Thứ Sáu, 14 tháng 4, 2017

TRẦM TƯ VỀ CÁCH SỐNG Ở ĐỜI

~ Như Nhiên Tánh Tuệ

 Đừng mất thì giờ phân định việc thị phi cho rành mạch đen trắng vì tất cả đều chỉ là tương đối trong tục đế mà thôi.
- Cái đúng với người này có thể sai với người khác,
- Cái phải ở chỗ kia có thể trái ở nơi nọ,
- Cái đang đúng lúc này không hẳn sẽ đúng mãi về sau...

- Hãy biết cho đi là nhận, là còn mãi....
- Hãy biết tha thứ cũng là tự giải thoát cho chính mình.
- Hãy biết mở rộng trái tim ra sẽ dễ chịu hơn là khép nó lại sau những tổn thương.
- Hãy biết rằng yêu thương không bao giờ là dư thừa cả...
- Sống chân thành với người khác, chính là biết đối xử tốt với bản thân trong mai hậu...

- Thảo mộc sinh ra mềm dịu, khi chết thì khô cứng.
- Người ta sinh ra thì yếu mềm, khi chết thì cứng lại,
Răng cứng lưỡi mềm, ấy thế mà răng rụng trước, lưỡi còn.
Cho nên cứng rắn, cáu giận là biểu hiện của cái chết.
Mềm dẻo, khiêm nhường là dấu hiệu của sự sống nhu nhuyến...
Ta hãy mềm dẻo thay đổi một chút về quan niệm sống để thăng hoa.

Namo Buddhaya

Ladakh- India- March 2017

Thứ Năm, 13 tháng 4, 2017

* ẢO GIÁC - HOANG TƯỞNG - NGÁO ĐÁ (4)


NGŨ ẤM MA
Trên đạo trình tu tập, bất cứ pháp môn nào, với mục đích giải thoát khỏi tam giới, hành giả luôn đối mặt với ma lực, lạc dẫn hành giả rơi vào hoang tưởng, tức trở thành công dân của ma đạo. Ngược lại, những tà pháp chuyên về thần thông, không có mục đích giải thoát, quá trình hành tập đều có sự hộ trì của tà Thần, ma quỷ, âm binh, vì vậy người tu luyện sớm thành đạt, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ phản phục nếu người luyện hết phước hoặc vi phạm vào giới cấm của môn phái đó. Người luyện phép nầy thường làm chuyện trái nhân quả, đem lại cái hại nhiều hơn cái lợi.
Tại sao có ngũ ấm ma? Hành giả thiền định, tâm lắng đọng, nghiệp thức bùng khởi, sắc - thọ - tưởng - hành - thức hiển thị trên tầng mức thăng hoa, hành giả bị lạc dẫn vào hoang tưởng chứng đắc. Gọi là ma, thực ra đó chỉ là trạng thức của hành giả, nhưng không thật và sai lầm tạm gọi là ma đối với tâm chân thật, đưa đến loạn thần, bế tắt kinh lạc.
Hãy xem qua kinh Lăng Nghiêm quyển thứ tám và thứ chín sẽ rõ. NGUYÊN-DO KHỞI RA CÁC MA-SỰ
Khi bấy-giờ, đức Như-lai gần chấm-dứt thời thuyết-pháp, ở nơi sư-tử-tọa, vin ghế thất-bảo, xoay về Tử-Kim-Sơn, trở lại dựa nơi ghế, bảo khắp đại-chúng và ông A-nan rằng:
"Bọn ông là hàng Duyên-giác, Thanh-văn hữu-học, ngày nay, đã hồi-tâm hướng về vô-thượng diệu-giác đạo Đại-bồ-đề, và tôi cũng đã chỉ-dạy phép tu chân-chính; nhưng các ông còn chưa biết những ma-sự nhỏ-nhiệm trong lúc tu-chỉ, tu-quán. Nếu cảnh ma hiện ra, ông không biết được, thì sẽ tu-tâm không đúng và mắc vào tà-kiến; hoặc bị ma ngũ-ấm của ông, hoặc bị thiên-ma, hoặc mắc quỷ-thần, hoặc gặp lỵ-mỵ, mà trong tâm không rõ, nhận giặc làm con.


