Thứ Ba, ngày 04 tháng 8 năm 2015

* TỪ THIỆN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ (4)


* PHÓNG SINH - BỐ THÍ - IN KINH…
Cũng như những công tác từ thiện khác, Phóng sinh là một trong những động thái từ thiện khởi phát bởi "tâm từ". Tại Việt Nam, trước 1975, việc phóng sinh vẫn có nhưng chưa trở thành phong trào phổ biến, những năm về sau, khi cuộc sống tương đối thoải mái, việc sinh hoạt tín ngưỡng trở thành lối thoát bức bách của nhu cầu tâm linh, nhiều hình thái sinh hoạt tín ngưỡng và từ thiện bắt đầu rộ nở đa dạng, trong đó phóng sinh được nhiều người thực hiện một cách máy móc.
Không những trong Nam mà ngoài Bắc cũng thường xuyên tổ chức phóng sanh, từ cá nhân cho đến tập thể. Một phụ nữ sáng sớm đi chợ mang về một túi ốc len, đem xuống con kinh trước chùa thuộc vùng Bắc Giang, thả xuống một cách thuần thục như đã từng làm thường xuyên mỗi tháng. Hội Bông Sen có mặt từ Đà Nẵng trở vào thường xuyên phóng sinh vào mồng một và rằm.
 Được biết, hoạt động phóng sinh đã đi vào thường lệ trong sinh hoạt của nhóm An Tựu ở ba thành phố Hà Nội, Đà Nẵng và TP.HCM. Như thường lệ, cứ đến ngày rằm, mồng 1 hàng tháng, nhóm sẽ cử người xuất quỹ mua các con vật dễ thích nghi với môi trường nhất như cá, ốc, lươn,… Hoạt động này được duy trì suốt hơn 4 năm qua (kể từ đầu năm 2011) với số lượng người tham gia lên đến 150 người. Con số này có thể tăng gấp nhiều lần vào những ngày lễ lớn như lễ Phật Đản.

Phước báu phóng sinh như kinh đã dạy: Trong kinh Hoa nghiêm, phẩm Phổ Hiền hạnh nguyện dạy rằng: “Chúng sinh thương yêu nhất là sinh mạng, chư Phật thương yêu nhất là chúng sinh. Cứu được thân mạng chúng sinh thì thành tựu được tâm nguyện của chư Phật

Luận Đại Trí độ dạy rằng: “Trong tất cả các tội ác, tội sát sinh là nặng nhất. Trong tất cả các công đức, không giết hại là công đức lớn nhất.
Kinh Chánh pháp niệm có dạy: “Tạo một ngôi chùa chẳng bằng cứu một sinh mạng.” Công đức phóng sinh to lớn đến như thế!
Trong kinh Phạm võng, Bồ Tát Giới sám văn có dạy: “Phật tử không được tự mình giết hại, dạy người giết hại, dùng phương tiện giết hại, tán thành việc giết hại, hoặc thấy người khác giết hại mà vui mừng tán thành. Tất cả các loài có sự sống, có sinh mạng, đều không được giết hại. Bồ Tát phải luôn phát khởi, gìn giữ tâm từ bi, hiếu thuận, dùng phương tiện mà cứu mạng, bảo vệ cho tất cả chúng sinh. Người thích sát sinh thì làm ngược với bốn tâm vô lượng: từ, bi, hỷ, xả. Như vậy là phạm vào tội ba-la-di của hàng Bồ Tát.”

Trong kinh Phật có dạy rằng, nếu không giết hại, làm việc phóng sinh thì được quả báo tuổi thọ dài lâu; giữ giới không giết hại thì giải trừ được mọi oán thù, nuôi dưỡng được tâm từ bi, làm nảy nở hạt giống Bồ-đề.
Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng: "Nếu ác nghiệp này có hình tướng thì cho đến cùng tận hư không cũng không dung chứa hết."
Kinh Dược Sư Lưu Ly Bổn Nguyện Công Đức dạy rằng: "Cứu thả các sinh mạng được tiêu trừ bệnh tật, thoát khỏi các tai nạn." Người phóng sinh tu phước, cứu giúp muôn loài thoát khỏi khổ ách thì bản thân không gặp các tai nạn.
Trong kinh Phật diệt độ hậu quan liệm táng tống có dạy rằng: “Nên giữ theo tâm từ, ban trải ân huệ đến muôn loài, xem thân mạng muôn loài chúng sinh như thân mạng của chính mình. Mở rộng lòng từ bi, dùng thân mình mà giúp an ổn cho muôn loài, tức là mở con đường hạnh phúc cho chúng sinh. Bảo hộ thân mạng muôn loài, thấm nhuần đến cả cỏ cây, khiến cho muôn loài đều không phải dứt tuyệt.”


Quả báu phúc đức phóng sanh đem lại 10 điều mà chư Tổ đã đúc kết:
1. Không có nạn đao binh, tránh được tai họa chiến tranh tàn sát. 
2. Sống lâu, mạnh khỏe, ít bệnh tật.
3. Tránh được thiên tai, dịch họa, không gặp các tai nạn. 
4. Con cháu đông đúc, đời đời xương thạnh, nối dõi không ngừng. 
5.  Chỗ        mong cầu    được  toại    nguyện. 
6. Công việc làm ăn phát triển, hưng thạnh, gặp nhiều thuận lợi. 
7. Hợp lòng trời, thuận tánh Phật, loài vật cảm ơn, chư Phật hoan hỷ. 
8. Giải trừ oán hận, các điều ác tiêu diệt, không lo buồn, sầu não. 
9. Vui hưởng an lành, quanh năm đều được an ổn. 
10. Tái sinh về cõi trời, hưởng phước vô cùng. Nếu có tu Tịnh độ thì được vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc.

Chư Tổ cũng từng dạy:
 Muôn loài chúng sinh cùng với ta trong luân hồi từ vô thủy đến nay đều đã từng là anh em, thân quyến. Vì thế, ngày nay thực hiện việc phóng sinh cũng giống như cứu vớt người thân của mình. 
 Muôn loài chúng sinh cùng với ta trong luân hồi quá khứ đều đã từng là oan gia cừu địch. Vì thế, ngày nay thực hiện việc phóng sinh là cơ hội có thể hóa giải oán thù, chấm dứt sự oan oan tương báo.
Như thế, phóng sinh là một trong nhiều phước báu quan trọng của Phật tử tại gia lẫn xuất gia. Tuy nhiên, ngoài ý nghĩa phóng sinh là tha mạng sống của một sinh vật, đối với người tu, việc phóng sinh còn mang một ý nguyện độ tận. Bồ Tát Địa Tạng từng bảo: chừng nào chúng sanh trong địa ngục không còn, Ngài mới thành Phật; đó là chúng sanh tánh, phóng chúng sanh tánh là từ bỏ cái tôi vọng niệm ô trược của nghiệp thức để trở lại chơn như tánh, Phật tánh, một khi hành giả buông thả chủng tánh chúng sanh ô trược là Pháp thân hiển lộ, đó là công đức phóng sanh của các hành giả.

