Thứ Hai, ngày 01 tháng 9 năm 2014

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA ĐÀM LUẬN VỚI MỘT NHÓM PHẬT TỬ ĐÔNG NAM Á

Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma/ 4-9-2012
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển/ 11-9-2012


dalailama-phattudongnama-01Hai ngày qua tôi nghĩ quý vị đã lắng nghe một cách rất nghiêm túc nên tôi rất hạnh phúc, tốt lắm. Bây giờ là chương trình hỏi đáp, quý vị có câu hỏi gì?
HỎI: Đức hạnh chính yếu nào mà chúng ta phải tuân thủ?
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Điều này thật đơn giản! Tôi nghĩ là một số hành vi thân thể cũng như lời nói đem đến cảm nhận vui vẻ. Những con chó hay mèo nếu chúng ta cho chúng thức ăn và vuốt ve chúng thế này. Chúng cảm thấy hạnh phúc, chúng biểu lộ đáp ứng lại từ thái độ hạn chế tình cảm của chúng, và thường thì những con chó hay mèo sẽ liếm chúng ta. Đấy là cách biểu lộ tình thương và bi mẫn. Nên những hành vi này là đức hạnh cũng như giọng điệu êm ái, con thú nhận ra giọng nói của chúng ta và biểu lộ thái độ thân thiện. Do vậy, chúng ta là những con người, trình độ loài người cũng giống như vậy, hơn như vậy, biểu lộ một nụ cười, một nụ cười chân thành, không phải là một nụ cười giả dối (mọi người cười) hay một nụ cười xã giao (mọi người cười), đôi khi tạo nên sự nghi ngờ. Thật thế. Nụ cười chân thành nhân bản ban cho người khác một cảm giác vui thích. Rồi thì dĩ nhiên một sự biểu lộ dễ thương về sự quan tâm cho sự cát tường của mọi người với động cơ chân thành thì đấy là đức hạnh. Do vậy, bất cứ hành vi thân thể, biểu hiện lời nói đem đến một số hạnh phúc nào đó đến người khác hoàn toàn dựa trên động cơ. Động cơ này là nhìn nhận người khác cũng như chính ta, muốn hạnh phúc và mọi người đều có quyền để đạt đến niềm hạnh phúc ấy, một đời sống hạnh phúc. Nếu với cảm nhận ấy, biểu lộ bằng hành vi thân thể, lời nói, đấy là những hành vi đức hạnh và những thứ như thế. Đấy là những gì mà tôi thường nói là đạo đức thế tục, cho dù đối với những người có tín ngưỡng hay những người không tín ngưỡng. Ngay cả đối với những người thật sự chống lại tôn giáo, okay, nhưng họ vẫn là những con người, họ là một bộ phân của bảy tỉ con người, những người này vẫn cần đạo đức hạnh kiểm của loài người. Nên những người này dù không thích thú với tôn giáo thì họ vẫn cần những đức hạnh thế tục. Nên tôi thường diễn tả căn bản của giáo huấn Đạo Phật là bất bạo động. Tại sao chúng ta cần bất bạo động, tại sao chúng ta cần tránh bạo động? Đấy là quan điểm là lý thuyết đấy là niềm hạnh phúc của chính chúng ta lệ thuộc vào những người khác. Hạnh phúc tương lai tùy thuộc vào hôm nay. Mọi thứ liên hệ hỗ tương với nhau. Cho nên vì sự quan tâm về lâu về dài của chúng ta hãy tránh làm tổn hại người khác. Nên hành vi bất bạo động có hai trình độ: nếu có thể thì hãy phụng sự người khác tối đa như có thể, nếu không thể thì tối thiểu không làm tổn hại người khác. Đấy là nguyên tắc đức hạnh theo quan điểm của Đạo Phật.
(Đức Đạt Lai Lạt Ma nhảy mũi và ngài nói: bây giờ quý vị có thể bị cảm, cái cảm của Đạt Lai Lạt Ma khi quý vị trở lại xứ sở của quý vị bị chứng cảm mạo thánh thiện của Đạt Lai Lạt Ma (holy dalai lama's cold', ngài cười và mọi người cùng cười). Câu hỏi tiếp theo.
HỎI: Điều gì xảy ra nếu lòng từ bi thiếu chân thành?
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Điều này thật mâu thuẫn. Nếu chúng ta biểu lộ lòng từ bi với người khác thì không có chuyện gì phải lừa dối. Thí dụ, tôi là một bậc cha mẹ thật tử tế, là một vị thầy thật chân thật, một ý nghĩa ân cần trọn vẹn của trách nhiệm về tương lai của con cái, hay tương lai của học sinh thế thì xuất phát từ sự quan tâm chân thành đến sự cát tường của con cái hay học sinh, với động cơ ấy đôi khi có đôi chút không thật thì được thôi. Nhưng sự không thật ấy là sự lừa dối thông tuệ. Có phải không? Tốt! Cho là có một học nhân thật là lười biếng, không bao giờ chú tâm nhiều vào việc học hành. Vị thầy có thể nói, con phải học tập cần mẫn nếu không thì tuần tới, tháng tới có những chuyện kinh khủng xảy ra. Đấy là một sự nói dối. Đem đến một sự loại sợ hãi nào đấy, nhưng xuất phát từ động cơ chân thành để đem đến một nỗ lực nào đấy đến những học nhân lười nhác ấy. Đấy là một sự đe dọa nhưng không phải bằng hành động bạo lực mà như là nói với những môn đệ ấy rằng Đức Phật rất giận với các con. Đấy là nói dối. Nhưng với động cơ rất chân thành. Okay. Nhưng nếu quý vị dùng sự dối trá vì lợi ích của chính mình và không quan tâm đến quyền lợi của người khác thì sự dối trá ấy không đi đôi với từ bi. Rõ chứ!
HỎI: Nếu tôi đạt đến giải thoát bằng nỗ lực của chính tôi thì tại sao tôi phải cần đến nghi lễ cúng dường?
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Nói một cách thân mật, tôi thường bình phẩm một số truyền thống khi người ta thỉnh cầu một số Lạt Ma về những sự quan tâm của họ về sức khỏe hay về sự thành công của họ, những thứ như thế. Rồi thì có những luận điển rất ngắn cũng nói về những việc nhằm để vượt thắng những điều không may mắn,…, môn đồ nên làm những nghi lễ này, nghi lễ nọ,… Tôi chỉ bình phẩm những thứ ấy là như vậy là sai lầm. Cách tốt nhất để vượt thắng những điều không may, hay những thứ xui xẻo hãy tự mình làm nên những công đức là thiền quán về tánh không, thiền tập một cách thật sự về lòng vị tha; đấy là cách tốt nhất để tăng trường đạo đức của chúng ta, hạnh kiểm của chúng ta. Qua cách ấy cuộc sống của chúng ta trở nên hạnh phúc hơn. Đấy là qua một ít kinh nghiệm của chính tôi mà tôi có thể nói với quý vị. Trái tim càng nhiệt tình hơn, càng quan tâm đến sự cát tường của người khác, chúng ta đón nhận một niềm hòa bình nội tại vô vàn, một vững vàng, tin tưởng. Một lợi ích tuyệt vời như thế cho sức khỏe của chính mình và mỗi đêm ta có một giấc ngủ vô cùng ý nghĩa, vô cùng êm ái. Tôi chưa từng thử thuốc ngủ hay thuốc an thần. Thuốc ngủ hay an thần là ở đây và ở đây (chỉ vào ngực và đầu) phối hợp với nhau: tuệ trí và vi tha hợp lại thật sự là y dược tốt lành để giữ cho chúng ta có sức khỏe tốt lành, như thế. Đấy là những gì tôi có thể nói với quý vị từ kinh nghiệm của chính tôi. Như tôi đã đề cập từ lúc đầu, chúng ta là những con người giống nhau, tôi cũng có những cảm xúc tàn phá: sân hận, luyến ái, ganh tỵ, những thứ này tôi cũng có. Nhưng khi những cảm xúc sắp sinh khởi thì tuệ trí của tôi nói với tôi rằng đây là những cảm xúc tàn phá, không tốt, không lợi ích. Nên tuệ trí của tôi nói với tôi rằng bạn không nên tiếp nhận cảm xúc, nhưng thứ này thật sự là tàn phá. Cách ấy thay đổi tâm thức chúng ta. Nên tôi thường diễn tả, phương pháp Phật Giáo sử dụng và thực tập nó là sử dụng trí thông minh của con người một cách tối đa, qua cách ấy để chuyển hóa cảm xúc của chúng ta chứ không phải cầu nguyện. Tôi nghĩ những người lười biếng, thật dễ dàng hơn để cầu nguyện Đức Phật, tất cả trách nhiệm đặt lên vai của Ngài, chúng ta chỉ nằm xuống mà ngủ, mà thư giãn (mọi người cười). Có phải thế không? Như vậy là không thực tế và không phải là sự thực hành của Đạo Phật. Đức Phật tuyên bố rằng "mỗi người là vị thầy của chính mình" vì Đạo Phật không có khái niệm về đấng tạo hóa. Một cách căn bản chính mình là tạo hóa. Như thế ấy. Sự tự tạo hóa. 
Rồi thì tôi nghĩ rằng những nghi lễ cúng dường (puja), cách này tôi nghĩ có những lợi ích nào đấy, chúng ta dâng hiến thứ gì đó đến người nào đó có là tăng sĩ hay nữ tu, với lời thỉnh cầu, xin hãy tiến hành một nghi lễ cúng dường nào đấy với tâm tư tối thiểu một số sư thầy hay sư cô để giúp tạo công đức nên cả Tăng Ni lẫn Phật từ đều có thể tạo nên công đức. Tôi thường nói nửa đùa với người Tây Tạng rằng, Long Thọ, Thánh Thiên, Phật Hộ, Vô Trước,… tôi không nghĩ rằng Long Thọ từng cầm một cái trống lắc, để khởi đầu một nghi lễ và những người đệ tử khác đánh chập chỏa, thổi kèn, và Nguyệt Xứng đánh trống tùng tùng, những thứ như thế (mọi người cười). Tôi không nghĩ như thế. Tất cả những thứ này, tôi nghĩ với sự tôn kính, tôi nghĩ là sự sáng tạo của người Tây Tạng qua sự thiếu kiến thức trung thực bất thiếu kiến thức. Tôi nghĩ như thế.
HỎI: Tôi nghĩ lòng từ bi cho tất cả mọi sự sống là quan trọng nhưng có nhiều người họ không yêu mến chính họ và không có lòng từ bi cho chính họ. Vậy thì làm sao chúng ta yêu mến chính mình và yêu mến người khác cùng những sự sống khác?
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Lòng yêu mến hay từ ái chân thành, trước nhất là yêu mến chính mình. Đôi khi có sự lạ kỳ là có sự ghét bỏ chính mình, những người như vậy thì không thể phát triển lòng yêu thương từ ái cho người khác. Nên trước tiên là yêu mến chính mình, rồi thì nghĩ người khác cũng như chính mình, họ cũng muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau. Họ cũng cùng có những quyền như vậy. Thấu hiểu như vậy và mở rộng lòng yêu thương từ ái đến những người thân bạn bè rồi mở rộng ra đến láng giềng hàng xóm, rồi đến những kẻ thù của chính mình, rồi đến toàn thể chúng sanh.
Ngày trước tôi quên việc xem kẻ thù với hai trình độ của từ bi. Một trình độ của từ bi là nhân tố sinh học như chó, mèo, chim, một số côn trùng như muỗi, tôi thật sự nghi ngờ chúng có khả năng của từ bi hay không tôi không biết. Một lần ở Oxford, Anh Quốc, trong buổi nói chuyện của tôi, ở hàng đầu một số giáo sư Oxford đường hoàng, tôi hỏi họ một câu hỏi, trong não bộ chúng ta chúng ta có khả năng phát triển cảm kích việc làm của người khác về sự tử tế ân cần như thế, chúng ta có cơ sở ấy, chó mèo cũng có khả năng ấy, và dường như những con muỗi không có khả năng ấy (mọi người cười). Vì khi cảm thấy vui tôi cho muỗi máu của tôi, chúng hút máu của tôi và toàn thân chúng biến thành màu đỏ và rồi chúng bay đi không có biểu hiện gì của sự biết ơn (mọi người cùng cười). Nên tôi chỉ đơn giản hỏi những vị giáo sư ấy rằng, mức độ nào của não bộ biểu lộ khả năng biết ơn. Tôi nghĩ là một ngày nào đó khoa học sẽ khám phá ra. Cho đến bây giờ chưa có câu trả lời. Nên những con muỗi là việc khác. Còn nhiều động vật có vú và chim chóc chúng có khả năng để biểu lộ yêu thương mến mộ. Như những con chim và những con thú khác, khi có sự đe dọa nào đối với con cái chúng, mẹ chúng sẵn sàng để chiến đấu chống lại hiểm họa ấy. Điều ấy không phải đến từ tín ngưỡng tôn giáo. Nhưng đấy là nhân tố sinh học. Chúng ta cũng có những khí cụ sinh học để phát triển lòng yêu mến hay quan tâm cho những người khác. Rõ chứ. Nhưng mà lòng yêu mến ấy là thiên vị và giới hạn với định hướng rất nhiều đối với thái độ của người khác. Lòng yêu mến ấy như hạt giống trong trí thông minh của con người và chúng ta thấy giá trị của sự nhiệt tình hay từ bi ấy và sự nguy hại của thù oán, sân hận. Qua cách ấy với sự hỗ trợ của trí thông minh loài người, lòng yêu mến hay từ bi sinh học giới hạn ấy với sự thông minh hay tuệ trí của con người có thể phát triển xa hơn bây giờ không bị định hướng bởi thái độ của người khác, mà chỉ xem họ như những chúng sanh mà thôi. Nên trình độ yêu thương hay từ bi rộng mở ấy có thể tiếp cận một cách dễ dàng đến kẻ thù của chúng ta. Cho đến khi chúng ta còn quan tâm đến những kẻ ấy như kẻ thù của ta, nhưng họ vẫn là những chúng sanh, đặc biệt trong loài người, họ là những người anh chị em, họ cũng xứng đáng cho lòng từ ái bi mẫn của chúng ta. Trình độ từ bi ấy là không thành kiến, không thiên vị, và không giới hạn. Giáo huấn về từ ái và bi mẫn là loại từ bi ấy, lòng từ bi không thành kiến.
