Thứ Sáu, ngày 24 tháng 10 năm 2014

* MỘT VIỆC LÀM TẮC TRÁCH




Chùa Vạn Đức ở Thủ Đức là ngôi tổ đình nổi tiếng, nơi cư ngụ của Đại lão Hòa Thượng T.Trí Tịnh, chủ Tịch HĐTS TW GHPGVN. Với uy đức và danh tiếng của Ngài, trong và ngoài nước ai cũng biết, vì thế tín đồ vân tập về tu tập khá đông, trong đó có gia đình đạo hữu Trần Chí Cường, pháp danh Hoằng Kiên.
Trước ngày Hòa Thượng chủ tịch viên mãn độ hơn một tháng thì thân mẫu của đạo hữu Trần Chí Cường cũng ra đi vì bệnh tật, được chư Tăng chùa Vạn Đức hộ niệm suốt thời gian trước và sau tang sự. Gia quyến cúng dường trai tăng và làm nhiều thiện sự để hồi hướng phước báu cho cụ bà, xin lưu cốt lại chùa sau 49 ngày sẽ thỉnh về; nhưng chẳng may lúc ấy sư ông T.Trí Tịnh viên tịch, nên tang quyến chưa tiện thực hiện, tuy nhiên mỗi ngày đều đến chùa tụng kinh. Sau vài tháng, gia đình đến thỉnh cốt về thì phát hiện cốt không còn, được quý thầy cho biết đã đem thủy táng mà không cho tang chủ biết. Quá bức xúc nên hôm sau gia đình đến trình vấn thầy Hoằng Tri, trụ trì chùa Vạn Đức từ Thái Lan về. Thầy Hoằng Tri có vẻ khó chịu và thách thức: “Bây giờ cô chú muốn gì? Cứ việc đi thưa hoặc muốn đền cái gì?”
Gia đình bất ngờ về thái độ và ngôn ngữ của một trụ trì tổ đình nổi tiếng như thế, nhưng tang chủ cố bình tĩnh phân trần về tình và lý trong nhà đạo cũng như việc ngoài đời: “Cầm đồ lỡ trễ hẹn không ai nỡ thanh lý liền, huống chi đây là hũ cốt để ở chùa”. Thế là sư trụ trì T. Hoằng Tri nổi tam bành thịnh nộ. Một chú sa di thị giả tên Hoằng Hiền, hùng hổ sừng sộ chống nạnh: “Bây giờ các người muốn gì?”. Các thầy đứng gần, bức xúc, biết lỗi do nhà chùa nên điềm đạm nói: “Thôi, cho thầy nhận lỗi hết”.
Đáng ra, muốn thủy táng cũng phải báo cho gia chủ biết, vì ai lưu cốt tại chùa cũng có để địa chỉ, số điện thoại và dĩ nhiên đóng góp chi phí cho chùa. Gia đình biết nói thế nào với thân nhân ở xa về trước sự cố xem thường tình cảm và tâm linh của nhà chùa như thế. Trụ trì một tổ đình lớn cần phải khiêm hạ, không nên xem thường bá tánh, xem thường tình cảm huyết thống của thế gian. Một người thân bị mất tích còn hy vọng có ngày gặp lại, tự động thủy táng tro cốt người thân của họ là một việc làm thiếu đạo đức. Trước việc bức xúc đau khổ của người còn sống đối với kẻ ra đi bị xem thường, đáng ra nhà chùa ôn tồn, xin lỗi và nhận trách nhiệm về mình thì tang chủ bớt phần thương tổn; ngược lại thái độ cao ngạo thách thức đó cho phép quần chúng đánh giá về nhân cách của một trụ trì không biết tàm quý trước sự sai trái của mình. 

Trụ trì chưa phải là gì ghê gớm lắm, kể cả trụ trì một tổ đình nổi tiếng lại tự mình bôi đen uy tín của sư phụ vừa ra đi. Thái độ tắc trách đó là bài học cho tất cả những tu sĩ đang làm nhiệm vụ hướng dẫn quần chúng trên con đường đạo đức tâm linh; biến xấu thành tốt chứ không phải biến tốt thành xấu như vậy.

MINH MẪN
24/10/2014

Thứ Tư, ngày 22 tháng 10 năm 2014

* HỘ NIỆM VÀ TRỢ NIỆM




Trên căn bản, ý nghĩa hai từ nầy không khác nhau mấy, nhưng gần đây, phong trào niệm Phật cầu vãng sanh của một số Ban Hộ Niệm dành cho người sắp lâm chung hoặc vừa lâm chung, đã làm cho hai từ trên có một ý nghĩa khác nhau.

Trước đây, Phật giáo Tỉnh Gia Lai than phiền một số Ban Hộ Niệm sinh hoạt ngoài luồng không hợp với tinh thần Phật giáo. Hiện nay một số Tỉnh thành cũng xuất hiện phong trào “trợ niệm”, nổi bật nhất và có tổ chức nhất là Tịnh xá Quán Âm của thầy Giác Nhàn ở Đức Trọng. Trên các trang mạng đã đăng bài viết về thầy Giác Nhàn, nêu những quy kết của BTS và BTG Lâm Đồng trong những buổi họp mà không có mặt thầy Giác Nhàn.

Quy trình kết tội về sinh hoạt của thầy Giác Nhàn đúng nguyên tắc nhưng chưa hợp lý. Cách quy tội kết án chỉ đúng về mặt pháp lý thế gian, nhưng chưa hợp với tính nhân bản của nhà Phật. Trong sinh hoạt Tăng đoàn có tác pháp Yết Ma để “cử tội” một vị Tăng sai phạm, có nghĩa đưa ra giữa đại chúng những việc làm chưa đúng chánh pháp để người phạm lỗi thấy được lỗi mình thuộc điều khoản nào trong giới bản, từ đó, người sai phạm thừa nhận lỗi và đại chúng tùy đó mà khuyến giáo. Sinh hoạt trong Tăng đoàn luôn mang tính dân chủ và hòa hợp, không dùng quyền lực áp chế theo kiểu trị tội của thế gian; từ đó, giúp kẻ phạm lỗi biết tàm quý, tự hoàn thiện.