Nhân hư vọng sẽ đưa đến quả hư vọng; quá trình tu tập, lấy "tưởng" làm chủ đều là vọng tưởng, vì vậy đức Thế Tôn đã khai thị cho đại chúng và A-Nan như sau:
KHAI-THỊ CHỖ HƯ-VỌNG
"A-nan, xét-rõ bảy loài địa-ngục, ngạ-quỷ, súc-sinh, người và thần-tiên, trời và A-tu-la như thế, đều là những tướng hữu-vi tối-tăm, giả-dối tưởng-tượng thụ-sinh, giả-dối tưởng-tượng theo nghiệp; đối với tâm-tính Diệu-viên-minh, bản-lai không năng-tác, sở-tác, thì đều như hoa-đốm giữa hư-không, vốn không dính-dáng; chỉ một cái hư-vọng, chứ không có cỗi-gốc manh-mối gì.
Trên đạo lộ tu tập mang theo tâm dục, dù là dục về sở đắc, cũng là một chướng ngại, thuộc sở tri chướng. Phật Quang đại từ điển: Sở tri chướng, thuật ngữ chỉ cho sự tham ái hoặc si mê làm ngăn trở sự giác ngộ; Nghĩa là do sự chấp chặt kiến thức, sở kiến, sở văn của mình, không biết cách xả ly pháp đó, khư khư ôm giữ lấy pháp đó, gọi là sở tri chướng.
Chỉ chấp trước ư sở chứng chi pháp nhi chướng tế kỳ chân như căn bản trí. Hựu tác trí chướng, trí ngại. Vi nhị chướng chi nhất, phiền não chướng chi đối xưng. Vị chúng sanh do ư căn bản vô minh hoặc, toại mê muội ư sở tri chi cảnh giới, phú tế pháp tánh nhi thành trung đạo chủng trí chi ám chướng ngại, cố xưng trí ngại.”
Nghĩa là:
Sở tri chướng, chỉ sự dính mắc nơi pháp chứng được, làm che mờ chân như, căn bản trí. Còn được gọi là “trí chướng” hoặc là “trí ngại”. Sở tri chướng là một trong hai chướng, chướng còn lại gọi là “phiền não chướng”. Chúng sanh do căn bản vô minh, bị mê muội nơi cảnh giới của sự hiểu biết, làm che lấp pháp tánh, chướng ngại ở nơi trung đạo chủng trí, cho nên gọi là ‘trí ngại”.

CÁC PHÁP HÀNH
Theo thiền sư Ajahn Brahmavamso:
Thiền là đường lối để thực hiện sự buông bỏ. Khi hành thiền, ta buông bỏ thế giới phức tạp bên ngoài, để có thể vươn đến thế giới an nhiên bên trong. Trong tất cả các hệ thống huyền học và trong nhiều truyền thống, hành thiền được biết đến như là con đường đi đến tâm thanh tịnh  uy lực. Kinh nghiệm về tâm thanh tịnh này, giải thoát ra khỏi thế giới, rất là vi diệu  hỷ lạc.
Vipassana, mật pháp Kim Cang Thừa, mật giáo của Campuchea, Pháp Thiền Borān,  Thanh Tịnh Đạo, ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Pháp Hành Trì Đức Bồ Tát Địa Tạng, Tứ nhiếp pháp, lục độ, thiền Đông độ (Tổ sư thiền, đại thừa thiền, thoại đầu...) phản văn văn tự tánh, Lăng nghiêm đại định tu chứng viên thông, Lục diệu pháp môn, Tam quán..
Vô số loại Thiền liên quan đến Phật giáo, ngoài ra còn một số Thiền ngoại đạo cũng mang tinh thần giải thoát, tuy không dùng ngôn ngữ nhà Phật, nhưng thấp thoáng tinh thần nhà Phật như Surat Shabd Yoga. Còn những loại Thiền thuộc Yoga, Thiền chuyển luân xa, Thiền xuất hồn, Thiền thánh thai, luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần, thiền khí công, Đạo gia, năng  lượng sinh học, Thủy hỏa ký tế, tiểu châu thiên... không đạt đến cứu cánh, nhưng cũng đưa đến các tầng trời từ dục giới đến sắc giới. Những loại thiền dục giới dễ đưa hành giả vào con đường hoang tưởng. Còn những loại tu luyện Thần giáo, ma đạo, tuy không thể gọi là thiền, nhưng chúng cũng cần luyện tập khá công phu, không đòi hỏi tuyệt dục, kết quả nhanh, thu tóm nhiều âm binh được thầy truyền và hỗ trợ một số âm binh theo phò. Số nầy gồm Thiên linh cái, Năm ông, Lỗ Ban, ma xó, bùa ngãi...
Ma tâm có mặt trong 6 cõi dục. Trong dục giới gồm 6 loại hữu tình sau:
Dục giới -  ham muốn về giới tính cũng như khởi tâm những ham muốn khác.
Trong dục giới có 6 loại hữu tình sau:

. 1. Địa ngục 
.
2. 
Ngạ quỷ/Quỷ đói
. 3. 
Súc sinh/Loài thú
. 4. 
Loài người
. 5.
A-tu-la
. 6. Cõi trời ở dục giới gồm có:


Trời Đao lợi hay trời Ba mươi ba
Trời Dạ-ma hoặc trời Tu-dạ-ma
Trời Đâu-suất 
Trời Hoá lạc
Trời Tha hoá tự tại
Trong 6 cõi dục đều có đủ 6 loại ma, tùy hành trạng tâm thức của mỗi hành giả mà xuất hiện loại ma thức tương ứng hóa hiện.
Thiên ma: Là một loại chúng sinh đắm trước vào sự khoái lạc của bản ngã, thích được tự tại, tự do phóng dật. Thiên ma thì cư trú ở trên trời Tha hóa tự tại; chúng rất sợ người tu thành đạo do đó tìm cách phá hoại người tu, làm trở ngại đường giác ngộ.
Tử ma: Hay là sự chết. Chết cũng làm trở ngại công phu tu hành. Chết làm gián đoạn công phu tu hành miên mật của hành giả.
Ấm ma: Là cảnh giới sinh khởi do hành giả quán chiếu, phá vở năm ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) trong quá trình khai mở Phật tánh. Những cảnh giới này gọi là ma vì nó có thể làm hành giả mê muội, khiến họ rơi lạc vào nẻo tà, hoặc giả rơi vào tay của thiên ma. Ấm ma gồm có 50 thứ (mỗi ấm có mười loại).
Phiền não ma: Phiền não ma gồm có tham sân si mạn nghi tà kiến, v.v... là những tâm thái, che lấp chân tâm, trở ngại sự phát triển của trí huệ.
Vì thế, đức Phật khuyến thị: Nhưng các ông còn chưa biết những ma sự nhỏ nhiệm có thể xảy ra lúc tu Chỉ (Shamatha) và Quán (vipashyan). Nếu các ông không thể nhận ra ma cảnh khi nó hiện ra, là do việc thanh tịnh tâm ý của ông không phù hợp với pháp chân thật, nên bị rơi vào tà kiến.
Nếu ông không thể nhận ra ma cảnh khi nó hiện ra.
 Khi các ông công phu phương pháp phản văn văn tự tánh (hướng tánh nghe vào bên trong để nhận ra tự tánh vốn có của mình) thì ma cảnh có thể xuất hiện. Nếu các ông không nhận ra ma và không biết ma là gì, là do việc thanh tịnh tâm ý của ông không phù hợp với pháp chân thật. Vì ông thanh tịnh tâm ý hay “rửa tâm” không đúng, có hơi sai lệch, không phù hợp với chánh tri kiến. Do đó bị rơi vào tà kiến. Nếu chánh tri kiến của các ông không được chân chính (không đúng với chánh pháp) Các ông sẽ bị dính  mắc  vào  ma  cảnh.