Một người bạn Hồi Giáo của tôi, ông ấy nói với tôi rằng, một hành giả Hồi Giáo chân thành phải mở rộng lòng yêu thương đến tất cả những tạo vật của thánh Allah. Không có sự phân biệt bạn bè của tôi, kẻ thù của tôi. Không. Kẻ thù ta cũng là tạo vật của Allah, của Thượng Đế. Nên toàn bộ loài người, toàn bộ thế giới được tạo dựng bởi Thượng Đế. Có phải thế không? Nên những người tin tưởng chân thành hiến dâng trọn vẹn cho Thượng Đế thì phải tôn trọng, phải mở rộng lòng yêu thương đến tất cả những tạo vật do Thượng Đế tạo ra. Thế đấy. Nên như vậy là không thành kiến. Nên khi chúng ta nói về tha thứ, từ bi, bao dung,… đôi khi người ta lầm lẫn bao dung, tha thứ có nghĩa là chấp nhận những việc làm sai trái của người khác. Không phải như thế. Chúng ta phải làm sự phân biệt giữa người làm và việc làm (của người ấy). Rõ chứ. Đối với kẻ thù, người làm, thì tha thứ. Việc làm sai trái của người ấy, như hành động của người ấy, đôi khi chúng ta phải có hành động phản kháng lại. Không phải từ động cơ thù hận như từ lòng quan tâm đến sự cát tường của chính những người ấy. Nếu chúng ta để những hành vi sai trái của những người ấy tiếp tục, một cách rõ ràng những người ấy sẽ đau khổ. Nên nhằm để làm dừng lại hành động sai trái của những người ấy vì sự quan tâm của chính những người ấy đôi khi chúng ta phải phản kháng lại, sự phản kháng ấy vì sự cát tường của những người ấy. Nên quý vị thấy chúng ta cần làm sự phân biệt, tha thứ, đúng nghĩa của tha thứ là không bao giờ gia tăng cảm giác tiêu cực đối với những người ấy. Đấy là ý nghĩa của tha thứ. Tha thứ không có nghĩa là quên lãng. Nếu quý vị quên lãng thì không liên hệ gì với tha thứ. Rõ chứ. Những người Tây Tạng bị người Trung Cộng giam cầm, tra tấn, giết hại, như hành động ấy được quan tâm, chúng tôi chống lại, nhưng những người làm ra quyết định ấy ở trình độ con người, chúng tôi luôn luôn giữ lòng từ bi. Nên hãy là sự phân biệt, những người thực hiện hành động ấy, và hành động của họ. Đấy là hai việc riêng biệt. 
Như sự thực tập của chúng ta về sám hối. Trong thời gian sám hối, chúng ta làm sự phân biệt: Tôi làm lỗi lầm, tôi làm những việc sai quấy như vậy như vậy. Nên ta tách biệt hành động của chúng ta, chúng ta nhận ra hành động của chúng ta là sai. Chúng ta có khả năng tách biệt rằng chúng ta đã làm những việc sai lầm, hôm nay tôi hối hận. Nên tương tự thế, kẻ thù ta, như hành động của họ được quan tâm, chúng ta cần đối kháng lại, nhưng người làm hành động ấy, chúng ta phải giữ lòng từ bi, tha thứ. Rõ chứ! Như thế đấy.
Nên từ bi có những trình độ khác nhau lòng từ bi thành kiến và lòng từ bi vô giới hạn không thiên vị. Nên tự ghét bỏ mình là rất tệ hại. Và thực sự, khảo sát xa hơn, ta hỏi, tại sao người ta phát triển sự tự ghét bỏ chính mình? Sâu xa bên trong, ích kỷ ở đấy, lòng vị kỷ ngu ngơ. Rồi thì chúng ta làm ra một số lỗi lầm nào đấy, và chúng ta cảm thấy với đời sống vật chất chúng ta cần mang đến điều gì đấy, qua cách ấy chúng ta phát triển sự tự ghét bỏ.
Tôi không nghĩ từ lúc sinh ra chúng ta đã có sự tự ghét bỏ. Tôi không nghĩ như thế. Dưới những hoàn cảnh nào đó, chúng ta có một viễn kiến nào đó, chúng ta có một hoài bão hay một tham vọng nào đó, cảm giác đó đã đưa đến sự vị kỷ và sự tự ghét bỏ. Nên sự tự ghét bỏ đó một cách căn bản liên hệ với động cơ vị kỷ và đầu óc hẹp hòi. Các bạn nghĩ thế nào? Quý vị có sự tranh luận nào sâu xa hơn không? (mọi người cười). Nếu có sự tranh luận nào đó, tôi rất hoan hỉ! Có sự tranh luận nào không? Đôi khi tôi cảm thấy hơi tự hào (?). Trong hệ thống học tập của chúng tôi thường tranh luận rất nhiều. Khi một người đưa ra một ý kiến thì có những ý kiến đối lập lại, đấy là sự rèn luyện của chúng tôi. Tôi không phải là một người tranh luận giỏi, nhưng tôi có học tranh luận. Nên tôi cũng thích những sự tranh luận. Tôi nói một điều gì đó và có những sự tranh luận. Và có những sự tranh luận xa hơn, thật là hấp dẫn, thật là tốt đẹp. Có câu hỏi gì nữa không? (một người đưa tay lên) Ô, vâng.
HỎI: Ngài nói rằng chúng ta cần yêu mến chính mình, thế rồi rải lòng từ bi yêu thương đến người khác. Nhưng trước nhất là có những người họ không yêu mến chính họ, nhưng hiếm khi họ nhận được sự yêu mến họ không cảm thấy được yêu mến.
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Như tôi vừa mới đề cập, sự tự ghét bỏ, tôi không nghĩ là có từ lúc mới sinh ra đã có loại cảm nhận ấy. Tôi không nghĩ như thế. Sau này, khi tâm tư chúng ta trở nên phức tạp hơn, não bộ chúng ta. Rồi thì tự mình phát triển một hoài bão hay khát vọng nào đấy. Thế rồi những khát vọng không thực tế, hoài bão viễn vông, một cách tự nhiên không bao giờ là đời sống vật chất rồi thì sự tự ghét bỏ phát sinh… Tôi nghĩ là quý vị phải học hỏi, nghiên cứu, khảo sát những người tự ghét bỏ họ, nó khởi đầu từ bao giờ? Quý vị có thể cha mẹ họ, khi họ là những đứa bé thiếu nhi. Tôi không nghĩ những đứa trẻ thơ có sự tự ghét bỏ. Tôi không nghĩ như thế. Rõ chứ? Bây giờ quý vị (người hỏi) có thêm trách nhiệm tiến hành nghiên cứu và viết thành sách (cùng mọi người cười). Và tôi cũng nghĩ, ngày nay, những nhà chuyên môn não bộ, và một số nhà khoa học về cảm xúc con người cũng gene di truyền học, đây là một chủ đề mới để khảo sát xa hơn, thảo luận xa hơn. Tôi cảm thấy như thế. Câu hỏi tiếp.
dalailama-phattudongnama-03
HỎI: Một trong những quyển sách của ngài, có một đoạn nói về viễn ly nói rằng, viễn ly với thế gian là từ bỏ sự luyến ái hay dính mắc với thế gian không có nghĩa là ta tự tách rời với thế gian. Đối với những người dễ dàng bị dính mắc thì cân bằng giữa luyến ái và viễn ly như thế nào và làm sao chúng ta liên hệ trong việc giúp đỡ người khác nếu chúng ta chưa gắn bó (dính mắc) với tâm bồ đề?
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Tôi nghĩ là một ngày nào trước tôi đã đề cập. Dĩ nhiên tôi không biết ý nghĩa chính xác của chữ attachment (luyến ái, dính mắc, chấp trước) trong Anh Văn. Thông thường tôi thấu hiểu attachment là một loại là một loại tham muốn, một loại năng lượng hơi mù quáng, tương tự một loại khát vọng mù quáng,… đấy là luyến ái… Tự tôi là một Phật tử không nên phát triển sự luyến ái dính mắc với Đạo Phật. Nếu tôi dính mắc Phật Pháp thế thì tâm tư bị thành kiến. Tâm tư thành kiến không thể là thực tế vì tâm thành kiến không thể thấy thực tại của những thứ khác, không thể thấy những thứ khác một cách khách quan, rất dính mắc với tham muốn của chính mình. Rõ chứ! Nếu tôi có thể nói rằng ai đó trong hàng ngũ lãnh đạo cứng rắn ở Bắc Kinh, họ nhìn nền văn hóa Tây Tạng hoàn toàn tiêu cực (cười). Do vậy, tâm tư họ trở nên thành kiến, như thế ấy.
Một lần nọ ở Úc Đại Lợi, nhiều năm về trước. Một cuộc gặp gỡ với những nhà khoa học. Mọi người tự giới thiệu. Vừa vào lúc bắt đầu, một nhà khoa học người Úc Đại Lợi, ông tự giới thiệu, "tôi là một nhà khoa học người luôn luôn phân biệt khoa học đối với những người có quan điểm khác biệt với khoa học". Ông đã sẵn sàng phân biệt khoa học. Đối với những người như vậy, tôi nghĩ là rất khó khăn để chấp nhận về tâm thức, cảm xúc. Họ chỉ cảm nhận về não bộ mà thôi.
Nên một số nhà khoa học, với đầu óc rất cởi mở, vâng. Như tôi đã đề cập sáng nay, trình độ thô của cảm xúc, của tâm thức hoàn toàn lệ thuộc vào não bộ. Ngày nay các nhà khoa học bắt đầu chú ý đến việc rèn luyện tâm thức, một ý nghĩa, nghĩ nhiều hơn về từ bi. Thái độ tinh thần ấy, thật sự tác động đến não bộ, ảnh hưởng của khả năng tự điều chỉnh hay thay đổi của não bộ. Thái độ ấy và sự thiền tập hay sự rèn luyện tinh thần, thật sự vấn đề ấy đưa đến một số thay đổi, đôi khi có một số gia tăng. Cho nên một số nhà khoa học bây giờ thật sự cho thấy một sự quan tâm, đưa ra một số câu hỏi mở về một loại năng lượng nào đó riêng biệt với não bộ, có một sự nối kết gần gũi giữa não bộ, hệ thống thần kinh và năng lượng ấy. Đôi khi não bộ, thần kinh thay đổi đưa đến sự thay đổi của một số tâm thức hay năng lượng nào đó.
Ô, có một trường hợp ở Hoa Kỳ, tôi nói chuyện với một số bác sĩ, nhà vật lý. Tôi chỉ hỏi, rõ ràng một số sự kiện trên trình độ vật lý và một số thay đổi trên trình độ não bộ. Một lần nữa, một số cảm xúc, một số thái độ cảm giác phát triển. Điều đó là rõ ràng. Nhưng có một số trường hợp, không có ảnh hưởng vật lý, không có gì cả, chúng ta chỉ ngồi im lặng, bỗng nhiên một tư tưởng phát sinh. Và tư tưởng ấy tác động đến não bộ và áp lực ấy cũng thay đổi. Nên dường như đôi khi chỉ một chút tư tưởng có thể đến và thay đổi tình trạng vật lý của thân thể. Nên dường như có năng lượng nào đó ở đấy. Nên đôi khi có một chuyển nào đó ở trình độ vật lý thân thể lại ảnh hưởng đến sự suy tư. Đôi khi ở trình độ tư tưởng, một số chuyển động nào đó xảy ra lại ảnh hưởng đến não bộ. Tôi đã hỏi một bác sĩ, họ trả lời dường như là thế, nhưng không phải như thế (cười). Như vậy là thành kiến có phải không? Họ tin rằng tâm thức chỉ bảo vệ não bộ, chứ không phải như thế.
Ngày nay những nhà khoa học chân thành lanh lợi không làm như thế. Rồi thì khoảng 1979, lần thăm viếng đầu tiên của tôi ở Mongolia qua Liên Bang Viết, qua Mosow, vẫn là cộng sản, tôi đã gặp một nhà khoa học ở đấy, tôi đề cập về cơ quan thần kinh, chúng tôi gọi như nhãn thức, nhĩ thức, …, sáu thức. Một nhà khoa học Liên Xô đã bác bỏ, và nói đấy chỉ là những danh từ tôn giáo (cười). Thì đấy là một nhà khoa học, nhưng với đầu óc hẹp hòi (cười). Trong khi một số người bạn của tôi, các nhà khoa học Hoa Kỳ, một người rất nổi tiếng là Richard Davidson, Wisonsin University, là một người bạn rất gần gũi của tôi trong nhiều năm, và một người Chi Lê, và nhiều người khác, là những nhà khoa học rất lanh lợi và chân thành. Khi những chủ đề mới xuất hiện, họ rất cởi mở đón nhận, có thể là đúng có thể là sai, tâm tư cởi mở, thái độ rất tốt. Không thành kiến, nhìn một cách khách quan, và luôn luôn khảo sát. 47:52
