Thứ Năm, ngày 27 tháng 8 năm 2015

Tu viện vàng trên núi độc nhất Thế Giới.



Việc xây dựng một tu viện bề thế trên những vách núi đá dốc
đứng là một kỳ công của người Miến Điện cổ xưa.

alt
Tu viện Phật giáo Taung Kalat ở Myanmar được coi là một trong những công trình tôn giáo được xây dựng ở nơi hiểm trở nhất thế giới.

.
alt
Tu viện này được xây dựng trên đỉnh núi Popa, một ngọn núi lửa đã tắt, từ nhiều thế kỷ trước.

.
alt
Tu viện tọa lạc ở độ cao 737m so với mặt đất. Muốn lên tới đây, du khách phải leo tổng cộng 777 bậc thang.
alt



Khi vượt qua thử thách này, du khách sẽ có cơ hội chiêm ngưỡng toàn thể quang cảnh rộng lớn từ đỉnh núi. 

alt

alt

alt

alt

alt
alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt
http://kuriositas.com/

Thứ Ba, ngày 25 tháng 8 năm 2015

* LỄ BÁO ÂN

Mùa Thu, tháng bảy, thường gọi là mùa Vu Lan, mùa báo hiếu của những người con Phật thuộc Phật giáo Bắc truyền.
Từ ngày lễ cài hoa được du nhập vào Việt Nam, tuy được tiếp biến nét văn hóa nước ngoài, truyền thống báo hiếu của người Việt đã có thêm nét đẹp nghệ thuật trong lễ cài hoa. Nghi thức cài hoa hồng tại Việt Nam khởi xuất từ cuốn sách "Bông Hồng cài áo" của thầy Thích Nhất Hạnh vào tháng 8 năm 1962, được nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ phổ nhạc rất nổi tiếng và rất truyền cảm. Suốt nhiều thập kỷ nhạc phẩm được sử dụng trong dịp báo hiếu vào mùa Vu Lan trong Tháng Bảy mưa Ngâu. Đã có nhiều ca ca sĩ từng hát nhạc bản "Bông Hồng cài áo" như: Thái Thanh, Duy Khánh, Khánh Ly, Tuấn Ngọc, Miên Đức Thắng, Nguyễn Hưng, Cẩm Vân, Quang Linh, Bằng Kiều, Đan Trường, Mạnh Quỳnh...
Nguyên nhân, vào một dịp Thiền sư Thích Nhất Hạnh chứng kiến ngày lễ của mẹ về một tập tục đẹp mà thầy gặp ở Nhật Bản, thầy viết:
"Tây phương không có ngày Vu Lan nhưng cũng có Ngày Mẹ (Mother's Day) mồng mười tháng năm (năm đó). Tôi nhà quê không biết cái tục ấy. Có một ngày tôi đi với Thầy Thiên Ân tới nhà sách ở khu Ginza ở Ðông Kinh (Tokyo), nửa đường gặp mấy người sinh viên Nhật, bạn của thầy Thiên Ân. Có một cô sinh viên hỏi nhỏ Thầy Thiên Ân một câu, rồi lấy ở trong sắc ra một bông hoa cẩm chướng màu trắng cài vào khuy áo tràng của tôi. Tôi lạ lùng, bỡ ngỡ, không biết cô làm gì, nhưng không dám hỏi, cố giữ vẻ tự nhiên, nghĩ rằng có một tục lệ chi đó. Sau khi họ nói chuyện xong, chúng tôi vào nhà sách, thầy Thiên Ân mới giảng cho tôi biết đó là Ngày Mẹ, theo tục Tây phương. Nếu anh còn mẹ, anh sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo, và anh sẽ tự hào được còn mẹ. Còn nếu anh mất mẹ, anh sẽ được cài trên áo một bông hoa trắng...

Thay vì dùng hoa Cẩm Chướng như ở Nhật, thầy dùng hoa hồng để thích hợp với sở thích của người Việt. Từ đó, hoa hồng hai màu trắng đỏ, màu trắng biểu tượng mất mẹ mất cha và màu đỏ còn cha còn mẹ. Biểu tượng đó gợi nhớ ân sanh thành dưỡng dục của hai đấng cao sơn.

Lễ cài hoa chỉ là một phần của lễ báo hiếu. Báo hiếu xuất phát từ nguồn gốc của Phật giáo Bắc truyền với bản kinh ngắn -"Phật thuyết kinh Vu Lan Bồn" do ngài Trúc Pháp Hộ dịch từ sanscrit sang Hán vào đời Tây Tấn (750-801 sau công nguyên). Chữ Vu Lan phiên âm từ chữ Ullambana, nghĩa chữ Hán là giải đảo huyền, có nghĩa "cứu nạn treo ngược". Theo sự tích Thánh Tăng Mục Kiền Liên đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ, qua sự hướng dẫn và giải thích của đức Thế Tôn. Vu Lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ (và tổ tiên nói chung) .
 
Kinh Thi có câu: “Phụ hề sinh ngã. Mẫu hề cúc ngã. Ai ai phụ mẫu, Sinh ngã cù lao. Dục báo thâm ân, hiếu thiên vãn cực”. (Cha sinh ra ta. Mẹ nuôi nấng ta. Thương Cha Mẹ lắm, vì sinh ta nhọc nhằn. Đến khi muốn báo đáp ân sâu, thì than ôi, trời cao không cùng!).
Phật dạy: “Này các Tỳ Kheo, có hai hạng người, ta nói là không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Đó là Mẹ và Cha. Nếu một bên vai cõng Mẹ, một bên vai cõng Cha, làm như vậy suốt một trăm năm, cho đến khi Cha Mẹ trăm tuổi. Như vậy, này các Tỳ Kheo, cũng chưa làm đủ để trả ơn cho Mẹ và Cha. Nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội và dù tại đấy, Mẹ Cha có vãi đại tiện, tiểu tiện, dù như vậy, này các Tỳ Kheo, cũng chưa làm đủ để trả ơn Mẹ và Cha...” (Kinh Tăng Chi I-75)
Phật dạy trong Kinh Nhẫn Nhục: “Cùng tột điều thiện không gì hơn hiếu, cùng tột điều ác không gì hơn bất  hiếu”.

Phật dạy: “Những gia đình nào, này các Tỳ Kheo, trong ấy các con cái kính lễ Mẹ Cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận ngang bằng với Phạm Thiên. Những gia đình nào, này các Tỳ Kheo, trong ấy các con cái kính lễ Mẹ Cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận như các đạo sư thời xưa. Những gia đình nào, này các Tỳ Kheo, trong ấy các con cái kính lễ Mẹ Cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận là đáng được cúng dường”.