Trở lại hành trạng phóng sanh hiện nay, từ chỗ tâm thiện biến thành việc làm bất thiện mà nhiều ý kiến kết án việc phóng sanh. Thật vậy, chim thú đã trở thành đối tượng và là nạn nhân cho những kẻ sống trên mạng sống. Cầu nhiều thì cung nhiều. Những cuộc phóng sanh có định kỳ, có tổ chức tất phải có nơi cung cấp cố định, cái vòng lẫn quẩn làm phước rước vào cái tạo tội hiện nay, tại Thành phố lớn đều có hiện tượng giam cầm bắt nhốt một cách tàn tệ để có tiền mà cứ nghĩ cung cấp cho việc làm từ thiện. Đành rằng xưa kia không có phóng sanh ồ ạt thì việc bắt nhốt giam cầm cũng không tránh khỏi, nhưng việc giam cầm bắt nhốt được bảo dưỡng no đủ để bán thịt. Số lượng giam cầm bắt nhốt cũng không nhiều, ngày nay cần số lượng thật nhiều vào những ngày sóc vọng thì việc đói no đau khổ của sinh vật không cần quan tâm, việc phóng sanh làm phước trở thành hành hạ chim lồng cá chậu một cách bình thường. Kỹ thuật săn bắt ngày nay cũng tinh vi hơn, một cái máy phát tầng số siêu âm tương thích mỗi loài, tự động chim muông bay đến đậu ngay trên cây có gắn nhựa, cứ thế mà người bắt chim thoải mái bóc gỡ bỏ vào lồng. Kẻ mua đi bán lại thì có thủ thuật khác, cắt cánh, bỏ đói, cho uống nước đường nước thuốc để chim không bay xa được. Chim chết trong lồng hay ra khỏi lồng rồi chết là chuyện người bán lẫn người mua không cần quan tâm. Không những chim mà ngay cá cũng thế, người thả cứ thả, kẻ giăng lưới chích điện thì cứ chích điện giăng lưới. Từ thiện trở thành cái vòng lẫn quẩn, thiện và ác cách nhau kẽ tóc đường tơ. Có người bảo, thả là việc của mình, bắt lại là việc của họ, thiện và ác luôn là cặp đôi trong cõi đời. Có người lại khuyên không nên phóng sanh tiếp tay cho kẻ ác sinh sống thoải mái. Cũng có kẻ nói - thà ác với thú mà tạo cuộc sống cho con người vẫn hơn...

Tất cả là ý kiến không toàn vẹn, nếu bảo thả là việc của mình, bắt là việc của họ nghĩa là mặc cho họ làm ác, gián tiếp tạo ác nghiệp cho họ? Nhưng chả lẽ vì cái ác của họ mà mình từ bỏ hành thiện? Nếu nói thà ác với thú mà tạo cuộc sống cho con người chẳng khác nào xúi dục họ sát sanh thì còn ý nghĩa gì việc phóng sanh làm phước? Dĩ nhiên không vì việc làm ác của kẻ khác mà mình khước từ công hạnh hành thiện. Chỉ dừng lại hai trạng thái phóng sanh và giam nhốt chúng sanh để trở thành chiếc vòng lẩn quẩn bế tắt, lúng túng cho những tấm lòng từ thiện và khách quan bất mãn trước hiện tượng mâu thuẫn đó. Ngoài người thả và kẻ bắt nhốt, còn có những yếu tố khác tác động hoặc cởi mở hoặc cột trói sự bế tắt trên.
Thứ nhất là ý thức đạo đức, nếu kẻ bắt nhốt có lương tri, hiểu nổi đau khổ của con vật thì việc bắt nhốt cũng sẽ có cách giải quyết nhân đạo hơn. Ví dụ không nhốt quá nhiều, không bỏ đói, không cắt cánh, không cho uống nước đường, điều nầy khó mà đòi hỏi tính tự giác của người bán... Người thả không đặt hàng trước, gặp đâu thả đó, không nhất thiết phải đủ số lượng theo chỉ tiêu, làm việc thiện mà có chỉ tiêu trở thành bị ràng buộc mất ý nghĩa, đưa đến mất phước, không nhất thiết phải nhờ chùa chú nguyện và không cần dùng hành động phóng sinh để trao đổi phước báu mong cầu. Không mua chim trong lồng nhốt quá nhiều, không mua chim ốm đói, giao kèo với người bán khi thả chim không bay và mất sức sẽ không trả tiền... Có những điều kiện ràng buộc nghiêm khắc thì người bán chim sẽ không vì lợi nhuận mà tạo sự đau khổ cho chim hoặc cá…

Đó là những giải pháp tạm thời chứ không thể vì sự khổ đau chết chóc của cầm thú mà không phóng sinh. Không thể bắt nhà chùa đuổi những người bán ra khỏi cổng chùa. Ngoài phạm vi chùa thì tình trạng buôn bán như thế cũng vẫn xẩy ra, không giúp gì được sự đau khổ cho loài cầm thú đang bị nhốt được tốt hơn. Nếu có thể, nhà chùa nên giải thích và khuyên kẻ bán không nhốt quá nhiều, không dùng những thủ đoạn làm đau khổ sinh thú. Ngoài ra mình không có quyền cấm đoán người bán hoặc khuyên không được phóng sinh.

Nhờ thế mà các chủ thầu chim chóc sẽ không thu gom để cung ứng với số lượng đòi hỏi. Một yếu tố khách quan khác là do trình độ nhận thức của xã hội, giáo dục đạo đức mà các nước tiến bộ họ không bao giờ hành hạ súc vật. Tây Ban Nha, thị trấn Trigueros del Valle (tỉnh Castilla y León)  là quốc gia có truyền thống đấu bò, thế mà đã có đạo luật dành cho cư dân cầm thú, phải chăng đây là ý thức nhân đạo đối với gia súc? Một xã hội có nền giáo dục tốt, đạo đức xã hội cao thì ý thức của người dân cũng được nâng cấp. Chuyện lạm dụng lòng tốt của kẻ khác để mưu lợi không phải là chuyện lạ hiện nay trong xã hội ta. Đây là chuyện nhức nhối khiến công việc từ thiện khó xử. Tuy khó xử nhưng không vì thế mà lòng từ thiện bị chối bỏ.

Cũng có trường hợp hàng tháng góp tiền phóng sinh định kỳ, nhưng hàng ngày lại vào nhà hàng chỉ định những con thú đang nhốt để nhà hàng làm tiệc nhậu với bè bạn, đây có là sự công bằng giữa phước và tội???




BỐ THÍ cũng thế, bố thí là trạng thái chia sẻ cho nhau, nhưng kẻ thiếu lương tâm, lợi dụng sự bố thí để mưu lợi. Một gia cảnh đói nghèo, thỉnh thoảng được đoàn từ thiện đến cứu trợ, sau đó đem hàng cứu trợ bán để lấy tiền cờ bạc. Người bố thí qua lời giới thiệu mà không xác minh việc nghèo đói thật sự do đâu; bố thí thể hiện lòng từ nhưng thiếu trí tuệ thường bị lạm dụng. Người tàn tật được nhà hảo tâm tặng chiếc xe lăn, vài hôm sau lại thấy họ vẫn lê lếch dưới đất đi bán vé số, chiếc xe được bán lại với giá rẻ mạt mà nhà hảo tâm đã tần tiện chi tiêu trong gia đình để mua tặng kẻ tật nguyền. Một học sinh nghèo học giỏi, được mạnh thường quân trợ cấp học bổng, bị mẹ lấy tiền cờ bạc để con đi lượm bọc nilong... Tóm lại, hạnh từ bi của người con Phật thể hiện qua nhiều công hạnh luôn bị lạm dụng.