Khi xét một hiện tượng phạm lỗi, phải đứng trên hai mặt: Vô tình hay cố ý, thiện ý hay bất thiện ý. Việc làm của thầy Giác Nhàn, khởi đầu là thiện ý, muốn giúp kẻ bệnh tật hoạn nạn, bằng chứng là không đòi hỏi tiền bạc hay quyền lợi nào từ bệnh nhân, chẳng những thế sự phục vụ rất tận tình cho bệnh nhân có những căn bệnh trầm trọng, nguy hiểm về sức khỏe cho người phục vụ; nhưng với thiện ý đó, đi quá xa và lệch lạc về giáo điển của nhà Phật. Những lần qua Mỹ trước đây, thầy hay tuyên bố là đã giúp vãng sanh nhiều vị trong một năm. Thầy căn cứ vào thân tướng người quá cố, tay chân mềm mà cho là vãng sanh, thầy quên đức Phật từng ví dụ: Thỉnh hàng ngàn vị Tăng tụng niệm cho cục đá trong nước, vẫn không thể nổi lên, hàng ngàn vị Tăng niệm cho lông hồng trên mặt nước, cũng không thể làm cho nó chìm xuống đáy nước. Vậy một người sống từng tạo ác nghiệp, không biết hướng về Tam Bảo, khi chết chỉ cần trợ niệm là được vãng sanh, thì cần gì phải tu; luật nhân quả không còn giá trị sao? Trợ niệm chỉ giúp cho hương linh từng thâm tín Tam Bảo, đến phút cận tử nghiệp nhớ lại Tam Bảo, không bị tán loạn khỏi đọa vào ác đạo; hoặc người từng có căn lành, giờ phút lâm chung nương theo lực hộ niệm mà tỉnh giác hướng về oai lực Tam Bảo. Người từng tu niệm Phật, tín-hạnh-nguyện chưa đủ mạnh để siêu thoát, lực hộ niệm giúp hương linh nhớ lại công hạnh tu tập mà quy hướng nẻo lành. Như vậy, việc hộ niệm không thể quyết định việc vãng sanh.

Người chết là lúc thần thức thoát khỏi nhục thân, nhưng chưa phải hoàn toàn xa rời nhục thân trong vài giờ, lực hộ niệm giúp thần thức nhìn lại xác thân và nhớ lại thiện nghiệp đã tạo trong kiếp nầy. Tuy điện tâm đồ xác định tim ngưng hoạt động, nhưng trung khu thần kinh vẫn còn những sóng thức lăn tăn, do vậy đỉnh đầu còn hơi ấm thì thân thể vẫn còm mềm dịu. Những nghiệp thức u trược nặng nề tội lỗi thì thần thức xuất ra từ bụng trở xuống, tay chân không thể mềm dịu. Như vậy trợ niệm chưa chắc đã giúp người quá cố được vãng sanh như các ban trợ niệm mong muốn.
Do nhiệt tâm giúp người ra đi mà áp dụng và hiểu về việc hộ niệm sai lệch luật nhân quả của nhà Phật, từ đó dần dần biến tướng pháp môn Tịnh độ thành một tà phái.

Trong bản kết tội thầy Giác Nhàn, có cả việc sử dụng pháp y theo kiểu Hòa Thượng Tịnh Không. Trong luật Phật chỉ nói đến y phấn tảo, không đưa ra một tiêu chuẩn cố định, vì vậy, mỗi quốc gia, chư Tăng có một pháp phục và màu sắc khác nhau. Ban Tăng sự cũng không chỉ định rõ màu sắc, kích thước của từng loại y như ngũ điều, cửu điều hay 25 điều. Hiện nay, các sư “ứng phú” tự trang phục pháp y theo sở thích. Sư du học Đài Loan thì sử dụng pháp phục Đài Loan, xuất thân từ Nhật thì trang phục kiểu Nhật, học từ Trung quốc về thì ăn bận theo kiểu Trung quốc, học theo Tây Tạng thì mặc kiểu Tây Tạng... vì thế mà kết tội về pháp phục cũng chưa thuyết phục.
Việc tụ tập người không thông báo với giáo hội mà cho là tội cũng không hẳn, vì Hiến chương cũng như nội quy Tăng sự không có điều khoản xin phép BTS giống như trình báo với công an khu vực. Vệ sinh khi tụ tập người quá đông ảnh hưởng đến sức khỏe là điều sai phạm, nhưng sai phạm đối với y tế.

Về việc thầy Giác Nhàn đưa một người nữ lên đại diện cho HT Thiện Quang đã quá cố, tự xưng là vong linh của HT Thiện Quang, không cần đơn thưa của gia đình hay môn nhơn pháp quyến của HT, điều nầy cũng đủ cho thấy thầy Giác Nhàn trượt quá xa về tâm lý và đạo lý của Phật giáo, đủ lý do cho Giáo hội khiển trách. Ai xác minh được việc nhập cốt đó giả hay thật? Cho dù là thật cũng không thể phơi bày trước đại chúng trong và ngoài nước. Ví dụ bố mẹ mình sai phạm, mình có thể đem ra công bố cho bàng dân thiên hạ biết chăng? Việc làm vô ý thức của thầy Giác Nhàn đã tạo một phản ứng cho đại đa số Phật tử.

Rất nhiều điều quy kết về thầy Giác Nhàn chỉ đúng về mặt pháp lý mà chưa đúng về mặt đạo lý, vì thế ảnh hưởng đến sự hiểu biết của quần chúng đang ngưỡng mộ thầy Giác Nhàn cũng như say mê lực trợ niệm hiện nay. Những người tham gia ban trợ niệm rất tốt và có nhiệt tâm, không đòi hỏi một quyền lợi nào đối với tang gia, nhưng quên rằng nhiệt tâm mà thiếu hiểu biết giáo lý đem đến hủy báng Tam Bảo.

Tuy nhiên, một số ban hộ niệm của các chùa vẫn giúp cho một số Tang lễ mà không đặt nặng đến trạng thái tay chân mềm hay không, không xác quyết họ vãng sanh hay không, vì thế, không ai lên án những ban hộ niệm như thế.
Cũng từ việc làm của hai tập thể nầy, cho người ta có hai ý niệm: Ban hộ niệm khác với Ban trợ niệm.

Tóm lại, việc làm của thầy Giác Nhàn do thiếu hiểu biết căn bản giáo lý mà đi quá xa tinh thần tu tập giải thoát của nhà Phật. Giáo hội nên có cuộc gặp gỡ trong tinh thần hòa hợp của người con Phật để hóa giải những sai phạm đó hầu tìm lối thoát cho địa điểm tại Đức Trọng mà hầu hết trong và ngoài nước đều biết, để một số người không hiểu lầm giữa BTS PG Lâm Đồng cấu kết với chính quyền địa phương làm áp lực thầy Giác Nhàn; đồng thời, đương phạm không bị mặc cảm bị thế lực đố kỵ với uy tín của mình và đẩy đương phạm vào chân tường.