Cho nên, não bộ, chúng tôi tin rằng ở trình độ thô của tâm thức, năng lượng hoàn toàn lệ thuộc vào não bộ. Như sáng nay tôi đã đề cập, trong thời gian ngủ, trong giấc mơ, các thức giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) không hoạt động; thức thứ sáu, ý thức làm việc. Với giấc mộng, chỉ tâm thức. Rồi thì giấc ngủ sâu, không mơ mộng, những kinh nghiệm vi tế hơn của tâm thức. Nên một cách kỹ thuật để nhận ra thời gian, nhận ra tôi đang mơ ngủ, với kinh nghiệm ấy nên kiểm soát giấc mộng. Và qua cách ấy, cuối cùng, chúng ta có thể tách rời thân thể trong mộng với thân thể vật lý. Có một số trường hợp, qua rèn luyện. Các vấn đề này vẫn là huyền bí. Khả năng ở đấy. Một số người thường, một số trường hợp đã trải nghiệm trong thời gian ngủ nhận thức được là, 'tôi đang mộng', 'bây giờ tôi đang ngủ'. Có ai có kinh nghiệm ấy không?
Nên khi chúng ta trải nghiệm, thời gian mộng, thể trạng mơ ngủ, nhận ra rằng "tôi đang mơ ngủ" và trường hợp ấy, việc tập trung xa hơn, một địa điểm nào trong thân thể, chính yếu ở đây (chỉ vào chấn thủy) ở giữa hai vú (mọi người cười) ở đây. Nên trình độ ngủ mộng, trình độ thô của tâm thức, cảm giác, đã không hoạt động. Rồi thì tình trạng mơ ngủ, quý vị tập trung ở đây (chỉ vào giữa ngực) một cách thận trọng hòa tan tâm thức sâu hơn. Sự thực tập ấy là một trong những sự thực tập, hòa tan như thế nào đối với trình độ thô của tâm thức. Đối với những ai có kinh nghiệm tỉnh thức trong giấc mộng thì đừng thờ ở với kinh nghiệm ấy, quý vị nên chú ý hơn về kinh nghiệm ấy thì ta sẽ biết tại sao khi ngủ mơ ta biết là ta đang ngủ mơ, nhớ là tập trung ở đây. Sự tan rã xa hơn trình độ tâm thức thô sẽ thâm nhập sâu hơn sâu hơn của tâm vi tế. Đấy là một sự thực tập yoga như thế.
Trong một vài trường hợp tôi cũng nhận ra tình trạng khi mơ ngủ, nhưng rồi không có tiến trình xa hơn, tôi là một người làm biếng, như thế ấy. Rồi thì như vấn đề chết, vị giáo thọ trưởng lão của tôi, sau khi ngài tịch, bác sĩ đến, khám nghiệm và tuyên bố ngài đã chết. Và 13 ngày sau, thân thể của ngài vẫn mềm mại tươi tắn. Và tôi nghĩ 2 năm trước đây, ở Nam Ấn, đã có một vụ 3 tuần sau thân thể vẫn không bị phân hủy. Và một vấn đề hấp dẫn là trước khi chết, vì bị bệnh hoạn lâu ngày, thân thể rất yếu đuối, thân thể lại trở nên tươi tắn hơn, và duy trì trong 3 tuần.
Khoa học đến nay chưa có giải thích gì. Sự giải thích của chúng tôi là, tất cả trình độ thô của tâm thức và năng lượng tan biến nhưng tâm vi tế vẫn còn đấy, và không chỉ vẫn ở đấy mà lại hơi hoạt động hơn nên nó tác động đến thân thể vật chất.
Vào đầu năm nay, có một kinh nghiệm kỳ lạ, một vị thượng thủ của Mongolia, một vị Lạt Ma nhưng là người Tây Tạng, đã một lần bị tai biến mạch máu não, nên thân thể rất yếu và khó khăn di chuyển. Năm ngoái tôi đã gặp gỡ khi tôi thăm viếng Mongolia, thật sự là lần gặp gỡ cuối cùng và tôi đã nói với cụ rằng, "bây giờ thân thể của ngài rất yếu, ngài nên nghĩ đến kiếp sống tới, ngài nên nghĩ thêm về kiếp sống tới ở Mongolia", tôi đề nghị ngài như thế. Rồi thì gần ngày tết của Tây Tạng, ngài gởi tôi một thông điệp rằng, khi nào ngài nên tịch? (mọi người cười) Rồi tôi trả lời rằng, "ngài nên tịch ở Mongolia, thời gian ngài không phải bây giờ', lúc tết của Tây Tạng, và sau khi qua tết thì đấy đúng là thời gian để tịch", (mọi người cười). Tôi đề cập như thế và ngài đã làm theo đúng như vậy. Thật lạ kỳ. Sau đó vào ngày ngài tịch, và sáng hôm sau, tôi đã nhận được một tin từ thị giả hỏi là phải làm gì? Tôi đã gởi đại diện của tôi đến, nhưng máy bay không thể bay thẳng từ Ấn Độ đến Mongolia mà phải bay qua Đại Hàn hay Nhật Bản nên bốn ngày sau mới đến nơi, Ulanbato thủ đô Mongolia, sáng hôm ấy tôi nhận được tin, là một số dung dịch đã tiết ra từ lỗ mũi của ngài, đấy là dấu hiệu chấm dứt sự thiền định của ngài, và khi đại diện của tôi đến và làm lễ, thân thể của ngài nhủn xuống và lúc ấy ngài thật sự tịch. Nên dường như sự thị tịch của ngài đã được điều khiển từ Ấn Độ (mọi người cười). Khi tôi tịch ai điều khiển thì tôi không biết (mọi người cười). Nhưng việc này thật huyền bí có phải không?
Theo sự giải thích của Đạo Phật, vâng có một số lý do được giải thích. Còn bằng không thì chỉ là một kỳ lạ.
HỎI: Ngày nay thì ngày càng có nhiều người đồng tính luyến ái hơn trên thế giới, những trung tâm Phật Giáo Đài Loan chấp nhận hôn nhân đồng tính. Quan điểm của Phật Giáo về đồng tính luyến ái là như thế nào?
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Kinh điển Phật Giáo đề cập rõ ràng rằng, tình dục giữa những người đồng giới là sai. Nhưng đấy là qua những người tín ngưỡng, rồi thì những người không tín ngưỡng thì tình dục giữa những nam với nam, nữ với nữ cho đến khi nào mà nó an toàn thì okay thôi (mọi người cùng cười và vỗ tay). Nhưng việc hôn nhân là tùy thuộc vào luật pháp của quốc gia chỉ tuân theo luật lệ nhà nước thôi. Thế thôi. Rồi thì đối với những người tu tập nghiêm túc trong Phật Giáo thì nên tránh. Thế thôi. Ngay cả đối với thú vật chúng không ngại gì (cười). Nên chúng ta tin tưởng một cách căn bản, loài người cũng là một loại động vật. Có phải không?
HỎI: Trong xã hội hiện đại người ta ngày càng bị căng thẳng, chán chường hơn xa rời sự cống hiến, tôi có thể làm gì cho họ và cho chính tôi?
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Tôi tin rằng tôi đã đề cập việc này trong một ngày nào đó rồi. Hệ thống giáo dục. Tôi nghĩ chỉ vấn đề sống với cuộc đời của chính mình như thế nào với sự phát triển vật chất, với tiện nghi vật chất mà phải hiểu về trình độ vật lý hay tinh thần. Trình độ vật lý, những cảm xúc vui sướng hay khổ đau; trình độ tinh thần cũng thế. Đây là hai vấn đề khác nhau. Giữa hai trình độ này thì trình độ tinh thần siêu việt hơn nhiều. Sự đau đớn về thể xác có thể được làm giảm thiểu, chinh phục bằng trình độ tinh thần. Sự lo lắng, phiền muộn của tinh thần không thể bị chinh phục bằng trình độ vật lý, bằng phương tiện vật chất. Điều ấy là rõ ràng. Có phải không? Cho nên con người không có ý kiến gì về hai trình độ này; trình độ thân thể vật lý và trình độ tinh thần tâm linh.
Cho nên tôi nghĩ trước nhất, thật sự tôi nghĩ tối thiểu là hai năm, chúng tôi đã có những thảo luận nghiêm túc về điều này. Bây giờ, những giáo sư đại học và chúng tôi đang tiến hành một số hoạt động nghiên cứu vấn đề làm sao áp dụng trong nền giáo dục hiện đại, có nghĩa là nền giáo dục thế gian về đạo đức thế tục. Vấn đề giới thiệu nhằm để giảng dạy như thế nào, giải thích thế nào cho những sinh viên học sinh. Chúng ta phải giải thích về tâm thức và cảm xúc, ngoại trừ chúng ta có những ý tưởng về bản đồ của tâm thức, mô hình của cảm xúc; trừ khi chúng ta có những ý tưởng thô sơ về bản đồ cảm xúc của tâm thức. Sau đó những cảm xúc khác nhau, các cảm xúc nào rất tai hại cho sức khỏe chúng ta, những cảm xúc nào rất tốt lành cho sức khỏe chúng ta. Rồi thì phát triển những cảm xúc này như thế nào, những nguyên nhân nào, những điều kiện nào. Một số kiến thức thô sơ về toàn bộ hệ thống tinh thần. Qua cách ấy chúng ta có thể dạy về từ ái, bi mẫn,… những thứ này. Không phải từ căn bản quá khứ tôn giáo mà chỉ vì sức khỏe thân thể, và sức khỏe tinh thần.
Tôi nghĩ là tháng Giêng tới, chúng tôi sẽ có những cuộc gặp gỡ và thảo luận xa hơn. Tôi nghĩ là năm tới chúng tôi sẽ có những chương trình không căn cứ trên tôn giáo, mà chỉ đơn giản là những chủ đề chuyên môn. Thế thì chúng tôi hy vọng rằng, một số trường học, một số ở Hong Kong cũng như ở Ấn Độ tôi nghĩ một số trường đã bao gồm môn học về đạo đức thế tục. Một số trường đã tiến hành chương trình này say đó chúng ta sẽ thấy tác dụng như thế nào.
Vài năm trước đây Đại học Wisonsin, Stanford,… họ đã tiến hành một số chương trình thể nghiệm hai tuần, ba tuần,… về rèn luyện tâm thức. Việc nghiên cứu rất đáng thuyết phục. Trước khi tiến hành, họ đo áp huyết, và những kiểm nghiệm y tế khác. Và rồi sau hai hay ba tuần được rèn luyện, họ được khám y tế lại, những nổi bật là áp huyết giảm xuống, căng thẳng giảm xuống, các người ấy vui vẻ hơn, và mối quan hệ với thân quyến, đồng nghiệp, bè bạn trở nên thân mật hơn hạnh phúc hơn. Nên có một số thí nghiệm đã tiến hành, và trường Wisconsin đã có một số bài học về điều này, đạo đức thế tục, về từ ái, bi mẫn, những thứ này, với một số giải thích về các chức năng tinh thần và chủ yếu dựa trên các khám phá của khoa học. Chứ không phải dựa trên những trích dẫn hay lý thuyết tôn giáo, không. Chỉ đơn giản là những khám phá của khoa học. Đấy là hy vọng duy nhất còn sự phát triển vật chất, và tiện nghi vật chất là giới hạn.
Nhiều năm trước đây, khi kinh tế Nhật Bản mỗi năm đi lên như vầy, trong một vài trường hợp nào đó tôi đã tuyên bố, sự phát triển vật chất đi đến một trình độ nào đó sẽ không thể đi xa hơn nữa, có một giới hạn nào đó. Và đúng như vậy sau một vài năm, kinh tế Nhật Bản gặp phải một vài sự khó khăn nào đó.
Nên kinh tế, những giá trị vật chất, trong bất cứ trường hợp nào cũng là giới hạn. Sự phát triển tinh thần là vô giới hạn, những thường thì chúng ta tùy theo trình độ kiến thức, trình độ kinh nghiệm chúng ta đã mong đợi quá nhiều ở những giá trị vật chất, phát triển hơn, phát triển hơn, nhưng thật sự nó bị giới hạn.
Sự phát triển trình độ tâm linh là vô giới hạn, nhưng người ta không thích thú lắm. Rõ chứ! Cho nên, tôi nghĩ trong khi phát triển chủ nghĩa vật chất, dĩ nhiên là rất quan trọng, rất hữu ích, nhưng cùng lúc ấy, hãy chú ý đến hệ thống tinh thần như một bộ phận trong sự giáo dục của chúng ta. Rồi thì thôi nghĩ toàn bộ suy nghĩ sẽ thay đổi. Giáo dục khắp nơi, không về những chủ đề tôn giáo, nhưng hoàn toàn không tôn giáo, giới thiệu trong nền giáo dục hoàn toàn là những kiến thức khoa học về tâm thức, về cảm xúc. Như thế tôi nghĩ qua cách ấy sẽ có thể có một loại cách mạng, có phải thế không? Tôi nghĩ là có thể, tôi nghĩ rất triển vọng. Tôi đã nói với người phương Tây rằng, quý vị trong quá khứ đã khai thác quá nhiều, chủ nghĩa đế quốc phương Tây, nhiều quốc gia Á châu, nhiều quốc gia Phi châu, nhiều quốc gia châu Mỹ La Tinh bị kiểm soát bởi những quốc gia phương Tây, đế quốc Anh; có phải bạn đến từ Anh quốc không? Chủ nghĩa thực dân trước đây hả? (mọi người cười). Còn bạn? Tôi là người Mỹ. Tổ tiên của bạn đến từ… Ý Đại Lợi à. A, một số nước Phi châu cũng bị Ý Đại Lợi chiếm làm thuộc địa. Rồi thì Hòa Lan, Đức,… Nhưng cùng lúc ấy ý tưởng về dân chủ, nhà nước pháp quyền, tôi nghĩ là Anh quốc, rất thực tế, duy trì quốc vương như một biểu tượng, nhưng đồng thời thực hành hoàn toàn hệ thống dân chủ. Rõ chứ? Pháp thì hơi khó khăn, hoàn toàn dẹp bỏ chế độ quân chủ. Vậy thì thế nào đó, các nước phương Tây, trông như với chế độ thuộc địa thực dân rồi trao trả độc lập cho các nước. Rồi thì khoa học kỷ thuật chính yếu phát triển từ các nước phương Tây. Tôi nghĩ trong anh chị em loài người, các bạn trưởng thành hơn.