Phạm Thiên, này các Tỳ Kheo, là đồng nghĩa với Mẹ Cha. Các đạo sư thời xưa, này các Tỳ Kheo, là đồng nghĩa với Mẹ Cha. Đáng được cúng dường, này các Tỳ Kheo, là đồng nghĩa với Mẹ Cha. Vì cớ sao? Giúp đỡ rất nhiều, này các Tỳ Kheo, là Mẹ Cha đối với con cái, nuôi chúng lớn, dưỡng dục chúng, giới thiệu chúng vào đời” (Phật thuyết như vậy, Cat, 7 - 503)

Hiếu và báo hiếu rất quan trọng với người con Phật cũng như truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc. Trước khi có tập quán báo ân nhân mùa Vu Lan, người dân vẫn biết cung phụng hầu hạ cha mẹ lúc về già. Con cái có dịp phụng dưỡng để báo hiếu mẹ cha trong xã hội ta. Các nước tiên tiến, cha mẹ già phải sống cô độc, cô đơn trong viện dưỡng lão. Con có hiếu lắm, cũng chỉ đáo lai thăm viếng vào cuối tuần, nhưng đa phần bỏ mặc mẹ cha hẩm hiu với bốn vách tường giữa những lão ông lão bà đồng cảnh ngộ.
Thời gian qua, hình thức tri ân báo hiếu của người Phật tử chỉ thể hiện trong mùa Vu Lan, với sự chứng minh của chư Tăng-Ni, đọc bài ý nghĩa và ghi nhớ công lao cha mẹ, tặng món quà tượng trưng và quỳ trước mẹ cha, ôm hôn, rồi cài hoa. Tuy chỉ có thế, nhưng đủ tạo cảm động cho những ai có mặt. Năm nào cũng tái diễn như thế trở thành lối mòn nhàm chán, đưa đến biểu diễn hình thức hơn là tạo ý nghĩa thâm sâu thật sự của việc báo hiếu. Năm nay, với góp ý của một Phật tử, gia đình chị Nguyệt tại Nghệ An đã thực hiện một nghi cách báo hiếu thật sâu sắc và đậm nét thực tế tại gia. Người Phật tử khởi xướng có tên là Pháp Minh, đã thực hiện mỗi ngày khi phục dịch thân mẫu ngoài trăm tuổi, vệ sinh chăm sóc hàng ngày một cách nhiệt tình và thật lòng, không tỏ ra gớm ghiết ghê bẩn như hầu hết những ai chăm sóc người già; chẳng những thế, sau khi cụ bà được sạch sẽ, anh còn ôm hôn bà cụ, làm bà cảm động và nói: -"Con cực với mẹ quá, mẹ bẩn thỉu mà con phục vụ không ngại ngùng..." - có gì đâu mẹ, anh đáp- mẹ đâu có hôi dơ gì, cũng đâu cực bằng mẹ đã vì con chăm sóc con suốt thời kỳ thơ ấu. Con lo cho mẹ như thế chả thấm vào đâu". Bà cụ rơm rớm nước mắt, cười sung sướng càng làm nhăn nheo thêm những luống cày trên má.
Chị Nguyệt cùng chồng cũng tổ chức báo hiếu có sự tham dự của anh em bà con trong ngày 24/8 vừa qua. Cụ ông sau khi được vợ chồng chị Nguyệt chăm sóc tận tình, nói lời yêu thương và đọc lên những suy nghĩ về công ơn cha mẹ, vòng hoa quàng vào cổ. Ông cụ cũng cảm động và những ai chứng kiến đều phấn khởi, tình nguyện năm sau họ xin được đứng ra thực hiện. Một giỏ trái cây được gửi từ cao nguyên chúc mừng thân sinh của chị Nguyệt, ông cụ đã tiếp chuyện với Pháp Minh bằng tâm thái vui vẻ sung sướng và cảm động.
Theo anh Pháp Minh, ta phải thể hiện báo hiếu bằng hành động cụ thể chứ không phải trình diễn như những thủ tục bao năm qua mỗi lần Vu Lan về. Tại sao hàng ngày ta không thể hiện hiếu thảo mà phải đợi đến mùa Vu Lan? Ông cụ thân sinh của Pháp Minh cũng ngoài trăm tuổi vừa qua đời năm ngoái. Khi ông cụ còn tại tiền, tuy rất bận rộn việc nương rẫy, anh ta vẫn chăm sóc song thân một cách chu tất, nay còn mỗi cụ bà, anh còn tận tụy hơn để thể hiện đúng chức năng của người con Phật. Theo Pháp Minh, mỗi mùa Vu Lan, ta nên tổ chức tri ân, báo hiếu tại nhà với sự tham gia của con cháu, để cháu con noi gương. Đây là sáng kiến báo ân qua hình thức tổ chức tại gia, chúng ta cần nghiên cứu áp dụng để tăng thêm sự phong phú mùa báo hiếu của Phật giáo.

MINH MẪN

25/8/2015

Thứ Hai, ngày 24 tháng 8 năm 2015

THẾ NÀO GỌI LÀ NHÌN SÂU?


- (Trích từ tác phẩm: "Hơi thở nuôi dưỡng và trị liệu" - Thiền sư Thích Nhất Hạnh)

