Thứ Tư, ngày 24 tháng 8 năm 2016

Mong manh và ngắn ngủi




Hãy thử tưởng tượng đi chỉ 5 phút thôi thân thể này sẽ biến thành tro ngay lập tức trong lò thiêu, hoặc da thịt này sẽ sình thối, nứt nẽ chảy nước rồi rã ra với mùi hôi thối nực nồng,

Chỉ vài phút thôi khi hơi thở không còn trong thân xác này thì một dấu chấm hết, không còn gì cả, mất tất cả , không còn 1 dấu vết gì của 1 con người này trên thế gian cả ! biến mất như 1 cơn gió thổi qua ! chỉ còn là hư không .Vậy mà ta đã tốn không biết bao nhiêu công sức nuôi dưỡng cái thân này, bao nhiêu công sức xây dựng cơ ngơi, hoạch định tương lai lâu dài, dùng hết cả sức lực của mình đấu tranh giành giựt, tính toán thâu đêm để rồi chỉ 5 phút thôi tất cả thành tro bụi ngay lập tức, ta có giống con Dã Tràng không ? xây dựng lâu đài cát cho sóng biển cuốn đi .

Ngắn ngủi làm sao 1 kiếp người, mong manh làm sao 1 cuộc đời, ta bất lực với sự chấm dứt của nó, không thể kéo dài, không thể van xin mà thật ra keó dài để làm chi nếu sự tồn tại của con người chỉ là 1 chuổi những phiền muộn, lo toan, tranh giành, tính toán, hồi hộp, giận hờn, đau đớn bệnh hoạn, chứ có phải là cuộc sống thiên đàng đâu.

Thế mà chúng ta không nhận ra giá trị của sự tồn tại cái thân này để tận hưởng và sử dụng cho xứng đáng những tháng ngày nó còn tồn tại, để khi nó hoại ta không thấy tiếc nuối mà sẽ hài lòng vì mình đã sử dụng, sống đầy ý nghĩa 1 cuộc đời .

Nhận thức sâu sắc về thực tế này là 1 sự chánh niệm, tỉnh thức đầy trí tuệ, nó giúp ta sống đúng nghĩa, cư xử hợp lý, hành động không nông nổi bởi ta biết được hạnh phúc trong thực tại mới có ý nghĩa, còn những gì mong đợi cho tương lai, kiếp sau thật hư vọng.

Tin sâu nhân quả, sống thuận theo nhân quả, tức biết những gì xấu nên tránh, những gì thiện nên làm là ta đã tiên đoán được 1 cuộc đời tiếp theo của thân này rồi vậy có cần thiết phải quá lo lắng “ ta sẽ về đâu sau khi bỏ thân này không ? “ 

Hãy sống thật sự, hãy cảm nhận từng phút giây trong hiện tại, ta còn đây, hiện hữu ngay giờ phút này, hãy hạnh phúc với những gì mình đang có, trân trọng nó.

Hãy tự nhủ mình sẽ là cơn gió mát cho những tâm hồn nóng nảy, là bóng râm cho những người bạn lử hành, là ánh đèn cho người đi trong đêm đen.

Lợi lạc thay 1 cuộc đời.

Chỉ thế thôi, tôi không cần đến đâu cả thiên đàng hay tây phương, ngay đây, ở chốn này đã đủ cho tôi rồi.

Pháp Đăng


Suy ngẫm những câu nói hay










ST

  
  

 



Có đó rồi mất theo năm tháng
Chỉ còn tình thương ở lại đời

                                                                 
                                                          


                                                       Tạ ơn đời
                                  

                                               T ạ ơn đời hôm nay Tôi còn sống
                                Mắt còn nhìn, còn đọc được Emails
                                Đời còn vui, đâu đến nỗi cô liêu.
                               Thêm kiến thức, thêm từ tâm hỷ xả !
                               Tạ ơn các bạn gần xa
                               Hằng ngày chia sẻ cùng ta đủ điều.
                               Emails nhận được bao nhiêu
                               Là bao tình cảm thương yêu nồng nàn.
         
                      
                             
                                                                                                             
           "To wake at dawn with a winged heart 
             and give thanks for another day of loving”                                                          Kahlil Gibran.
                             have a great day photo: Have a Great  Day Haveagreatdaysw.gif
                             

Thứ Ba, ngày 23 tháng 8 năm 2016

Đất Nước Sạch,Xanh nhất thế giới





Inline image 1Inline image 2
Thật kinh ngạc khi ông Tshering Tobgay (51 tuổi), thủ tướng của đất nước bé nhỏ Bhutan thuyết trình bằng tiếng Anh giữa Vancouver (Gia Nã Đại) trước cử tọa toàn là những đại gia và tất cả đều ngạc nhiên, thích thú. Cảm ơn bạn Trần Hoàng Yến đã dịch phụ đề tiếng Việt. Ông Tobgay nhậm chức thủ tướng khi mới 48 tuổi nhưng chẳng bị ai ném đá hay phê bình là con ông cháu cha dù cha ông từng là binh sĩ và mẹ ông là quan chức của Bhutan bởi vì ông ta quá giỏi. Học kỹ nghệ cơ khí nhưng tài hùng biện của ông Tobgay khi say sưa nói về hạnh phúc, hiến pháp, biến đổi khí hậu... của Bhutan khiến cả thế giới phải ngã mũ. Đất nước bé tí ti, nghèo nhưng "chảnh" dễ sợ khi giáo dục, y tế đều miễn phí. 72% đất nước được rừng che phủ nhưng họ không phá rừng lấy gỗ xuất khẩu mà rừng được đưa vô cả hiến pháp. Và Hiến pháp cũng quy định 65 tuổi phải nghỉ hưu dù đó là vua!

THẢO MỘC GẮN LIỀN VỚI ĐỨC PHẬT


PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.
                 
Người khai sáng ra Phật Giáo là thái tử Siddharta Gautama (563-483 trước Tây Lịch). Đó là năm sinh và năm viên tịch được nhiều người chấp nhận hiện nay. Đạo Phật có ba nhánh chính:

– Phật Giáo Đại Thừa (Mahayana Buddhism): Trung Hoa, Nhật, Triều Tiên, Việt Nam.
– Phật Giáo Tiểu Thừa (Hinayana hay Theravada Buddhism): Sri Lanka, Miến Điện, Thái Lan, Cambodia, Lào. 
– Hoàng Giáo Tây Tạng (Vajrayana hay Tantrayana): Tây Tạng, Mông Cổ.

Căn cứ vào những tiểu sử của đức Phật, hoàng hậu Mahamaya nằm chiêm bao thấy một con voi trắng sáu ngà, dùng ngà có hoa sen húc vào hông bà. Sau đó hoàng hậu mang thai. Hoàng hậu lâm bồn trong vườn Lumbini, Nepal, dưới tàn cây Shala (cây vô ưu). Vừa chào đời hài nhi biết đi và biết nói. Người nhảy bảy bước. Mỗi bước nhảy có một hoa sen nở ra. Đó là thái tử Siddharta Gautama. Năm 29 tuổi thái tử từ giã vợ con và chức quyền sắp có trên một vương quốc nằm dọc theo dãy Hy Mã Lạp Sơn để đi tìm chân lý. Sau nhiều năm theo phái khắc khổ, Người vẫn không tìm ra chân lý, trái lại thân xác gầy gò và suýt chết. Một hôm ngồi dưới gốc cây bồ đề, Người được một phụ nữ dâng một chén cơm và một ly sữa để bồi dưỡng thân thể. Sau khi uống xong ly sữa, Người đắc đạo dưới gốc cây bồ đề. Người được gọi là Sakya Muni (Thích Ca Mâu Ni) tức nhà hiền triết tộc Sakya hay Buddha (đấng Giác Ngộ) tức Phật. Đức Phật thu nhận đệ tử, đi khắp nơi để truyền giảng đạo và viên tịch năm 80 tuổi.