Tinh thần hòa hợp và dân chủ của Phật giáo có thể giải quyết mọi mắc mứu trong nội bộ khá ổn thỏa và êm ấm.

MINH MẪN
22/10/2014

NHỮNG LỢI ÍCH CỦA TÂM TƯ HOÀ BÌNH VÀ TĨNH LẶNG

The Benefits of Peace of Mind and Tranquility

Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
By: Remez Sasson


Người ta thường liên kết sự hòa bình của tâm hồn với những hành giả du già (yoga), những người ẩn dật, và những tu sĩ, ngồi một mình ở một nơi xa xôi, trong một nơi tĩnh tu Ấn giáo (1), trong hang động hay tu viện, cầu nguyện và thiền định suốt ngày. Sự thật là niềm hòa bình của tâm thức có thể đạt đến và thưởng thức trong nhiều cấp độ khác nhau bởi nhiều người, ngay cả trong khi hướng đến một đời sống thường ngày, với một nghề nghiệp và gia đình.
Từ điển Bách khoa toàn thư nói rằng: “Niềm bình an nội tại (hay sự hòa bình của tâm hồn) là một điều thông thường mà nó liên hệ đến một thể trạng tinh thần hay tâm tư hòa bình, với đầy đủ kiến thức và thông hiểu để giữ chúng ta mạnh mẽ trong sự đối diện với bất hòa và căng thẳng. Thể hiện “hòa bình” được nhiều người xem như là sự khỏe mạnh và đối lập với biểu hiện căng thẳng hay băn khoăn.”
Tâm tư hòa bình hay sự an bình nội tại còn được WordWeb Online định nghĩa là: “Sự vắng mặt của căng thẳng hay băn khoăn của tâm hồn.” 
Điều này cho thấy tầm quan trọng của tâm tư hòa bình cho sự vượt thắng và ngăn ngừa căng thẳng và băn khoăn. Nó thật sự là thuốc giải đối với căng thẳng và băn khoăn. Làm cho tâm tư tĩnh lặng và bình yên ngăn ngừa băn khoăn, lo lắng, căng thẳng, và sợ hãi cũng như đánh thức sức mạnh và sự vững vàng nội tại.
Tâm hồn hòa bình là một điều kiện nội tại, và độc lập với những điều kiện hoàn cảnh ngoại tại. Một số người được rèn luyện tốt về điều này, và nó là một kỷ năng có thể học được, có thể duy trì và kiểm soát chính chúng ta và tinh thần chúng ta, ngay cả giữa những vấn nạn hay những hoàn cảnh khó khăn và không vui lòng.
Hãy tưởng tượng chúng ta “vĩ đại” như thế nào nếu có thể tĩnh lặng, tập trung, và không bị quấy rầy bởi những hoàn cảnh và những người khác!
Thay vì bị băn khoăn và sợ hãi, thay vì suy nghĩ về những tư tưởng tiêu cực và phỏng đoán tệ hại, thay vì bị căng thẳng, không hài lòng, và khó chịu, chúng ta có thể lựa chọn để duy trì sự phấn chấn và tư duy quân bình không giao động. Chúng ta có thể kinh nghiệm niềm an bình và hạnh phúc nội tại, cũng như sức mạnh và sự vững vàng nội tại.
Tâm bình, là sự an bình nội tại, cung ứng vô vàn lợi lạc. Đây là danh mục phân bố:
- Tăng cường khả năng để tập trung.
- Cải thiện khả năng ứng phó một cách toàn diện trong những quan hệ hằng ngày.
- Ban cho sức mạnh và năng lực nội tại.
- Phát triển sự nhẫn nại, bao dung, và tế nhị.
- Có khả năng làm cho chúng ta không bị tác động với những gì người khác nghĩ và nói về chúng ta.
- Giúp vượt thắng và loại trừ căng thẳng, băn khoăn, và lo lắng.
- Làm cho chúng ta cảm thấy thanh thản và tự tại.
- Đem đến sự hạnh phúc và an lạc nội tại.
- Gia tăng sự tự chủ và tự giác.
- Làm cho chúng ta không bị dao động, bởi những sự kiện, cam go, và khó khăn, và duy trì sự quân bình nội tại, phán xét sáng suốt, và cảm giác bình thường trong trong mọi hoàn cảnh.
- Loại trừ tư tưởng tiêu cực, phù phiếm, và bồn chồn.
- Giúp đi vào giấc ngủ một cách dễ dàng và có một giấc ngủ an lạc cát tường.
- Cải thiện khả năng thiền quán.
- Đấy là cánh cửa và đòi hỏi cho sự tỉnh thức tâm linh và giác ngộ.
Có nhiều phương pháp và kỹ thuật để đạt đến an bình, qua những phương pháp tâm lý học, sự quả quyết, quán tưởng, yoga, hay thiền tập. Ở đây, trong chủ đề tâm bình thế giới bình và trang web này, quý vị có thể những đề tài, khuyến cáo và hướng dẫn, cũng như ebook, Peace of Mind in Daily Life, tâm tư hòa bình trong đời sống hàng ngày, ở đấy giải thích chủ đề này và giảng dạy làm thế nào đề đạt đến một tâm hồn hòa bình. Quyển ebook này chứa đựng toàn bộ chương trình cần thiết cho sự hòa bình nội tại, được viết trong một ngôn ngữ và cung cách cho mọi người có thể thông hiểu và thực hành theo.