 Bố thí có ba hình thức: Tài thí-pháp thí-vô úy thí. Dùng tiền của vật chất để bố thí chỉ là giải pháp chữa cháy tạm thời nếu không kèm theo lời khuyên răn giải thích về nhân quả nghiệp báo để bản thân họ cải thiện ý tưởng và hành vi tốt hơn. Ngoài nhu cầu vật chất, hiện nay rất nhiều nơi sang băng dĩa kinh sách ấn tống đến từng gia đình hoặc pháp thí miễn phí nơi các bàn ăn trong quán, tiệm cơm chay. Đây là kế hoạch tốt, nhưng chưa chuẩn, vì có nhiều băng giảng không mang nội dung giáo lý nhà Phật, thậm chí đi ngược lại Phật giáo mà Ban văn Hóa và Ban Hoằng Pháp không thể nào kiểm duyệt hết. Cũng không thiếu băng dĩa mang tính mê tín hù dọa đức tin. Quần chúng chưa hiểu sâu giáo lý nên bị những lối giảng ru ngủ tâm lý cho đó là hay, ùn ùn xin theo quy y. Một số kinh như "bạch y thần chú" phổ biến tràn lan mấy ai xem, chi phí tốn kém mà không đạt kết quả giáo dục đạo đức. Bỏ thì sợ tội, để thì không biết làm gì... Hiện nay phong trào in và ấn tống kinh "đại thừa" những bộ lớn rất đắc tiền, từng có nhiều vị mặc đồ tu sĩ xin các nhà Phật tử hảo tâm nhiều bộ kinh như thế để chuyển về vùng sâu vùng xa như miền Trung miền Bắc. Thật ra những địa chỉ họ xin gửi về, không có hoặc có mà không ai đứng ra nhận. Kẻ giả danh đứng xin, đem bán lại các nhà phát hành kinh sách với giá rẻ, không bán được thì họ cân ký bán giấy vụn... Pháp thí có quá nhiều dạng, dù dạng nào cũng cần có trí huệ phân biệt đúng sai, đừng tiếp tay cho kẻ lạm dụng. Vô úy thí không chỉ an ủi, trấn an người đang đau khổ mà còn dùng pháp ngữ phân tích khổ đau, lo sợ đang gặp phải. Người có tâm chia sẻ, có hạnh lắng nghe cần hiểu giáo lý để giúp người đang khủng hoảng tinh thần hiểu đúng Phật lý. Đành rằng tất cả tùy thuộc vào nhân quả, nhưng không thể giải thích nhân quả một cách máy móc, ví dụ người A bị B phụ bạc do kiếp trước A phụ bạc B, thế thì kiếp trước do B phụ bạc A, cứ giải thích lòng vòng như thế thì nguyên nhân đầu tiên ở đâu? nó còn nhiều yếu tố của nhân và duyên nữa.

Tóm lại, làm từ thiện từ việc bố thí, phóng sanh, ấn tống... đều đòi hỏi người thực hiện từ thiện cần có sự hiểu biết sáng suốt để không tạo cơ hội cho kẻ khác lạm dụng, không tạo cơ hội cho kẻ khác phạm tội hoặc kẻ được mình giúp sẽ bị đau khổ thêm. Sự cân nhắc, không làm theo quán tính, tập tục sẽ tránh nhiều rủi ro cho mình và cho người. Sự hiểu biết, nhận xét, thái độ đem đến để giúp kẻ khác và ngôn từ khi giúp kẻ khác cũng góp phần quan trọng không ít. Kẻ nhận được sự giúp hoặc sinh vật được giúp mà lòng cay đắng đau buồn nhục nhã thì việc từ thiện như thế đồng nghĩa với tạo tội. Theo tinh thần nhà Phật: KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH - KHÔNG LÀM KHỔ NGƯỜI - KHÔNG LÀM KHỔ CHÚNG SANH ĐÓ LÀ HẠNH TỐI THƯỢNG.

 

MINH MẪN

04/8/2015

(tạm kết thúc )



Thứ Hai, ngày 03 tháng 8 năm 2015

Thiền Ngôn với những hình ảnh đẹp



- Vô ngã có nghĩa là tất cả pháp đều không phải là ta hay của ta. Ta và của ta chỉ là ý niệm thôi chứ không có thật. Vì dù không có ý niệm "ta" gán vào thì pháp vẫn vận hành. Trong mỗi cá nhân có những yếu tố hợp lại mà thành như thân vật lý (physical body), cảm giác (sensation), tri giác (perception), phản ứng tâm lý (mental action and reaction), tâm thức (mind, consciousness), chúng tương quan với nhau mà tạo thành quá trình sự sống (living process), trong đó không có gì là ta và của ta cả. 
Viên Minh 

- Dù có tôn giáo hay không tôn giáo, dù kiến tánh hay chưa kiến tánh thì luật nhân quả vẫn là sự vận hành chung cho muôn loài vạn vật không trừ một ai. Người làm đúng là đúng, người làm sai là sai, người làm tốt là tốt, người làm xấu là xấu, luật nhân quả không dành riêng cho người nào cả. Còn việc đúng sai tốt xấu thì cứ để luật nhân quả cân nhắc phán xét, chúng ta không nên dựa vào hiểu biết về nhân quả hạn hẹp của mình để đánh giá hành động của người khác.
Viên Minh 
 

  



- Tin vui cho tất cả mọi người: có thể tự giải phóng mình khỏi sự hành hạ của tâm trí. Cách đơn giản nhất như sau: Hãy bắt đầu nghe tiếng nói trong đầu mình như bạn vẫn thường có thể nghe. Hãy đặc biệt chú ý tới bất kỳ hình mẫu ý nghĩ lặp lại nào, những thứ âm thanh này có lẽ đã lặp đi lặp lại trong đầu nhiều năm rồi. Quá trình như vậy chính là chứng kiến người suy nghĩ.
 
- Không gian và thời gian chung cuộc là ảo tưởng của tâm trí. Chúng chứa cốt lõi chân lý là hai thuộc tính bản chất của cái Một: vô hạn và vĩnh hang.
Eckhart Tolle
  

 
Hãy nhớ rằng không phải chúng ta đang cố gắng Ðể Trở Thành một ông thánh hay một cao nhân nào cả. Chúng ta cũng không nổ lực Ðể Tống Khứ một ác pháp nào hết. Hãy sống hồn nhiên và thoải mái. Cảnh giới nội tâm của chúng ta Là Như Vậy. Nó có thể là bất tịnh hay trong sáng và đó là một cặp hành trạng đối đãi nhau của ý thức. Thấy rõ Chúng như là Chúng, thấy rõ Chúng luôn vô thường, vô ngã thì đó chính là trí tuệ vậy. Trong khi đó, bằng một ý thức ngã chấp, chúng ta cố gắng mong mỏi "Tôi sẽ phát triển những gì thanh tịnh, tống khứ những gì không thanh tịnh " thì lập tức cái không thanh tịnh sẽ xuất hiện và kềm hãm chúng ta. Chúng ta lại vấp vào khối đá thất vọng trên đường đi của mình, thế là tiếp tục đau khổ. Hãy cẩn trọng với hai tháng cấm túc này. Vô minh luôn sẵn sàng khiến cho chúng ta tự chuốc lấy những khổ lụy. 
Sumedho  

  

Ai trải qua sự thật về khổ thì người ấy thấy ra bản chất vô thường, khổ, vô ngã trên cõi thế gian, nhờ chấp nhận sự thật này mà người ấy thanh tịnh trong sáng, và ai thanh tịnh trong sáng thì giác ngộ giải thoát, thấy rõ thực tánh chân đế và Niết-bàn.

-Thấy pháp và chia sẻ pháp với những người hữu duyên hình như là sứ mạng rất tự nhiên và đương nhiên của bất kỳ ai nhận ra lẽ sống trong nguyên lý "tùy duyên thuận pháp, vô ngã vị tha". Thấy pháp thì một mặt chịu ơn sâu của Tánh Biết, mặt khác lại mang nghĩa nặng của Đất Trời - khó mà có thể đáp đền.
Viên Minh
Trong một nội tâm đầy chánh niệm, tất cả hạnh phúc và khổ đau đều đồng giá trị. Không có gì khác biệt giữa hai thực tại này hết. Cái nào cũng là Ðang Là, xuất hiện rồi biến mất. Hạnh phúc vẫn là Hạnh phúc, Ðau khổ cũng cứ là Ðau khổ. Chúng là cái Chúng Là. Chúng vô ngã và chỉ có vậy. Chúng ta đừng để mình phải đau khổ vì chúng. Chỉ việc đón nhận, nhìn mặt và hiểu biết chúng. Tất cả cái gì có mặt đều phải có lúc biến mất. Tất cả đều vô ngã!
Sumedho 
- Trong thực tánh chân đế không có khái niệm toàn hảo và bất toàn. Nhưng khi có sự      mong mỏi đạt đếnmột lý tưởng toàn hảo thì mới có khái niệm bất toàn đối nghịch với ý niệm toàn hảo mà sinh ra chấp thủ nhị nguyên. Khi nói câu này thầy chỉ muốn nhắc rang nếu muốn cầu toàn trong ảo vọng một cách nhị nguyên như vậy thì tốt hơn là nên trở về nhận ra tính bất nhị ngay trong thế giới vô thường, bất toại và vô ngã này. Giác ngộ chính là thấy ra mọi hiện tượng thế gian đều không hoàn hảo như lý tưởng cầu toàn, do đó buông xuống cái ta ảo tưởng lăng xăng tạo tác để cầu toàn, mới giác ngộ ra thực tánh chân đế như nó đang là vượt ngoài khái niệm toàn hảo và bất toàn. 
Viên Minh  
 
 
 
 
Về bản chất, vô trí là nơi phát sinh mọi sự sáng tạo. Đa số những người có bằng cấp cao lại ít sáng tạo không phải vì họ không biết cách suy nghĩ, mà vì họ không biết cách dừng suy nghĩ.
 