Như thế quá rõ, một hành giả như Chân Quang luyện Thiên Linh Cái hay tu bất cứ pháp nào, lúc tâm thức đạt đến trạng thái dị thường, cho đó là thật, bị lạc dẫn vào ma cảnh, một loại ma cảnh mà hàng đêm Chân Quang lên đó đem về khai thị cho đạo chúng những bí mật mà 2500 năm chưa hề được tiết lộ, và những gì Phật chưa nói, giờ đây Chân Quang sẽ nói tiếp. Hành động của ma, bên ngoài cứ như là chơn chánh, nhưng sau đó ló đuôi đều là tà pháp, không những hàng chục năm qua giảng dạy sai lệch giáo lý, tổ chức nội tự mang tính giáo binh, võ thuật, nội chúng kiểm soát lẫn nhau, mà gần đây, việc phóng sinh, đúc đại hồng chung, cài người vào Ban Hướng dẫn Phật tử hướng hoạt động của ban ngành theo sự chỉ đạo của ông ta, đều để lại tai tiếng không ít.
Truyện tranh Nhân Quả cũng như Đỉnh Núi Tuyết đều không dấu được tà ý ma tâm xuyên tạc giáo lý và lịch sử đức Phật. Cái khôn khéo là ông ta kết nghĩa với các chức sắc Phật giáo và mạo nhận giòng họ Hồ lãnh tụ, trong khi các chức sắc không hề hay biết gì về ma tâm của ông ta. Chui lên tới trung ương Giáo hội và chùa Phật Tích trở thành căn cứ địa để Chân Quang hoạt động là một thành công mà toàn bộ Giáo hội không ai làm được.
Sắc giới:
Các vị ở đây thuộc nam tính nhưng đã chấm dứt mọi ham muốn, ăn uống, nhưng còn có khoái lạc. Đây là thế giới của các người trời trong cõi Thiền. Hành giả tu tập thiền định có thể tái sinh trong cõi sắc. Sắc giới gồm bốn cõi, mỗi cõi lại được chia thành nhiều cõi trời khác nhau:
          Trời Sơ thiền với ba cõi sau:
Trời Phạm thân
Trời Phạm phụ
Trời Đại phạm
Có hệ thống ghi thêm cõi trời thứ tư của trời Sơ thiền là trời Phạm chúng

Trời Nhị thiền với ba cõi sau:
Trời Thiểu quang
Trời Vô lượng quang
Trời Cực quang tịnh còn gọi là trời Quang âm

Trời Tam thiền bao gồm:
Trời Thiểu tịnh
Trời Vô lượng tịnh
Trời Biến tịnh

Trời Tứ thiền gồm có:
Trời Vô vân
Trời Phúc sinh
Trời Quảng quả
Trời Vô tưởng
Trời Vô phiền
Trời Vô nhiệt
Trời Thiện kiến
Trời Sắc cứu kính
Trời Hoà âm
Trời Đại tự tại

Có sách xếp trời Vô tưởng, trời Vô phiền, trời Vô nhiệt, trời Thiện kiến, trời Sắc cứu kính, trời Hoà âm thuộc trời Tịnh phạm không thuộc về trời Tứ thiền.


Xứ Không vô biên
Xứ Thức vô biên sa. 
Xứ Vô sở hữu
Xứ Phi tưởng phi phi tưởng

Hành giả tu học Tứ thiền bát định có thể sinh vào bốn xứ này.
Như vậy, 50 ấm ma chỉ xuất hiện trong cõi dục, vì cõi dục là cõi còn nhiều ham muốn, khi dục đã không còn thì vào các cảnh trời Sắc giới và Vô sắc giới, ví dụ môt đoạn sau đây đức Phật dạy:

"A-nan, tất-cả những người tu tâm trong thế-gian, không nhờ Thiền-na, thì không có trí-tuệ.
Người nào giữ được cái thân không làm việc dâm-dục, trong lúc đi, lúc ngồi, đều không nghĩ-nhớ, lòng ái-nhiễm không sinh, không còn ở trong Dục-giới, thì bản-thân liền được làm phạm-lữ; một loài như thế, gọi là Phạm-chúng-thiên. Phạm chúng thiên là cõi trời sắc giới  của sơ thiền. Từ sắc giới trở lên vô sắc, Phật giải thích rất  kỹ từng trạng thái tâm thức để đạt đến cảnh giới tương ưng với sự hành trì.