SỐNG ĐỜI TÂM LINH

BẢN CHẤT CỦA HẠNH PHÚC:SỐNG ĐỜI TÂM LINH


Nguyên tác:  The Essence Of Happiness – A Guidebook for living
Tác giả: His Holiness The Dalai Lama và Howard C. Cutter, M.D.
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển Tỳ kheo Thích Từ-Đức / 20 – 11 – 2010




Chúng ta thường nghe người ta nói rằng tất cả con người là bình đẳng. Qua điều này chúng ta muốn nói rằng mọi người có một khao khát rõ ràng về hạnh phúc. Mọi người có quyền là một con người hạnh phúc. Và mọi người có quyền chiến thắng khổ đau. Vì thế nếu ai đấy tìm thấy hạnh phúc hay lợi ích từ một truyền thống tôn giáo đặc thù, thì điều trở nên quan trọng là để tôn trọng những quyền căn bản của người khác; vì thế chúng ta phải học hỏi để tôn trọng tất cả những truyền thống tôn giáo quan trọng. Điều này là rõ ràng.
--- ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA
Một cách của việc làm mạnh sự tôn trọng hỗ tương giữa những tôn giáo tín ngưỡng khác nhau là qua việc tiếp xúc. Sự tiếp xúc cá nhân. Qua loại tiếp xúc gần gũi này, chúng ta có thể học hỏi về những sự cống hiến hữu ích rằng những tôn giáo này đã làm cho con người, những việc tích cực, vì thế khi đối diện với những tôn giáo khác, vào lúc ban đầu một cảm giác tích cực, một cảm giác thoải mái, sẽ sinh khởi. Chúng ta sẽ cảm thấy nếu người ấy tìm thấy một truyền thống khác thích hợp hơn, hiệu quả hơn, thế thì điều ấy là tốt! Rồi thì nó giống như đi đến một nhà hàng – chúng ta có thể ngồi xuống tại một bàn ăn và gọi những món ăn khác nhau tùy theo khẩu vị của mỗi người – chúng ta có thể ăn những món ăn khác nhau, nhưng không ai tranh cãi về nó!
--- ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA
Có quá nhiều thứ đã chia cách con người, quá nhiều vấn đề trên thế giới. Tôn giáo nên là một phương pháp cứu chữa để giúp làm giảm thiểu xung đột và khổ đau trên thế giới – chứ không phải là một nguồn gốc nữa cho việc xung đột.
--- ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA
Có thể có hai trình độ của tâm linh. Một, người ta phải hành động với niềm tin tôn giáo. Nếu chúng ta tin tưởng bất cứ tôn giáo nào, điều ấy là tốt. Nhưng nếu ngay cả không có một niềm tin tôn giáo, chúng ta vẫn có thể giải quyết được. Trong một vài trường hợp, chúng ta có thể xoay sở thậm chí tốt hơn. Nhưng đấy là quyền cá nhân của chúng ta; nếu chúng ta mong ước một niềm tin, tốt! Nếu không, cũng tốt thôi. Nhưng thế thì có một trình độ khác của tâm linh. Đấy là điều mà tôi gọi là tâm linh căn bản – những phẩm chất căn bản của con người của lòng hào hiệp, tử tế, từ bi, ân cần. Cho dù chúng ta là những người có tín ngưỡng hay không, loại tâm linh này là căn bản. Cá nhân tôi xem trình độ tâm linh thứ hai này quan trọng hơn trình độ thứ nhất, bời vì bất chấp một tôn giáo đặc thù nào có thể diệu kỳ như thế nào, nó sẽ vẫn chỉ được chấp nhận bởi một số giới hạn con người, chỉ một phần của nhân loại. Nhưng cho đến khi nào mà chúng ta vẫn là con người, cho đến khi nào mà chúng ta vẫn là những thành viên của gia đình nhân loại, tất cả chúng ta cần những giá trị tâm linh căn bản này. Không có những điều này, sự tồn tại của con người vẫn là khó khăn, rất khô khan. Như một kết quả, không ai trong chúng ta có thể là một con người hạnh phúc, toàn thể gia đình chúng ta sẽ khổ đau, và rồi, cuối cùng, xã hội sẽ rắc rối hơn. Do thế, rõ ràng rằng trau dồi những loại giá trị tâm linh cơ bản này trở nên cần yếu.
--- ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA
Nếu chúng ta thấu hiểu sự thực hành tâm linh trong ý nghĩa chân thật của nó, rồi thì chúng ta có thể sử dụng toàn bộ hai mươi bốn giờ một ngày của chúng ta cho việc thực hành của chúng ta. Tâm linh chân thật là một thái độ tinh thần mà chúng ta có thể thực hành bất cứ lúc nào.
--- ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA
Sự thực tập tâm linh thực sự trong một ý nghĩa nào đấy giống như một bộ ổn áp điện thế. Chức năng của bộ ổn áp là để ngăn ngừa những năng lực bất thường dấy lên và thay vì thế cho chúng ta một nguồn năng lực ổn định và liên tục.
--- ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA
Dấn thân vào việc rèn luyện hay một phương pháp của việc đem đến những sự luyện tập trong tâm thức con người là cốt lõi của đời sống tôn giáo, một sự luyện tập có mục tiêu của việc trau dồi những thể trạng tinh thần tích cực. Do thế, con người có hướng đến một đời sống tinh thần hay không tùy thuộc trên việc con người có thành công trong việc đem đến sự luyện tập ấy hay không, đấy là thuần hóa thể trạng của tâm thức và biến thể trạng tâm thức ấy vào trong những hành vi hằng ngày của chúng ta.
--- ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA
Những người nghiên cứu đã thấy rằng ngay cả một nét cau mày hay mỉm cười cảm ứng giả tạo có khuynh hướng để cảm sinh cảm giác tương ứng của sân hận hay hạnh phúc, điều này thừa nhận rằng chỉ “đi qua những cảm xúc” và lập lại sự tiến hành trong một thái độ tích cực có thể cuối cùng đem đến một sự thay đổi nội tại chân thành. 
--- HOWARD CUTLER
Mặc dù những kinh nghiệm của con người là một kết quả của những hành vi quá khứ, điều ấy không có nghĩa là cá nhân không có sự lựa chọn hay không có chỗ cho việc bắt đầu để thay đổi… Chúng ta không nên trở thành thụ động và cố gắng để miễn trừ chính mình đối với việc tiếp nhận sự thay đổi cá nhân trên những nền tảng mà mọi thứ là một kết quả của nghiệp thức, bởi vì nếu chúng ta thấu hiểu khái niệm nghiệp báo một cách chính xác, chúng ta sẽ thấu hiểu rằng nghiệp báo có nghĩa là “hành động”…Vì thế, loại tương lai nào sẽ đến, trong một phạm vi rộng, tùy thuộc trong chính bàn tay của chúng ta trong hiện tại. Nó sẽ quyết định bằng những thứ mà chúng ta bắt đầu hành động bây giờ.
--- ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA
Bây giờ, bí mật hạnh phúc của chính tôi, tương lai tốt đẹp của chính tôi, là nằm trong tay tôi. Tôi không được đánh mất cơ hội ấy!
--- ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA

Nhà sư trẻ gốc Việt trở thành “Cao tăng” Tây Tạng


Lati Rinpoche, trái, vị thầy được Ðức Ðạt Lai Lạt Ma giao nhiệm vụ dạy kèm các vị tái sinh, trong đó có Thầy Don, phải.
Đây là điều đặc biệt vì nhà sư là người đầu tiên rời Hoa Kỳ qua Ấn Độ xuống tóc trong một tu viện Tây Tạng vào dịp Tết Kỷ Mão 1999, khi mới 12 tuổi.
Đặc biệt hơn nữa, đây là người Việt Nam đầu tiên được truyền thừa trong lịch sử hơn ngàn năm của Phật giáo Tây Tạng.
Kusho Tenzin Drodon. Cháu ruột của MC Nam Lộc và nhà văn Nhã Ca, chủ nhiệm nhật báo Việt Báo
Sinh tại Quận Cam, ở miền Nam California trong một gia đình khá giả, lên tám tuổi, cậu bé họ Phạm đã muốn trở thành một Geshe Tây Tạng.