Tôi tạm tóm lược tiểu sử của Đức Phật từ ngày đản sinh đến ngày viên tịch để đề cập đến những loại thảo mộc gắn liền với Đức Phật như: cây shala hay cây vô ưu, hoa sen, cây bồ đề, lúa gạo và nấm truffle căn cứ vào giả thuyết về bữa ăn cuối cùng của Đức Phật. Bài viết hoàn toàn không có màu sắc tôn giáo mà chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh thực vật học của cây cỏ gắn liền với Đức Phật. Phần cuối của bài có một số giả thuyết tóm lược từ các cuộc nghiên cứu về bữa ăn cuối cùng của Đức Phật trên khía cạnh khoa học. Xin người đọc bình tâm trước những lời giải thích của các nhà khoa học. Nhờ sự mạnh dạn tìm hiểu nguồn gốc của mọi sự vật một cách khách quan và khoa học, chúng ta mới được hưởng những tiện nghi hiện có thay vì nhìn các hiện tượng trong vũ trụ bằng sự huyền hoặc, hoài nghi và sợ sệt.


Cây Vô Ưu

Đức Phật chào đời dưới tàn cây vô ưu. Có hai loại cây vô ưu:
– cây shal hay shala
– cây ashoka
Về cây shala lại có một loại thảo mộc được người Indonesia gọi là Sala và người Ấn Độ gọi là Naga linga và được gọi là thánh mộc. Tôi nói qua về 3 loại cây nầy vì cả ba đều được xem là thiêng mộc trong Ấn Giáo (Hinduism) lẫn Phật Giáo. 
 
Cây Vô Ưu Shala, cây Vô Ưu Ashoka và cây Thánh Mộc
1. Cây Vô Ưu Shala: Tên khoa học của cây vô ưu Shala là Shorea robusta thuộc gia đình Dipterocarpaceae như cây sao, cây dầu, nghĩa là loại cây có trái có cánh. Cây cao từ 30-40m; lá rộng; hoa màu trắng rất thơm. Hoa nở vào tháng 4 dương lịch hàng năm. Cây vô ưu shala có nhiều ở Ấn Độ, các xứ vùng Hy Mã Lạp Sơn, Bangladesh. Người Ấn Độ gọi là Sal, Shala ; tiếng Sanskrit (Phạn): ashvakarma
 
2. Cây Vô Ưu Ashoka: Theo tiếng Sanskrit ashoka có nghĩa là vô ưu. Do đó người Anh gọi là sorrowless tree hay ashoka tree. Người Ấn Độ gọi là Vanjulam. Cây vô ưu ashoka tức cây vàng anh cao từ 20-30m. Lá rộng, đầu lá nhọn. Hoa to, cánh bầu tròn màu đỏ-vàng, nhụy dày đặc. Hoa thơm và đẹp. Tên khoa học của hoa vô ưu ashoka là Ashoka saraca thuộc gia đình Fabaceae. Cây ashoka liên hệ đến Thần Rama và vợ là nữ Thần Sita của Ấn Giáo và Đức Phật. Đó là nguồn thuốc của phụ nữ, biểu tượng cho sự sinh sản. Đến ngày lễ Ashok Shasthi phụ nữ Ấn Độ ăn hoa ashoka để được vô ưu. Nhiều phụ nữ cầu tự bằng cách nhảy múa dưới cây ashoka. Người ta cũng tin rằng Đức Phật ra đời dưới cây ashoka vì có sự lẫn lộn giữa cây shala vô ưu với cây ashoka vô ưu. Vỏ cây vô ưu ashoka sắc uống trị rối loạn tử cung, huyết tiện, tử cung xuất huyết, u bướu, da mất sắc tố v.v…
 
3. Thánh Mộc Naga Linga: Loại thảo mộc nầy được tìm thấy nhiều ở Nam Mỹ Châu, Ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan, Sri Lanka. Tên khoa học là Couroupita guianensis thuộc gia đình Lecythidaceae. Người Tamil gọi là Naga Linga (Naga: con rắn được tín đồ Ấn Giáo quí trọng; Linga: dấu hiệu của Thần Shiva trong Ấn Giáo. Linga-Yoni là bộ phận sinh dục của Nam và Nữ tượng trưng cho sự sinh hóa trong vũ trụ). Người Ấn Độ gọi là Shiva Linga. Người Anh gọi là cannon ball tree vì trái tròn, to bằng cái tô giống như trái đạn đại bác hay monkey pot (nồi khỉ vì khỉ dùng tay bóc ruột trái chín để ăn). Người Indonesia gọi là Sala tựa như cây Shala Shorea robusta. Cây Naga Linga cao từ 20-30m; lá to và có hương thơm. Hoa màu đỏ-vàng rất đẹp kết thành một chuỗi dài 3m. Trái nhiều, tròn và to như cái tô, vỏ cứng, cơm nhiều khi chín có mùi thơm nhưng có người lại cho là mùi không chịu nổi như trường hợp trái sầu riêng. Ngoài loài khỉ, loài người cũng ăn trái cây nầy được. Vỏ và lá thánh mộc Naga Linga dùng như thuốc trụ sinh, kháng nấm, trị cảm, trị đau bụng. Lá giã nát vắt nước dùng trị bệnh ngoài da. Lá cũng được dùng để trị nhức răng. Ở Nam Mỹ người ta dùng vỏ cây Naga Linga sắc nước uống trị sốt rét. Cây Naga Linga thường được trồng quanh đền Thần Shiva hay chùa Phật Giáo ở Ấn Độ, Sri Lanka. Vì trái to và nặng khi rụng trúng đầu người có thể gây nguy hiểm đến tánh mạng nên người ta không trồng cây Naga Linga (cây nồi khỉ hay cây đạn thần công) ngoài đường như trường hợp cây dừa vậy.
 
 
 
Hoa Sen
Hoa sen là hoa thiêng trong Ấn Độ và Phật Giáo Đại Thừa, Tiểu Thừa và Hoàng Giáo Tây Tạng. Tên khoa học của hoa sen là Nelumbo nucifera thuộc gia đình Nelumbonaceae . Người Ấn Độ gọi hoa sen là Kamala. Tiếng Sanskrit cũng gọi là Kamala hay Padma. Người Anh gọi là Sacred lotus (Sen thiêng), Indian sacred lotus.
 