Tập-quán ngũ-dục đã trừ rồi, tâm ly-dục hiện ra, vui-vẻ thuận theo các luật-nghi, thì người đó liền có thể thực-hành những phạm-đức; một loài như thế, gọi là Phạm-phụ-thiên.


Từ đây đủ hiểu và là thước đo cho những hành giả đang ở mức độ nào của kinh Lăng Nghiêm chỉ rõ: -  A-nan, ba loài-tốt đó, tất-cả khổ-não không bức-bách được; tuy không phải chân-chính tu phép Tam-ma-đề của đạo Phật, nhưng trong tâm thanh-tịnh, những lầm-lạc của Dục-giới không lay-động được, nên gọi là Sơ-thiền.
KHAI-THỊ VỀ NGHIỆP-NHÂN
"A-nan, những chúng-sinh đó, không nhận được tâm-tính bản-lai, chịu cái luân-hồi như thế trong vô-lượng kiếp, mà không chứng được chân-tính thanh-tịnh, đó đều do chúng thuận theo những sát, đạo, dâm, hoặc ngược lại ba cái đó, thì lại sinh ra không-sát, không-đạo, không-dâm; có, thì gọi là loài quỷ, không, thì gọi là loài trời; có và không thay nhau, phát-khởi ra tính luân-hồi.
Hành giả chuyên chính về hướng giải thoát thì không còn bị vướng vào danh - lợi - tình, không bon chen địa vị chức quyền, không kinh doanh tích lũy, không nặng về dâm dục; Những bậc long tượng ẩn sâu non cao núi thẳm, giới đức tinh nghiêm, tự phúc báu đó mà quỷ thần bái phục, thiên nhơn tôn kính, làm gì bị tai tiếng chống đối. Trước khi thành đạo, đức Thế Tôn đã trải qua không biết bao tướng trạng của ma cám dỗ, khủng bố... Thà là tu sĩ chuyên về pháp sự hoằng hóa, một khi bước vào vòng tu luyện đều không tránh khỏi những thử thách của ma quân, tự mình biến thành ma tăng lạc dẫn quần chúng vào cõi địa ngục mà HT Thiền sư Thích Thanh Từ đã thọ ký, và nhiều bậc chân tu, học giả, trí thức đều đánh giá về một Tăng tướng Ma tâm có nguy cơ lủng đoạn Phật giáo Việt Nam.
Ảo giác - hoang tưởng - điên hay Ngáo đá chỉ là hiện tượng, nhưng thực chất nguy hiểm hơn điên hay ngáo đá, vì điên hay ngáo đá là trạng thái thiếu tự chủ trong nhất thời, nhưng tâm ma luôn biết mình làm gì, biết cách tiến thân, chui sâu, leo cao bằng mọi thủ đoạn, mọi việc làm đều có tính toán. Ma khống chế toàn bộ cõi dục 6 nẻo chứ không riêng cõi người. Trong giới hành giả ngũ ấm ma luôn là mối nguy hiểm làm cho hành giả dễ sa chân mắc bẫy. Như thế, Ma Tăng là một hiện tượng của ngũ ấm ma trong kinh Lăng Nghiêm đã được đức Phật chỉ rõ, đây là bệnh đáng thương như kẻ bệnh điên, hay mọi người là kẻ đáng thương dưới mắt của một ma tăng sắc sảo tinh tế luôn chủ động mọi hành động? Điên không biết dâm, không tham tài, không háo sắc, không thủ đoạn, nhưng ma là loại ma mãnh núp dưới lớp áo nhà Phật mới có đất để thỏa tính dâm, đạt đỉnh danh, thu nhiều lợi tức. Đức Phật KHUYÊN ĐOẠN-TRỪ:
"Ông khuyên người tu-hành, muốn được đạo Bồ-đề, cốt-yếu phải trừ tam-hoặc; tam-hoặc không hết, thì dầu được thần-thông, cũng đều là những công-dụng hữu-vi của thế-gian; tập-khí mê-lầm đã không diệt, thì lạc vào đường ma; tuy muốn trừ cái vọng, nhưng lại càng thêm giả-dối; Như-lai bảo là rất đáng thương-xót. Như thế, đều do vọng-kiến tự mình tạo ra, không phải là lỗi của tính Bồ-đề.
Nói như thế ấy, tức là lời nói chân-chính; nếu nói khác thế, tức là lời nói của Ma-vương".