Mà Geshe là gì?
 Geshe là học vị trong hệ thống Phật giáo Tây Tạng, tương đương với bằng Tiến Sĩ về Phật học của Tây phương. Bình thường ra thì phải mất hai chục năm mới xong và nhiều người không xong nổi. Thế giới hiện chỉ có chừng 200 vị Geshe thôi.
Muốn được thành một Geshe thì phải thấm nhuần năm ngành học là Bát Nhã Ba La Mật (Prajnaparamita), Trung Quán Luận (Madhyamika), Giới Luật (Vinaya), A Tỳ Đạt Ma Luận (Abidharma) và Lý luận căn bản (Pramana Vidya).
Thấm nhuần ở đây là phải nhập tâm, bằng Tạng ngữ, trong vài chục năm tu tập gian nan, hầu có thể ứng đối tranh luận trong mọi tình huống về mọi chủ đề trong các cuộc khảo hạch thường xuyên và từ đó đi hoằng pháp cho nhân thế.
Đã vậy, từ thấp lên cao, học vị Geshe còn có bốn cấp là Dorampa, Lingtse, Tsorampa và cao nhất là Lharampa và trung bình thì phải sáu năm mới lên tới cấp tối ưu.
Thánh tăng Tây Tạng ngày nay, Kyabje Lati Rinpoche, được Đức Đạt Lai Lạt Ma yêu cầu hướng dẫn chú bé gốc Việt họ Phạm
Vị cao tăng Tây Tạng đã hướng dẫn chú bé họ Phạm là một Lharampa Geshe, một hóa thân của danh tăng Gongkar Rinpoche.
Ngài được tôn là châu báu trong hàng Thánh tăng Tây Tạng ngày nay, pháp danh là Kyabje Lati Rinpoche, hiện là cố vấn về Lý luận (Tsen-shabs) của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Môn sinh của Tulku Lati Rinpoche thường chỉ là những nhà sư được xác nhận là báo thân của một cao tăng, một vị đạo sư, một Guru từ kiếp trước nguyện tái sinh để tiếp tục hạnh nguyện.
Và Đức Đạt Lai Lạt Ma là người trực tiếp yêu cầu Tulku Lati Rinpoche dìu dắt chú bé.
Vì sao một chú bé sinh trong một gia đình Việt Nam tại Hoa Kỳ lại được nhận vào tu viện Tây Tạng, rồi được chính Đức Đạt Lai Lạt Ma trao phó cho một vị cao tăng hàng đầu của Ngài việc hướng dẫn tu học đó?
Có lẽ phải đi từng bước để nhìn ra con đường học đạo của vị tăng người Việt này.
Với người Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma là hóa thân của Đại Từ Đại Bi Bồ Tát Quán Thế Âm. Việt Nam ta quen gọi vị Bồ Tát ấy là Phật Quan Âm, vì vậy, nhiều người cũng gọi Ngài là Phật Sống Tây Tạng.
Người Tây Tạng tôn Ngài là "Kundun" với ý nghĩa ấy.
Trong hệ thống Phật giáo Tây Tạng, một Lạt Ma được coi là hiện thân của Phật, và Bồ Tát nguyện tái sinh để cứu độ chúng sinh. Bậc hóa thân ấy được tôn là Tulku ("Chu cô" theo cách phiên âm Hán-Việt). Danh hiệu Lạt Ma chỉ được dành cho những người giảng dạy giáo pháp và có thẩm quyền thực hành nghi lễ của Phật giáo. Trong số những người được chứng nhận là Lạt Ma, những vị uyên thâm và cao quý nhất thì được tôn là Rinpoche (nghĩa là "vô cùng quý báu").
Trong hàng giáo phẩm và triều đình Tây Tạng, người ta thấy nhiều cao tăng được tôn vinh là Rinpoche.
Bây giờ, chúng ta có Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 - một vị Phật Sống - ủy thác cho một Tulku Rinpoche việc dẫn đạo cho một nhà sư trẻ của Việt Nam...
Nhà sư này phải có gì đặc biệt mà có lẽ người thường như chúng ta chưa thấy hết được.
Cách đây bốn năm, nhật báo Orange County Register đã gửi một phái đoàn gồm hai nhà báo Anh Đỗ và Teri Sforza cùng đoàn nhiếp ảnh và truyền hình qua tận Ấn Độ để làm loạt phóng sự bốn kỳ về chú tiểu họ Phạm này. Người ta có thể tham khảo loạt bài được biên tập và trình bày công phu dưới tựa đề "The Boy Monk" tại trang nhà của tờ báo trong bốn số ra ngày 19 đến 22 tháng Giêng 2003.
Từ ngày đó đến nay, việc tu học của nhà sư này đã có sự tăng tiến.
Một người Mỹ xuất gia sang Ấn Độ tu Phật giáo đã là hiếm, nhưng vẫn có. Một người sinh tại Mỹ - thuộc thế hệ thứ nhì vì cha mẹ là người Việt tỵ nạn - thì lại hiếm hơn. Đây lại là người Mỹ đầu tiên được nhận vào tu viện Tây Tạng Gaden Shartse, trong tỉnh Mundgod của tiểu bang Karnataka ở miền Nam Ấn Độ để được tu học thành Sa Di. Tên Mỹ - Việt Donald Phạm đổi thành Konchog Osel.
Người thân thì gọi là Kusho. Konchog có nghĩa là hiếm quý, Osel là tịnh quang, ánh sáng trong lành, và Kusho là một cao tăng.
Thế rồi, sau khi khảo hạch thì chính Tulku Lati Rinpoche đã thỉnh Đức Đạt Lai Lạt Ma làm lễ thọ giới Cụ túc cho chú tiểu sa môn. Có mặt trong buổi lễ cử hành vào đúng ngày Phật Đản còn có bốn vị Rinpoche khác.
Chú được ban pháp danh là Tenzin Drodon, nghĩa là "Người nắm giữ Phật pháp" (Tenzin) "cứu độ chúng sinh" (Drodon).
Drodon là một pháp danh ít có trong hệ thống Tăng già Tây Tạng.