Hoa sen đỏ liên hệ đến Thần Vishnu và sen trắng liên hệ nữ Thần Sarasvati. 
Lá sen, ngó sen, hột sen, nhụy hột sen, củ sen đều có công dụng. Hoa sen vừa có tính biểu tượng, vừa đẹp vừa có hương thơm. Hoa sen tượng trưng cho sự thanh khiết của một loài hoa mộc dưới nước nhưng:
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Ngoài đặc tính là thức ăn ngon và bổ dưỡng toàn thân, hoa sen còn được xem là một nguồn thuốc. Hoa sen có alkaloids nuciferine C19H21NO2 và apomorphineC17H17NO2 có tác dụng trị chứng bất lực sinh lý. Ngó sen, củ sen và hột sen được dùng để cầm máu, trị loét dạ dày, xuất huyết hậu sản, kinh nguyệt quá đà (ngó sen), nhuận trường, trị tiêu chảy, kiết lỵ, bán thân bất toại, mất ngủ, di mộng tinh, bất lực sinh lý, hạ huyết áp, hạ cholesterol, hưng phấn các sớ thịt tử cung (hột, củ sen) v.v…
Phật mẫu Mahamaya thấy voi trắng dùng ngà có hoa sen trắng chạm vào hông. Voi trắng là voi thiêng biểu tượng cho sự sinh sản và sự khôn ngoan. Sự xuất hiện của voi trắng như là sự báo hiệu của sự xuất hiện của đấng siêu phàm. Hoa sen trắng (bạch liên) là hiện thân của nữ Thần Satasvati. Bảy đóa hoa sen (bảy bước) là Đông, Tây, Nam, Bắc, Thượng, Hạ, Trung Tâm. Có phải chăng số 7 tượng trưng cho 7 ngôi sao trong chòm Đại Hùng Tinh (Ursa Major) của Sao Bắc Đẩu trên vòm Trời?

Cây Bồ Đề
Đức Phật ngồi thiền và đắc đạo dưới cây bồ đề ở Bodh Gaya, tiểu bang Bihar, Ấn Độ. Cây bồ đề là thiêng mộc đối với Ấn Giáo và Phật Giáo. Tín đồ Ấn Giáo tin rằng Thần Vishnu ra đời dưới cây bồ đề và Thần Krishna chết dưới gốc cây bồ đề. Huyền thoại Ấn Độ tin rằng gốc và rễ cây bồ đề là Thần Brahma; thân cây là Thần Vishnu và lá là Thần Shiva. Người Ấn Độ gọi cây bồ đề là Peepal (pipal). Tiếng Sanskrit (Phạn) là pipalabodhi; Sri Lanka: Bo; Thái Lan: bodhi. Bodhi có nghĩa là sự khôn ngoan. Người Anh phải gọi cây bồ đề là Sacred bodhi (cây bồ đề thiêng), bodhi tree vì họ biết người Ấn Độ, tín đồ Ấn Giáo lẫn Phật Giáo đều tôn kính cây bồ đề.
Tên khoa học của cây bồ đề là Ficus religiosa thuộc gia đình Moraceae. Không phải thảo mộc mang tên khoa học Ficus religiosa nào cũng được xem là cây bồ đề thiêng. Chỉ có những cây bồ đề lấy giống từ cây bồ đề ở Bodh Gaya, Bihar, Ấn Độ, nơi Đức Phật Thiền tịnh và đắc đạo mới được xem là có đặc tính đặc biệt xứng đáng gọi là cây bồ đề thiêng. Cây bồ đề Jaya Sri Maha Bodhi ở Anuradhapura, đảo Sri Lanka, lấy giống từ cây bồ đề Sri Maya Bodhi ở Bodh Gaya, Bihar, nơi Đức Phật Thiền tịnh và đắc đạo, được trồng từ năm 288 trước Tây Lịch (2300 tuổi tính đến năm 2012).
Cây bồ đề cùng dòng và cùng gia đình thảo mộc với cây đa. Cây cao lối 20m; lá hình trái tim. Trái chín màu tím đen.
 
Đối với người Ấn Độ cây bồ đề được bao quanh bởi nhiều huyền thoại. Nó có nhiều công dụng và tính năng trị liệu theo y học cổ truyền Ấn Độ. Ở Ấn Độ người ta trồng cây bồ đề ở hướng Đông của nhà hay đền, chùa. Vỏ cây bồ đề có nhiều tannins được dùng trong kỹ nghệ thuộc da. Từ vỏ cây bồ đề người ta khai thác màu nhuộm màu đỏ. Lá bồ đề là nguồn thức ăn cho voi và lạc đà.
Lá, vỏ, rễ, trái cây bồ đề dùng làm thuốc trị suyễn (trái tán thành bột), tiêu hóa, loét, tê thấp, nướu răng đau (rễ), lá già vắt nước nhỏ vào tai bị đau. Vỏ thân tán thành bột trị vết thương, viêm, loét, hoàng đản.

Lúa gạo
Tên khoa học của lúa gạo là Oryza sativa thuộc gia đình Poaceae. Đó là một loại cây lương thực quan trọng ở Ấn Độ, các nước Đông Nam Á, Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, các hải đảo Thái Bình Dương ngày xưa. Cây lúa có năng xuất cao hơn lúa mì. Từ lúa biến thành gạo, cơm nhanh chóng và giản dị hơn từ hột lúa mì biến thành bột mì và tạo ra ổ bánh mì. Dân tộc ăn cơm đều nấu cơm ở nhà nhưng dân tộc ăn bánh mì không thể nhồi bột mì, rải men, cho bột dậy và xây lò để nướng bánh mì trong nhà dễ dàng được.
Cây lúa là nguồn sống của nhân loại, đặc biệt là người Á Châu. Trung Hoa và Ấn Độ là hai nước sản xuất và tiêu thụ nhiều lúa gạo nhất thế giới. Từ gạo người ta làm ra bột, làm bánh, cất rượu, làm giấm và biến chế ra nhiều thức ăn khác. Trấu được dùng nấu nướng thay than củi. Rơm dùng để làm thức ăn khô cho trâu bò. Gốc rạ dùng để nấu nước uống và trị bịnh trái rạ. Người ta ăn gạo lức đề ngừa bịnh thủng. Cám gạo dùng ̣để làm thức ăn cho heo hay để làm một loại bánh ngọt lợ ăn để ngừa bịnh phù thủng. Gạo rang nấu nước giúp cho người bị thổ tả phục hồi lại nước trong thân thể v.v…
 
Ấn Giáo tức đạo Bà La Môn (Brahmanism) là tôn giáo có ảnh hưởng tuyệt đối quan trọng ở Ấn Độ. Xã hội chia ra nhiều giai cấp:

1. Brahmins (Tu Sĩ) 
2. Kshatriyas (Quân Nhân) 
3. Vaisyas (Thương) 
4. Shudras (Công)

Những người Harijans là những người bần cùng, ngoại hạng không thuộc giai cấp nào trong xã hội. Họ bị xã hội chê bai, khinh bỉ và xa lánh đến nỗi không ai dám đụng đến họ vì sợ bị lây nghiệp chướng sâu nặng của họ. Vì vậy người Tây Phương gọi họ là những người Parias hay Untouchables. Ấn Giáo, Phật Giáo, đạo Sikh (Sikhism), đạo Jain (Jainism) đều chủ trương ăn thực vật (Shakahara) và bất bạo động (ahimsa). Phái ăn thịt gọi là Mansahara theo Phạn ngữ (Sanskrit). Nếu ăn thịt thì không ăn thịt heo và thịt bò. Bò được xem là Vật thiêng. Thức ăn thực vật được đề cao. Vấn đề này rất phức tạp vì theo cách diễn dịch của từng địa phương. Người Ấn Giáo ở Nepal không ăn thịt bò nhưng ăn thịt trâu. Người Ấn Giáo ở Ấn Độ không ăn thịt bò cũng không ăn thịt trâu. Có nơi không ăn vịt. Có nơi không ăn hành, tỏi mặc dù thức ăn của Ấn Độ có nhiều hương liệu cay và nồng.
Trong xã hội Ấn Giáo người ăn thịt được xem là người nghèo thuộc giai cấp thấp trong xã hội. Thực phẩm cho những người khất thực phần lớn xuất phát từ những người thuộc giai cấp Thương (Vaisyas), Công (Shudras) trong xã hội. Chắc chắn trong số đó có thịt (gà, vịt, dê, trừu nấu cari v.v…) nhưng tu sĩ khất thực không thể vất ra vì làm vậy là coi thường lòng thành kính của họ đối với người tu hành. Người tu có thể ăn thịt với điều kiện không thấy con thú bị giết và không nghe tiếng rên rỉ, gào thét của nó trong lúc bị giết. Chén cơm mà người phụ nữ dâng cho Phật dưới cội bồ đề không thể là chén cơm trắng? Hay có thể là cơm trắng với cà ri thực vật? Và ly sữa là sữa nấu từ thực vật như đậu nành, đậu phọng chẳng hạn chớ không phải là sữa dê hay sữa bò? Dù là thức ăn chay hay mặn, tất cả đều là lòng thành của người phụ nữ. Nhưng nếu bà chuẩn bị thức ăn để dâng cho người tu thì bà nấu thức ăn chay. Nếu bà không chuẩn bị thì bà có thức ăn gì mà trong nhà dùng thì bà dâng cho. Trong trường hợp thái tử Siddharta ngồi tham Thiền dưới gốc cây bồ đề theo các tu sĩ khắc khổ và gầy gò ốm yếu chắc chắn người phụ nữ nầy chuẩn bị nấu thức ăn bổ dưỡng để dâng cho người tu để cứu Người khỏi cửa Tử Thần khi thực hành phép tu khắc khổ. Thức ăn bổ dưỡng nhằm bồi bổ sức khỏe là thức ăn có thịt hay thức ăn thực vật?

Bữa ăn cuối cùng của Ðức Phật: Thịt heo hay nấm truffle?
Đức Phật và các đệ tử đến làng Pava và được Cunda, một người thợ rèn, nấu món sukara-maddava cho Người dùng. Ăn xong Đức Phật thấy khó chịu vì đau bụng dữ dội. Các đệ tử đưa Người về Kusinagara cách đó lối 10km. Người bị đi kiết ra máu rất nhiều và khát nước vô hạn. Người gọi Ananda kiếm nước cho Người uống. Ananda không thể lấy nước được vì có một đoàn xe bò đi ngang qua dòng nước làm cho dòng nước bị đục và nổi lên nhiều vết đất bùn dơ bẩn. Đức Phật viên tịch ở Kusinagara, tiểu bang Bihar, Ấn Độ, dưới gốc cây shala.

Món sukara-maddava là gì? Theo các bản dịch thì đó là “thịt heo mềm” (sukara: heo) khiến cho người nghiên cứu lẫn các tín đồ Phật Giáo ngạc nhiên vì không lẽ nào Cunda nấu thịt heo cho Đức Phật dùng! Như đã nói, Ấn Giáo (Hinduism-Brahmanism thế kỷ XVI trước Tây Lịch), Phật Giáo, đạo Sikh hay đạo Jain đều đề cao thức ăn thực vật, không lý nào Đức Phật lại dùng thịt heo. Không phải ở Ấn Độ ngày xưa người ta không ăn thịt. Nhưng thịt heo và thịt bò bị cấm chỉ. Sự cấm chỉ nầy có trước khi Do Thái Giáo (Judaism – thế kỷ XI trước Tây Lịch) ở Trung Đông xuất hiện và cấm tín đồ ăn thịt heo. Sau nầy đạo Hồi (Islam – thế kỷ VII) cũng ngăn cấm tín đồ ăn thịt heo. Không lý nào Cunda dám vi phạm điều nầy? Và nếu có, nhằm mục đích gì ông ấy lại phải mạo hiểm như vậy? Điều chắc chắn là món sukara-maddava không phải là món ăn nấu bằng thịt heo vì khi bị quặn đau bụng dữ dội, Đức Phật sợ người ta hiểu lầm Cunda có ý hại Người. Phật chỉ khuyên Cunda đổ bỏ các món sukara-maddava còn lại vì sợ người ăn khác cũng bị đau bụng dữ dội như vậy. Theo sự giải thích của một vị bác sĩ Thái Lan, Mettando Bikkhu, qui y và trở thành Đại Đức thì Đức Phật không bị ngộ độc vì thức ăn của Cunda. Vì chất độc chỉ bộc phát vài tiếng đồng hồ sau khi ăn chớ không phải bộc phát ngay sau khi vừa ăn xong như đã xảy ra với Đức Phật. Vị đại đức bác sĩ nầy cho rằng Phật viên tịch vì già. Một mạch máu bị nghẽn không cung cấp máu cho ruột nên gây sự quặn thắt đau đớn và bị xuất huyết đường ruột mà ông gọi là mesentery infarction (infarctus mesenterium). Chứng bệnh nầy thường xảy ra cho người già.

Vậy món sukara-maddava được dịch là "thịt heo mềm" có vẻ không chính xác vì chỉ có chữ sukara có nghĩa là heo mà thôi. Sau có người dịch là “sự ham thích của heo” tức thực vật được heo ưa thích hay thực vật bị heo giẫm lên (maddita) như măng tre hay nấm chẳng hạn. Ở Ấn Độ có nhiều tên thảo mộc có chữ sukara (Heo) như ta có Hoa Cứt Lợn tức cây Bù Xít Ageratum conyzoides, Cỏ Cứt Lợn Nepeta indica, Cỏ Cứt Heo (Hy Thiêm Thảo) Siegesbeckia orientalis chẳng hạn. Khi đề cập đến thực vật mà trư tộc ham thích, người ta liên tưởng đến nấm truffle có rất nhiều trong tiểu bang Bihar.
 
                                   Tuber melanosporum
 
Gọi là nấm truffle do chữ tuber trong tiếng La Tinh có nghĩa là củ mà ra. Tên khoa học của nấm truffle là Tuber melanosporum thuộc gia đình Tuberaceae. Nấm truffle không có chân và tàng nấm như những loại nấm thông thường. Nó chỉ là một khối tròn như một củ khoai to bằng cái chén. Trên mặt nấm có nhiều đốm lồi lõm và lỗ nhỏ. Nấm không mọc lộ thiên trên mặt đất mà nằm dưới đất như các loại khoai củ. Nấm truffle có nhiều ở Pháp (vùng Périgord) và Ý. Nấm toát mùi của chất kích thích tố của heo đực nên muốn tìm nấm phải dẫn một con heo cái đánh hơi và ủi đất để lấy nấm. Nấm truffle rất quí vì việc tìm kiếm nó rất khó khăn. Vả lại khi ủi đất và gặp nấm, con heo cái vội ăn nấm ngay! Vì vậy ngày nay người ta huấn luyện chó đi tìm nấm truffle thay cho heo cái.

Nấm truffle trắng Tuber magnatum rất đắt tiền. Mỗi pound (453 grams) nấm truffle trắng giá từ 1.000 - 2.000 Mỹ kim. Năm 2007 một chủ sòng bạc ở Macau, Stanley Ho, mua 1,5 ký lô nấm truffle Ý với giá 330.000 Mỹ kim.
 
                                    Tuber magnatum
 
Nấm truffle ở Ấn Độ là nấm Tuber indicum màu đen, không thơm giá khoảng 20 Mỹ kim một pound .
 