Hỏi: Kính thưa thầy, thế nào gọi là nhìn sâu? Có phải có công thức chăng? Xin Thầy dẫn chứng cho chúng con biết một vài phương cách nhìn sâu, ví dụ như đối với cơn giận, niềm đau và lòng thiếu kiên nhẫn. Sau khi đã thực tập nhận diện, ôm ấp và làm lắng dịu những tâm hành ấy, chúng con phải thực tập như thế nào với những bước kế tiếp?
Thầy: Nhìn sâu là động từ tôi thường sử dụng trong quá trình tu tập và giảng dạy. Chúng ta không phải chỉ thực tập nhìn sâu bằng mắt mà còn thực tập nhìn sâu bằng tai nữa. Sử dụng tai để lắng nghe, gọi là lắng nghe sâu. Nhìn sâu sẽ đưa tới cái thấy sâu, gọi là tuệ giác, tức là sự hiểu biết lớn; lắng nghe sâu sẽ giúp cho cái thấy của ta sâu hơn, phù hợp với thực tại. Chúng ta người nào cũng có hai con mắt và hai lỗ tai, nhưng nếu không có ánh sáng của chánh niệm soi chiếu vào thì không thể thực tập nhìn sâu và lắng nghe sâu được. Ví dụ, muốn nhìn sâu vào bản chất của hơi thở vào, ta không cần sử dụng đến nhãn căn và nhĩ căn, ánh sáng chánh niệm trong vùng ý thức (thức thứ sáu) của ta sẽ làm công việc ấy. Nhìn sâu nghĩa là có mặt đích thực và ý thức sâu sắc với đối tượng ấy, tâm ý ta không bị tán loạn, an trú vững vàng và trở thành một với đối tượng; trạng thái đó gọi là Định. Có khi ta sử dụng mắt, có khi ta sử dụng tai, có khi ta sử dụng tâm thức của ta để nhìn sâu. Thế nhưng Niệm và Định là hai nguồn năng lượng mà ta phải thường xuyên sử dụng để làm nền tảng cho sự thực tập nhìn sâu. Không có Niệm và Định, ta không thể có mặt lâu bền với đối tượng quán chiếu được.
Đôi khi ta cũng có thể vận dụng sự suy tư của ta. Tuy nhiên suy tư có hai loại: Tầm (vitarka) và Từ (vichara). Trong nhiều trường hợp, suy tư có thể dẫn đến sự lầm lạc, ảo giác và dễ bị đánh mất mình. Nhưng thỉnh thoảng, nếu ta biết điều phục những dòng suy tư của ta một cách khéo léo, thì suy tư có thể giúp ta thấy sâu và rõ hơn. Đức Thế Tôn dạy rất rõ về phép thực tập nhìn sâu. Ngài nói rằng ta phải tập nhìn để tiếp xúc cho được với bản chất Vô thường về đối tượng đang được quán chiếu. Chúng ta học giáo lý Vô thường không phải để đem ra bàn luận hoặc nói suông: “Cái này vô thường. Cái kia vô thường. Đời là Vô thường cho nên khổ...” mà phải thật sự tiếp xúc với bản chất Vô thường của mọi sự mọi vật. Chúng ta có thể sử dụng trí năng để nói rằng: ''Tôi biết bông hoa này Vô thường'', nhưng đó có thể chỉ là trên bề mặt ý thứ thôi. Chúng ta phải chạm cho được thực tại của Vô thường trong chiều sâu của nó để vượt thắng ý niệm về Vô thường. Ý niệm về Vô thường không phải là thực tại của Vô thường.
Nếu ta thật sự tiếp xúc được với bản chất của Vô thường, ta cũng đồng thời tiếp xúc được với bản chất của Vô ngã, Tương tức và Niết bàn. Vô thường, Vô ngã và Niết bàn là ba cánh cửa giải thoát - Tam Giải Thoát Môn; có khi gọi là Tam Pháp Ấn. Phần đông chúng ta đã có một ít kinh nghiệm qua sự học hỏi từ kinh sách về giáo lý Vô thường, Vô ngã và Niết bàn rồi tự cho là mình đã hiểu, đã nắm bắt được thực tại. Coi chừng! Có thể mình đang tự đánh lừa mình đấy. Khi đọc lại những lời kinh và quán chiếu lại, ta thấy rằng thực ra mình chưa hiểu, chưa thực nghiệm chút xíu gì về thực tại Vô thường cả.
Khi nhìn vào bông hoa này, ta có thể thấy ngay được bông hoa này là Vô thường. Ta chấp nhận sự Vô thường của bông hoa. Nhưng khi va chạm với đời sống thực tế, nhất là đối với bản thân ta, thì hình như cái thấy ấy không dính líu gì đến ta cả; lý do là vì ta chưa thật sự trực nhận, chưa thật sự sống một cách sâu sắc với thực tại của vô thường, ta chỉ thấy một cách hời hợt trên bề mặt của trí năng mà thôi. Nếu sống sâu sắc với thực tại của vô thường, ta sẽ tiếp xúc được với thực tại của vô ngã và của Tương tức - thế giới không sinh không diệt của mọi sự mọi vật. Nếu ta thật sự tiếp xúc được với bản chất không sinh không diệt của mọi sự mọi vật, thì tất cả các phiền não, sầu đau, sợ hãi sẽ tan biến hết. Chừng nào nỗi u sầu, sợ hãi, ghen tỵ và thèm khát còn có mặt, thì ta biết rằng ta chưa thật sự tiếp xúc sâu sắc với thực tại Vô thường, Vô ngã và Tương tức của mọi sự mọi vật.
Phép thở thứ mười bốn của kinh Quán Niệm Hơi Thở giúp ta nhìn sâu vào đối tượng của sự tham đắm, thèm khát của ta và nếu nhìn cho thật thấu đáo, ta sẽ giác ngộ rằng những thứ ấy không phải là đối tượng của chân hạnh phúc. Ta có cái ảo tưởng về hạnh phúc và ảo tưởng ấy thường đem lại cho ta rất nhiều khổ đau. Nếu thật sự hiểu được bản chất của đối tượng ấy không phải là đối tượng đích thực của ước muốn sâu kín của ta, ta sẽ buông bỏ và đạt tới tự do lớn. Những đối tượng mà ta đang chạy theo, đang tìm cầu có thể chỉ là sự thèm khát về danh, lợi, quyền hành và sắc dục. Nếu nhìn thật kỹ vào bản chất của năm dục ta sẽ thấy được tính chất tàn phá và nguy hại của chúng; nếu sa lầy vào chúng ta sẽ đau khổ cực kỳ. Năm dục là cạm bẫy. Nếu vì tri giác sai lầm, ta tiếp tục bám chặt vào cái ước muốn, bám sát vào sự thèm khát của ta, tin rằng những thứ này sẽ đem lại cho ta chân hạnh phúc thì ta sẽ khổ và sẽ làm cho những người thương của ta khổ theo. Hạnh phúc chân thật không thể có được nếu ta không thấy rõ được bản chất đích thực của đối tượng thèm khát, ước muốn của ta. Bản chất đích thực của thực tại chỉ có thể đạt được bằng sự thực tập nhìn sâu - quán chiếu.
Khi đức Thế Tôn dạy về giáo lý Vô thường, Vô ngã, Không, Tương tức, không sinh không diệt v.v… và gợi ý cho ta thấy bản chất của những giáo lý này không phải là những đối tượng của sự tìm cầu, không phải là những đối tượng của sự nắm bắt và bám víu, tức là Ngài đang giúp ta nhìn sâu. Nếu quý vị nhìn vào những đặc tính này của thực tại - Vô thường, Vô ngã, Không, Tương tức, không sinh không diệt - không phải như là những đối tượng của sự tìm cầu, thèm khát, nắm bắt để đàm luận, quý vị mới thật sự được tự do, giải thoát. Có khi vận dụng sự suy tư nhưng có khi quý vị chỉ cần ôm ấp đối tượng của sự quán chiếu. Có rất nhiều cách để thực tập nhìn sâu, nhưng mục đích của ta là để chứng nghiệm thực tại, thâm nhập vào sự sống và trở thành một với sự sống. Đây là điểm then chốt của sự thực tập nhìn sâu, gọi là thiền quán, tiếng Phạn là vipashyana. Muốn thực tập thành công, quý vị phải tinh tấn vun trồng năng lượng của Niệm và Định, vì hai nguồn năng lượng này sẽ giúp quý vị thể nhập sâu sắc vào lòng sự vật và đạt được tuệ giác Vô thường, Vô ngã và Tương tức, an trú được vào cảnh giới của Niết Bàn tịch tĩnh. Niết Bàn là sự vắng lặng của tất cả các khái niệm.