- Một cách rất đơn giản để tránh xa tâm trí là đưa sự tập trung chú ý của bạn hướng vào thân thể. Cảm giác về thân thể bên trong của bạn là vô hình dạng, vô giới hạn và không dò được.
Eckhart Tolle
 

- Tâm của người hành thiền thì không chạy đây đó. Nó nằm yên tại một chỗ. Khi tốt và xấu, hạnh phúc và đau khổ đến, người hành thiền chỉ đơn thuần nhận biết mà không để chúng thấm ướt tâm. Nói cách khác người hành thiền không dính mắc vào cái gì cả.
 
- Đừng cố gắng trở thành cái gì. Đừng nhẩy vào bất cứ chuyện gì. Cũng đừng là một thiền sinh. Đừng mong giác ngộ. Lúc ngồi thì hãy ngồi. Khi đi thì hãy đi. Chẳng nắm giữ gì mà cũng không chống đối gì cả... Hãy để mọi sự tự nhiên.
Ajahn Chah

Tánh biết thấy pháp là việc tự nhiên nên nó không cần dụng ý dụng công, chỉ có "người muốn biết" mới có dụng ý và phải dụng công. "Người muốn biết" chính là cái ta ảo tưởng, khi nó xen vào tánh biết thì cái biết trở nên chủ quan và trì trệ, khó thấy được pháp như nó đang là.
 
Cứ để tâm tự nhiên mà thấy thì tánh biết tự biết điều chỉnh cái thấy cho thích nghi với mọi đối tượng của nó. Đừng cố gắng nhìn, nghe... để nắm bắt điều gì vì lúc đó khái niệm đã xen vào, mà khái niệm đi trước thì cái thấy bị trì trệ và không còn trung thực được nữa nên cái thấy không thể đồng nhất với pháp trên tính chất chỉ có duy nhất tại đây và bây giờ (thời, vị và tính) của nó. Tự nhiên, vô tâm (không trước ý) và giản dị là bí quyết mà cũng là phẩm chất của tánh biết đối với vạn pháp.
Viên Minh
- Bạn “đạt tới” chứng ngộ (cứu giúp) bằng việc bạn nhận ra rằng bạn đã ở đó rồi. Bạn tìm thấy Thượng Đế vào khoảnh khắc bạn nhận ra rằng bạn không cần tìm kiếm Thượng Đế. Bạn không thể làm được điều này trong tương lai. Bạn làm nó Bây giờ hoặc không bao giờ làm được điều đó. 
Eckhart Tolle
- Khi tâm an tịnh tức là nó đang ở trong điều kiện bình thường. Khi tâm di động thì tư tưởng hình thành. Hạnh phúc hay đau khổ là một phần của tâm hoạt động này. Bất an và tham ái cũng được hình thành như thế. Nếu bạn không hiểu rõ chuyển động này, bạn sẽ săn đuổi đàng sau tư tưởng hình thành mãi, và trở thành nạn nhân của nó. 
Ajahn Chah