                                     Tuber indicum
 
Nếu món sukara-maddava là món nấm truffle thì đó là một món ăn quí giá vô cùng. Nếu Cunda chọn nhầm nấm độc chớ không phải nấm truffle hay xào nấu bằng nồi chảo đồng rỉ ten xanh độc thì không những Đức Phật bị ngộ độc mà các đệ tử cũng bị trúng độc. Như vậy sự giải thích của Đại Đức bác sĩ Mettanando Bhikkhu được xem là khả tín.

Phạm Đình Lân, F.A.B.I.
___________

TÂY TRÚC TRÊN ĐẤT MỸ


VÕ HƯƠNG AN

Trên đường ra xe trở về thế giới trần tục, một chị trong đoàn hành hương đi bên cạnh vợ chồng tôi nói “ Lạy Phật! Vậy là tui thỏa mãn điều ước nguyện từ mười tám năm nay rồi.” Không nén được ngạc nhiên, tôi vụt hỏi:
-Uả, chùa Tây Tạng khánh thành mới đây, mà chị đã biết lâu dữ vậy à? Làm sao chị biết ? 
-Hồi đó, trong hãng tôi có một ông người Mỹ theo đạo Phật, ăn chay trường, sống một mình, thường nhờ tôi mua đồ nấu chay. Cuối tuần là ông lái xe từ San José lên đây làm công quả. Chính ông kể với tôi về công trình xây dựng ngôi chùa này nên tôi mới biết và nguyện khi khánh thành, thế nào cũng hành hương để chiêm bái. . .
À ra thế. Ở đời sao lại có những nhân duyên kỳ thú đến thế. Tôi cứ tưởng rằng phải chờ đến khi báo San Jose Mercury News đưa tin (10/6/96) và hệ thống ABC phát hình trên toàn quốc thì thiên hạ mới biết đến trung tâm Phật giáo này của Tây Tạng, nào hay đã có người biết từ 18 năm trước !
 
Chí nguyện bền bĩ
Nằm trên một cao nguyên nhỏ ngay bên bờ Thái Bình Dương, thuộc quận hạt Sonoma, bang California, Odiyan Buddhist Center - mà người Việt chúng ta đã gọi một cách giản dị là chùa Tây Tạng - là một phức hợp gồm các đền, tháp, điện thờ, hoa viên v.v. bố trí rải rác nhưng hài hòa trong một khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ với ngàn thông xanh ngắt và cổ thụ um tùm, trên một diện tích rộng 1,100 acres. Tòan khu vực nguyên trước là một trại nuôi cừu. Từ ngày thuộc sở hữu, trung tâm đã trồng được 200,000 cây mới, do Bộ Lâm nghiệp và Phòng cháy tặng. Công trình này được khánh thành vào trung tuần tháng 6 năm 1996, sau 21 năm tự lực cần cù xây dựng, trị giá 12 triệu đô-la.
Non ba mươi năm về trước, có một vị Lạt-ma đến định cư tại thành phố Berkeley để hoằng dương Phật pháp. Đó là đại sư Tulku Tarthang, người sáng lập Nyingma Institute, trung tâm truyền bá Phật giáo đầu tiên của Tây Tạng trên đất Mỹ. Từ trung tâm này, dần dần hình thành một cộng đồng Phật giáo nhỏ bé nhưng đầy tâm lực. Để thực hiện dự án Odiyan, tài chánh dĩ nhiên là một vấn đề lớn nhưng vẫn chưa lớn bằng công sức của đại sư Tulku Tarthang trong việc kiên trì giáo dục, hướng dẫn các thành viên trong cộng đồng thâm nhập tinh hoa của nền văn hóa nghệ thuật Tây Tạng ngõ hầu có thể xây dựng nên một công trình xứng đáng là biểu tượng của nền văn hóa nghệ thuật miền tuyết cao Hy Mã Lạp Sơn, chứ không phải là một sản phẩm lai căng nào khác. Cũng là mái đền uốn cong, nhưng không phải kiểu mái uốn của Trung Hoa, Nhật Bản hay Việt Nam. Đó là kiểu mái gợi người ta nhớ đến Điện Potala của kinh đô Lhasa ngày trước. Cũng thế, những hoa văn trang trí và những phù điêu thếp vàng rực rỡ.
Muốn đến trung tâm Odiyan, bạn phải đóng 25 Mỹ kim tiền vào cửa. Tôi nghe nói đó là cái “giá thông cảm” dành cho người Việt tị nạn, chứ đối với người Mỹ chánh gốc thì còn cao hơn. Xin bạn đừng vội than: “chùa làm tiền chi dữ rứa! ”. Nếu không có sự đóng góp của thập phương, mỗi người một ít, thì lấy đâu xây dựng nên cơ ngơi vĩ đại như thế? Trong ngân khoản xây dựng nên Trung tâm Odiyan, có thí chủ cúng một đồng, có thí chủ cúng non nửa triệu. Dù ít dù nhiều, chùa cũng trân trọng ghi vô sổ vàng tán dương công đức. Tuy nhiên, nguồn tài trợ chính vẫn là tiền thu từ những hoạt động giáo dục của Học viện Nyingma ở Berkely và tiền bán sách cùng các văn hóa phẩm khác của Nhà Xuất bản Dharma.
Nhìn vào những công trình kiến trúc qui mô và phức tạp của Trung tâm Odiyan, ai cũng nghĩ ngay rằng đó hẳn phải do một nhà thầu kiến trúc có tầm cở mới thực hiện được như thế. Khi Trung tâm sắp hoàn thành, có mở cửa không chính thức cho một số khách Mỹ tham quan. Mục kích những kiến trúc đã hoàn tất, một du khách tò mò hỏi Leslies Bradburn -- nhà vi sinh vật học, thành viên của Odiyan, từng phục vụ việc xây dựng nơi này từ 17 năm nay -- rằng : “Vậy chứ nhà thầu của quí vị là ai? Ai đã xây dựng công trình này?” thì được trả lời: “Ấy, cái người vừa mới đem nước chanh đến mời ông là nhà thầu đấy. Thực ra, hết thảy chúng tôi đều là nhà thầu.” 
Sự thật là thế. Công trình trị giá 12 triệu đô-la đó không tốn một đồng nhân công nào vì tất cả đều do những bàn tay thiện nguyện hình thành . Kiến trúc sư thiện nguyện vẽ đồ án, kỹ sư thiện nguyện hướng dẫn, trông coi việc xây dựng và nhân công thiện nguyện làm thợ nề, thợ mộc, thợ điện, thợ hàn, thợ ống nước, thợ lái máy san ủi mặt bằng, máy đào móng, đào hồ v.v. Họ là đệ tử của đại sư Tulku Tarthang, là học viên của học viện Nyingma, là thiện nguyện viên từ bên ngoài, thuộc đủ mọi thành phần xã hội : luật sư, kỹ sư, nhà khoa học, sinh viên v.v.
Để tiết kiệm, trung tâm tìm mọi cách khai thác nguồn vật liệu miễn phí. Sau trận động đất năm 1989, Odiyan xin được một số phế liệu từ các cơ sở nhà nước bị hư hỏng, đem về tái chế để sử dụng; chẳng hạn cẩm thạch lót chánh điện là từ một trường hoc bị sụp đổ, khung sắt của các đền, tháp, là từ một xa lộ ở San Francisco. Công trình phải kéo dài đến 21 năm (1975-1996) mới xong vì có tiền đến đâu làm đến đó. Có những lúc phải ngưng hẳn trong một thời gian vì ngân khoản cạn kiệt. Có lúc phải lo chạy tiền gấp rút vì bất ngờ có công tác khẩn thiết phát sinh, không thể lơ là trì hoãn được, chẳng hạn sau vụ đất chuồi xảy ra năm 1991, đe dọa một trong các công trình đang xây, phải chạy cho ra ba trăm ngàn đô-la để gia cố sườn đồi .
 