Ngày nay, Phật giáo Tây Tạng có một nhà sư dung mạo sáng rỡ, nói sành sõi tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Tây Tạng với phương ngữ quý phái của Kinh đô Lhasa, ở bên kia đỉnh núi tuyết ngàn trùng.
Vào mùa Xuân Đinh Hợi 2007, ở tuổi 21, Kusho sẽ thọ giới Tỳ Kheo với Đức Đạt Lai Lạt Ma, một điều kỳ lạ nữa. Trong lịch sử Tây Tạng, đây là người Việt đầu tiên được chính Đức Đạt Lai Lạt Ma truyền thừa và truyền giới.
Có thể là sau này người ta mới được biết thêm rằng nhà sư trẻ cũng là hóa thân của một hành giả, nguyện tái sinh trong một gia đình Việt Nam tại Mỹ và tu học trong tu viện Tây Tạng tại Ấn vì lợi ích của chúng sinh.
Ba vị cao tăng đã lần lượt hướng dẫn nhà sư là Lharampa Geshe Tsultim Gyeltsen tại tu viện ở Long Beach, là Lharampa Geshe Lati Rinpoche, một vụ Tulku tại tu viện Gaden Shartse ở Ấn Độ và Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14.
Bây gi, chúng ta mi tìm hiu v nhân vt này.
Vừa ra đời, Donald Phạm đã chững chạc như người lớn.
Chú bé là học sinh ưu tú, thích âm nhạc, viết văn, trượt nước và chơi Nitendo!
Là học trò giỏi tại trường Aliso Viejo Middle School, chú bé đủ thứ game trong nhà và thừa điều kiện thành công trong một môi trường đầy cơ hội là Hoa Kỳ.
Ước nguyện ban đầu của chú là thành nhà văn hay bác sĩ.
Nhưng, khác mọi đứa trẻ cùng tuổi, chú ít nói, kín đáo nhìn mọi sự chung quanh và đặc biệt quan tâm đến người khác.
Cha mẹ chú là những người khá giả và chăm sóc kỹ lưỡng tâm hồn các con.
Mẹ chú sùng đạo từ khi còn ở Việt Nam.
Tại Hoa Kỳ thì cả gia đình thường đến ngôi chùa Tây Tạng ở Long Beach, do Đức Đạt Lai Lạt Ma đặt tên là Thubten Dhargye Ling, để tu học Phật pháp.
Đây là một việc không dễ vì từ nhà đến chùa là 90 cây số và một tuần, gia đình lên chùa ba lần.
Donald vào chùa là có phản ứng khác lạ.
Tưởng đứa con lơ đãng nhìn quanh, bà mẹ ngạc nhiên vì chú nghe được hết và nói lại rành mạch những khái niệm rất lạ.
Thí dụ như hiện tượng "tâm viên ý mã" trong lúc thiền định!
Người lớn nghe đã thấy khó lãnh hội, huống hồ một đứa trẻ ở tuổi mẫu giáo!
Năm chú lên bốn, bà mẹ đọc báo thấy có tin là vị Đạo sư Lati Rinpoche sẽ đến thuyết pháp ở Los Angeles.
Quá mừng khi được cơ hội gặp vị cao tăng mà mình đã đọc lời giảng trong sách từ khi còn mang thai chú bé, bà dẫn chú đi nghe và năm đó Donald đã quy y với Tulku Lati Rinpoche!
Khi chú lên năm, cô em kém chú hơn một tuổi bỗng khóc òa vì làm vỡ cái đĩa.
Chú bé đứng cao hơn quầy bếp đã lên giọng trấn an:
"Đừng lo, đó chỉ là đồ vật thôi. Nếu chấp vào vật nhỏ như vậy thì khi chết, làm sao cái tâm bỏ được cái thân này?"
Rồi sau đó, thay vì là nhà văn hay bác sĩ, năm lên tám, chú muốn thành một Geshe!
Thấy con mình có ý đi tu để thành Geshe, bà mẹ trình bày với vị Hoà thượng trụ trì tu viện Phật giáo Tây Tạng tại Long Beach là Lharampa Geshe Tsultim Gyeltsen, thường được Phật tử quý mến gọi là Geshe La.
Hoà thượng Geshe La khuyên là hãy kiên nhẫn tìm hiểu tâm tư chú bé đã.
Cho con vào chùa là chuyện thường tình ở Á châu và Tây Tạng, nhưng chúng ta đang ở tại Hoa Kỳ, trong một khu vực trù phú lịch sự.
Con đường tới chùa là một chặng đường khá xa cần phải tìm hiểu.
Mà cách tìm hiểu hay nhất là chính họ phải qua tận Ấn Độ thăm viếng một ngôi chùa Tây Tạng đủ lâu để thấy hết tận mắt.
Thày dạy, tu viện là một đại dương, có rất nhiều ngọc nga châu báu vật đấy nhưng cũng có cá mập.
Hãy tìm hiểu rồi mới quyết định cho chú bé.
Khi Donald Phạm lên chín, năm 1995, cha mẹ chú quyết định sang thăm tu viện, cách đó đúng là vạn dậm.
Bước đầu là từ California bay qua Ấn Độ, rồi đi xe buýt leo đèo băng suối tới một tu viện trong khu định cư của người Tây Tạng tại Mundgod, thuộc tiểu bang Karnatala ở miền Nam Ấn Độ.
Đó là tu viện Gaden Sharte của dòng Gelugpa Phật giáo Tây Tạng.
Khu vực định cư cho dân tỵ nạn thường không là một vùng đất trù phú thịnh vượng.
Sự nghèo khổ và thiếu thốn là quy luật chung. Huống hồ là nơi tu hành.
Người viện trưởng của Tu viện chính là ngài Tulku Lati Rinpoche mà gia đình họ Phạm đã đọc rồi đã gặp tại Los Angeles.
Phép sinh hoạt nơi đây là sự khắc khổ nghiêm ngặt. Mọi người thức giấc từ năm giờ sáng, chư tăng áo đỏ tụng kinh đến bảy giờ rồi ăn sáng.
Thực đơn khác hẳn bữa điểm tâm trong một ngôi nhà khang trang ở Laguna Niguel tại California. Bánh mì chấm trà có pha đường, bơ tẩm muối.
Sau đó là học ngôn ngữ và tranh luận đến trưa.
Quá ngọ là buổi học với các đạo sư cho đến chiều.
Cơm tối là cháo. Xong cơm là học tiếp về Phật pháp qua tranh luận, có khi đến nửa đêm...