Trong những năm 60 hay 70 tôi có cơ hội thăm Singapore, và khi tôi giảng dạy, những người ở đấy chủ yếu là Phật tử Trung Hoa, khi tôi ban lễ quán đảnh, họ rất chú tâm, khi tôi giảng giải về Đạo Phật họ ngủ gật thế này (mọi người cười). Còn đối với những người phương Tây, khi tôi giảng giải giáo lý, họ biểu lộ sự thích thú vô cùng, họ ghi chú, thu băng,… tôi nghĩ là họ rất cởi mở, và nghiêm túc hơn nên khi tôi thuyết giảng về những thứ này ở những quốc gia Âu châu, Mỹ châu tôi nghĩ là rất dễ lãnh hội. Một số quốc gia khác không [nghiêm túc] như thế (cười). Nên tôi nghĩ những tư tưởng mới, tôi nghĩ có khả năng hơn để có những thay đổi nào đó bắt đầu từ những quốc gia Âu Mỹ, như vài năm trước đây, tôi ở Quebec, thật sự thường thì những trường Đại Học ở vùng này họ khóa tu nghiệp cho những giáo viên về đạo đức thế tục. Thông thường các giáo dục về đạo đức liên hệ với tôn giáo địa phương, thí dụ, những quốc gia Ki Tô với niềm tin Ki Tô.
Thực tế một lần ở Đức Quốc, lúc còn phân chia Đông Tây, trong trường hợp vào buổi thuyết giảng của tôi, ở Bonn, có Bộ Trường Gia Cư của chính quyền đến dự. Rồi thì vào lúc trước buổi giảng của tôi, khi tôi đề cập đến đạo đức, vị bộ trưởng ấy nói với tôi rằng bất cứ đạo đức hạnh kiểm nào cũng phải căn cứ trên đạo đức tôn giáo. Tôi giữ im lặng lúc ấy. Rồi một lần với Giáo Hoàng John Paul II, một vị giáo hoàng tuyệt vời người Ba Lan. Từ lần gặp gỡ đầu tiên, chúng tôi đã trở thành những người bạn vô cùng thân thiết. Một người tuyệt vời! Có một lần tôi hỏi ngài, những nguyên tắc đạo đức có thể căn cứ trên chủ nghĩa thế tục mà không căn cứ trên nền tảng tôn giáo hay không? Có thể hay không? Tôi hỏi Đức Giáo Hoàng. Và ngài im lặng. Rồi thì một vị Hồng Y trả lời tôi rằng: Không! Đạo đức hạnh kiểm phải căn cứ trên nền tảng tôn giáo.
Bây giờ ở Quebec, họ đang cố gắng tìm kiếm đạo đức hạnh kiểm không căn cứ trên niềm tin tôn giáo. Họ đang tổ chức những khóa tu nghiệp cho giáo viên, tôi nghĩ là một vài tuần và họ mời tôi có một vài thuyết giảng ở đấy và những suy nghĩ thông thường của tôi, tôi nói về những vấn đề như thế. Nên quý vị thấy đấy những khởi đầu nào đó đang diễn tiến trong những lãnh vực này.
Một trường hợp những nhà khoa học gặp gỡ với nhau, tôi nghĩ là mười năm trước đây, có vài nhà khoa học Nhật Bổn, có một nữ khoa học gia tham dự. Ngày thứ nhất, thứ hai, nữ khoa học gia ấy giữ im lặng, không bình luận gì cả. Ngày thứ ba bà đề cập, thường thường bà cảm thấy, chúng tôi những người Á Đông, chúng tôi có những tài liệu mà những nhà khoa học phương Tây tiến hành thí nghiệm, khảo sát, nhưng chính chúng tôi lại không có khả năng để khảo sát, nhưng lần này, sau hai ngày quán sát, bây giờ những người Á Đông chúng tôi có khả năng để khảo sát. Tôi nghĩ là người Á Đông thường thực hành một số giáo huấn tôn giáo, nhưng không khảo sát nhiều, không thắc mắc nhiều. Tôi nghĩ là chúng tôi phải thay đổi điều này. 
Như tôi đã đề cập trước đây, người Trung Hoa theo truyền thống Na Lan Đà và một số theo truyền thống Pali chúng ta đã tranh luận về những khảo sát này, như ngày xưa chúng ta căn cứ trên Bốn Chân Lý Cao Quý. Nên tôi nghĩ người Phật tử chúng ta tối thiểu bây giờ nên thắc mắc nhiều hơn, nên đặt câu hỏi nhiều hơn. Và nhằm để phát triển vấn đề đặt câu hỏi thì chủ nghĩa hoài nghi là rất cần thiết. Chúng ta không nên có niềm tin mù quáng. Chúng ta phải hoài nghi hơn. Càng hoài nghi càng dễ đưa đến việc đặt câu hỏi. Câu hỏi đưa đến việc khảo sát. Khảo sát đưa đến câu trả lời, câu trả lời đúng. Chỉ là niềm tin mù quáng chỉ là thể trạng của Đức Phật, hay thể trạng của thầy tôi, thế là dừng lại ngay đấy, không có khảo sát xa hơn. Nên tôi muốn lập lại lời của Đức Phật, "Tất cả những môn đồ của ta, tì kheo, học giả không nên chấp nhận giáo huấn của ta vì lòng tin, vì sự tận tụy mà đúng hơn là sự khảo sát và thể nghiệm tường tận." Cung cách khoa học ấy.
Một lần nữa tôi nghĩ là bốn mươi năm trước đây, khởi đầu sự suy nghĩ nghiêm túc của tôi trong việc đối thoại với khoa học hiện đại và vào lúc ấy, một phụ nữ Hoa Kỳ, có chồng Tây Tạng, tôi đã đề cập với phụ nữ ấy nguyện vọng của tôi trong việc tiến hành thảo luận, đàm luận với khoa học hiện đại. Rồi thì bà ta nói với tôi rằng, "Ô, hãy cẩn thận, khoa học là những kẻ giết tôn giáo." Sau đó tôi nghĩ, không, truyền thống Na Lan Đà, và chính Đức Phật luôn luôn thúc đẩy việc khảo sát xa hơn, ngay chính lời của Đức Phật. Nên chúng ta có quyền tự do để khảo sát. Khoa học hiện đại cũng khảo sát. Cả khoa học và Phật tử qua khảo sát chính yếu dùng lý luận hợp lý (logic) trong kinh nghiệm. Nhà khoa học khảo sát căn cứ trên khí cụ và toán học, như thế đấy. Nên những phương pháp tiếp cận khác nhau. Nhưng cả hai khảo sát: thực tại là gì?
Cho đến bây giờ, khoa học chủ yếu trên vấn đề vật lý là điều có thể chuyên về và dựa vào người thứ ba. Những chuyên đề của Phật Giáo không thể dựa vào người thứ ba mà chủ yếu là thể nghiệm chủ đề, như thế ấy. Nên có một ít khác biệt, nhưng ngày nay, trong những nhà khoa học đã bắt đầu thích thú về tâm thức và cảm xúc bởi vì nó vô cùng quan yếu cho sức khỏe, cho một gia đình lành mạnh, một xã hội lành mạnh.
Trong xã hội ngày nay, rất nhiều khủng hoảng tinh thần, có khi có những biểu hiện đẹp đẽ nhưng tiềm tàng là sự khủng hoảng đạo đức, khủng hoảng tinh thần. Hãy nhìn Nhật Bổn có nền giáo dục phát triển cao độ nhưng có nhiều vụ tự tử trong sinh viên học sinh. Ở Singapore thế nào? Không nhiều hả? (trả lời: có một số). Ở Ladahk trước đây không hề có tự tử, nhưng bây giờ trong sinh viên học sinh đã có những vụ tự tử. Nên sự phát triển vật chất đưa đến cạnh tranh nhiều hơn, qua cách ấy đưa đến nhiều tham vọng khát vọng hơn, qua cách ấy tạo ra nhiều khủng hoảng. Tâm thức chúng ta không được cân bằng.
HỎI: Làm thế nào để can đảm hơn trong việc tiếp nhận khổ đau của người khác để tự hoán đổi mình với người khác?
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Như tôi đã đề cập trước đây, tuệ giác với quan điểm thánh thiện hơn là rất quan yếu. Như thế ấy chúng ta nhìn sự việc với lòng từ bi chúng ta thể hiện lòng quan tâm thật mãnh liệt, thật kiên nhẫn đối với người khác, nhìn quán chiếu và quan tâm sâu xa về sự việc ngày qua ngày, tuần này đến tuần khác, tháng này đến tháng khác đôi khi tự mình thấy thấm nhuần toàn triệt,… trường hợp này tôi cảm thấy rằng chúng ta cần có một quan điểm thánh thiện hơn. Nghĩ về những điều chúng ta có thể đảm đương, chúng ta hành động. Thứ nào ngoài khả năng thì hãy chấp nhận thực tế. Trường hợp của chính tôi, đôi khi có những vấn nạn, chính yếu ở bên trong Tây Tạng, khi tin tức đến đây, thật đau lòng. Nhưng rồi thì nếu chỉ nghĩ về những vấn đề này, tôi nghĩ một ngày nào đó Đức Đạt Lai Lạt Ma tuyệt vọng, một Đạt Lai Lạt Ma chán đời (mọi người cười). Nhưng cho đến bây giờ không có gì nguy hiểm (cười). Tôi luôn luôn nhìn trong một nhận thức bao quát hơn. Như thế rất lợi lạc. Như vậy không có nghĩa là dửng dưng, thật sự là quan tâm rất nghiêm túc. Nhưng, trong một trường hợp, tôi nói với những người bạn của tôi ở Hoa Kỳ ở Tòa Bạch Ốc, một ngày nọ tôi nói rằng, "Ngày qua ngày, vô số rắc rối," một người bạn nói với tôi, "Nhiều khó khăn lắm". Và tôi nói với ông là, "Vâng, có thể có một cách nào đó trình độ khái quát bên ngoài, trình độ cảm xúc bên trong. Trước nhất ở trình độ khái quát bên ngoài, thì nhìn vấn đề và tìm cách để vượt thắng. Và ở trình độ cảm xúc ta có thể duy trì sự tĩnh lặng. Tôi thường trình bày rằng, như một đại dương, trên bề mặt sóng gió luôn luôn quấy động, nhưng bên dưới luôn luôn duy trì sự tĩnh lặng. Hãy cố gắng để phân biệt trình độ biểu hiện bên ngoài và cảm xúc bên trong. Việc ấy có thể làm ở trình độ khái quát bên ngoài, những tin tức quấy rầy, những tin tức buồn đau đến hãy phân tích làm sao để chiến thắng chúng. Nhưng cố gắng làm sự phân biệt trình độ khái quát bên ngoài và trình độ cảm xúc sâu bên trong có thể hỗ trợ cho sự thông minh. Một câu châm ngôn thường được nêu lên là, "Nếu ta có thể giải quyết được vấn đề thì không vì phải lo lắng, hãy nỗ lực. Còn nếu không giải quyết được thì có lo lắng cũng không ích gì!" Rất thực tiễn. Có phải thế không? Lo lắng quá, tự mình thối chí nản lòng thì thật đáng thương. Cho nên phải giữ sự quyết tâm, năng lực của quyết tâm. Từ bi không hành động chỉ là sự phụng sự trên đầu môi. Trường hợp của chính tôi chỉ là lời nói mà thôi. Chỉ nói, từ bi từ bi, mà không làm gì cả (cười). Cho nên những người liên hệ trong những việc làm ở nhà thương, hay giáo viên ở trường học thật sự áp dụng từ bi trong đời sống hàng ngày. Thật là tuyệt vời. Nếu tôi làm việc trong nhà thương, tôi nghĩ một tuần sẽ rất bận rộn. Tuần thứ hai, tuần thứ ba chắc không thể như thế, kiệt lực rồi (cười). Cho nên tôi thật sự cảm kích những người làm việc thật sự dâng hiến cả cuộc đời để phục vụ người khác, giúp đỡ người khác. Thật tuyệt vời!
(Nói với những tu sĩ trước mặt) Cho nên chúng ta là những tu sĩ Đạo Phật, lần đầu tiên tôi thăm viếng Bangkok,Thái Lan, tôi nêu lên câu hỏi, Chúng ta là tu sĩ Phật Giáo, hơi bị cô lập, không như những tu sĩ Ki Tô Giáo liên hệ sâu đậm trong việc phục vụ xã hội. Chủ yếu trong lãnh vực giáo dục, sức khỏe. Có phải thế không? Những tu sĩ nam nữ Ki Tô Giáo thật sự đảm nhận trách nhiệm với công việc xã hội. Chúng ta những tu sĩ Đạo Phật thường giam mình trong những tu viện nên tôi đã nêu câu hỏi với vị Vua Sãi Thái Lan (Sangha Rajar) trong lần thăm viếng đầu tiên của tôi, và ngài đã có lý khi nói, Chúng ta những tu sĩ cụ túc, chúng ta phải duy trì sự cách biệt với đời sống bình thường, đời sống thế tục. Điều ấy cũng đúng. Nhưng chúng ta cũng phải tìm đường lối trung đạo. Viễn ly có nghĩa là rũ bỏ. Thật sự lòng từ bi vô giới hạn, lòng từ bi không thành kiến nhằm để phát triển được như vậy, lòng từ bi giới hạn và thành kiến phải được giảm thiểu. Ở trình độ ấy bỏ, rồi thì lòng từ ái không giới hạn, lòng bi mẫn không thành kiến phát triển. Rõ chứ. Như thế đấy. Chân thành cảm ơn!
Nguyên tác: Question and Answer Session with a Group from Southeast Asia
Ẩn Tâm Lộ / Tuesday, October 16, 2012 / 11:05:34 AM
Source: thuvienhoasen