Đường đi Tây trúc mới
Chuyến hành hương ngày 18-8-96 vừa qua được đặc biệt dành riêng cho cộng đồng Phật giáo Việt Nam. Ai muốn đi thì ghi tên tại các chùa. Muốn đi bằng phương tiện riêng cũng được, nhưng phải ghi tên, đóng lệ phí cho Odiyan để lấy thẻ vào cửa. Trước đó, vào trung tuần tháng 6, Trung tâm Odiyan đã mở cửa bốn đợt cho khách thập phương tham quan. Tôi đi theo đoàn của chùa Đức Viên. Khách khá đông nên chùa phải thuê bao đến sáu xe bus mới đủ. 
Nếu bạn đã từng viếng chùa Vạn Phật Thành (The City of Thousand Buddhas) của người Hoa, nằm ở phía bắc San Francisco, thuộc thành phố Talmage, thì Trung tâm Odiyan cũng nằm về hướng đó, nhưng chếch về phía tây, sát ngay bờ biển. Một đàng, nằm trên xa lộ 101, một đàng nằm trên đường duyên hải số 1. Ngày xưa ngài Đường tăng Trần Huyền Trang phải trải qua thiên nan vạn nan mới tới được Tây Trúc để thỉnh kinh. Ngày nay, từ San Jose tới Tây Trúc mới, chỉ cần ngồi trên xe 4 bánh vi vút trong 4 tiếng đồng hồ là xong. Nói vậy chứ đường đi chùa Tây Tạng có vẻ khó khăn và nguy hiểm hơn nhiều, so với đường đến chùa Vạn Phật Thành, nhất là đối với người lái xe non tay và xe không được tốt.
Sau khi giải lao 20 phút ở đầu cầu Golden Gate, xe theo xa lộ 101 bắc hướng về Petaluma City, lấy Exit Washington West rồi theo đường Valley Ford để bắt vào đường Số 1 bắc tại thị trấn cùng tên. Chạy thêm một đoạn nữa, vượt qua thị trấn Bodega thì xe bắt đầu chạy dọc theo đường duyên hải Số 1. Đó là bác tài xế muốn đi một đường về một đường cho bà con có dịp ngắm phong cảnh, chứ thật ra, bạn có thể đi thẳng một mạch đến thành phố Santa Rosa rồi đổ vào Highway 12 West, băng qua Sebastopol City, đi tiếp về phía tây cho đến khi gặp đường Số 1 tại thị trấn Bodega.
Đường duyên hải Số 1 phong cảnh hùng vĩ hữu tình, có nhiều đoạn cheo leo nguy hiểm giống như đèo Hải Vân, nhất là mấy khúc quanh chữ V đầy thử thách. Đại dương khi xa khi gần, tha hồ ngắm cảnh sóng ào ạt vỗ bờ. Giá như đi xe riêng, có thể dừng lại nhiều nơi để thưởng ngoạn vẻ đẹp hoang dã kết hợp hài hòa giữa rừng núi mây trời và biển cả. Đường chỉ có một lối đi và một lối về. Chiếc xe bus kềnh càng có vẻ khổ sở với lối đi hẹp, nên gặp đoạn nào phía trước vắng vẻ an toàn, tài xế cho xe chạy tràn giữa đường cho thoải mái, nhất là tại những khúc quanh ngặt nghèo.
Tại ngã ba Stewarts Point, xe rẽ phải, men theo đường nhỏ đến chùa. Con đường trải nhựa ngoằng ngoèo rợp bóng mát của bạt ngàn gỗ đỏ (Redwood), giống hệt đường lên chùa Kim Sơn ở Watsonville, nhưng cheo leo hiểm trở hơn nhiều. Trong xe nghe rì rầm tiếng cầu nguyện, niệm Phật của các cô các bà. Tôi ngồi sát cửa, lắm lúc cũng rợn người khi thấy bên ngoài, ngay dưới chỗ ngồi của mình là vực sâu với vách núi dựng đứng, chẳng có gì che chắn cả. Nếu bác tài lạc tay lái thì không biết sự tình ra sao ! Hoặc giả xe chết máy dọc đường cũng sẽ là một trở ngại lớn, vì muốn kéo không dễ. Đường nhỏ, vừa lọt chiếc xe bus, vì vậy, mỗi lần gặp xe nhỏ ngược chiều, hai bên đều vất vả mới lách được nhau. Lắm lúc xe nhỏ phải thối lui một đoạn mới tìm được chỗ nép mình. Đường đi khó khăn như thế, nên khi được thấy tận mắt những công trình kiến trúc của Trung Tâm Odiyan, lòng cảm phục của tôi đối với những người góp tay xây dựng càng tăng gấp bội. Đường đã hẹp, lại quanh co khúc khuỷu, chỉ thích hợp với loại xe du lịch, tốc độ không quá 15 dặm một giờ khi leo dốc, đi chơi mà nghe đã mệt, huống hồ đưa được một xe chở vật liệu, thiết bị, máy móc đến nơi, quả là một công trình. 
 
Tây Trúc là đây
Cuối cùng thì cũng đến nơi. Tính ra, mất bốn giờ đi đường. Trong bãi đậu xe chính lố nhố những xe và người, toàn là khách hành hương Việt Nam của vùng Bay Area, thuộc các chùa: Đức Viên, Giác Duyên, Pháp Duyên, An Lạc. . . Trong tầm nhìn được, kể cả hai bãi đậu xe, có đến 17 xe bus thuê bao, chưa kể xe nhà tự túc. Thành viên thiện nguyện của trung tâm, máy liên lạc cầm tay, đang hướng dẫn việc đậu xe và nơi tập trung cho khách hành hương. Họ là những người đang tu học ở đây, là người trực tiếp xây dựng Odiyan, nhưng không mặc đồng phục hay đạo phục gì cả, ngoại trừ cái huy hiệu trên ngực áo. Khả năng tiếp nhận của trung tâm chừng ba trăm người một lần hướng dẫn tham quan. Đang có một đoàn vào bên trong nên chúng tôi phải chờ đợi bên ngoài, dưới tàn cao im mát của đám cổ thụ. Một số bà con có chuẩn bị áo tràng nên đem ra mặc. Trong khi chúng tôi đứng ngồi chờ đợi, có mấy bà thành viên trung tâm bưng những khay dưa hấu đi mời khách giải lao, dáng vẻ ân cần niềm nỡ. Họ không ngờ cộng đồng Phật giáo Việt Nam ở Vùng Vịnh lại nhiệt thành hành hương đến thế. Những ai sức yếu, không kham nổi đi bộ thì đã có hai ba chiếc xe, loại dùng trong sân golf, chạy tới chạy lui để chở từ địa điểm này tới địa điểm khác, vì khoảng cách giữa các thắng tích khá xa. 
Trước khi đoàn chúng tôi được hướng dẫn vào khu vực, Trung tâm Odiyan nhờ sư bà Đàm Lựu phổ biến một bản nội qui bằng tiếng Việt, có nội dung nhắc nhở mọi người giữ im lặng và trật tự trong lúc tham quan, vừa tôn trọng chốn thiền môn, vừa có thể thanh lọc thân tâm để được lợi lạc trong lúc hành hương. Khoản quay phim chụp hình hoàn toàn nghiêm cấm, ở bên trong các điện, đài cũng như bên ngoài. Đó là điều không phải chỉ làm cho một mình tôi tiếc rẻ, nhất là khi được thấy tận mắt biết bao hình ảnh đáng ghi vào ống kính và biết rằng không phải khi nào cũng có dịp lui tới chốn này.