Nếu nhận là chứng bậc thánh, thì có giống ma ngũ-dục vào trong tim gan, một mặt bảo sự dâm-dục là đạo Bồ-đề, dạy các bạch-y bình-đẳng làm việc dâm-dục, những người hành-dâm gọi là trì-pháp-tử; do sức tà-ma nhiếp-phục kẻ phàm-phu trong đời mạt-pháp, số đến cả trăm, như thế cho đến một trăm, hai trăm, hoặc năm sáu trăm, nhiều đến ngàn vạn; khi ma sinh chán, rời-bỏ thân-thể, đã không còn uy-đức, thì sa vào lưới pháp-luật; do gây nghi-ngờ lầm-lạc cho chúng-sinh, phải đọa vào ngục Vô-gián; sai mất chính-thụ, sẽ bị chìm-đắm.
Những gì Chân Quang giảng, nói và viết đều mang tính ma sự, giòng dõi của ngũ ấm ma, uổng kiếp người mà cứ nghĩ mình đã thành đạt trên lộ trình tâm linh giải thoát; nhân hư vọng thì quả phải hư vọng. Ai đã từng nghiên cứu kinh Lăng Nghiêm đều thấy rõ trạng thái và vị trí của một ma Tăng; để rồi kết quả khi hết phước, ma sinh chán, rời bỏ thân xác, thì sẽ sa vào lưới pháp luật một ngày không xa!

MINH MẪN
13/4/2017
(HẾT)


Thứ Tư, 5 tháng 4, 2017

* QUYỀN LỢI VÀ QUYỀN LỰC


Chỉ còn nửa năm nữa là Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc diễn ra tại Hà Nội. BTS cấp Tỉnh, thành, quận huyện đang tiến hành gấp rút tại địa phương. Đại hội chỉ là thủ tục hành chánh, thực chất vẫn y như cũ những tồn đọng bất kham trong nội tình, mà một vài giáo phẩm cao niên tỏ ra không mấy tin tưởng khả năng và uy tín những chức sắc hiện nay.

Thực tế, từ cấp huyện đến Tỉnh Thành một số nơi, vẫn là nỗi ám ảnh quyền lực của những chức sắc trong BTS PG địa phương đối với tu sĩ. Có người hỏi:

- Làm việc GH không lương sao ai cũng muốn, thậm chí chạy chọt, tiền bá tánh cúng dường lo cho Tam Bảo, bỏ vào việc mua danh bán chức. Giáo phẩm Thượng Tọa, Hòa Thượng theo quy định của Tăng sự và Hiến Chương, đúng thời hạn tuổi tác, hạ lạp, thế mà có những vụ đặc cách không tương xứng với khả năng, uy tín... để làm gì?

Cũng giống thế gian thôi, có quyền là có tiền. Một tu sĩ đem hồ sơ xin thọ giới hoặc xác nhận giới thiệu, di chuyển hộ khẩu... thì cũng phải có phong bì gọi là "cúng dường".

Dựng bảng chùa cũng từ 100 triệu trở lên. Cung thỉnh trai Tăng cũng phải ứng trước tiền xe, phong bì dày thì đi, mỏng thì từ chối vì lý do có Phật sự... Sau trai Tăng cũng có phong bì hồi hướng.

Thỉnh chư Tăng về cầu an cầu siêu tại nhà, ngoài chi phí đi lại ban đầu, tiền hiến cúng hoặc là tùy hỷ, có khi ra giá theo Ngọ. Bàn trai Tăng, Hòa thượng ngồi trên phong bì dày hơn Thượng Tọa, và Đại Đức dĩ nhiên mỏng hơn cấp trên.