Chủ Nhật, ngày 23 tháng 8 năm 2015

GOOD MORNING VIET NAM 2015


Chợ                                   sớm Huỳnh Nam Đông - Thể loại: Phong                                   cảnh Một phụ nữ quang gánh đến chợ cá                                   buổi sớm ở biển Thọ Quang TP Đà Nẵng
 Bảng                                   lảng khói chiều giăng Nguyễn Lương                                   Sáng - Thể loại: Phong cảnh Không gian                                   đồng quê sau vụ gặt nồng lên mùi thơm                                   của rơm rạ và những làn khói như mây                                   bay khắp cánh đồng.
Quê                                   ngoại Thành Vương - Thể loại: Phong                                   cảnh Một cách dự trữ thức ăn cho trâu                                   bò của người dân quê tôi, Đức Trạch,                                   Bố Trạch, Quảng Bình.
Những                                   Hình Ảnh Đẹp Thiên Nhiên Của Quê Hương                                   Việt Nam
Những                                   Hình Ảnh Đẹp Thiên Nhiên Của Quê Hương                                   Việt Nam
Những                                   Hình Ảnh Đẹp Thiên Nhiên Của Quê Hương                                   Việt Nam
                                   S-Việt Nam Ngô Quang Huy - Thể loại:                                   Phong cảnh Con đường qua Loóng Luông                                   thuộc huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La uốn                                   lượn như hình hài Tổ quốc!
Những                                   Hình Ảnh Đẹp Thiên Nhiên Của Quê Hương                                   Việt Nam
Thác                                   Draynur xuân về Hoàng Mạnh Tuấn - Thể                                   loại: Phong cảnh Vẻ đẹp hùng vĩ, mượt                                   mà của dòng thác Draynur, Daklak.
Những                                   Hình Ảnh Đẹp Thiên Nhiên Của Quê Hương                                   Việt Nam
Thế                                   giới quanh ta
Những                                   Hình Ảnh Đẹp Thiên Nhiên Của Quê Hương                                   Việt Nam
Sáng                                   sớm ở thung lũng Lìm Mông Vương Liên                                   Dương - Thể loại: Khoảnh khắc cuộc                                   sống Ảnh chụp tại thung lũng Lìm Mông                                   dưới chân đèo Khau Phạ lúc sáng sớm.                                   Cây cầu tre trong ảnh giờ không còn                                   nữa, thay vào đó là một cây cầu bê                                   tông vững chãi.
Những Hình Ảnh Đẹp Thiên                                   Nhiên Của Quê Hương Việt Nam
Những                                   Hình Ảnh Đẹp Thiên Nhiên Của Quê Hương                                   Việt Nam
Những                                   Hình Ảnh Đẹp Thiên Nhiên Của Quê Hương                                   Việt Nam
Những                                   Hình Ảnh Đẹp Thiên Nhiên Của Quê Hương                                   Việt Nam
Những                                   Hình Ảnh Đẹp Thiên Nhiên Của Quê Hương                                   Việt Nam
Đẹp quá
 Quê tôi!!
 
 

GẶP BẬC CHÂN TU ĐÃ SỐNG QUA NHIỀU KIẾP:


Matthieu Ricard


(PGVN) 

Chân tu Matthieu Ricard đã sống qua nhiều kiếp. Những năm 60, ngộ đạo bởi những cảm nhận sâu sắc tự thân, ông tới sống ở Darjeeling, Ấn Độ, nơi ông bắt đầu học giáo lý Phật giáo Tây Tạng và trở thành một vị chân tu uyên bác.

Sau khi rời Ấn Độ năm 1972, Ricard sống nhiều năm trời trong sự tĩnh lặng ở những rặng núi Himalaya. Thời kỳ ẩn dật kết thúc khi ông cho ra mắt cuốn The Monk and the Philosopher: A Father and Son Discuss the Meaning of Live (Sư thầy và nhà triết học: Một người cha và một người con trao đổi về ý nghĩa sự sống), một cuốn sách ghi lại hàng loạt cuộc đối thoại với cha ông, nhà triết học Jean-Francois Revel.
Những cuộc đối thoại cha-con đó đã trở thành bước đầu trong nhiều cuộc đối thoại đông-tây khác định nghĩa cuộc đời kỳ lạ của Ricard. Vị tăng lữ và nhà hoạt động nhân đạo rất được yêu mến này tiếp tục là cầu nối giữa nhiều thế giới: tâm linh và khoa học, phương đông và phương tây, những niềm tin cổ xưa và thời hiện đại.

chân tu Matthieu Ricard
Matthieu Ricard. (Ảnh: Matthieuricard.com)

Ông đã phát biểu ở cả Dharamsala, nơi Đạt Lai Lạt Ma đang sống, và Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) tại Davos, Thụy Sĩ. Ông đã làm việc với hàng loạt nhà lãnh đạo lớn, từ Đạt Lai Lạt Ma tới Tổng giám đốc LinkedIn Jeff Weiner và nhà thần kinh học Richard Davidson; và đã kết nối hàng triệu người thông qua ứng dụng diễn đàn trực tuyến TED Talks, nhưng vẫn sống đời trầm mặc ở quê nhà Nepal.

Cuốn sách mới nhất của ông, “Altruism: The Power of Compassion to Change Yourself and the World” (Chủ nghĩa vị tha: Sức mạnh của cảm xúc để thay đổi bản thân bạn và thế giới), dày 600 trang với hơn 1.600 ghi chú khoa học. Đó là một hành trình nỗ lực tổng hợp các tri thứ khoa học, tôn giáo và lịch sử để khám phá bản chất của cảm xúc. Với Ricard, khám phá chủ nghĩa vị tha là một bước tự nhiên sau cuốn sách trước đó của ông về hạnh phúc.

“Đó là một hiệu ứng tự nhiên: Bạn cởi mở và tử tế với những người khác, và ngay cả không chú tâm, bạn sẽ thấy mình hạnh phúc, Ricard nói với The Huffington Post trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại từ quê mẹ ở Pháp. “Nếu bạn bị ám ảnh về bản thân, ngay cả khi bạn cố gắng hạnh phúc, bạn cũng đã quay lưng lại với hạnh phúc và khiến mình thật đáng thương”.

Ricard cho rằng chủ nghĩa vị tha đã được lập trình sẵn trong trí não con người và ông nói việc kích hoạt điều đó sẽ là câu trả lời cho những thách thức lớn nhất với thế giới ngày nay. Cuốn sách nói khơi dậy lòng vị tha ở mức độ ca nhân và xã hội là cách duy nhất để bắt cầu nối cho “cuộc đối thoại tinh thần” giữa những nhu cầu ngay lập tức của xã hội và các lợi ích của nó trong dài hạn. Chúng ta đã sai, theo Ricard, khi hy sinh những lợi ích cho các thế hệ tương lai và môi trường để thỏa mãn các nhu cầu hiện tại của chúng ta.

Hành động với lòng vị tha là cách duy nhất để giải quyết các nhu cầu ngắn, trung và dài hạn của xã hội, Ricard nói. “Ý niệm đơn giản quan tâm nhiều hơn tới người khác có thể tích hợp cùng lúc các nhu cầu trong ba khoảng thời gian đó”, ông nói.

Trong một nền văn hóa nhấn mạnh vào cá nhân và sự cạnh tranh, thật dễ nói chủ nghĩa vị tha là điều không tưởng. Nhưng Ricard lập luận rằng khả năng quan tâm tới người khác rất có thể chính là điều giúp loài người vẫn đang tồn tại và phát triển.

chân tu Matthieu Ricard
Ricard cho rằng con người tồn tại và phát triển được nhờ luôn quan tâm đến nhau. (Ảnh: YouTube)

Vị tha như một lợi thế trong tiến hóa

Lâu nay, các nhà khoa học và những triết gia vẫn tranh luận về bản chất của con người, đó là lòng vị tha, cái thiện, hay sự ích kỷ, cái ác. Các học giả thường khó tìm được chỗ đứng cho lòng vị tha trước ưu thế của sinh học tiến hóa Darwin, ý tưởng về việc những cá nhân cạnh tranh với nhau giành giật những nguồn lực khan hiếm để sinh tồn, và chỉ những giống loài khỏe mạnh và thích nghi tốt nhất mới có thể tồn tại và phát triển, với cái giá là sự diệt vong của những giống loài khác.