Đền Liên Hoa
(Ảnh của Odiyan Center)

 
Trên tất cả các con đường chính trong trung tâm, hai bên đều trồng toàn hoa hồng và cách một đoạn lại có một cột cờ, loại khá lớn. Tôi không biết có bao nhiêu cột cờ tất cả, nhưng thấy đường nào cũng có. Trên mỗi trụ cờ như thế, có hai hoặc ba lá cờ bằng lụa với màu sắc khác nhau phất phới tung bay trong gió biển cao nguyên. Người ta nói rằng có đến 7,000 lá cờ như thế. Nếu để ý, khách hành hương sẽ thấy trên mỗi lá cờ đều chi chít chữ Tây Tạng viết bằng mực đỏ. Tôi hỏi một thành viên “Quí vị viết gì trên là cờ? Có phải là trích đoạn của kinh điển hoặc các thần chú không ?” Bà ta mỉm cười đáp phải. Theo truyền thống Tây Tạng, khi viết như thế, người viết phải thành tâm chú nguyện gì đó chứ không phải viết cho có chữ.
Con đường chính dẫn vào trung tâm Odiyan đổ xuống thoai thoải một sân rộng, ở giữa có một đình Bát giác. Bên phải đình là lối đi dẫn đến đền Liên Hoa (The Vajra Temple of Padmasambhava), bên trái là đường dẫn đến khu Chánh điện. Chúng tôi được hướng dẫn đi thăm đền Liên Hoa trước.
Đền nằm trên một đỉnh đồi, hình bát giác với mái cong truyền thống màu lục, lợp bằng tôn dợn sóng, mới nhìn tưởng là ngói, vì được kết hợp hài hòa . Nhìn bên ngoài, rõ ràng là đền có bốn tầng mái, nhưng bên trong thì thông suốt từ dưới lên trên, trông cao vòi vọi.
Ngày nay, hai tông phái Phật giáo đang hấp dẫn người Mỹ là Mật tông Tây Tạng và Thiền tông (Zen) Nhật Bản, nhưng Tây Tạng biết đến Phật giáo khá muộn. Mãi đến thế kỷ thứ 8, khi vua Thi-Srong-Detsan (740-786) cung thỉnh thánh tăng Padmasambhava thuộc Phật Học Viện Nalanda (Ấn Độ) vào truyền giáo thì Tây Tạng mới theo Phật giáo. Tên của ngài có nghĩa là “Sanh ra từ Hoa Sen” ( The Lotus-Born) và ngài là sáng tổ của môn phái Nyingma mà đại sư Tulku Tarthang đang kế thừa. Theo ghi nhận của ký giả Richard Scheinin, khi thành lập Trung tâm Phật giáo Odiyan ở Mỹ, người ta nghĩ rằng đó là một việc làm có ý nghĩa rất tượng trưng: Ngày xưa, Tổ Padmasambhava mang hạt giống Phật pháp vào gieo ở đất Tây Tạng thì ngày nay hậu duệ của ngài là đại sư Tulku Tarthang lại mang hạt giống đó đến gieo rắc ở một miền đất mới thuộc Tây bán cầu là đất nước Hoa Kỳ. Đền Liên Hoa được xây dựng để phụng thờ và tán thán công đức của ngài Padmasambhava, cũng như cầu xin sự phù hộ của ngài trong việc hoằng dương Phật pháp .
Đền được dựng trên một nền rộng hình vuông. Đứng trên đó, phóng tầm mắt về hướng tây thấy mịt mù sương khói màu xanh, biết rằng nơi đó là biển cả nhưng không thể phân biệt được lằn ranh giữa trời và nước. Đền có bốn cổng chạm trỗ hình nai thếp vàng -- có ý nhắc đến vườn Lộc Uyển thời Đức Phật -- dẫn vào bốn cửa bọc đồng đi vào đền. Một vòng thành nhỏ nối liền 4 cổng, kết hợp bởi những bánh xe hình trụ bọc đồng có ghi thần chú. Đó là các bánh xe cầu nguyện (Prayer Wheels). Theo truyền thống Tây Tạng, khi cầu nguyện họ thường, vừa quay bánh xe vừa đọc chú Lục tự Đại minh Chơn ngôn. Thời đại cơ khí nên các bánh xe này được vận hành bằng điện, quay liên tục, chầm chậm, phát ra âm thanh trầm trầm giống như khi các vị sư ngâm chủng tự Om lúc cầu nguyện. 
Để hết mũ nón giày dép ở bên ngoài, chúng tôi xếp hàng vào đền. Hai bên cửa, có mấy Phật tử đứng đón. Chúng tôi chào nhau theo truyền thống Phật giáo qua cái chắp tay cúi đầu kính cẩn. Bên trong điện, ngay chính giữa là những tầng kệ, sắp xếp như một đài sen, trên đó tôn trí tượng của các vị Phật. Có tất cả 108,000 pho tượng tất cả. Người ta tính nếu đem chiều dài của các tầng kệ này cọng lại thì cũng được 10 dặm. Các tượng này được đúc bằng thạch cao tại Nyingma Institute ở Berkeley rồi mới mang lên Odiyan. Có tượng màu đen giống như đồng đen, còn đa số đều được phủ một lớp kim nhũ sáng đẹp như thếp vàng. Các tượng này đều lấy khuôn mẫu từ tượng gốc ở Tây Tạng, đường nét tinh vi, rất nghệ thuật. Trên trần, được trang trí bằng phan và lọng, còn trên tường là những ấn bản cổ họa lồng kính, và những bản đồng sáng chói hình tròn chạm trỗ các hình tượng hay sự tích Phật giáo. Cứ cách một đoạn ngắn lại có một bàn nhỏ bày hương hoa thờ phụng. Chúng tôi đi diễu quanh vòng theo chiều kim đồng hồ, rồi được yêu cầu dừng lại, làm lễ cầu nguyện và cùng nhau tụng bài Bát nhã Tâm kinh, rồi hồi hướng, trước khi ra khỏi đền. 
Khu chánh điện
(Ảnh của Odiyan Center)
 