Văn phòng 2 trung ương, rất nhiều tu sĩ than phiền, nhất là Tăng Ni miền Tây đã bị một người cậy thần ỷ thế HT chủ tịch bao che, thao túng khống chế, sách nhiễu rất nhiều. Chẳng những thế, còn có tâm đố kỵ chư Ni. Với cấp trung ương, Tăng Ni bất lực, không có cửa để thưa gửi.

Bên Ni giới nói rằng - Tình trạng này thà giải tán Ni giới còn hơn một tổ chức bất bình đẳng, bị đố kỵ. Phải chi bản thân nghiêm túc giới luật tinh chuyên thì có thể chấp nhận, đằng này đã từng gian díu bất chính với một học Ni bên Kiều Đàm hơn 10 năm về trước, và giờ đây... 

Theo HT có tuổi tại TP Biên Hòa than: - Phật giáo Việt Nam, các cấp thẩm quyền nhiều lợi ích phe nhóm quá nên chẳng khác nồi cháo thập cẩm. Người có sĩ khí, không ai muốn giữ chức quyền nào trong Giáo Hội. Kẻ bất tài nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng, không tài không đức mà chức cao quyền trọng là một đại họa cho Phật giáo. Người thực tài không khom lưng chạy chọt thì ngồi chơi xơi nước hoặc giữ nhiệm vụ cho có lệ. 
Một chức sắc trung ương, đi đâu cũng chìa cái bằng Tiến sĩ khoe, chả biết bằng thiệt hay giả. Người ta đánh giá qua năng lực và tôn kính qua đạo hạnh chứ đâu cần bằng cấp ló thụt như thế. Một số chức sắc Phật giáo quận huyện cũng bon chen vào trung ương với chức vụ khiêm tốn để từ đó tiến thân bằng...

Trung ương đã thế thì chả trách những Tỉnh xa xôi như Phú Yên, BTS thao túng toàn bộ. Nguyên Đức vừa hất chân Tâm Thủy để đứng đầu BTS và Ni cô "phụ tá trọn đời", đứng đầu ngành Ni giới Tỉnh.

Tại Di Linh, sau khi ngài Pháp Chiếu và thầy Tổng thư ký viên tịch, HT trụ trì Linh Thắng thay mặt điều hành Phật giáo Lâm Đồng, cũng đưa tay chân đệ tử vào quản lý các quận huyện, ai không thuộc quyền ngài đều mượn tay công an đến sách nhiễu.

Hiện nay Cà Mau cũng chả khá hơn!

Tóm lại, từ Quảng Trị trở vào thuộc phía Nam, một số địa phương lâm vào tình trạng phức tạp. Mỗi lần đại hội là có sự chia rẽ tranh chấp, thậm chí căng thẳng đến độ phải có sự can thiệp của an ninh mới ổn.

Chuyện lạ, chư Tăng tự nhận là trưởng tử Như Lai, Thiên nhơn chi đạo sư, bỏ thế gian vào chùa lại tham danh tham lợi, thế mà không tự giải quyết theo giáo luật, để phải người thế gian đứng ra chỉ định phân xử mới cúi đầu "y giáo phụng hành".

Phức tạp hiện nay trong Phật giáo, trong nội tình ai cũng hiểu nhưng chả ai làm được gì. Mỗi lần đại hội là một lần trình diễn pháp lý hành chánh, đâu lại vào đó. Tội cho tín đồ cúc cung tận tụy cung phụng chư Tăng như bậc Thánh để rồi các Thánh xài đồ hiệu, mang nhãn hiệu Thích tử thao túng đúng hiệu.

Dĩ nhiên trong GH vẫn còn một số bậc chân chính, nhưng quá ít và cũng không thể góp ý vì quyền lực có hạn. Dĩ nhiên còn nhiều vấn đề đen tối nhưng không tiện trình bày.

Chừng nào Giáo Hội trong sạch bởi những chức sắc chân tu, lúc đó Phật giáo mới thực sự phát triển nội lực song song với phát triển cơ sở vật chất hiện nay, được gọi là Phật giáo phát triển.