Thứ Năm, ngày 30 tháng 7 năm 2015

TÔN KÍNH và CÚNG DƯỜNG ĐỨC PHẬT

blank
Nguyên Giác

1 Dalai_Ban nhac_7 7 2015
Hình 1: Một ghế trống đặt giữa Đức Đạt Lai Lạt Ma và 
GS Tenzin Dorjee, Chủ tịch hội Tibetan Association of Southern California.
Tôn kính, cúng dường một vị Phật cũng là tôn kính và cúng dường vô lượng Đức Phật. Do vậy, lòng tôi  luôn luôn hoan hỷ khi nghĩ về Đức Đạt Lai Lạt Ma, người tôi tin là một hóa thân của Đức Phật Quan Âm. Đi khắp trần gian này để đưa chúng sinh qua bờ bên kia… hẳn là tâm của một bà mẹ. Tôi luôn luôn muốn rằng mình có nhiều cơ hội để tôn kính và cúng dường chư Phật – cũng là Đức Đạt Lai Lạt Ma, cũng là các bà mẹ thế gian này, và tất cả những vị thầy dạy pháp cho mình.
Buổi nói chuyện của Đức Đạt Lai Lạt Ma chiều Thứ Ba 7-7-2015 không nằm trong các chương trình có công bố trên truyền thông dòng chính. Tôi cũng không ngờ, rằng chương trình này nói toàn tiếng Tây Tạng. Tất cả mọi người trên sân khấu đều nói tiếng Tây Tạng, chỉ trừ ban đầu cô Ann Curry trong cương vị MC nói vài câu tiếng Anh.
2 Dalai_Tenzin_7 7 2015
Hình 2: GS Tenzin Dorjee quỳ, nói với Đức Đạt Lai Lạt Ma
Đó cũng là lần đầu tiên tôi được nghe hoàn toàn, một sự kiện nhiều giờ, trong tiếng Tây Tạng -- cầu nguyện, ca hát, và rồi Đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết giảng, kể cả khi ngài nói giỡn (dĩ nhiên, tôi không hiểu, nhưng rồi thấy Ngài và rồi cả ngàn người cười phá lên). Không khí huyền ảo như dưòng siêu thực, khó gặp lần thứ nhì trong kiếp này. Buổi lễ có tên là Tibetan Long Life Prayers to His Holiness The Dalai Lama, trên nguyên tắc chỉ giành cho cộng đồng người Tây Tạng lưu vong và những người Mỹ biết nóí tiếng Tây Tạng.
Nhiều người Mỹ trắng ngồi quanh tôi, cũng gật gù theo một số câu nói của Ngài, và rồi cười khúc khích khi Ngài nói cười… nghĩa là, nhiều nhà trí thức Hoa Kỳ có nghiêm túc học tiếng Tây Tạng khi học Kinh Phật. Chỉ có tôi ngồi im lặng khi mọi người cười giỡn, vì mình chẳng hiểu gì cả. Không phải đâu, cùng số phận với tôi là  các em bé Tây Tạng và Mỹ trắng, và Mỹ vàng trong hội trường Brent nữa, có em còn nằm trên tay bồng của mẹ, dĩ nhiên các em chẳng hiểu người lớn nói gì,  vì các em ở nhà chỉ xem TV nói tiếng Anh. Có lẽ.
*
Về nhà, mệt kinh khủng, sau nhiều ngày chạy theo tin thời sự, từ các buổi Đức Đạt Lai Lạt Ma nói chuyện, rồi số báo đặc biệt để cúng dường Ngài, và rồi phải xem tin TT Obama tiếp khách… tính tắt máy để ngủ, được anh bạn thân -- nhạc sĩ Trần Chí Phúc -- gửi email nhắc: “Cuộc sống ngắn lắm, thời gian không chờ chúng ta đâu…” Do vậy, những dòng chữ này được viết để kể về một buổi lễ cầu nguyện trường thọ cho một vị, mà tôi tin rằng, thế gian rất mực hy hữu.
Công việc của tôi là cầm 12 ấn bản đặc biệt in màu của Việt Báo, số Thứ Hai ngày 6 tháng 7-2015 tới giao cho GS Tiến sĩ Tenzin Dorjee, Chủ tịch hội Tibetan Association of Southern California, để cúng dường Đức Đạt Lai Lạt Ma và phái đoàn chư tăng Tây Tạng. Ấn bản này in song ngữ Anh-Việt, nên tốn sức, làm rất mệt nhọc.
Đậu xe xa kinh khủng. Vì các sân gần đó đã đầy chỗ. Rời sân đậu xe, chỉ sợ lúc về tìm lại không ra, nên phải ghi chú đường đi, ngã quẹo, thậm chí chụp hình một biểu ngữ quảng cáo ở góc đường để làm dấu. Hóa ra cái đại học UCI này lớn kinh khiếp.
Bên ngoài hội trường Brent, nơi Đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ được cộng đồng Tây Tạng làm lễ chúc thọ, một nhóm khoảng 20 người, Mỹ trắng và vàng, mặc áo tu sĩ Tây Tạng và đời thường, đang đánh trống quân hành, la hét chỉ trích Ngài Đạt Lai Lạt Ma. Lòng tôi buồn kinh khủng. Buồn không chi kể nổi. Tôi đã quan sát tình hình này từ lâu. Dorje Shugden, vị thần hộ pháp, được thờ từ lâu bởi dòng Mũ Vàng, nhưng rồi chính Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng vị thần này gây bạo lực, gây chia rẽ bộ phái, vì lý tưởng là phải tu học bất phân bộ phái. Chỗ này có thể hiểu rằng, các vị hộ thần cũng là một chúng sinh ở cõi vô hình, không phải vị nào cũng thích nghi với pháp tu của Phật Tử. Và nên hiểu rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma trong khả năng thiền định của Ngài, đã nhận ra vị Shugden là một “ác linh,” không thích hợp với pháp tu từ bi và hòa hài xã hội.
Đặc biệt, nhà nước Trung Quốc gây chia rẽ thêm, đã  ra lệnh cho các tu viện trong vùng Tây Tạng phải dựng tượng và thờ phượng vị thần Shugden. Chính phủ TQ cũng cung cấp tiền, hỗ trợ các bộ pháí thờ Shugden tại Ấn Độ, Nepal, toàn cầu để làm suy yếu vị trì của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Từ tháng 12-2-12, nhà sư Lama Jampa Ngodrup được chính phủ TQ giao nhiệm vụ ra hải ngoại, cổ vũ thờ vị thần Shugden.
Tôi hoàn toàn không thể hiểu được tại sao những người tự nhận là Phật Tử này có thể đánh trống, hô hào la hét, chỉ trích Đức Đạt Lai Lạt Ma. Vì sao Phật Tử hung hăng như thế? Trước giờ, tôi đã không dám nặng lời với bất kỳ ai, ngay cả một người khác đạo đang hung hăng tấn công mình. Có cái gì rất bệnh ở kiểu như thế. Thêm nữa, trong cương vị nhà báo ngồi giữa Little Saigon, tôi đã quen với nhiều sóng gió. Đôi khi, có những người gọi điện thoạị vào tòa soạn, mắng tôi xối xả vì dung chữ không thích nghi, hay vì lỗi chính tả nào đó, hay vì bản tin dịch thiếu sót…  Ra phố, gặp mục sư hay linh mục, tôi cũng chắp tay kính lễ.
Tôi rất ít khi tranh luận… phần lớn vì nhớ lời dặn của thầy tôi, rằng chuyện gì cũng có nhân quả. Đặc biệt nên tránh tranh cãi, vì nếu mình nói đúng Phật Pháp, mà người kia nhất định cãi bướng, kiếp sau họ khó gặp lại Phật Pháp. Thêm nữa, Thầy dạy, ra đường, thấy một em nhỏ cũng chớ xem thường, vì em bé đó có thể là một vị thánh tái sinh, hay một vị bồ tát tái sinh…
Khoảng 1 giờ trưa, nhóm Phật tử Shugden im lặng, dẹp trống, ngồi nghỉ mệt… có lẽ, họ chờ xe buýt tới, chở đi. Thêm nữa, họ biểu tình chống Ngài Đạt Lai Lạt Ma cũng mấy ngày rồi, hẳn là mệt.
Tôi thấy anh Tenzin đứng sau một chiếc bàn. Tôi đưa tay lên hét, “Mr. Tenzin Dorjee.” Anh bước ra, bắt tay chào, nhận 12 số báo gói sẵn, và đưa một vé vào cửa cho tôi. Anh nói rằng bây giờ cons ớm, vì một giờ rưỡi chiều mới vào hội trường. Những người giữ an ninh mặc đồng phục giăng dây để làm mọi người xếp hàng chờ sẵn. Thế rồi, anh Tenzin biến mất dạng. Cũng nên nói thêm, anh nguyên là nhà sư Tây Tạng ra đời, bây giờ vẫn độc thân (và có lẽ, sẽ độc thân suốt kiếp này, vì có một số vị lạt ma được chỉ thị ra đời để hoằng pháp), học xong Tiến sĩ và bây giờ dạy ở đạị học CSU Fullerton. Bản thân anh là Hội trưởng của hội Tibetan Association of Southern California.
Tôi nhìn chung quanh. Hầu hết đứng để chờ vào, vì ai cũng mặc trang phục lễ hội, màu sặc sỡ như trang phục thổ cẩm của người Hmong tại miền núi Việt Nam.. Thấy rõ đấy: gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma, đối với dân Tây Tạng là lễ hội lớn. Trẻ em cũng mặc trang phục lễ hội nữa, có em khóc, có em chạy giỡn và bị mẹ nắm tay ghìm lại, bắt chờ. Những người Mỹ trắng cũng đông…
Tôi tới các bàn đang bày bán kỷ vật, khăn quàng, trang phục, chuông, mõ… kiểu Tây Tạng. Phải mua cái gì chớ, vì Ngài Đạt Lai Lạt Ma sau năm nay, không chắc gì tới Quận Cam nữa. Năm nay, Ngài 80 tuổi, và sẽ được sắp xếp tới các thành phố khác sau này.
*
3_Dalailama_Nguyen Giac
Hình 3: Cư sĩ Nguyên Giác đứng bên một Phật tử Tây Tạng 
với biểu ngữ ủng hộ Ngài Đạt Lai Lạt Ma