Khu Chánh điện cũng nằm trên đỉnh đồi , chiếm một diện tích rộng lớn, hình chữ nhật, chung quanh là hồ nước rộng bao bọc, kiểu như một thành trì ở giữa với hào nước bảo vệ bao quanh, như Đại Nội ở Huế. Mùa hè, nước cạn nhưng cũng đủ trong và sâu cho mấy chú thiên nga bơi lội nhởn nhơ thoải mái. Mấy nhịp cầu gỗ nối liền bên ngoài với bên trong. Nước Mỹ năm nào đến mùa hè cũng khổ vì nạn cháy rừng. Việc đào hồ vừa giúp cách ly  khu Chánh điện với núi rừng bên ngoài, điều hòa nhiệt độ trong cả hai mùa nóng lạnh, vừa có nguồn nước chữa cháy, vừa tăng thêm vẻ mỹ quan của công trình, thật là một thiết kế tuyệt diệu. Khu này là một phức hợp gồm bốn lớp hình chữ nhật đồng tâm. Ở trung tâm là Chánh điện, nằm ở vị trí cao hơn hết, với một kiến trúc vĩ đại ba tầng mái và một mái vòm bằng đồng vút lên cao; kế đến là lối đi kết hợp với sân lộ thiên, tạo thành một không gian thoáng. Vòng thứ ba, là dãy nhà vây quanh bốn mặt dùng làm cơ sở văn hóa và tu học. Hai cái mái vòm bằng đồng, một của chánh điện và một của cổng chính, sáng chói nổi bật trên nền trời. Theo ký giả Richard Schein, cách xa ngoài biển mấy dặm cũng có thể nhận ra hai mái đồng đặc biệt đó.
Những người hướng dẫn đưa chúng tôi xuống tầng hầm, thăm thư viện của trung tâm. Theo lời yêu cầu của đại sư Tulku Tarthang, chúng tôi cùng ngồi xuống và làm lễ cầu nguyện an lạc cho hết thảy mọi người, sau đó được nghe một bài pháp ngắn do đại sư thuyết giảng về sự lợi ích và cần thiết của việc cầu nguyện hằng ngày. Mọi người được tặng huy hiệu của trung tâm để kỹ niệm chuyến hành hương. Các vị xuất gia được tặng y hoặc tượng Phật.
Khi xâm lăng Tây Tạng, Trung Cộng đã tàn phá tất cả, từ đền chùa đến kinh sách và các tác phẩm văn hóa nghệ thuật . Người Tây Tạng, trên bước đường vượt núi băng đèo tị nạn, ngoài miếng cơm manh áo, đã không quên mang theo tượng hoặc tranh hoặc kinh sách mà họ từng thờ phụng, trân quí. Trung Tâm Odiyan được thành hình trong mục đích bảo tồn tất cả những gì thuộc di sản văn hóa Tây Tạng còn gìn giữ được rải rác khắp thế giới. Thư viện Odiyan hiện tàng trữ 775 bộ kinh sách, tổng cọng đến một triệu hai trăm ngàn trang giấy, và các văn hóa phẩm khác. Đó là thành quả của việc góp nhặt từ những người Tây Tạng tị nạn và những trung tâm nghiên cứu trên khắp thế giới. Sau khi đại sư Tulku Tarthang hiệu đính, các bản văn được nhân viên nhà xuất bản Dharma đóng lại bằng tay để lưu trữ. Cho đến nay, Dharma đã in được 108 bộ sưu tập này để phân phối lại cho các trung tâm Phật giáo các nước. Tám bộ đang nằm chờ ở Nepal để tìm cách đưa vào Tây Tạng vì nơi đây không còn gì nữa. 
Sau khi viếng khu Chánh điện, chúng tôi được hướng dẫn đến chỗ giải lao, nằm trong hoa viên của trung tâm. Tại đây, các thành viên đang chờ để chiêu đãi khách hành hương với nước trà, cà phê, sữa và thức ăn chay đơn giản với các loại trái cây, bánh mì và Tortila chips. Chừng nửa giờ sau, chúng tôi tiếp tục viếng bảo tháp Giác Ngộ (The Great Enlightenment Stupa ), cao 113 bộ (feet), một công trình để ca ngợi trí tuệ cao cả của Đức Phật. Tính từ nền lên đến đỉnh, tháp có tám tầng. Màu vàng kim nhũ chói lọi của bảo tháp nổi bật trên nền trời và màu xanh của rừng thông. Có tám sợi dây thép lớn căng từ đỉnh tháp tỏa xuống ra tám hướng, cứ một sợi treo cờ thì một sợi treo cả trăm cái chuông nhỏ bằng đồng. Trong gió núi, cờ phất phới với chuông reo vui nho nhỏ. Hình của bảo tháp Giác Ngộ được dùng làm huy hiệu của Trung tâm Odiyan.
 
Bảo tháp Giác Ngộ 
(Hình của Odiyan Center)
 
Tháp được bao bọc bởi bốn dãy nhà nhỏ, mái sơn màu xanh lục, làm thành một vòng rào kín hình vuông với một cổng ra vào. Bên trong bốn dãy nhà này là những bánh xe cầu nguyện bằng đồng đang ngày đêm vận hành, như bên đền Liên Hoa vậy. Theo ghi nhận của phóng viên báo San Jose Mercury News, trung tâm có tất cả 1,200 bánh xe như thế, trong đó, bánh xe lớn nhất nặng mười tấn đặt trong bảo tháp. Chúng tôi không được chiêm ngưỡng bánh xe này. Bước vào cổng, mùi hương trầm và tiếng đại hồng chung vang lên làm tôi trong phút chốc tưởng như đang viếng một ngôi chùa nào đó ở Huế. Tôi đưa mắt tìm kiếm: chuông được treo ngay ở giữa cổng ra vào, cỡ trung bình, nhưng âm thanh của chuông vang vọng rất lâu. Khi hệ thống ABC phát hình về Odiyan tôi đã được nghe tiếng chuông này và có một ấn tượng sâu xa về cái ngân vang của nó. Người ta nói khắp trung tâm đều nghe được tiếng đại hồng chung. Tôi tìm kiếm người đánh chuông để xem thử chuông được đánh bằng cách nào, có giống như ở Việt Nam không. Trong vùng ánh sáng mờ mờ, một đạo hữu người Mỹ đang đẩy chiếc chày treo lơ lửng vào chiếc chuông, tạo nên một âm thanh đầy đạo vị. Thì ra cũng “dộng chuông” như ở Việt Nam . Ông ta lặng lẽ mỉm cười đáp lại cái chào của tôi. Hai người Mỹ râu ria xồm xoàm đang thu hình đoàn hành hương và bảo tháp. Hẳn họ thuộc một tổ chức truyền hình nào đó, vì máy móc thấy rất chuyên nghiệp. Chúng tôi đi diễu một vòng chung quanh tháp, đảnh lễ trước cửa tháp một lần nữa rồi trở ra.
Nội qui không cho phép quay phim chụp ảnh nhưng Trung tâm Odiyan có một nơi bán bưu ảnh kỹ niệm và những ấn phẩm như sách, báo, họa phẩm, do nhà xuất bản Dharma ấn hành. Hầu như mọi người đều ghé vào đây để kiếm chút gì kỹ niệm cho chuyến đi. Ba giờ rưỡi chiều, xe khởi hành trở về San José.
Khi loan tin về sự hoàn thành vĩ đại của Trung tâm Phật giáo Odiyan, ký giả Richard Scheinin của San Jose Mercury News (10/6/96) đã dùng tiêu đề “Phật đến phương Tây” để đặt tên cho bài báo và cho rằng sự thành hình của cơ sở này là một “đại tuyên cáo rằng truyền thống Phật giáo Tây Tạng đã đâm rễ sâu xa ở phương Tây.” Lời ca ngợi đó có hơi cường điệu, nhưng Odiyan sẽ đóng một vai trò quan trọng không thể chối cãi trong việc truyền bá Phật giáo trên đất Mỹ.
Cái tên Odiyan đối với tôi trở thành đồng nghĩa với tín tâm và kiên trì. Không có hai chất liệu đó thì không có Odiyan. Ấn tượng còn lại trong tôi sau chuyến đi không phải là những đền đài đồ sộ hay bảo tháp nguy nga mà là cung cách chắp tay vái chào đầy đạo vị của các đạo hữu tiếp tân ở Odiyan. Tôi không thấy có người Việt, người Mỹ, người ........ , người Đức, người . . . ở đó. ...... 
............     Chỉ toàn là Phật tử.

VÕ HƯƠNG AN