Nhưng câu chuyện không đơn giản như thế. “Những người vị tha về mặt logic tiến hóa lẽ ra sẽ mãi là những kẻ thua cuộc trong cuộc chiến ở cuộc đời này. Tuy nhiên, điều đó không hề đúng”, Ricard viết, nhắc nhở rằng trong một thời kỳ lịch sử rất dài sống như những cộng đồng săn bắt-hái lượm, chính khả năng hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau mới là điều giúp con người sinh tồn và phát triển, chứ không phải kỹ năng nổi trội của vài cá nhân.

Ông chỉ ra hàng loạt bằng chứng khoa học, bao gồm công trình nhiều ảnh hưởng của nhà sinh học tiến hóa ở Đại học Harvard, Robert Trivers, cho thấy sự hỗ trợ lẫn nhau có ý nghĩa sống còn với mọi giống loài, và những giống loài biết giúp nhau thay vì đánh nhau rốt cuộc sẽ là những kẻ chiến thắng trong quá trình tiến hóa.

Dù các học giả sẽ còn tranh cãi về việc bản chất con người là vị kỷ hay vị tha, các nghiên cứu hiện đại cho thấy khuynh hướng biết quan tâm tới người khác quả là một trong những bản chất của con người.

chân tu Matthieu Ricard
Ricard nhận định con người có bản chất hướng thiện, vị tha. (Ảnh: True Activist)

Một nghiên cứu với não người vào năm 2007 của các nhà thần kinh học ở Viện y tế quốc gia Mỹ đã hỏi những tình nguyện viên về một kịch bản hoặc họ có thể cho tiền đi vì mục đích từ thiện, hoặc giữ lại cho bản thân mình. Các nhà nghiên cứu rất ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng việc tưởng tượng cho tiền đi đã làm kích hoạt một vùng trong não vốn chỉ sáng khi được cho ăn hay quan hệ tình dục, bằng chứng cho thấy lòng vị tha có thể mang tới hạnh phúc. 

Cảm xúc trên vỏ não 

Nhưng ngay cả nếu lòng vị tha là bản chất tự nhiên của con người, không dễ để chúng ta bộc lộ điều đó trong đời sống hàng ngày. Dẫu vậy, các nhà khoa học đã chứng minh rằng thông qua việc huấn luyện não có hệ thống, chúng ta có thể làm tăng sự cảm thông và lòng trắc ẩn, qua đó làm tăng hạnh phúc và sự mạnh khỏe về tinh thần. 

Ricard thường hay cười khi ông được gọi bằng biệt danh mà ông có được vài năm trước trong một nghiên cứu thần kinh: “người hạnh phúc nhất thế giới”. Khi nhà thần kinh học của Đại học Wisconsin Richard Davidson gắn các cảm biến điện vào não Ricard lúc ông ngồi thiền, Davidson đã ghi nhận được các sóng gamma “chưa bao giờ có trong khoa học thần kinh”. Có vẻ như nhiều thập kỷ ngồi thiền đã giúp Ricard xây dựng được lòng trắc ẩn một cách vững chắc và làm thay đổi bộ não của ông. 

Việc ngồi thiền và tĩnh tâm có thể làm thay đổi hoạt động của não bộ giờ đã là điều được biết tới rộng rãi, với ngày càng nhiều các nghiên cứu khẳng định điều đó. Được coi là biện pháp hữu ích để đạt tới Niết bàn, một trạng thái hạnh phúc tuyệt đối trong Phật giáo, suốt 2.500 năm qua, giờ việc tĩnh tâm mới bắt đầu được chiếu rọi ánh sáng khoa học.

chân tu Matthieu Ricard
Ricard có lòng trắc ẩn nhờ thiền định và tĩnh tâm. (Ảnh: Thanyapura)

Trong một nghiên cứu năm 2008 của nhà tâm lý học Barbara Frederickson, 140 người trưởng thành khỏe mạnh chưa có kinh nghiệm với việc ngồi thiền được dạy cho cách ngồi thiền tĩnh tâm và yêu cầu tập 20 phút mỗi ngày trong 7 tuần lễ. So với một nhóm người lớn tương ứng khác không ngồi thiền, những người tập thiền nói họ cảm thấy yêu thương, chân thành và nhiều niềm vui hơn trong cuộc sống. Họ cũng cải thiện được sức khỏe thể chất, bao gồm thần kinh cảm xúc, nhịp tim và thần kinh vận động. 

Ở Đại học Stanford, nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu và giáo dục lòng vị tha và trắc ẩn (CCARE) cho thấy việc huấn luyện lòng vị tha và sự cảm thông, bao gồm ngồi thiền, đã giúp tăng sự quan tâm tới người khác lẫn sức khỏe thể chất của những người tham gia. “Kết nối một cách có ý nghĩa với những người khác giúp chúng ta đạt được sức khỏe thể chất và tinh thần tốt hơn và tăng quá trình hồi phục từ các bệnh tật”, Emma Seppala, một nhà tâm lý học ở Đại học Stanford và là giá đốc khoa học của CCARE, nói. “Nó thậm chí còn giúp chúng ta sống lâu hơn”. 

Dẫn những nghiên cứu với hình ảnh vỏ não mới đây, bà Seppala nói: “Lý do khiến một cuộc sống nhiều vị tha dẫn tới một tâm lý lành mạnh hơn có thể là bởi việc cho đi cũng mang về niềm vui không kém, nếu không muốn nói là nhiều hơn, việc nhận được”. Dựa trên các nghiên cứu hiện đại và triết học Phật giáo, Ricard coi lòng vị tha là liều thuốc thần cho những người không thấy hạnh phúc. 

Như nhà sư Phật giáo thế kỷ thứ 8 Shantideva (Tịch Thiên) từng nói, mọi khổ ải là từ mong muốn cho bản thân được hạnh phúc, còn mọi hạnh phúc là từ mong muốn cho người khác được hạnh phúc. Quả thật, các nhà khoa học đã chứng minh rằng việc nghĩ quá nhiều cho chính mình là nguồn gốc của rất nhiều chứng bệnh thần kinh và lối sống tiêu cực.

chân tu Matthieu Ricard
Đạt Lai Lạt Ma cũng như Ricard, luôn giúp mọi người sống hướng thiện. (Ảnh: Wikalendar)

Ricard nói sự vị kỷ cũng là gốc rễ của nhiều vấn đề xã hội. “Sự vị kỷ là trung tâm của hầu hết các vấn đề mà chúng ta đang phải đối mặt: khoảng cách giàu-nghèo, thái độ mọi người vì chính mình đang ngày càng gia tăng, và sự thờ ơ với cuộc sống của nhiều thế hệ sắp tới”, ông viết. Bằng cách nuôi dưỡng lòng vị tha, chúng ta có thể cải thiện cuộc sống của mình, trung hòa với con người và môi trường mình đang sống. “Nếu chúng ta quan tâm tới những người khác, và tới thế hệ tương lai, chúng ta sẽ không hủy hoại hành tinh này”, Ricard nói. 