ĐẠO PHẬT VÀ NỮ TU

His Holiness The Dalai Lama
Tuệ Uyển chuyển ngữ



Chúng tôi vui mừng biết rằng Hội Nghị Quốc Tế Sakyadhita về Đạo Phật và Phụ Nữ được tổ chức tại Đài Loan và được phát biểu bởi một tầng lớp rộng rãi những diễn giả từ thế giới Phật Giáo. Chúng tôi tin tưởng vững chắc rằng, những người Phật tử chúng ta có một đóng góp nổi bật để làm lợi ích cho nhân loại theo truyền thống và triết lý đạo Phật.
Chúng tôi thật phấn khích để biết rằng những bước thực tiễn đang được tiến hành để đào tạo những nữ giáo viên Phật Giáo, phát triển triển vọng giáo dục cho phụ nữ và để tạo mạng lưới truyền thông trong tầng lớp phụ nữ Phật Giáo, thuộc bất cứ truyền thống nào. Trong cộng đồng Phật Giáo Tây Tạng, không giống trong quá khứ, chúng tôi đã giới thiệu những chương trình học vấn nghiêm chỉnh về triết lý Đạo Phật trong một số nữ tự viện ở Ấn Độ từ hơn hai thập niên qua.
Trong chương trình này chúng tôi biết rằng nhiều người tham dự hội nghị của quý vị có một sự quan tâm to lớn trong sự cổ vũ truyền thống Tỳ Kheo Ni. Có một sự nghiên cứu thuận lợi đã được hoàn thành trên vấn đề này, điều trong chiều hướng đã phát khởi nhiều vấn đề còn lại được giải quyết bởi những nhà chuyên môn về Luật Tạng. Những vấn đề Luật Tạng đã và luôn luôn là phức tạp. Nếu chúng ta nhìn lại lịch sử những cộng đồng Phật Giáo sơ khai, rồi thì chính những câu hỏi về Luật Tạng là trung tâm cho những cuộc bàn cãi.
Chúng tôi cảm thấy rằng việc tái lập cơ chế truyền giới Tỳ Kheo Ni là rất quan trọng. Thực tế, Đức Phật xác nhận rằng cả nữ và nam có một cơ hội bình đẳng và khả năng để thực hành giáo pháp và để thành đạt mục tiêu tu tập. Chúng tôi có một nghĩa vụ nâng đỡ ủng hộ quan điểm này.
Bây giờ, làm thế nào để tái lập cơ chế truyền giới Tỳ Kheo Ni được hoàn thành, đây là một vấn đề cho cộng đồng Tăng già quyết định. Không một cá nhân nào có một quyền hành nào để phán quyết vấn đề này. Một số người bạn và đồng đạo đã từng khuyến khích rằng với tư cách một Dalai Lama chúng tôi có thể ban hành một giáo chỉ hay đề khởi một quyết định, nhưng đây không là một vấn đề của một cá nhân nào, bất cứ ai ông hay bà nào có thể quyết định. Đây là vấn đề của cộng đồng Tăng già.
Thật là hữu ích nếu vấn đề này được bàn luận tại một hội nghị quốc tế của Tăng già. Những đại biểu của tất cả những truyền thống Luật Tạng chính yếu nên hiện diện. Vấn đề nên được giải quyết trên căn bản nghiên cứu và thảo luận hoàn hảo cẩn thận. Nếu chúng ta có thể tập họp một số những học giả chân thành cũng như những hành giả đức độ, những người có những tư tưởng phóng khoáng cởi mở và được tôn kính, để thảo luận vấn đề này một cách cẩn thận, chúng tôi tin tưởng rằng chúng ta có thê đạt đến một kết quả tích cực.
Chúng tôi gởi lời chào mừng đến tất cả những thành viên tham dự, cũng như sự cầu nguyện chân thành của tôi rằng hội nghị của quý vị có thể thành công trong việc đưa ra những phương thức thực tiễn để hỗ trợ phụ nữ những người tìm kiếm sự an bình nội tại và qua nền hòa bình to lớn hơn trên thế giới.
July 10, 2002
Sakyadhita International Conference on Buddhist Women in Taiwan 
http://dalailama.com/page.103.htm
 
Tuệ Uyển chuyển ngữ
 
24-02-2009
NỮ NHÂN VÀ PHẬT GIÁO? 
Thỉnh thoảng một vài cá nhân, nhìn vội vả qua một tôn giáo và vẻ ra một sự kết luận bởi một định kiến và phán đoán sai lầm hay thiếu hiểu biết. Bất kỳ nam hay nữ, nhân loại hay côn trùng, tất cả chúng ta đều bình đẳng ở bản chất cố hữu về tự tánh để trở thành một vị Phật. 
Tuy vậy tùy thuộc vào nơi chúng ta sinh ra nơi nào, người nào mà chúng ta được sinh ra, những cá nhân có những thuận lợi hay trở ngại (?). 
Ngày nay, trong nhiều xứ sở, nữ giới có những trở ngại trong xã hội. Vì vậy trong một số lời dạy, Đức Phật đề cập rằng nữ giới đã gặp phải những chướng ngại như vậy và tái sinh làm một người nữ sẽ gặp những điều không thuận lợi trong việc thực hành Phật pháp. Nhưng điều này không có nghĩa là nó đúng hay mâu thuẫn với việc nữ nhân có thể giác ngộ và trở thành lãnh tụ tôn giáo. 
Đức Phật đã cho phép nữ nhân được thọ giới tỳ kheo ny (một tu sĩ Phật giáo thực thụ) hai mươi lăm thế kỷ trước, mặc dù Ngài đã cảnh báo rằng nữ giới sẽ tiếp tục gặp những chướng ngại trong xã hội. (25 thế kỷ sau thì vẫn chưa một tôn giáo nào ngoài Phật giáo và Phật Tổ Thích Ca đã đặt nữ tu vào vị trí đáng tự hào như vậy!) 
Khi Di mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề (nữ tỳ kheo đầu tiên) sắp viên tịch, Đức Phật nói rằng, "Hãy chỉ cho ai đấy nghi ngờ rằng nữ nhân có thể giác ngộ được sự thật". Và bà đã thi triển thần thông trên hư không, chứng minh sự giác ngộ của mình, đã làm các vị Nam trưởng lão kinh ngạc. Đức Phật thường giải thích cho những bậc cha mẹ về ý nghĩa, giá trị của những người con gái và rằng quan niệm của họ đã không đúng đắn. 
Tổ sư Liên Hoa Sinh, người mang đạo Phật đến Tây Tạng đã nói rõ ràng với Quốc vương rằng, một người con gái có thể có năng khiếu hơn trong việc thực tập Phật hơn là người con trai. Người đệ tử tuyệt vời nhất của Tổ Liên Hoa Sinh là một người nữ, Lady Yeshe Tsogyal. 
Nhiều vị giáo thọ nữ đã đóng vai trò trụ cột trong Phật giáo Tây Tạng và trở thành những vị nữ tổ sư như Niguma và Machig Lhadron, đã tạo ra những truyền thống vẫn lưu truyền đến ngày nay. 
Trong kinh Pháp Hoa có một ví dụ về hình ảnh của Tiểu Long Nữ, đã chứng tỏ mình có thể trở nên một bậc giác ngộ ngay lập tức trước sự sửng sốt của cả Pháp hội. 
Bồ Tát Tara chắc chắn là một ví dụ tuyệt hảo về quan điểm của Phật giáo đối với những nữ hành giả. Bồ Tát Tara đã chứng ngộ vào thời Đức Phật Bất Không Thành Tựu vô lượng kiếp về trước, một nhóm tu sĩ đã gợi ý rằng, "Bây giờ ngài có thể tái sinh thành một người nam để đạt giác ngộ hoàn toàn để lợi lạc cho khắp mọi loài." Thay vì vậy, Bồ Tát Tara đã nguyện luôn luôn tái sinh là một người nữ để giác ngộ và lợi lạc muôn loài. 
Những chướng ngại của nữ giới trong văn hoá và xã hội khi đối diện với sinh hoạt trong Phật giáo đã không có sự ủng hộ trong những lời dạy của Đức Phật. Điều này, một ví dụ chính có thể tìm thấy trong lịch sử China. Trong suốt thời kỳ vàng son của Phật giáo, cụ thể là triều Đường và buổi đầu của triều Minh, nữ nhân không là một chủ đề nóng bỏng, ác liệt để tạo dấu ấn và được đánh giá như là những đề tài phụ thuộc khác. 
Một người nữ đã hoàn toàn thống trị China và duy nhất là nữ hoàng Vũ Tắc Thiên, đã cố chứng tỏ sự đúng đắn sự cai trị của bà thông qua Phật giáo: triết lý Nho giáo đã đặt phụ nữ lệ thuộc vào nam nhân, nhưng Phật giáo thì không! Và vì vậy nữ hoàng họ Vũ đã tự tuyên bố là một hoá thân của một vị Bồ Tát. Minh chứng qua kinh điển Phật giáo, bà đã cố chứng tỏ sự cai trị với những Phật giáo đồ và để họ tin rằng nữ nhân có thể cai trị China. Bà là một nhà cai trị khôn lanh, và là một người tìm hiểu khá sâu trong giáo lý và chính là tác giả bài khai kinh kệ: 
Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp  
Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ 
 