Giáo trình đào tạo còn nặng hơn mọi trường tư thục ưu tú nhất của Mỹ!
Và không có các màn giải trí qua truyền hình, chơi game, nghe nhạc từ DVD... Cũng không có quà vặt, máy giặt máy xấy, nước nóng phòng riêng...
Làm sao cho con mình vào sống nơi đó?
Gia đình ở lại 6 tuần và chú Donald Phạm cho biết là muốn học đạo ở nơi đây.
Trường hợp của chú hiển nhiên đã được Geshe La và Tulku Rinpoche chú ý.
Phải tìm lời giải trong phép khảo chứng bí truyền của Tây Tạng.
Vị cao tăng thực hiện buổi lễ linh thiêng ấy chính là Tuku Rinpoche.
Lời giải là chú bé này là một đứa trẻ đặc biệt, sẽ vào chùa thành một vị sư Tây Tạng. Donald Phạm cũng cảm thấy như vậy.
Việc cháu Donald muốn đi tu đã gây nhiều phản ứng và tranh luận trong đại gia đình. Đầu tiên thì chị và em không muốn xa Donald.
Còn ông ngoại thì hoàn toàn không vui! Điều ấy cũng thật dễ hiểu.
Nhưng ý của chú đã quyết và cha mẹ cũng thông cảm và hỗ trợ nên mọi người quen dần với quyết định này.
Gần bốn năm trôi qua, rồi vào dịp Tết Kỷ Mão 1999, cả gia đình Donald Phạm đã theo Hoà thượng Geshe La qua Ấn Độ. Chú sẽ ở lại nơi đây.
Tết Nguyên Đán Kỷ Mão thì xuống tóc, trở thành Sa di Kusho Konchog Osel.
Tu viện có 1.500 người cùng học nhưng chú được chính Đức Đạt Lai Lạt Ma ân cần phó thác cho vị Viện trưởng Tulku Lati Rinpoche trực tiếp hướng dẫn.
Mọi người ân cần gọi chú là Kusho-la.
Hai năm sau, Kusho được đưa lên Dharamsala, miền cực Bắc Ấn Độ, vào học viện Lý luận Phật giáo, Institute of Buddhist Dialectics.
Có 300 sinh viên, học viện này nằm gần thị trấn McLeod Ganj của Ấn.
Thị trấn được gọi là "Little Lhasa", trụ sở của Chính quyền Lưu vong Tây Tạng, và học viện IBD là nơi Đức Đạt Lai Lạt Ma thường giảng pháp.
Trong học viện, tiểu Sa Di Kusho là người trẻ nhất và được chú ý vì khả năng lãnh hội lẫn tranh luận.
Chú còn được khen là từ tốn khiêm nhường và thường trầm lặng trước mối quan tâm của truyền thông báo chí.
Nhiều người đã luận rằng Kusho có thiện nghiệp để trở thành sư, và có phúc duyên được hướng dẫn bởi những vị cao tăng để theo đuổi Phật học đến chỗ thâm sâu.
Ngày nay, Kusho đã thành một vị sư 21 tuổi, và Xuân này sẽ thọ giới Tỳ Kheo với chính Đức Đạt Lai Lạt Ma, thành Shakya Bikshu Tenzin Drodon.
Trong khi ấy, gia đình ở nhà cũng thay đổi.
Càng luống tuổi, ông ngoại của Kusho càng thấy ra hai lẽ.
Phần mình, thì đời người quả là hữu hạn.
Phần cháu ngoại Donald, thì việc cháu trở thành sư là một điều lành.
Đầu năm 2007, ông cụ lâm trọng bệnh và từ Ấn Độ, Kusho trở về thăm ông, có thể là lần cuối.
Hai ông cháu gặp nhau trong một cảnh ngộ cảm động.
Được hỏi về chuyến thăm viếng, nhà sư trẻ giải thích là vì muốn cầu nguyện cho tâm của ông ngoại được thảnh thơi, vững mạnh, và buông xả hết mọi ưu phiền.
Kusho không tin là mình có "thần lực" hay khả năng hộ niệm để ông "siêu sinh tịnh độ" như ta thường nói.
Cháu chỉ muốn gặp ông, hàn huyên để ông vui với tuổi già, có cái nhìn lạc quan tích cực về mọi chuyện.
Riêng mình, thì đứa cháu rất cảm động nghe ông nói, rằng mình mừng cho cháu đã đi tìm hạnh phúc trong sự tu tập, vì hạnh phúc thật là khi mưu cầu cho hạnh phúc của người khác.
Hai ông cháu đã hoàn toàn cảm thông và cùng nhìn vào một hướng.
Nói đến chuyện "thần lực" hay "hóa thân", đề tài kỳ diệu khi ta nghĩ đến Phật giáo Tây Tạng, Kusho cười hiền hoà và giải thích bằng cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh: Không, chú không là hoá thân hay đang tu tập để có thần lực thi hành được những việc siêu nhiên.
Việc tu tập để tìm thần lực hay khả năng siêu nhiên là điều sai. Nhưng, khi tu tập, Kusho thấy hay nghĩ "mình là ai?" Là một chú bé Việt Nam, một thiếu niên Mỹ hay một Sa Di Tây Tạng - Là tất cả!
Ban đầu, khi ở trong Tu viện Gaden thì còn mơ hồ vì có lúc thấy mình là một thiếu niên Mỹ, một đứa trẻ Việt Nam, và nhất là khác lạ với chúng bạn người Tây Tạng chung quanh.
Thế rồi một cách tiệm tiến và nhẹ nhàng tự nhiên, chú thấy mình tách rời với tất cả những "hành trang" ấy của quá khứ mà cảm nhận ra một sự thể gì bao nhiếp tất cả. Một sự an nhiên kỳ lạ khiến mình thấy thư thái và tự do hơn.
Cảm giác gọi là "giải thoát" ấy xuất phát từ sự tu tập hay từ ý chí của mình?
- Có lẽ, phép tu tập giúp cho ý chí ấy thành vững mạnh hơn và quan trọng nhất, giúp cho mình thấy được cách suy nghĩ tích cực và nuôi dưỡng nghị lực tích cực.
Kusho suy nghĩ rồi nói bằng tiếng Anh: "Positive Energy"
Nhưng, trong tu viện Gaden hay trong học viện ở Dharamsala, Sa môn Kusho có biết hay được biết gì về thế giới bên ngoài không, về "đời sống thật" không?