Tôi luôn luôn nhìn Đức Đạt Lai Lạt Ma như một hóa thân của Đức Quan Âm. Tôi đã dự pháp hội của ngài nhiều năm nay, ở Pasadena, ở Long Beach, ở Quận Cam… Lần họp báo giành cho rất ít phóng viên ở Long Beach mấy năm trước, tôi nhường cho hai bạn  phóng viên – Tâm Huy Huỳnh Kim Quang và Quảng Trà Nguyễn Thanh Huy – tham dự, vì biết là sẽ có cơ duyên đứng bên Đức Đạt Lai Lạt Ma chụp hình. Hóa ra, hai anh này lúng túng, không được chụp hình gần, lại thành ra chụp hình giùm cho mấy người khác; tôi còn nhớ và còn giữ mấy tấm ảnh chụp hình một vài nhà báo gốc Việt đứng kế bên Đức Đạt Lai Lạt Ma.
Tôi tham dự các pháp hội chỉ vì lòng tôn kính, thuần túy vì lòng tôn kính. Không phảỉ vì nghe pháp. Tôi đã mua qua Amazon sách của ngài, nhiều tới để sách chất ở đầu giường, ở bên giường để ban đêm hễ mở mắt là thấy có sách của Đức Đạt Lai Lạt Ma để đọc, và tin rằng mình đọc  kỹ hơn rất nhiều người. Đó là đọc, dĩ nhiên là đọc bản Anh ngữ, còn nói rằng mình hiểu Phật pháp tới đâu thì, dĩ nhiên, có thể gọi rằng chẳng tới đâu – hay để nói cho gọn kiểu người xưa, rằng chỉ nhớ có mỗi chữ Như. Nếu không nhầm.
Khởi đầu buổi lễ, ba vị sư Tây Tạng mũ vàng làm nghi thức, kiểu như tụng kinh, giống như hát, và nghi lễ vân vân.  Tôi tự chọn ngồi cánh trái, trên cao để dễ chụp hình. Máy hình mua nhiều năm trước, nên không tối tân, nhưng cũng tạm xài trong hội trường Brent của UCI, nơi kiến trúc theo kiểu một sân vận động trong phòng.
Anh bạn Giáo sư Tenzin Dorjee ngôì trên sân khấu, cách Đức Đạt Lai Lạt Ma một ghế trống. Tôi không hiểu ý nghĩa ghế trống để bên Đức Đạt Lai Lạt Ma có ý nghĩa gì. Có thể tượng trưng cho Đức Ban Thiền Lạt Ma đang bị Trung quốc giam cầm? Không hiểu nổi. Cô MC Ann Curry đứng ở bục, nói vài câu tiếng Anh là thôi. Từ đó trở đi, là nói toàn tiếng Tây Tạng. Tôi nghe dĩ nhiên không hiểu, nhưng bầu không khí tuy rộng tới khoảng 2,000 người ngồi, nhưng vẫn đậm chất thân thương.
Một điều để nghiệm ra rằng, tuy anh Tenzin là Hội Trưởng, đứng ra tổ chức, nhưng bản văn chúc thọ Đức Đạt Lai Lạt Ma lại do một nhóm thiếu nhi thực hiện, và rồi sau đó tới một nhóm thanh niên đọc một bản văn khác. Tôi đoán, đó là nguyện văn chúc thọ. Hẳn là cô MC Curry cũng chẳng hiểu chữ nào. Điều tôi ngạc nhiên là, anh Hội Trưởng Tenzin không hề đọc diễn văn nào, cũng không hề nói một lời nào trước công chúng. Đúng ra, tôi thấy anh có nói vài câu riêng với Đức Đạt Lai Lạt Ma, lúc đó anh quỳ một đầu gối xuống; lúc đó, tôi thực sự thấy  rằng dân Tây Tạng, kể cả một người bây giờ là Giáo sư CSUF, cũng xem Ngài như một vị vua. Thêm nữa, điểm khác là: dân Việt Nam mình hễ giữ chức Hội Trưởng là ưa đọc diễn văn dài kinh khủng.
Khi tôi nghĩ rằng chắc chỉ duy mình là người Việt nơi đây, nhìn thấy từ ngoài cổng bước vào là Nguyễn Quốc Bảo, Thị Trưởng Thành Phố Garden Grove. Bảo đi cùng một cô bạn Hoa Kỳ, Tôi đưa máy ảnh, chụp từ xa, nghĩ là sẽ về gửi email tặng Bảo, anh chàng sẽ bất ngờ lắm. Tôi đoán là Bảo hiểu tiếng Tây Tạng, vì Bảo tốt nghiệp Thạc sĩ về Indo-Tibetan Buddhist Studies (Nghiên Cứu Phật Giáo Ấn-Tạng) tại đại học Naropa University tại Boulder, Colorado.
Vài hôm sau, Bảo cảm ơn về tấm ảnh, cho biết cô bạn kia là học cùng ở Đại học Naropa, nay về Quận Cam dự pháp hội. Nghĩa là, cũng chung một làng Phật Giáo Tây Tạng.
*
Tôi luôn luôn nhìn Đức Đạt Lai Lạt Ma như hóa thân của Đức Quan Thế Âm. Nghĩa là, nhìn chúng sinh như mẹ nhìn con, lòng lúc nào cũng muốn bảo bọc chúng sinh. Mỗi lần nghĩ tới Ngài, lòng tôi tự nhiên thấy ấm lại, như khi nghĩ tới ba, tới mẹ.
Hôm đó, trên đường từ chỗ gửi xe đi tới hội trường Brent, tôi đang suy nghĩ vê những bài thơ đang làm, tìm cách sắp xếp các cảm xúc, các suy nghĩ. Duyên khởi của việc làm thơ này cũng là để cúng dường Tam Bảo.
Anh bạn nhạc sĩ Trần Chí Phúc một hôm gọi điện thoại, lúc 10 giờ khuya, nói rằng cần một bài thơ để anh phổ nhạc, để sang hôm sau anh sẽ hát trong Đạo Tràng Nhân Quả của quý thầy phái khất sĩ Quận Cam, còn gọi là hệ phái Minh Đăng Quang, nơi anh thân với một số vị sư.
Tôi nói, tôi không có thơ thiền, thơ đạo nào có sẵn, vì trước giờ mỗi năm chỉ làm thơ một lần cho báo Xuân, và do vậy chỉ có thơ tình, vì muốn bán báo là phải làm thơ tình mới chiều lòng độc giả được.
Bạn Phúc nói, rằng có vào Google, tìm thơ đạo để phổ nhạc, nhưng thấy thơ quý thầy không hợp, mới nghĩ tới bạn, vậy thì làm ngay một bài thơ trong vòng một giờ đồng hồ, giử cho mình để phổ nhạc.
Tôi nói, cúng dường Tam Bảo là phải lẽ, xin chờ một giờ, tôi làm xong sẽ gửi qua email.
Đêm hôm sau, nhạc sĩ  Trần Chí Phúc gọi lại, nói rằng bài thơ phổ hoài không được, sang hôm sau, ra nhà bếp chùa, ngồi cầm đàn, dò tới dò lui, mới nghĩ ra nhạc, tới trưa là hát cúng dường trong Đại Lễ Phật Đản.
Đó là nhân duyên của bài đầu tiên. Sau đó, Phúc đề nghị rằng hãy làm cho đủ 10 bài thơ thiền, để Phúc phổ nhạc, rồi in CD, in tập nhạc, cúng dường Tam Bảo. Tôi nghĩ, đó là đề nghị hy hữu, nên hứa là sẽ ráng sức làm thơ.
Hôm dự Lễ Cầu Nguyện Trường Thọ cho Đức Đạt Lai Lạt Ma, tôi cũng hồi hướng lời cầu nguyện của Ngài tới tất cả các bà mẹ, vì khi nhìn thấy Ngài đứng nói bằng tiếng Tây Tạng cà giờ đồng hồ, tôi thấy Ngài hiện thân ra như những bà mẹ muốn bảo bọc con mình.
Nơi đây, xin mời độc giả nghe trước một ca khúc để tặng các bà mẹ. Băng ghi âm này không có chất lượng studio, chỉ có âm thanh guitar, giọng hát của Phúc chỉ là bản nháp, vì nếu in CD là sẽ nhờ các cô ca sĩ có giọng hay hơn.
Cũng nên ghi thêm, khi tôi làm bài thơ này, tới câu “tụng kinh mẹ khóc mưa nguồn,” hiện ra trước mắt tôi là hình ảnh nhiều thập niên trước, mẹ của một người bạn thân (bây giờ bạn này dịch kinh, ký tên Thanh Liên) trong khi ngồi tụng kinh ở chính điện một ngôi chùa trên đường Phan Thanh Giản, Quận 3, đã ràn rụa nước mắt theo từng dòng kinh.
Bài thơ cúng dường các bà mẹ như sau:
Rồi Mẹ Như SươngThương con trăm sông ngàn núitrang kinh mẹ chép cúng dườngbốn thời sớm trưa chiều tốinhớ ơi nước mắt lăn dòng
Thương con mãi xa ngàn dặmtụng kinh mẹ khóc mưa nguồngió đưa tới rừng xa thẳmlạnh ơi mưa ngấm vào hồn.
Rồi mẹ như sương, tan vào nắng trưarồi mẹ như hương, ẩn hiện trong mơrồi mẹ như mây, tóc trắng cuối trờirồi mẹ như nắng, bóng khuất sau đồi
Nửa khuya trở mình viễn phốcon đọc trang kinh cuối dòngchữ mẹ ngút ngàn thương nhớchép lời Phật dạy qua sông
Thương ơi một rừng tóc trắngbay về  che khắp tử sinhnghe chim kêu ngàn xa vắngngẩng đầu rơi tiếng bất sinh.
(Thơ Phan Tấn Hải)
Xin mời nghe ở đây:
AUDIO CA KHÚC: Rồi Mẹ Như Sương 
*
Và sau đây, là bài thơ tôi làm để diễn lại Kinh Bahiya, một kinh tôi nghĩ là Thiền Tông Đốn Giáo, vì không qua bất kỳ phương tiện chỉ quán nào, chỉ cần nhận ra tức tâm tức vật, hay  tức tâm tức cảnh là vượt qua mọi dính mắc. Bài thơ như sau:
Hoa Bay Khắp TrờiNhìn kiachỉ hình hiện rakhông người không tachỉ hình được thấykhông ai đang thấy
Nghe kìachỉ tiếng trong lờikhông ta không ngườichỉ tiếng được nghekhông ai đang nghe
Chữ vàng trên giấy, lời Phật năm xưa, khởi từ bi dậy, chỉ qua kia bờThương ơi ba cõi, bè pháp cứu người, qua sông còn gọi, hoa bay khắp trời
Ngồi đâycảm nhận hơi thởhơi vào hơi rachỉ là hơi thởkhông ai đang thở
Tâm kiàkhắp cảnh là tâmkhắp tâm là cảnhkhắp trời gương sángkhắp trời là tâm.
(thơ Phan Tấn Hải)
Anh bạn Trần Chí Phúc phổ thành nhạc, và hát nháp như sau:
AUDIO CA KHÚC: Hoa Bay Khắp Trời
*
Tôi không biết rằng mình có sẽ in được CD nhạc và tập nhạc hay không, vì có mời ai hát cũng là tốn tiền, có ghi âm ở studio nào rồi cũng phải tốn kém. Nhưng ít ra, là phải làm cho đủ 10 bài thơ, để phổ thành nhạc. Trong đó, tất nhiên sẽ phải có một bài thơ ngợi ca Đức Quan Thế Âm… Chỉ hy vọng, từ từ các pháp sẽ thành tựu.
Nguyên Giác