Ngã kim kiến văn đắc thọ trì 
 
Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa 
Vũ Tắc Thiên chưa hẳn là một hành giả chân thực, nhưng bà biết rằng chỉ có một tôn giáo ở China ủng hộ cho quyền cai trị của bà là Phật giáo. Bà trở nên, một trong những người cai trị bị xỉ vả nhiều nhất qua nhiều thế hệ các Nho gia. Tuy vậy hơn bao giờ hết sự cai trị của bà đã chứng tỏ sự đối lập hoàn toàn của giáo lý nhà Phật với sự đánh giá về phụ nữ.
Tuệ Uyển trích dịch từ trang http://www.sim

CHO VÀ NHẬN

Một Phương Pháp Thực Tiễn Hướng Đến Từ Ái và Bi Mẫn 

Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma

Anh dịch: Geshe Thupten Jinpa
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển - 31/08/2011



blankTừ bi là điều kỳ diệu và quý giá nhất. Khi chúng ta nói về từ bi, thật đáng khuyến khích để lưu ý rằng bản chất tự nhiên của con người, tôi tin, là từ bi và hiền lành. Đôi khi tôi tranh luận với bạn bè những người tin rằng bản chất con người là tiêu cực và hung hăng hơn. Tôi cải rằng nếu quý vị nghiên cứu về cấu trúc của thân thể con người, quý vị sẽ thấy rằng nó có họ hàng với những chủng loại động vật có vú mà lối sống của chúng là hiền lành hay hòa bình hơn. Đôi khi tôi nửa đùa nửa thật rằng đôi tay chúng ta được cấu thành trong một phương thức mà chúng thuận tiện để ôm ấp hơn thay vì đánh đấm. Nếu đôi tay chúng ta chính yếu dự định cho đánh đấm, thế thì những ngón tay xinh xắn sẽ không cần thiết. Thí dụ, nếu những ngón tay được để cho mở rộng, những võ sĩ không thể đánh đấm một cách mạnh mẽ được, vì thế họ phải nắm những bàn tay lại như quả đấm. Do vậy, tôi nghĩ rằng điều ấy có nghĩa rằng cấu trúc thân thể căn bản của chúng ta tạo nên một bản chất tự nhiên từ bi hay hiền lành.
Nếu chúng ta nhìn vào những mối quan hệ, hôn nhân và thụ thai là rất quan trọng. Như tôi đã nói trước đây, hôn nhân không nên được căn cứ trên tình yêu mù quáng hay một loại yêu đương lãng mạn cuồng si; nó nên căn cứ trên kiến thức về nhau và một sự thấu hiểu rằng chúng ta thích hợp để sống với nhau. Hôn nhân không phải cho một sự thỏa mãn tạm thời, mà cho một loại ý nghĩa nào đấy của trách nhiệm. Đấy là một tình yêu chân thành để làm nền tảng cho hôn nhân.
Một sự thụ thai thích đáng cho một đứa trẻ xảy ra trong loại thái độ đạo đức hay tinh thần ấy. Trong khi đứa trẻ ở trong bụng mẹ, tâm tư tĩnh lặng của bà mẹ có một ảnh hưởng rất tích cực đối với đứa trẻ chưa sinh, theo một nhà khoa học. Nếu thể trạng tinh thần của bà mẹ là tiêu cực, thí dụ nếu bà ta chán nản hay giận dữ, thế thì điều đó rất tại hại cho sự phát triển sức khỏe của đứa trẻ chưa sinh. Một nhà khoa học đã nói với tôi rằng trong vài tuần lễ đầu sau khi sinh là thời gian quan trọng nhất, vì trong thời gian ấy não bộ đứa trẻ đang tăng trưởng. Trong thời gian ấy, sự xúc chạm của bà mẹ hay những người hành động như một bà mẹ là quan yếu. Điều này cho thấy rằng, mặc dù đứa trẻ có thể không nhận ra ai là ai, nó thế nào ấy cần tác động tình cảm thân thể của người khác. Không có điều ấy, sẽ rất tai hại cho việc phát triển lành mạnh não bộ của đứa trẻ.
Sau khi sinh, hành động đầu tiên của bà mẹ là cho con bú sữa. Nếu bà mẹ thiếu vắng tình cảm hay cảm giác ân cần cho đứa con, thì sữasẽ không chảy ra. Nếu bà mẹ nuôi con của bà với cảm giác hiền lành đối với đứa trẻ, mặc cho bệnh tật hay đau đớn của riêng bà, như một kết quả sữa vẫn tuôn chảy tự do. Loại thái độ này như một trân bảo quý giá. Hơn thế nữa, nếu từ phía khác, nếu đứa trẻ thiếu một loại cảm giác gần gũi đối với bà mẹ, nó có thể không bú. Điều này cho thấy hành động tình cảm của cả hai phía là kỳ diệu như thế nào. Đấy là sự khởi đầu của đời sống chúng ta.
Tương tự thế với giáo dục, kinh nghiệm của tôi là những bài học nào chúng ta học từ những vị thầy không chỉ tốt lành mà cũng biểu lộ tình cảm cho học trò, đi sâu vào trong tâm tư chúng ta. Bài học từ những loại giáo viên khác có thể không được như thế. Mặc dù chúng ta có thể bị thúc ép để học hành và có thể sợ hãi giáo viên, những bài học có thể không thấm vào. Tùy thuộc nhiều vào tình cảm của giáo viên.
Giống như thế, khi chúng ta đi đến một nhà thương, bất chấp phẩm chất của bác sĩ, nếu bác sĩ biểu lộ cảm giác chân thành và quan tâm sâu sắc cho chúng ta, và nếu bác sĩ mĩm cười, thì chúng ta cảm thấy an lòng, okay. Nhưng nếu bác sĩ chỉ biểu lộ một chút tình cảm con người, thế thì ngay cả bác sĩ ấy có thể là một chuyên gia vĩ đại, chúng ta có thể cảm thấy không bảo đảm và lo âu. Đây là bản chất con người.
Cuối cùng, chúng ta có thể phản chiếu trên đời sống của chúng ta. Khi chúng ta còn trẻ và lúc chúng ta về già, chúng ta lệ thuộc một cách sâu đậm trên tình cảm của những người khác. Giữa những tầng bậc này, chúng ta thường cảm thấy rằng có thể làm mọi thứ mà không có sự giúp đở của những người khác và tình cảm của người khác đơn giản là không quan trọng. Nhưng tại tầng bậc này, tôi nghĩ thật quan trọng để giữ tình cảm sâu sắc của con người. Khi người ta ở trong một thị tứ hay thành phố lớn cảm thấy cô đơn, nhưng đúng hơn là người ta thiếu vắng tình cảm con người. Như một kết quả của điều này, sức khỏe tinh thần của họ cuối cùng trở nên rất nghèo nàn. Mặt khác, nếu những người đó lớn lên trong một không khí của tình cảm con người sẽ có một sự phát triển tích cực và hiền lành hơn trong thân thể, tâm tư và thái độ của họ. Những đứa trẻ lớn lên thiếu vắng không khí tình cảm nhân bản ấy thường có những thái độ tiêu cực hơn. Điều này đã biểu lộ rất rõ bản chất tự nhiên của loài người. Cũng thế, như tôi đã đề cập, thân thể con người biết thưởng thức sự hòa bình của tâm thức. Những thứ đang quấy rầy chúng ta có một tác động rất tệ hại đối với sức khỏe của chúng ta. Điều này cho thấy toàn bộ cấu trúc sức khỏe của chúng ta phù hợp với không khí tình cảm của con người. Do thế, khả năng cho từ bi là ở đấy. Vấn đề duy nhất là chúng ta có nhận ra điều này và áp dụng nó hay không?
Lòng từ ái và bi mẫn của chúng ta đối với bè bạn trong nhiều trường hợp thật sự là dính mắc. Cảm nhận này không phải căn cứ trên nhận thức rằng tất cả chúng sinh có quyền bình đẳng để hạnh phúc và vượt thắng khổ đau. Thay vì thế, nó căn cứ trên ý tưởng rằng điều gì đấy là "của tôi", "bạn tôi", hay điều gì đấy tốt cho "tôi". Đấy là dính mắc. Vì vậy, khi thái độ của người ấy đối với chúng ta thay đổi, cảm giác của chúng ta về sự gần gũi lập tức biến mất. Với một cách khác, chúng ta phát triển một loại quan tâm bất chấp thái độ của người khác đối với chúng ta, một cách đơn giản bởi vì người ấy cũng là một con người đồng loại và có mọi quyền để vượt thắng khổ đau. Cho dù người ấy giữ vị thế trung lập hay ngay cả trở thành kẻ thù của chúng ta, sự quan tâm của chúng ta phải duy trì do bởi thực trạng [như một con người] của người ấy. Đó là sự khác biệt chính yếu. Lòng bi mẫn chân thành là lành mạnh hơn; nó không thành kiến, và nó được căn cứ trên lý trí. Trái lại, dính mắc là hẹp hòi và thiên vị.
Thật sự, từ bi chân thật và dính mắc là đối nghịch với nhau. Theo sự thực hành Đạo Phật, để phát triển lòng từ bi chân thật, đầu tiên chúng ta phải thực hành thiền quán về bình đẳng và hành xả, buông xả khỏi những người thật thân cận với mình. Sau đó, chúng ta phải loại trừ những cảm giác tiêu cực đối với kẻ thù của chúng ta. Tất cả chúng sinh phải được xem như bình đẳng. Trên căn bản ấy, chúng ta có thể dần dần phát triển lòng từ bi chân thành cho tất cả. Phải nói rằng lòng từ bi chân thành không giống như sự thương hại hay cảm giác rằng những người khác thế nào ấy thấp hơn chính mình. Đúng hơn, với lòng từ bi chân thành, chúng ta nhìn những người khác là quan trọng hơn chính mình.
Như tôi đã chỉ ra trước đây, nhằm để phát sinh lòng từ bi chân thật, trước tiên nhất chúng ta phải trải nghiệm sự tu tập hành xả. Điều này trở nên rất quan trọng, bởi vì không có một cảm giác hành xả đối với tất cả, cảm nhận của chúng ta đối với người khác sẽ bị thiên vị. Vì thế bây giờ, tôi sẽ cho quý vị một thí dụ ngắn gọn về việc rèn luyện thiền quán trên sự phát triển hành xả. Thứ nhất, chúng ta phải nghĩ về một nhóm nhỏ những người chúng ta biết, chẳng hạn như bạn bè và người thân của chúng ta, đối với những người chúng ta có sự luyến ái (dính mắc). Thứ hai, chúng ta nên nghĩ về những người nào đấy mà đối với họ chúng ta cảm thấy hòan toàn dửng dưng. Và thứ ba, hãy nghĩ về một số người mà chúng ta không thích. Một khi chúng ta đã hình dung những người khác nhau này, chúng ta phải cố gắng để cho tâm tư chúng ta thâm nhập vào thể trạng tự nhiên của nó và để thấy nó đáp ứng một cách tự nhiên như thế nào đến một sự gặp gở với những người này. Chúng ta sẽ lưu ý rằng sự phản ứng tự nhiên của chúng ta sẽ là dính mắc đối với bạn bè chúng ta, không thích đối với những người chúng ta xem như kẻ thù, và hoàn toàn dửng dưng đối với những người chúng ta cho là trung lập. Rồi thì chúng ta phải cố gắng để tự hỏi mình. Chúng ta phải so sánh những ảnh hưởng của hai thái độ đối nghịch mà chúng ta có đối với bạn bè và kẻ thù của chúng ta, và để thấy tại sao chúng ta có những tình trạng thay đổi bất thường của tâm tư đối với những nhóm người khác biệt này. Chúng ta phải thấy tác động nào mà những phản ứng như vậy có trong tâm tư chúng ta và cố gắng để thấy sự vô ích của việc liên hệ với họ trong một thái độ cực đoan như vậy. Tôi đã thảo luận những sự thuận và nghịch của việc dung dưỡng thù hận và phát triển giận dữ đối với những kẻ thù, và tôi cũng đã nói một ít về những nhược điểm của việc dính mắc cực đoan đối với bạn bè, v.v... Chúng ta phải quán chiếu trên điều này và sau đó cố gắng để giảm thiểu tối đa cảm xúc mạnh mẽ của chúng ta đối với hai nhóm người đối nghịch này. Rồi thì quan trọng nhất là, chúng ta phải quán chiếu trên nền tảng bình đẳng giữa chính mình và tất cả những chúng sinh khác. Giống như chúng ta có khao khát bản năng tự nhiên cho hạnh phúc và vượt thắng khổ đau, và tất cả những chúng sinh khác cũng vậy; giống như chúng ta có quyền để hoàn tất nguyện vọng bẩm sinh này, và tất cả những chúng sinh khác cũng như vậy. Vì vậy trên nền tảng đúng đắn nào mà chúng ta phân biệt?