Cuộc cách mạng lòng vị tha 

Trong khi thiền định là bước khởi đầu tốt để nuôi dưỡng lòng trắc ẩn với cả cá nhân và xã hội, Ricard nói đó không phải là mục tiêu cuối cùng. “Thiền định giúp bạn có sức mạnh và sự tự tin nội tâm, và nếu bạn không cảm thấy vững vàng, bạn sẽ sẵn sàng hy sinh hơn”, ông nói. “Nhưng mọi chuyện không chỉ là ngồi đó và chăm lo cho tinh thần, bạn phải xây dựng một con đường để cho đi và phục vụ”. 

Ricard là một ví dụ, ông không chỉ ngồi thiền. Trong 15 năm qua, quỹ từ thiện của ông, Karuna Shechen, đã xây trường học và bệnh viện khắp Ấn Độ, Nepal và Tây Tạng. Riêng ở Himalaya, tổ chức của Ricard đang quản lý hơn 140 dự án từ thiện, và gần đây nhất là những nỗ lực giảm nhẹ đau khổ cho hàng nghìn nạn nhân động đất ở Nepal. Từ chỗ là một tổ chức nhỏ, ngày nay Karuna Shechen đang hỗ trợ theo nhiều cách cho 220.000 người ở 550 ngôi làng ở Nepal.

chân tu Matthieu Ricard
Ricard luôn tin tưởng vào lòng vị tha ở con người. (Ảnh: YouTube)

Bất chấp những thách thức lớn với thế giới ngày nay, Ricard vẫn lạc quan về ảnh hưởng của “cuộc cách mạng lòng vị tha”. Khi nghiên cứu để viết cuốn sách của mình, Ricard nói ông nhận thấy một sự thay đổi lớn về thái độ. “Tôi đã nhận thấy sự thay đổi này ở mọi lĩnh vực mà tôi nghiên cứu, từ tâm lý học tới kinh tế học”, Ricard nói. 

“Chúng ta có thể thấy những lĩnh vực mới cực kỳ năng động trong kinh tế, như huy động vốn của đám đông (crowdfunding), đầu tư tạo ảnh hưởng (impact investment), nông trại có trách nhiệm với xã hội và môi trường, ngân hàng hợp tác, tín dụng vi mô, doanh nghiệp xã hội… Sách vở về sự cảm thông và lòng trắc ẩn cũng ngày càng nhiều. Bức tranh chung của xã hội được vẽ theo hướng đó”. 

Mỗi ngày đang ngày càng nhiều người đóng góp phần nhỏ bé của họ để tạo ra sự khác biệt cho cộng đồng của mình, Ricard nói. “Ai cũng có thể làm được”, ông nói. “Không cứ phải là Sudan hay ở Himalaya, bạn có thể bắt đầu từ chính trong khu phố nhà mình”. 

Chiêu Văn (Theo Huffington Post)

Thứ Bảy, ngày 22 tháng 8 năm 2015

* TÂY THIÊN NHẤT TRỤ

Chùa Một Cột trở thành biểu tượng văn hóa của Việt Nam, do vua Lý Thái Tông xây dựng năm Kỷ Sửu 1049, đi vào lịch sử và trải qua nhiều biến thiên của dân tộc. Có lúc, tưởng chừng biểu tượng đó bị xóa vết sau khi bị đặt mìn giật sập bởi toán lính của linh mục Lê Hữu Từ và Hoàng Quỳnh vào ngày 10 tháng 9 năm 1954; (Nguyễn Mạnh Quang-sách hiếm), trước khi Pháp rút khỏi miền Bắc vào năm 1954.Sau đó, được sửa chữa lại năm 1955 do kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng đảm nhiệm.

Một biểu tượng tưởng chừng vĩ đại đã được lưu danh trong văn học sử, và cũng là một trong những biểu tượng của thủ đô  Nội, nhưng sau khi đất nước thống nhất, người dân miền Nam có dịp thăm viếng, ngỡ ngàng đứng trước một hình ảnh tiều tụy, mất sức sống của một "ngôi miếu" từng hội tụ hồn thiêng sông núi. Hình ảnh "thất thời" khép nép đứng cạnh những kiến trúc đồ sộ đương đại chuẩn bị chìm vào lãng quên. Thậm chí, đã từng được báo chí kêu cứu khi "báu vật" đó không đủ tự mình vững chải với thời tiết. Các bảo tượng phải đội nón dưới những trận mưa dầm hoặc được che nilon trong những mùa rét đậm. Người ta đua nhau xây dựng cơ sở vật chất thời đại, quan tâm đến những phù phiếm trong cuộc sống, bỏ mặc những giá trị văn hóa tâm linh, mà từ đó, dân tộc được nuôi dưỡng và hiên ngang trước những cuộc xâm lăng từ phương Bắc. Hiện chùa được ĐĐ Thích Tâm Kiên tọa chủ bảo trì.

Sau cuộc di cư vĩ đại lúc đất nước chia đôi, hình ảnh chùa Một Cột lại được tái hiện tại trời Nam ở Thủ Đức, như là điểm tựa tình cảm và tâm linh cho đồng bào miền Bắc vào Nam lập nghiệp. Năm 1958 Nam Thiên Nhất Trụ - chùa Một Cột được khai sơn ngày 8 tháng 4 bởi Hòa thượng Thích Trí Dũng và một đệ tử tục danh Đỗ Thị Vinh (pháp danh Đức Hiển nay đã xuất gia đầu Phật) đã yểm trợ tạo lập. Người khởi công trên vùng đất còn hoang sơ lúc bấy giờ tại Thủ Đức, phục dựng nguyên mẫu trở thành biểu tượng trời Nam một cõi để cân bằng biểu tượng văn hóa tâm linh cho hai miền.

Rồi sau khi nước nhà hòa bình, Bắc-Nam kết nối, một lần nữa, đất nước có thêm một biểu tượng "Sen nở đất Việt" tại miền Tây Nam bộ, trên vùng đất thật đặc biệt, đặc biệt hơn cả Củ Chi "Thành đồng đất thép", đó là Ấp Bắc, một địa danh đi vào chiến sử mở màng cho cuộc chiến trường kỳ 30 năm. Phải nói là không quá khi xem Ấp Bắc tại Tiền Giang - vùng đồng bằng Miền Tây Nam bộ trở thành nơi oanh tạc trắng suốt cuộc chiến máu lửa tương tàn. Đặc biệt nơi đây, không có một biểu tượng hay hiện diện của một tín ngưỡng, tôn giáo nào; dân quê chân đất sống với ruộng lúa, vui với hoa màu, quanh năm gửi gấm niềm tin với gió sương suốt thời chiến chinh.

Ngược lại thập niên 1930 của thế kỷ XX trở về trước, theo danh bạ của thời đệ nhất và đệ nhị Cộng Hòa miền Nam Việt Nam, chùa Linh Quang tọa lạc trên vùng Ấp Bắc đã có tên mà không có mặt, ngôi chùa quê nghèo nàn đơn điệu giữa bạt ngàn sông nước, đã bị xóa sổ hoàn toàn vào tháng 4 năm 1967 dưới trận mưa đạn bom. Thầy trụ trì Thích Quang Cơ (Nguyễn văn Lơ, sinh 1904) mà người dân vẫn gọi là thầy Bảy Lơ cũng ra đi sau khi bị thương nặng. Và kể từ đó, những thế hệ sau nầy không ai còn biết nơi đây từng có một ngôi chùa.