Ban đầu, trong tu viện thì chỉ học về kinh điển và phép luận giải, chứ qua học viện tại Dharamsala thì các học viên đều có thể xem truyền hình và đọc báo để biết về những gì đang xảy ra trên thế giới.
Chính Đức Đạt Lai Lạt Ma đã muốn các học viên chứng đắc Phật pháp bằng cách hiểu được cộng đồng và thế giới.
Ngoài ra, giáo trình của học viện chẳng khác gì nhiều nếu so với một Đại học tân tiến, học viên được giáo dục để biết về thế giới cũng như Phật pháp.
Sau khi hoàn tất khóa học rất dài tại Dharamsala, Kusho sẽ trở lại tu viện Gaden và lúc ấy mới lại sống như một vị tăng trong chùa.
Nhưng, khi biết rằng thế giới này "khổ" - vì nạn đói ở Phi Châu hay khủng bố tại Trung Đông chẳng hạn - học viên nghĩ sao? Và muốn làm gì để giải trừ cái khổ ấy?
Nhà sư trẻ suy nghĩ giây lát mới giải thích. Trước hết, những tin tức ấy có giá trị "khích lệ", là yếu tố càng thúc đẩy học viên phải tu tập để góp phần giải trừ cái khổ.
Nhưng, nhìn từ các tu viện, cái khổ ấy có là một ý niệm trừu tượng xa vời của "chúng sinh" hay của người khác không?
Thí dụ như một bác sĩ vẫn có thể chữa chạy cho bệnh nhân sau khi học về những triệu chứng hay hậu quả của bệnh.
Một nhà xã hội cũng có thể học về khủng hoảng để góp phần giải quyết dù mình chẳng là nạn nhân...
Liệu cảm nhận về cái khổ này có là một khái niệm tách bạch xa vời vì không trực tiếp liên hệ đến mình ở trong chùa hay trong học viện?
Kusho tìm chữ diễn tả, cả Việt lẫn Anh, rằng sự hiểu biết về cái khổ ấy tác động rất mạnh vào tâm trí, nhưng theo hướng khác.
Ý thức về những vấn đề ấy khiến mình càng thêm tin tưởng vào Phật pháp và càng thôi thúc mình làm một cái gì đó để cứu giúp người khác.
Đây cũng là bước cần thiết để chứng nghiệm đức tin của mình.
Nếu tu học để thành sư mà không nghĩ đến việc giúp đỡ người khác thì là một sự lãng phí!
Phật giáo Tây Tạng rất chú ý đến việc tu dưỡng Bồ Đề Tâm, đến Bồ Tát Hạnh và coi việc giúp đỡ người khác là một bổn phận trọng yếu, một phần không thể tách rời trong đức Từ Bi của người Phật tử.
Nói đến người khác, Kusho có nghĩ đến người Việt và Phật giáo Việt Nam không?
Vị Sa môn trẻ này cám ơn mẹ cha là những Phật tử đã khuyến khích và giúp đỡ mình trên con đường học đạo.
Chính là tấm lòng yêu thương của bà mẹ đã khiến chú cố gắng tu tập để có thể làm tròn bổn phận với Việt Nam.
Vì vậy, sau giai đoạn tu chứng, nhà sư trẻ còn phải đi một bước rất xa là học hỏi thêm về Việt Nam và Phật giáo Việt Nam.
Phật giáo Tây Tạng theo Kim Cang Thừa (Varayana) của Đại Thừa Mahayana, nhưng cũng áp dụng phép tu có đặc tính Mật Tông và cả Bồ Tát Hạnh trong những giáo lý nền tảng của Phật giáo Nguyên thủy Theravada.
Vì vậy, trong giáo trình đào tạo và tu học, các học viên đều phải thấm nhuần những lý giải Tiểu Thừa hay Nguyên thủy.
Sau này, Kusho sẽ học thêm về những đặc tính đa diện của Phật giáo Việt Nam và phải thông thạo tiếng Việt để tiếp xúc với Phật tử người Việt.
Một con đường rất dài... Khi viết, Kusho xử dụng cả hai tay, trái và phải, để viết chữ Tây Tạng hay tiếng Anh. Khi học, có lẽ cũng phải nhớ đến tương lai là tìm đến Phật giáo Việt Nam. Vả lại, chính Đức Đạt Lai Lạt Ma đã căn giặn như vậy.
Hôm đó, sau khi được Ngài truyền giới, vị tiểu sa môn được Đức Đạt Lai Lạt Ma gọi riêng ra chụp chung tấm hình.
"Con gi tm hình này cho quê hương con. Cho nước Vit Nam".
Kusho treo tấm hình trong trai phòng tại học viện, như một nhắc nhở hàng ngày.
Việc nhà sư Tenzin Drodon này sẽ chứng đắc học vị Geshe có thể chỉ là thời gian vì tâm nguyện như vậy.
Nhưng, việc một người có tâm hồn và giáo dục Việt Nam được tu học thành nhà sư Tây Tạng mới là một hạnh ngộ hiếm hoi.
Lời khuyên của Tulku Lati Rinpoche là Kusho hãy cố gắng tinh tấn tu học để trở thành một sa môn đầy đủ Bồ Tát Hạnh là Bi, Trí, Dũng để hoằng pháp lợi sanh cho nhân thế.
Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rõ hơn trong từng buổi gặp gỡ: "Đừng quên Việt Nam. Lòng từ bi và trí tuệ của con sẽ giúp ích rất nhiều cho quê hương con."
Pháp danh Drodon quý hiếm này, có lẽ Ngài chọn cho Kusho để hướng tới trách nhiệm với Việt Nam.
Sông Mekong xuất phát từ vùng đất Kham đã tái sinh của hai vị cao tăng Tây Tạng là Gehse La và Tulku Rinpoche. Nơi con sông này đổ ra biển chính là Việt Nam.
Phải chăng, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã thấy vạn sự từ đầu nguồn tiền kiếp, mà chưa đến lúc nói ra?
 
NN st