Nếu chúng ta nhìn vào nhân loại như một tổng thể, thì chúng ta là những động vật xã hội. Hơn thế nữa, những cấu trúc của kinh tế, giáo dục, v.v... hiện đại, cho thấy rõ rằng thế giới đã trở nên một nơi nhỏ bé hơn, và vì thế chúng ta lệ thuộc vào nhau hơn. Dưới những hoàn cảnh như vậy, tôi nghĩ chọn lựa duy nhất là sống và làm việc với nhau một cách hòa hiệp, và giữ trong tâm tư chúng ta mối quan tâm cho toàn thể nhân loại. Đấy là quan điểm và cung cách duy nhất mà chúng ta phải tiếp nhận cho sự sống còn của chúng ta.
Do bản chất, đặc biệt như một con người, những quan tâm của tôi không riêng biệt với những người khác. Sự hạnh phúc của tôi lệ thuộc trên hạnh phúc của những người khác. Vì vậy, khi tôi thấy những người hạnh phúc, tự động tôi cũng cảm thấy hạnh phúc hơn một ít so với khi tôi thấy những người ở trong một tình cảnh khó khăn. Thí dụ, khi chúng ta thấy những bức ảnh ở trên truyền hình, những người đói khát ở Somali, kể cả những người già, và những đứa trẻ, tự nhiên chúng ta cảm thấy buồn bả, bất chấp sự buồn đau ấy có thể đưa đến một loại hành động giúp đỡ nào đấy hay không.
Hơn thế nữa, trong đời sống hàng ngày, bây giờ chúng ta sử dụng nhiều tiện nghi thuận lợi, kể cả những thứ như máy điều hòa không khí trong nhà. Những thứ này hay những tiện nghi này trở nên có thể hiện thực của thực tế, không phải do bởi chính chúng ta, mà do bởi sự liên hệ trực tiếp hay gián tiếp của nhiều người. Mọi thứ đến với nhau. Không thể trở lại lối sống một vài thế kỷ trước, khi chúng ta chỉ lệ thuộc trên những khí cụ đơn giản, chứ không phải tất cả những máy móc này. Rất rõ ràng đối với chúng ta rằng bây giờ chúng ta đang thụ hưởng những sản phẩm lao động của nhiều người. Trong 24 giờ đồng hồ chúng ta ngủ trên giường - nhiều người đang liên hệ với điều ấy - và trong việc chuẩn bị thức ăn cho chúng ta cũng thế, đặc biệt cho những người không ăn chay. Tiếng tăm rõ ràng cũng là sản phẩm của những người khác - không có sự hiện diện của những người khác, khái niệm danh thơm tiếng tốt thậm chí sẽ không có ý nghĩa gì. Cũng thế, sự quan tâm tình trạng kinh tế của Âu Châu tùy thuộc trên sự quan tâm của Mỹ Châu và sự quan tâm của Tây Âu tùy thuộc trên sự quan tâm của Đông Âu. Mỗi châu lục lệ thuộc sâu xa trên những châu lục khác; đấy là một thực tế. Vì nhiều thứ mà chúng ta khao khát, chẳng hạn như giàu sang, danh tiếng, v.v..., không thể hình thành mà không có hành vi hay sự tham gia gián tiếp và sự hợp tác của nhiều người khác.
Do vậy, vì chúng ta có quyền bình đẳng để hạnh phúc và vì tất cả chúng ta liên hệ với nhau, bất kể một cá nhân là quan trọng như thế nào, một cách hợp lý, sự quan tâm của năm tỉ người người trên hành tinh này là quan trọng hơn một người đơn độc. Bằng việc suy nghĩ qua những dòng này, chúng ta cuối cùng có thể phát triển một ý thức trách nhiệm toàn cầu. Những vấn nạn môi trường hiện đại, chẳng hạn như sự suy thoái của tầng ozone, rõ ràng cũng cho chúng ta thấy nhu cầu cho sự hợp tác toàn cầu. Dường như rằng với sự phát triển, toàn bộ thế giới đã trở nên nhỏ bé hơn, nhưng tâm thức con người vẫn tụt hậu đằng sau.
Đây không phải là vấn đề của sự thực hành tôn giáo, mà là một câu hỏi cho tương lai của nhân loại. Loại thái độ rộng rãi hơn hay vị tha hơn là rất liên hệ trong thế giới ngày nay. Nếu chúng ta nhìn vào hoàn cảnh từ những khía cạnh đa dạng hơn, chẳng hạn như sự phức tạp và sự liên hệ nội tại tự nhiên của sự tồn tại hiện đại, sau đó chúng ta sẽ dần dần chú ý một sự thay đổi trong quan điểm của chúng ta, vì thế khi chúng ta nói "người khác" và khi chúng ta nghĩ về người khác, chúng ta sẽ không còn loại bỏ họ như không liên hệ với chúng ta. Chúng ta không còn cảm thấy dửng dưng nữa.
Nếu chúng ta chỉ nghĩ về riêng mình mà thôi, nếu chúng ta quên lãng những quyền và sự cát tường của người khác, hay tệ hại hơn, nếu chúng ta bóc lột kẻ khác, căn bản chính chúng ta sẽ thua thiệt. Chúng ta sẽ không còn bạn nữa, những người biểu lộ cho sự cát tường của chúng ta. Hơn thế nữa, nếu thảm họa xảy đến cho chúng ta, thay vì cảm thấy quan tâm, người ta có thể thậm chí mừng thầm. Trái lại, nếu một cá nhân từ bi và vị tha, và có những quan tâm đến người khác trong tâm hồn, rồi thì bất chấp, người ấy biết nhiều người hay không, bất cứ nơi nào người ấy đi đến, người ấy sẽ lập tức có bạn. Và khi người ấy đối diện với tai họa, sẽ có nhiều người đến để giúp đở người ấy.
Một tình bạn chân thật phát triển căn cứ trên tình cảm chân thành của con người, không phải trên tiền bạc hay quyền lực. Dĩ nhiên, qua sự giàu có và quyền lực của mình, nhiều người hơn có thể tiếp cận chúng ta với những nụ cười rộng mở hay quà cáp. Nhưng trong sâu thẳm, những người này không phải là bạn bè thật sự của chúng ta; đây là những người bạn của sự giàu có hay quyền lực của chúng ta. Cho đến khi nào sự vận may vẫn còn với chúng ta những người này sẽ thường tiếp cận với chúng ta. Nhưng khi chúng ta hết thời, họ sẽ không còn ở đó nữa. Với loại bè bạn này, không ai sẽ thực hiện một nổ lực chân thành để giúp chúng ta nếu chúng ta cần đến. Đấy là sự thật.
Tình bạn chân thành nhân bản là trên căn bản của tình cảm nhân loại, bất chấp vị thế của chúng ta. Do vậy, càng biểu lộ sự quan tâm đến lợi ích và quyền lợi của kẻ khác, chúng ta càng là một người bạn chân thành. Càng cởi mở và chân thành, thế thì căn bản, lợi ích hơn sẽ đến với chúng ta. Nếu chúng ta quên lãng hay không quan tâm người khác, rồi thì cuối cùng chúng ta sẽ đánh mất lợi ích của mình. Vì vậy, đôi khi tôi nói với mọi người, nếu chúng ta thật sự vị kỷ, thế thì vị kỷ thông tuệ tốt hơn là vị kỷ si mê và đầu óc hẹp hòi.
Đối với những hành giả Phật Giáo, sự phát triển tuệ trí cũng rất quan trọng - và ở đây tôi muốn nói tuệ trí thực chứng tính không, căn bản tự nhiên của thực tại. Thân chứng về tính không cho chúng ta tối thiểu một loại ý nghĩa tích cực nào đấy về sự ngừng dứt. Một khi chúng ta có một loại cảm nhận nào đấy cho khả năng của ngừng dứt (diệt đế), sau đó sẽ trở nên rõ ràng rằng khổ đau không phải là cuối cùng và rằng có một sự thay đổi. Nếu có một sự thay đổi, thế thì đáng để thực hiện một nỗ lực. Nếu chỉ có hai trong Bốn Chân Lý Cao Quý của Đức Phật hiện hữu - khổ đau và nguyên nhân đau khổ - thì không có ý nghĩa gì nhiều. Nhưng hai chân lý kia, kể cả ngừng dứt, chỉ tới một phương cách thay đổi của tồn tại. Có một khả năng của sự chấm dứt khổ đau. Vì thế đáng thực tập để nhận ra bản chất của khổ đau. Do vậy, tuệ trí là cực kỳ quan trọng trong việc gia tăng từ bi một cách vô hạn.
Thế nên, đấy là việc chúng ta tiến hành trong sự thực tập Đạo Phật như thế nào: có một sự áp dụng năng lực của tuệ trí, sử dụng thông minh, và một sự thấu hiểu về bản chất của thực tại, cùng với phương tiện thiện xảo của việc phát sinh từ bi. Tôi nghĩ rằng trong đời sống hàng ngày của chúng ta và trong tất cả những loại hoạt động chuyên môn của chúng ta, chúng ta có thể sử dụng động cơ từ bi này.
Dĩ nhiên, trong lĩnh vực giáo dục, không nghi ngờ gì động cơ từ bi là quan trọng và thích đáng. Bất chấp chúng ta là người có tín ngưỡng hay không, từ bi cho đời sống sinh viên hay tương lai, không chỉ cho những cuộc kiểm tra, thi cử của chúng, mà hãy làm cho hành vi của chúng ta như một giáo viên [với từ bi] sẽ hiệu quả hơn. Với động cơ ấy, tôi nghĩ học trò của quý vị sẽ nhớ quý vị suốt cả cuộc đời.
Tương tự thế, trong lĩnh vực sức khỏe, có một thành ngữ Tây Tạng nói rằng hiệu quả của vấn đề chữa trị tùy thuộc trên trái tim nồng ấm của vị thầy thuốc như thế nào. Do bởi thành ngữ này, khi những việc chạy chửa từ một vị bác sĩ nào đấy không có hiệu quả, người ta phiền trách đặc tính của bác sĩ, suy đoán rằng có lẽ vị thầy thuốc ấy không phải là một người ân cần. Vị bác sĩ khốn khổ ấy đôi khi phải nhận một cái danh hiệu rất tệ! Vậy thì trên lĩnh vực y dược không nghi ngờ gì rằng động cơ từ bi là điều gì đấy rất thích đáng.
Tôi nghĩ điều này cũng là trường hợp của những luật sư và chính trị gia. Nếu những chính trị gia và luật sư có động cơ từ bi hơn thế thì sẽ ít có tai tiếng hơn. Và như một kết quả toàn bộ xã hội sẽ được hòa bình hơn. Tôi nghĩ hành vi chính trị sẽ trở nên hiệu quả hơn và được tôn trọng hơn.
Cuối cùng, trong quan điểm của tôi, điều tệ hại nhất là chiến tranh. Nhưng thậm chí chiến tranh với tình cảm nhân bản và với từ bi nhân ái sẽ ít tàn phá hơn nhiều. Chiến tranh hoàn toàn cơ giới hóa mà không có cảm giác nhân tính là tệ hại hơn.
Cũng thế, tôi nghĩ từ bi và một ý thức trách nhiệm cũng có thể đi vào lãnh vực của khoa học và kỹ thuật. Dĩ nhiên, từ một quan điểm khoa học thuần túy, những vũ khí kinh khiếp như bom hạt nhân là những thành tựu nổi bật. Nhưng chúng ta có thể nói rằng đây là những thứ tiêu cực bởi vì chúng mang đến những khổ đau mênh mông cho thế giới. Do vậy, nếu chúng ta không đánh giá nỗi đớn đau của nhân sinh, cảm giác của nhân loại, và lòng từ bi nhân ái, thì sẽ không có ranh giới giữa đúng và sai. Thế nên, từ bi nhân ái có thể xúc chạm mọi nơi.
Tôi thấy hơi khó khăn để áp dụng nguyên tắc từ bi này vào lãnh vực kinh tế. Nhưng các kinh tế gia là những con người, và dĩ nhiên, họ cũng cần tình cảm con người mà không có họ cũng sẽ khổ đau. Tuy nhiên, nếu quý vị chỉ nghĩ đến lợi nhuận, bất chấp những hậu quả, thế thì những tay đầu nậu ma túy không phải là sai, bởi vì, từ quan điểm kinh tế, họ cũng làm nên nên vô số lợi nhuận. Nhưng bởi vì điều này là rất tổn hại cho xã hội và cho cộng đồng, chúng ta gọi đó là sai và mệnh danh những người đó là tội phạm. Nếu đúng là như vậy, thế thì tôi nghĩ những tay buôn bán vũ khí cũng ở trong cùng đặc trưng ấy. Thương vụ vũ khí là tương đồng với hiểm họa và vô trách nhiệm.