Những năm trước đây, người viết có đề cập đến ngôi chùa "Một Cột" do một cán bộ thuế vụ tại TP HCM phát tâm thiết kế bằng gỗ quý, có đề nghị với BTS PG Tiền Giang để đặt tại hồ nước (mà người dân nơi đây gọi là giếng nước) ở Mỹ Tho, không được HT Huệ Minh trưởng BTS PG Tỉnh chấp nhận. Bẵng một thời gian, anh Nguyễn Trọng Hạnh, chủ nhân của ngôi chùa trên đây đọc được, thế là đích thân lặn lội trên 200 lần từ Nam ra Bắc, xin tái lập ngôi chùa Linh Quang từng có trong danh bạ tại Ấp Bắc. Với sự kiên trì và tín tâm, anh đã thành công trong mọi thủ tục, thế nhưng, đất chùa đã bị sử dụng cho trường học, phần còn lại do người dân canh tác, vì thế, anh Hạnh cùng một số thân hữu đóng góp để mua số đất còn lại 3.400m2, cách nền chùa cũ 100m.

Cái duyên và cái tâm luôn theo nhau, sau thời gian xa quê, trôi dạt xứ người, một lần hồi hương thăm viếng xóm làng, anh Hạnh hồi tưởng lại thuở ấu thời  từng lớn lên từ đất ruộng đồng xanh nơi đây, nhìn xóm làng mới mọc, nhìn trường học và thôn quê hồi sinh, anh chợt nhớ một vài di tích mà thuở bé anh từng nếm trải. Kìa, một đoạn tường cũ còn sót, nền gạch của hồ nước vẫn chưa mất dấu, và chiếc cầu có tên "cầu chùa" làm anh sực nhớ lại thời xa xưa từng tồn tại một ngôi chùa mà chỉ có những bô lão mới biết rõ. Anh tự hỏi:- Tại sao đi tứ xứ đóng góp cho khắp nơi mà quê mình lại bỏ quên?-  Anh nảy sinh tái lập ngôi chùa cho quê hương mình.

Ai cũng biết, việc xin tu bổ một cơ sở tôn giáo đang hiện có đã là khó, xin tái lập một ngôi Tam Bảo không còn dấu vết của thời gian thì không thể hy vọng, thế mà, với tâm nguyện và sự hộ trì của chư Thiên, anh đã thành công, bắt tay xây dựng trên mảnh đất sình lầy không chân, phải đổ 12.000 tấn đất bồi để san lấp mặt bằng, và sau đó, để vững chắc cho một nền móng ngôi chùa một cột không thể nói đến phí tổn. Riêng chiếc cổng tam quan nét cổ toàn gỗ cũng đã ngốn gần tỷ bạc. Đứng nhìn công trình tuy chưa hoàn thiện toàn bộ, nhưng anh cũng đã mãn nguyện góp tay cho quê hương nghèo có một biểu tượng tâm linh mà kiểu dáng, kích thước, vật liệu đều không thua ngôi chùa gốc tại Hà Nội. Anh ra tận Hà Nội lấy sơ đồ gốc, từng nét họa tiết, từng góc cạnh, chu vi, chiều cao kể cả màu sắc để tái hiện. Thế nhưng chùa Một Cột tại ấp Bắc có phần lộng lẫy hơn cả Nam Thiên Nhất trụ về chất liệu cổ truyền. Nét chùa Một Cột tại Linh Quang ấp Bắc nầy đẹp hơn vì có cả một bầu trời thoáng đảng trên ruộng đồng mênh mông làm hiển lộ nét kiến trúc linh hồn dân tộc, xứng ngang tầm với danh xưng "Tây Thiên Nhất Trụ".

Thế là ba miền đều có chùa Một Cột, hình ảnh nầy cũng đã xuất hiện tại thủ đô Moskva của Nga được xây lắp tại Tổ hợp Trung tâm Văn Hóa - Thương mại và Khách Sạn "Hà Nội - Matxcova", là công trình lớn nhất của người Việt Nam tại nước ngoài hiện nay. Không rõ các quốc gia đang có người Việt sinh cơ lập nghiệp, đã xuất hiện hình ảnh linh thiêng như thế chưa nhưng chắc chắn hình ảnh chùa Một Cột vẫn khắc sâu trong tâm khảm người Việt cũng như người Phật tử có mặt khắp nơi trên thế giới. Đó là một nét văn hóa đáng vinh hạnh của ông cha ta để lại cho cháu con tự hào trước cường quốc vô đạo mà hàng ngàn năm văn hiến của họ vẫn thấp hơn ngôi chùa Một Cột giản dị mà giàu hồn thiêng.