* GIA ĐÌNH PHẬT TỬ TRUYỀN THỐNG VÀ


   TRUYỀN THỐNG GIA ĐÌNH PHẬT TỬ
Bài 5

* MÀU SẮC THUẦN NHẤT CỦA TỔ CHỨC GĐPTVN:
Cho dù thuộc Phân Ban, thuộc Giáo chỉ hay thuộc Tăng đoàn, trên cơ bản, GĐPTVN trong và ngoài nước đều giống nhau về hình thức cũng như nội dung và chủ hướng; đều cùng tôn thờ một đức Phật, tin và sống đúng theo tiêu chí của một đoàn sinh.
I. TRANG PHỤC (theo phân ban)
Từ khi chánh thức với danh xưng GĐPTVN, trang phục của đoàn sinh như sau: SẮC PHỤC
Sắc phục Gia đình Phật tử có ba màu: màu lam, xanh dương đậm và màu trắng
1. Đoàn phục:
A.   Huynh trưởng  Nam và Thanh Thiếu Nam:

-  Áo sơ mi lam tay cụt, cổ (bâu) lật, hai túi có nắp và sống túi, có cầu vai, sống lưng.
-  Quần sọt (Short) màu xanh dương đậm hai túi sau có sống túi và có nắp. 
-  Mũ (tứ ân).
-  Vớ (tất) dài màu lam, dưới đầu gối cho Huynh trưởng. Vớ ngắn màu lam cho Đoàn sinh.
     B. Huynh trưởng Nữ và Thanh Thiếu Nữ:
-  Áo sơ mi lam tay dài, cổ lật, hai túi có nắp và sống túi, có cầu vai, sống lưng.
-  Quần tây dài màu xanh dương đậm (không mặc quần Jean), nón Tứ ân.

a/ Nam Oanh Vũ:
-  Áo sơ mi lam tay cụt, cổ lật, có cầu vai, sống lưng, quần sọt màu xanh dương đậm, hai túi sau, có dây đeo phía sau lưng hình chữ X, nón Tứ ân.
b/ Nữ Oanh vũ:
-  Áo sơ mi lam cổ lá sen, tay phồng cụt, váy màu xanh dương đậm, có dây đeo phía sau lưng hình chữ H, nón tai bèo màu lam.
 2. Lễ phục:
a/ Huynh trưởng  Nam và Thanh Thiếu Nam:
-  Áo sơ mi lam tay dài, cổ (bâu) cồn, hai túi có nắp và sống túi, có cầu vai, sống lưng.
-  Quần tây dài màu xanh dương đậm , hai túi sau có nắp. Mũ (nón) Tứ ân. Riêng Huynh trưởng có cà vạt xanh theo màu quần.
      b/ Huynh trưởng Nữ và Thanh Thiếu Nữ:
-  Áo dài lam quần trắng, nón lá.

 ÐỒNG PHỤC (theo GĐPT truyền thống)
A. Nam Phật Tử và Thiếu Nam : Sơ-mi lam tay cụt, hai túi và cầu vai. Quần sọt xanh nước biển, hai túi sau. Nón lá hay mũ Phật tử (tuỳ theo địa phương nhưng cốt đồng nhất cho mỗi Ðoàn).
B. Nữ Phật Tử và Thiếu Nữ : Áo dài lam, quần trắng (khi đi trại nên có Trại phục)
C. Nam Oanh Vũ : Sơ-mi lam tay cụt, có cầu vai. Quần sọt màu xanh nước biển, hai túi sau, có dây treo. Mũ bê rê hay mũ rộng vành màu xanh nước biển chóp tròn ( tùy theo địa phương nhưng cốt đồng nhất cho mỗi Ðoàn ).
D. Nữ Oanh Vũ : Sơ-mi lam tay cụt phồng. Váy màu xanh nước biển. Mũ hay nón ( tùy theo địa phương, nhưng cốt cho đồng nhất trong một Ðoàn ).
Ðồng phục và Huy hiệu trên chỉ được dùng trong những ngày lễ của Hội của Gia Ðình, trong những buổi cắm trại và buổi họp.

II. XƯNG HÔ
Chỉ có hai từ duy nhất là Anh (chị) và em. Cho dù  là bác gia trưởng, anh huynh trưởng ở BHD trung ương lão thành - một đoàn sinh, nhỏ gọi người lớn là Anh (chị) và xưng là em; Trong gia quyến thế tục tôn xưng là ông, bà... nhưng vào đoàn thể áo lam chỉ gọi bằng anh để chứng tỏ tính bình đẳng và sự thân thiện.
c/ Tin phật
Từ các anh chị trong BHD đến Oanh vũ đều một lòng tin và hướng về Phật
d/ Chương trình học tập và huấn luyện cả ba miền trong mỗi đơn vị, đều thống nhất, gồm ba bậc :
 - Ngành Đồng
- Ngành Thiếu
- Ngành Thanh
Nội dung huấn luyện gồm:
- Phật Pháp
- Hoạt Động Thanh Niên.
- Hoạt Động Xã Hội.
- Văn Nghệ
.
e/ Biểu tượng:
 Huy hiệu của GIA ĐÌNH PHẬT TỬ là Hoa Sen Trắng tám cánh (năm cánh trên và ba cánh dưới) trên nền tròn màu xanh lá mạ.
f/ Đặc tính chung
Trong nội quy của GĐPTVN ghi rõ:
    ĐIỀU LUẬT
A. Điều luật của Huynh trưởng và Đoàn sinh Ngành Thanh, Thiếu niên:
1.     Phật tử quy y Phật Pháp Tăng và giữ giới đã phát nguyện.
2.     Phật tử mở rộng lòng thương, tôn trọng sự sống.
3.     Phật tử trau dồi trí tuệ, tôn trọng sự thật.
4.     Phật tử trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm.
5.     Phật tử sống hỷ xả để dũng tiến trên đường đạo.

 B. Điều luật của Đoàn sinh ngành Đồng:
   1. Em tưởng nhớ Phật.
   2. Em kính mến cha mẹ và thuận thảo với anh chị em.
   3. Em thương người và vật.