Vì vậy, tôi nghĩ vì những lý do này, từ bi nhân ái, hay những gì đôi khi gọi là "tình cảm loài người", là nhân tố then chốt cho tất cả giao dịch của con người. Giống như chúng ta thấy rằng với lòng bàn tay tất cả năm ngón tay đều trở nên hữu dụng, nếu những ngón tay không được nối kết với bàn tay chúng sẽ vô dụng. Tương tự như vậy, mỗi hành động của con người không có cảm giác nhân bản sẽ trở nên nguy hiểm. Với cảm giác nhân tình và sự đánh giá cao những giá trị nhân bản, tất cả những hành động của nhân loại sẽ trở nên xây dựng.
Ngay cả tôn giáo, đáng lý là tốt lành cho nhân loại, có thể trở thành kinh tởm nếu không có thái độ từ bi nhân ái căn bản. Bất hạnh thay, thậm chí bây giờ có những rắc rối hoàn toàn vì những tôn giáo khác nhau. Do vậy, từ bi nhân ái là điều gì đấy nền tảng. Nếu từ bi nhân bản ở đó thì tất cả những hành vi của nhân loại sẽ trở nên hữu ích hơn.
Nói một cách tổng quát, tôi có ấn tượng rằng trong giáo dục và một có lãnh vực khác có một sự lãng quên nào đó đối với vấn đề động cơ nhân bản. Có lẽ, vào thời xưa, tôn giáo đáng lý mang lấy trách nhiệm này, nhưng bây giờ trong cộng đồng, một cách tổng quát tôn giáo dường như hơi lỗi thời một chút, do vậy người ta đánh mất sự hấp dẫn trong tôn giáo và trong những giá trị sâu xa của con người. Tuy nhiên, tôi nghĩ những điều này nên là hai thứ riêng biệt. Nếu chúng ta tôn trọng hay thích thú trong tôn giáo, điều đó là tốt lành. Nhưng nếu chúng ta không còn hấp dẫn với tôn giáo, thì chúng ta không nên quên lãng tầm quan trọng của những giá trị nhân bản sâu sắc.
Có những tác động phụ đa dạng bên cạnh việc làm nổi bật cảm nhận từ bi của chúng ta. Một trong những điều ấy là năng lực của từ bi càng lớn, khả năng hồi phục của chúng ta càng nhanh trong khi đối diện với những thử thách gay go và năng lực của chúng ta để chuyển hóa chúng thành những điều kiện tích cực hơn. Một hình thức của thực tập dường như khá hiệu quả được thấy trong Hướng Dẫn Lối Sống Bồ Tát, một tác phẩm cổ điển của Đạo Phật. Trong sự thực tập này, chúng ta quán tưởng bản ngã cũ kỹ của chúng ta, hóa thân của vị kỷ, tự cho mình là trung tâm, v.v..., và rồi quán tưởng một nhóm người đại diện cho những tụ hội của các chúng sinh khác. Rồi thì chúng ta áp dụng quan điểm của người thứ ba như một người quán sát không thiên vị và thực hiện một sự lương định so sánh giá trị, những quan tâm, và rồi đến tầm quan trọng của hai nhóm này. Cũng cố gắng để phản chiếu trên những khiếm khuyết hoàn toàn rõ ràng đến sự cát tường của những chúng sinh khác, v.v..., và những gì bản ngã cũ kỹ ấy đã đạt được rồi như một kết quả của việc hướng đến một lối sống như vậy. Rồi thì quán chiếu trên những chúng sinh khác và để thấy tầm quan trọng của sự cát tường của họ là như thế nào, nhu cầu để phụng sự họ, v.v..., và để thấy những gì chúng ta như người thứ ba trung lập quán sát, sẽ kết luận những quan tâm và cát tường của ai là quan trọng hơn. Chúng ta sẽ bắt đầu cảm thấy có chiều hướng thiên về vô số những người khác.
Tôi cũng nghĩ rằng năng lực của thái độ vị tha đối với chúng sinh càng lớn, chúng ta càng trở nên can đảm hơn. Chúng ta càng can đảm hơn, thì xu hướng ngã lòng và mất hy vọng càng giảm đi. Do vậy, từ bi cũng là một cội nguồn của sức mạnh nội tại. Với sức mạnh nội tại gia tăng thì có thể phát triển một quyết tâm vững vàng và với quyết tâm thì sẽ có một cơ hội lớn cho thành công, bất chấp chướng ngại là có thể là gì. Trái lại, nếu chúng ta cảm thấy do dự, sợ hãi, và thiếu vắng tự tin, thế thì chúng ta thường gia tăng thái độ bi quan. Tôi cho rằng đó là hạt giống thật sự của thất bại. Với một thái độ bi quan chúng ta không thể hoàn thành ngay cả những việc mà chúng ta có thể dễ dàng đạt được. Trái lại, ngay cả nếu điều gì đấy khó khăn để đạt đến, nếu chúng ta có một quyết tâm không gì lay chuyển cuối cùng sẽ có khả năng để đạt được. Do vậy, ngay cả trong những ý nghĩa quy ước, từ bi là rất quan trọng cho một tương lai thành công.
Như tôi đã chỉ ra trước đây, tùy thuộc trên cấp độ tuệ trí, sẽ có những trình độ từ bi khác nhau, chẳng hạn như từ bi được thúc đẩy bởi tuệ giác nội quán chân thành vào trong cơ bản tự nhiên của thực tại, từ bi được thúc đẩy bởi một sự đánh giá đúng bản chất vô thường của hiện hữu, và từ bi được thúc đẩy bởi thức tỉnh về khổ đau của những chúng sinh khác. Cấp độ tuệ trí của chúng ta, hay chiều sâu của tuệ giác nội quán vào trong bản chất của thực tại, quyết định trình độ của từ bi mà chúng ta sẽ trải nghiệm. Theo quan điểm Phật Giáo, từ bi với tuệ trí là rất quan yếu. Từ bi như một người rất trung thực và tuệ trí như một người rất tài ba - nếu chúng ta phối hợp cả hai lại, thế thì kết quả là điều gì đấy rất hiệu quả.
Tôi thấy bi mẫn, từ ái, và tha thứ như nền tảng chung cho tất cả những tôn giáo khác nhau, bất chấp truyền thống hay triết lý. Mặc dù có những khác biệt giữa những ý tưởng của các tôn giáo khác nhau, chẳng hạn như sự chấp nhận một Đấng Tạo Hóa Toàn Năng, nhưng mỗi tôn giáo đều cùng truyền trao một thông điệp: hãy là một người với trái tim nồng ấm. Tất mọi tôn giáo đều nhấn mạnh tầm quan trọng của từ bi và tha thứ. Vào thời cổ xưa, khi những tôn giáo khác nhau cư trú trong những vùng khác nhau và ít có sự giao tiếp hơn với nhau, nên không có nhu cầu cho đa nguyên trong những truyền thống tôn giáo khác nhau. Nhưng ngày nay, thế giới đã trở nên nhỏ bé hơn nhiều, vì thế giáo tiếp giữa những tôn giáo khác nhau đã trở nên rất mạnh mẽ. Dưới những hoàn cảnh như vậy, tôi nghĩ đa nguyên trong những niềm tin tôn giáo là rất cần yếu. Một khi chúng ta thấy giá trị nhân bản qua nhiều thế kỷ của những tôn giáo khác nhau này một cách không thành kiến, nghiên cứu một cách khách quan thế thì sẽ có nhiều lý do để chấp nhận hay để tôn trọng tất cả những tôn giáo khác nhau. Cuối cùng, trong nhân loại có rất nhiều khuynh hướng tinh thần khác nhau, nên đơn giản rằng một tôn giáo, bất kể là nó thậm thâm như thế nào cũng không thể thỏa mãn tất cả những con người đa dạng như thế.
Thí dụ, bây giờ, thay vì một sự phân chia những truyền thống tôn giáo như thế, đại đa số vẫn tiếp tục không bị hấp dẫn bởi tôn giáo. Trong đời sống của năm tỉ người, tôi tin chỉ có khoảng một tỉ người là những người tin tưởng tôn giáo thật sự. Trong khi nhiều người nói, "Gia đình tôi vốn là Ki Tô Giáo, Hồi Giáo hay Phật Giáo, nên tôi là Ki Tô Hữu, theo Hồi Giáo hay là Phật tử," những người tín ngưỡng thật sự, trong đời sống hằng ngày của họ và đặc biệt khi một trường hợp khó khăn nào đó sinh khởi, nhận ra rằng họ là những thành viên của một tôn giáo đặc thù nào đấy. Thí dụ, tôi muốn đề cập đến những ai nói rằng, "tôi là Ki Tô hữu", và trong thời gian ấy nhớ đến Thượng Đế, cầu nguyện Thượng Đế, và không để hiện ra những cảm xúc tiêu cực. Đối với những người tín ngưỡng chân thật, tôi nghĩ có lẽ có ít hơn một tỉ người. Còn lại nhân loại, ít hơn bốn tỉ người, vẫn là ở trong những người không tín ngưỡng thật nghĩa. Vì vậy một tôn giáo rõ ràng không thể thỏa mãn toàn thể nhân loại. Dưới những hoàn cảnh như vậy, một sự đa nguyên tôn giáo thật sự cần thiết và hữu ích, và do thế, điều duy nhất có thể cảm nhận được là tất cả các tôn giáo khác nhau phối hợp hành động và sống hòa hiệp với nhau, giúp đỡ lẫn nhau. Đã có những phát triển tích cực gần đây và tôi đã chú ý rằng những mối quan hệ gần gũi đang hình thành giữa những tôn giáo khác nhau.
Vì vậy, có quán chiếu trên những khiếm khuyết về một cung cách vị kỷ của tư tưởng và đời sống, và cũng đã phản chiếu trên những hậu quả tích cực của việc tỉnh thức về sự cát tường của những chúng sinh khác cùng hành động cho lợi ích của họ, cũng như tin chắc với điều này, thế thì trong thiền quán Đạo Phật có một loại rèn luyện đặc biệt được biết như "sự thực tập Cho và Nhận". Điều này đặc biệt được thiết lập để làm nổi bật năng lực từ ái và bi mẫn của chúng ta đối với những chúng sinh khác. Một cách căn bản nó liên hệ đến sự quán tưởng việc tự lãnh lấy tất cả những trải nghiệm khổ sở, đớn đau, tiêu cực, và không ai muốn của những chúng sinh khác. Chúng ta quán tưởng lãnh lấy những điều này về cho chính mình và ban cho hay chia sẻ với những người khác các phẩm chất tích cực của chính mình, chẳng hạn như những thể trạng đạo đức của tâm, năng lượng tích cực của chúng ta, sự giàu sang của chúng ta, niềm hạnh phúc của chúng ta, v.v... Một hình thức rèn luyện như vậy, mặc dù không thể kết quả thật sự trong việc giảm thiểu khổ của những người khác hay sản sinh ra những phẩm chất tốt đẹp của chính mình, nhưng một cách tâm lý sẽ mang đến một sự chuyển hóa trong tâm chúng ta vô cùng hiệu quả mà cảm nhận về từ ái và bi mẫn của chúng ta sẽ được nổi bật hơn.
Cố gắng để áp dụng sự thực tập này trong đời sống hằng ngày của chúng ta là vô cùng mạnh mẽ và có thể là một sự ảnh hưởng rất hiệu quả đến tâm thức chúng ta và trong sức khỏe của chúng ta. Nếu quý vị cảm thấy rằng nó dường như thấm thía để thực hành, thế thì bất chấp quý vị là một người có tín ngưỡng hay không, quý vị nên cố gắng để đẩy mạnh những phẩm chất tốt đẹp căn bản của loài người.
Một điều quý vị nên nhớ là những sự chuyển hóa tinh thần này cần thời gian và không dễ dàng. Tôi nghĩ một số người ở phương Tây, nơi kỹ thuật quá tân tiến, nghĩ rằng mọi thứ là tự động. Quý vị không nên tiên đoán sự chuyển hóa tâm linh này sẽ xảy ra trong một thời gian ngắn; điều đó không thể. Hãy giữ nó trong tâm tư quý vị và thực hiện một nổ lực liên tục, rồi sau một năm, năm năm, mười năm, mười lăm năm, cuối cùng quý vị sẽ thấy một số thay đổi. Tôi đôi khi vẫn thấy rất khó khăn để thực tập những điều này. Tuy thế, tôi thật sự tin rằng những thực tập này cực kỳ hữu dụng.
Đoạn trích dẫn yêu thích của tôi từ tác phẩm của Đại sư Tịch Thiên là:
"Cho đến khi chúng sinh còn tồn tại,
Cho đến khi không gian còn hiện hữu
Tôi nguyện sẽ vẫn hiện diện nhằm để phụng sự
Nhằm để thực hiện một sự cống hiến nho nhỏ nào đấy
Để làm lợi ích cho những người khác."
 Giving and Receiving trích từ quyển The Art of Living
Ẩn Tâm Lộ ngày 09/09/2011