MINH MẪN

22/8/2015


* TÍNH TƯƠNG PHẢN

Nhị nguyên là tính tương phản đặc thù trong cuộc sống; cặp song hành trong mọi lĩnh vực: đẹp-xấu, thiện-ác, rộng -hẹp, đạo đức-giả dối, hữu thần-vô thần...
Khuynh hướng chung của các tôn giáo là lấy cái thiện để trừ cái bất thiện, khuynh hướng chung của các hệ phái tâm linh là giúp tâm thức ra khỏi cái uế trược ràng buộc lên giai tầng giải thoát; khuynh hướng chung của nghệ thuật là lấy cái hay cái đẹp, cái thẩm mỹ để san lấp cho cái dỡ, cái xấu, cái bất toàn. Khuynh hướng chung của việc giáo dục là kiến thức và đạo đức để nâng tầm văn hóa cho xã hội... Mặt tích cực là thế, nhưng song song của tích cực vẫn hiện diện cái tiêu cực, nói cách khác, trong tích cực đã ngầm chứa mầm mống của tiêu cực, nói theo Đạo học, trong Âm đã có Dương, trong Dương vẫn có Âm. Chính tính tương phản hỗ tương cho nhau mà cuộc sống khó cầu toàn, khó mà lấy cái nầy ra khỏi cái nọ, vì thế, chủ trương triệt tiêu đối phương để phát triển chính lý là việc tạo thêm sự rắc rối.
Thuyết Duy Vật từng nói: "Trong một hợp thể luôn có hai mặt mâu thuẫn đối lập lẫn nhau, giải quyết mâu thuẫn nầy thì mâu thuẫn khác phát sanh". Nói như thế không có nghĩa là không làm gì hết, cứ để tồn tại mọi bất toàn. Điều tất yếu là nâng cao cái đẹp, cái hay, cái tốt thì cái bất thiện cũng được nâng lên tương đương để khống chế lẫn nhau. Một vũ khí tối tân được ra đời thì liền sau đó có loại vũ khí khống chế sự tối tân đó, có nghĩa loại vũ khí khống chế cũng tối tân không thua loại vũ khí tối tân. Bệnh lạ thế kỷ xuất hiện thì sẽ xuất hiện dược phẩm khống chế bệnh lạ. Thông tin truyền thông toàn cầu giúp tối ưu hóa mọi giao lưu và hệ thống hóa mọi cơ cấu toàn cầu thì sau đó toàn cầu cũng gặp rắc rối về bảo mật thông tin.
Chiến tranh giải quyết một số mâu thuẫn, sau đó mâu thuẫn khác phát sanh ngầm chứa hạt giống chiến tranh. Bảo là chiến tranh để đem lại hòa bình chỉ là cách nói ngụy biện, vì sau khi chiến tranh kết thúc, trong hòa bình luôn nẩy mầm hạt giống đấu tranh đưa đến chiến tranh. Một quốc gia không có chiến tranh vì dân tộc đó không nuôi dưỡng hạt giống bạo lực. Một quốc gia nuôi dưỡng chiến tranh do giới lãnh đạo chủ trương, tuy chiến tranh không hoặc chưa xẩy ra cho chính quốc gia đó, nhờ phước lực của toàn dân hay nghiệp vận của đất nước còn tốt đẹp, dĩ nhiên trong mạch sống của quốc gia đó phải tồn tại một phước báu nhất định.
Theo nhận định của giới truyền thông, Mỹ là quốc gia làm từ thiện nhiều nhất, cũng là quốc gia phát triển nhất. Việc Mỹ đầu tư cho một số cuộc chiến để giải quyết một phần kinh tế và ổn định thế giới là điều tất yếu của một nước lãnh đạo. Song song đó, Mỹ vẫn thể hiện tính hỗ trợ nhân đạo không những với người dân trong nước mà còn với các quốc gia khác, muốn quốc gia minh ổn định và phát triển, phải phát triển ổn định cho các quốc gia trong tầm ảnh hưởng của mình. Ý thức như thế, Mỹ đã giúp các đồng minh phát triển kinh tế và ổn định chính trị, thỉnh thoảng vẫn xẩy ra thiên tai hoạn nạn là điều tất nhiên.
Lịch sử Trung Cộng, từ ngàn xưa từng là gồm nhiều tiểu quốc, từng thống nhất đại lục, từng bị phân hóa, dù thời kỳ nào, giới lãnh đạo vẫn nuôi dưỡng mộng bá quyền và tính thô bạo, không những đối với dân mình mà cả các quốc gia lân bang. Hiện nay, cái ác không những trong giới cầm quyền mà ngay cả người dân đang làm giàu trên những đau khổ của kẻ khác, vì thế bất an luôn rình rập, thiên tai, nạn tai luôn xẩy đến. Làm kinh tế hiện nay của những tầng lớp thiếu đạo đức thường gây tổn hại kẻ khác, tuy quả báo chưa đến nhưng nhân đã tạo thì khó mà tránh hậu hoạn. Xã hội Trung Cộng và một vài nước đang phát triển kinh tế thị trường vô luật pháp, gây xáo trộn nhân loại, ngay chính xã hội đó cũng đã bất an. Ngược lại, các nước phát triển có nền tảng đạo đức vững vàng, phát triển kinh tế trật tự theo quy luật tôn trọng lợi ích chung thì cuộc sống của người dân luôn  ổn định, mọi an toàn được bảo đảm lâu dài.
Xã hội ổn định, phát triển không chỉ về mặt kinh tế mà còn phải ổn định-phát triển về đạo đức và văn hóa song hành. Trong tôn giáo cũng thế, sở dĩ các tôn giáo kêu gọi bác ái từ bi là vì con người thiếu từ bi-bác ái với nhau, nghĩa là xưng tán từ bi-bác ái thì trong đó đã ngầm chứa cái không có bác ái-từ bi; việc kêu gọi là một lẽ, mà chính bản thân người kêu gọi cũng phải thuần từ. Kêu gọi bác ái-từ bi mà mình còn hiện diện tham lam si mê sân hận thì từ bi-bác ái đó chính là vô đạo đức thiếu tình thương, một khẩu hiệu che đậy tính tương phản đang tồn tại; vì vậy đã nẩy sinh đố kỵ lẫn nhau, chiến tranh tôn giáo phát sanh. Cũng thế, kêu gọi tín đồ bố thí mà mình không những không bố thí, lại bòn rút keo kiệt. Đó là tệ nạn hiện nay hầu hết  tu sĩ các tôn giáo đều vấp phải. Riêng Phật giáo trong nước,cơ sở vật chất phát triển, lượng số tu sĩ phát triển so với quá khứ, không vì thế mà Phật giáo được gọi là phát triển. Lượng hành giả chân tu chứng đắc quá ít, không đủ chế tác năng lượng thuần khiết trong sáng cho đạo Phật, vì vậy trường lực đen tối phát triển song hành theo sự phát triển mặt nổi, tệ nạn tràn lan.
Hóa giải tính tương phản của cuộc sống là việc khó nhưng để nâng cấp tính chất thiện cao hơn tính bất thiện thì có thể, với điều kiện nhân sự thực hiện phải có căn bản thiện nhiều hơn bất thiện. Nho gia có câu: "Cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu". Đã là tương đối trong một giai đoạn thì làm sao mà cửu? Vì vậy, chiến tranh để chuẩn bị hòa bình, hòa bình luôn cảnh giác với chiến tranh; không thể giải quyết một cách toàn triệt trong cuộc sống tương đối. Phật giáo cũng như các tôn giáo hiện hữu không tránh khỏi tính tương tác phản diện. Tuy nhiên, trên giai tầng tâm linh, Phật giáo có thể thoát khỏi sự khống chế của tính tương phản, do tự thân hành giả vượt khỏi tâm thức tương phản, đi đến rốt ráo mà thuật ngữ gọi là Ba La Mật. Tâm thức không tồn tại tính tương phản là đã vượt thoát sự chi phối  của luật tương đối. Để đạt đến trạng thái "vô quái ngại", hành giả phải có một công phu miên mật lâu dài. Trước khi hành giả vượt thoát được tính tương đối, phải thông qua sự tương đối.
Tâm linh là thế, nhưng xã hội không thể, nhất là đại bộ phận dân sinh còn mang nhiều nghiệp thức bất đồng, ô trược đầy dẫy, nợ máu chúng sanh chưa trả xong; Một số thành tâm tiến hóa thì cái tốt vượt trội cái xấu, vẫn chỉ là đạo đức thế gian và văn hóa nhân bản, dẫu sao, đó cũng là điểm son trong hằng sa điểm đen giữa cuộc sống tạp cư. Người Phật tử biết chấp nhận mọi tương phản vì cuộc sống là tương đối, không thể đòi hỏi tuyệt đối theo ý mình; biết chấp nhận và thích nghi thì an lạc sẽ có, luôn bất mãn vì không vừa lòng thì tự mình làm khổ mình, đã làm khổ mình thì ắt phải làm khổ người, đời sống và tâm niệm bấy giờ luôn chìm trong khổ đau bất mãn.
Cầu mong tính tương phản trong xã hội sẽ nhẹ bớt mức tiêu cực để tích cực được hiển lộ niềm tin và an lòng cho cuộc sống đầy nhiễu nhương hiện nay.

MINH MẪN

20/8/2015