gia Kim Định, giáo sư sử học Phạm Cao Dương, Gs Trần Nguyên Bình, Gs Minh Chi, Nguyễn Hiến Lê, nhà văn Sơn Nam... Nhiều nhà trí thức trong và ngoài nước không tiếc lời ca tụng một giáo chủ trẻ nhất trong thời gian ngắn nhất có một lượng số tín đồ đông nhất, xiển dương tinh thần yêu nước hộ đạo trong giới nông dân thuần nhất mà trên thế giới chưa Tôn giáo nào có được, đem đến cho quần chúng một đạo Phật dễ hiểu, trong sáng nhất lúc bấy giờ.

Trong cuốn Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ, Lê Hiếu Liêm nhận định:
"Từ Đức Phật Thầy Tây An đến Đức Huỳnh Giáo Chủ, trải qua suốt 90 năm, là một giòng sinh mệnh Phật Giáo đặc thù Việt Nam và đặc biệt Nam Bộ nhưng nó không tách lìa, trái lại, là một phần bất khả phân ly của 2.000 năm Phật Giáo Việt Nam và 2.500 năm của Phật Giáo Thế Giới. So với rất nhiều tông phái Phật Giáo khác tại Việt Nam và trên thế giới, thì Bửu Sơn Kỳ Hương và Phật Giáo Hòa Hảo có đặc chất và màu sắc Phật giáo rất rõ rệt và đậm nét, chưa kể là nó còn mang được tính chất trong sáng và truyền thống của đạo Phật".

Hiện nay, Đạo PGHH song song việc truyền giảng giáo lý, một việc không thể thiếu trong Đạo sự, đó là công tác từ thiện. Người dân Miền Tây không giàu nhưng rất giàu lòng từ bi của con nhà Phật, đã chia sẻ miếng cơm manh áo cho bệnh nhân và đồng bào nghèo. Lúc Phật giáo hữu sự, họ sẵn sàng chung tay, lúc gặp nạn họ không hề từ chối, vì Tam Bảo vẫn là niềm tin vững chắc trong mọi tín đồ Phật giáo Hòa Hảo. Một Tôn giáo phát sanh từ vùng phù sa thì bản chất đạo đức từ bi cũng tràn đầy màu sắc phù sa tâm đạo.

Một Tôn giáo nội sinh đặc thù như thế, không có chức sắc Tăng lữ điều hành, không có giáo sản, không có cơ sở vật chất tầm vóc của một Tôn giáo, không có trường lớp đào tạo... thế nhưng, huynh đệ đồng đạo vẫn sách tấn nhau tu tập, vẫn giữ trai tịnh tinh khiết, vẫn đoàn kết nội bộ, vẫn xã kỷ vị tha, niềm tin Tam Bảo luôn vững chắc, luôn thể hiện tấm lòng con Phật mà không hề quảng bá tôn xưng. Bấy nhiêu cũng đủ để ngoại đạo ngả mũ chào, đủ để xã hội tôn quý. Việt Nam hãnh diện từng có những Tôn giáo nội sinh Đời - Đạo song hành, họ luôn mở rộng trái tim thì tại sao ta không có một vòng tay dành cho anh em con một cha?

Đứng góc độ riêng để phán xét đánh giá người khác là tự ta cô lập kiến thức và làm nghèo tình cảm, từ bi, làm sao có được sự cảm thông và hiểu biết lẫn nhau? Có hiểu mới có thương. Có thương mới có lòng từ bi của người con Phật.

Tuy 77 năm khai đạo, tinh thần đồng đạo Phật giáo Hòa Hảo luôn hiếu hòa hữu hảo, việc tổ chức kỷ niệm thường niên không có sắc thái mới lạ, nhưng cái mới lạ là tinh thần tu học của đồng đạo không hề suy giảm; có những đồng đạo về các chùa hỗ trợ phụ giúp công quả. Ngôi chùa Hoằng pháp nổi tiếng trong và ngoài nước vẫn có những tín hữu PGHH âm thầm tham gia các khóa tu tập và đích thân góp tay trong các phần sinh hoạt thường nhật.

Anh Tư Mắt Kiếng, tuổi gần 80, ngày ngày vẫn ngồi trên xe nhiều hơn đi trên đất để vào các vùng sâu giúp dân xây cầu đóng giếng, cứu trợ dân nghèo. Thầy thuốc nhân dân Lê văn Lợi tháng ngày lặng lẽ châm cứu trị bệnh giúp dân miễn phí. Vợ chồng anh Quang ở Bình Tân mở lớp học giúp cho con em lao động nghèo. Và còn bao nhiêu tấm lòng nhân ái của đồng đạo con Phật xuất thân từ Phật giáo Hòa Hảo không đủ để ta mở rộng vòng tay và con tim đón nhận người con Phật độc hành lẻ loi "HỌC PHẬT TU NHÂN" như thế sao???

Bởi họ vẫn nhớ lời Phật dạy: "TẤT CẢ CHÚNG SANH ĐỀU CÓ PHẬT TÁNH", thì không lý gì phân biệt thân thù khi các con đều cùng một cha.

MINH MẪN
22/6/2016
(18/5/BÍNH THÂN)