Với điều luật rõ ràng như thế, nói lên tôn chỉ huấn luyện đoàn sinh thành một Phật tử chân chánh, không mang màu sắc chính trị, không hạn chế tuổi tác, nghề nghiệp, địa vị trong xã hội, ngược lại với tác phong của một người được huấn luyện đào tạo trong sáng, có tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng phục vụ xã hội trong những ngành nghề mà một đoàn sinh có thể, theo khả năng chuyên môn của mình. Sở trường nghiệp vụ trong xã hội hỗ trợ thêm nhân cách đạo đức ắt hẳn sẽ là một công dân tốt cho xã hội. Phải chăng, đó là tầm quan trọng của GDPT và thế hệ trẻ trong một xã hội sa đọa đạo đức hiện nay? Về tình cảm, đối với quyến thuộc biết tôn kính yêu thương, đối với mọi loài biết tôn trọng sự sống, biết tôn trọng sự chân thật, hỷ xã và trong sáng.
Như ta đã biết, GĐPTVN khai mào vào năm 1930, thì trước đó 10 năm, tại Bỉ, Kyto giáo, một tôn giáo bạn cũng đã khai sinh một đoàn thể trẻ với tên gọi Thanh Sinh Công, đến Việt Nam năm 1937 mà tiền thân gọi là Việt Sinh Công. Ngày 20-4-1964, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã nhóm họp tại Đà Lạt và quỵết định chấp nhận TSC là phong trào hoạt động tông đồ có tính cách toàn quốc cho giới sinh viên, học sinh. Cũng từ ngày này, phong trào TSC được công nhận là một phong trào Công Giáo Tiến Hành chuyên biệt của Giáo Hội Việt Nam. Sự kết hợp giữa Thanh Sinh Công và Việt Sinh Công.Tại Đại Hội toàn quốc năm 1963 được tổ chức tại Đồi Lasan Mossard, Thủ Đức, hai tổ chức Thanh Sinh Công và Việt Sinh Công kết hợp lại với nhau và lấy một tên chung là Phong Trào Thanh Sinh Công Việt Nam với một ban cố vấn gồm Linh Mục Phêrô Đỗ Long Bộ làm Tổng Tuyên Úy và Sư Huynh Gagelin Mai Tâm làm Tổng Cố Vấn.
TÔN CHỈ
Tôn chỉ của phong trào TSC là Kitô-hoá môi trường học đường, đem tinh thần phúc âm vào đời sống SVHS, tức là xây dựng một thế hệ trẻ biết yêu Chân-Thiện-Mỹ vì Thiên Chúa.
ĐƯỜNG LỐI HOẠT ĐỘNG
TSC theo phương pháp “xem-xét-làm”, suy gẫm phúc âm và kiểm điểm đời sống theo đường lối sau:
- Phục tùng và cộng tác với hàng giáo phẩm,
- Luôn luôn liên kết với Chúa Kitô,
- Hoạt động nhằm vào tầng lớp SVHS, với quyết tâm làm cho tầng lớp này chuyển mình theo chiều hướng Phúc Âm,
- Mọi hoạt động TSC đều phải tổ chức trên bình diện môi trường,
- Phải luôn luôn có mặt trong mọi cơ cấu, mọi hình thức sinh hoạt có liên quan tới giới SVHS hầu có thể đóng vai trò “men trong bột” của mình,
- Hoạt động với và cho giới học sinh, sinh viên theo phương pháp của phong trào.
10 ĐIỀU TÂM NIỆM :
1. Thanh Sinh Công không thuộc về mình
2. Thanh Sinh Công thuộc về Chúa Ki-tô.
3. Thanh Sinh Công sống trong ơn nghĩa Chúa.
4. Thanh Sinh Công tin ở tình bạn chân thật.
5. Thanh Sinh Công chiến đấu để gìn giữ tâm hồn trong sạch.
6. Thanh Sinh Công có tinh thần trinh phục.
7. Thanh Sinh Công ý thức trách nhiệm của mình
8. Thanh Sinh Công biết vui vẻ làm việc.
9. Thanh Sinh Công có tinh thần nghèo khó.
10. Thanh Sinh Công biết lo cho Giáo Hội

Như vậy, tôn giáo lớn như Phật giáo VN và Kyto giáo đã quan tâm đến thế hệ sinh viên học sinh, điều hướng tuổi trẻ đến chân thiện mỹ,cái giống nhau là đào tạo đoàn sinh hướng đến tổ chức tôn giáo và sống đúng lý tưởng tôn giáo của mình và có trách nhiệm với giáo hội; tuy nhiên cơ cấu tổ chức của TSC chặt chẽ hơn, đoàn sinh luôn phải là "men trong bột" trong mọi tầng lớp sinh viên học sinh.Phong trào TSC trước 1975 có 4.500 đoàn sinh, sau 1975 hiện có 6 đoàn với 200 đoàn viên. TSC là một trong 16 đoàn của Kyto VN được phép sinh hoạt hợp pháp.
Ngoài hai đoàn thể trẻ của Phật giáo và Kyto giáo, còn có một tổ chức quốc tế, đó là Hướng Đạo, trước 1975, Hướng Đạo thâm nhập vào cả giới tu sĩ trẻ với danh xưng Tráng đoàn Asoka, nhưng sinh hoạt không hữu hiệu, chẳng bao lâu tan rã.và song song đó, hiện nay, đội thiếu niên Tiền phong và đoàn Thanh niên Cọng sản HCM cũng sinh hoạt hướng đến xã hội, đào tạo cán bộ đảng viên trong tương lai. Với mục đích và tinh thần truyền thống của GĐPT VN trong quá khứ cũng như hiện tại, đều thống nhất chương trình huấn luyện và xây dựng con người. Tuy do biến động tâm lý chính trị, gia đình áo lam có mọc nhánh, nhưng vẫn không biến tướng và hoại thể. Danh xưng GĐPT truyền thống trước đây, gây ngộ nhận không ít, cứ ngỡ đó là đoàn thể áo lam thuộc GHPGVNTN nằm trong Tổng vụ Thanh niên, vì GHPGVNTN tự nhận là GH truyền thừa trên 2000 năm, thực chất, GĐPTVN ra đời trước khi ra đời GHPGVNTN khá lâu; năm 1930 và 1964, cách nhau 34 năm, vì là tổ chức của Phật giáo lúc bấy giờ, GĐPTVN buộc phải nằm trong hệ thống tổ chức hành chánh của Phật giáo đương thời.GĐPT truyền thống có nghĩa mang tính chất truyền thống xuyên suốt, nhất quán từ ngày có mặt đến ngày nay, cho dù đó là Phân ban, Giáo chỉ hay Tăng đoàn cũng đều mang tính Truyền thống của đoàn thể áo lam với niềm tin Phật pháp kiên cố và trang bị tinh thần Bi-Trí-Dung tuyệt vời. Vì thế, không lẽ gì bị màu sắc chính trị có thể chia rẽ lương tâm của người con Phật -
       Phật tử mở rộng lòng thương, tôn trọng sự sống.

Phật tử trau dồi trí tuệ, tôn trọng sự thật.
Phật tử sống hỷ xả để dũng tiến trên đường đạo.

Để thực hiện đúng điều luật đã học, đoàn sinh Tình Lam phải có trí tuệ, buông xả mọi biên kiến để trong sạch từ lời nói đến việc làm mới mong đoàn thể áo lam được tồn tại như sự tồn tại vững chắc trên 60 năm qua. Một cội cổ thụ lâu năm, buộc vỏ thân cây phải rạn nứt, một tổ chức mọc nhánh đa dạng nhưng nhựa sống vẫn là một tính chất thuần túy thì không thể gọi là suy hoại; như vậy GĐPT truyền thống cũng là truyền thống của mọi tổ chức GĐPT hiện nay. GĐPT Phân Ban-GDPT giáo chỉ- GĐPT Tăng đoàn đều là GĐPT truyền thống vì trong người đã mang tố chất truyền thống từ đức tin đến tổ chức và tôn chỉ như nhau.
GĐPT TT và TT GĐPT đều là một, danh xưng không thể làm biến thái sắc màu tình Lam con Phật.

MINH MẪN
30/7/2015
(kết thúc)