MINH MẪN
04/4/2017

Thứ Hai, 3 tháng 4, 2017

* ẢO GIÁC - HOANG TƯỞNG - NGÁO ĐÁ (3)



VẤN ĐỀ CƠ BẢN


Như bài 2 đã phân tích về sinh sản đơn tính. Nay tiếp tục đi sâu để hiểu thêm về sự phân mảnh vô tính trong các sinh vật đa bào hay cụm là hình thức sinh sản vô tính khi mà một cơ thể tách ra thành các mảnh. Mỗi mảnh này sẽ phát triển đầy đủ thành các cá thể trưởng thành và là bản sao của cơ thể chính. Ở các loài 
động vật da gaihình thức sinh sản này còn được gọi là sinh sản kiểu phân cắt.

Vậy cơ thể được sanh ra bởi vô tính, sẽ ảnh hưởng toàn bộ cơ thể mẹ, hay nói cách khác là bản sao của cơ thể gốc. Nếu thế, gen di truyền từ mẹ mà La Hầu La thụ hưởng, không liên can gì đến đức Phật Thích Ca. Bảo rằng Thánh tính đã un đúc trong thai bào như thai bào của bà Maria ươm mầm Thánh tính cho Chúa Jesus mà không liên can huyết thống với mẹ, theo một số nhà nghiên cứu Thần học, cho đây là thuộc loại suy diễn, không y cứ theo luận chứng khoa học.

Toàn bộ giáo lý nhà Phật, hoàn toàn y cứ trên tiến trình thực tế, kể cả giới luật, do vậy, không hề suy diễn viễn vông. Trên cơ bản khoa học, La Hầu La có sẵn hạt giống Thánh tính, thì ít ra, Da Du Đà La cũng mang gen Thánh nữ.

Theo Kito giáo - Thụ thai không có sự cộng tác của nam giới, sinh con mà vẫn còn nguyên vẹn, sau khi sinh vẫn còn đồng trinh.

Chân Quang chưa xác định rõ Da Du Đà La có được đồng trinh như thế không, có còn nguyên vẹn sau khi sanh không. Nếu không đề cập rõ như thế, có nghĩa Chân Quang chưa hiểu hết về sự đồng trinh nguyên mẩu như bà Maria, mà chỉ hiểu sinh sản đơn tính là sự đồng trinh nửa vời!

Một quan điểm khá thoáng mà Lutheran tin rằng Đức Maria đồng trinh khi thụ thai Chúa Kitô nhưng phần lớn cộng đồng Luther cho rằng Mẹ có nhiều con tự nhiên khác và do đó không trọn đời đồng trinh. Điều này dựa trên các trích đoạn nhắc đến các anh chị em của Chúa Giêsu trong 
Tân Ước (Ga 2:12; Ga 7:3-5) và mặc dù Đức Maria không giao hợp với Thánh Giuse trước khi sinh ra Chúa Giêsu (Mt 1:18), nhưng điều đó không có nghĩa là ngài không bao giờ giao hợp.

Nghĩa là - theo Maria trong Tin Lành thì vẫn chấp nhận Jesus được bà Maria sinh ra, trước đó đồng trinh, sau khi sinh không còn đồng trinh. Tin như thế đã là thực tế 50%.

Kito giáo xác định rằng Ðức Chúa Giêsu "bởi phép Ðức Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng Ðức Trinh Nữ Maria.". Vậy là tín điều nầy thoát khỏi lối sinh sản phân mảnh.

Còn La Hầu La, Chân Quang không cho phép Chúa Thánh thần truyền thụ vào Da Du Đà La, cũng không ghép vào loại tách chồi, phân mảnh đa bào, vậy là Chân Quang đã đứng ngoài nguyên lý cơ bản của khoa học mà cũng không bị ràng buộc trong tín điều suy diễn. Phải chăng đây là cái nhìn mới mà Chân Quang thấy được từ cõi vô hình, hay Chân Quang lập thành luận thuyết hoang tưởng?

Theo Phật giáo, chúng sanh có bốn loại:

- thai sanh như người, trâu bò, dê chó.../ - noãn sanh như chim, gà, ngổng, rắn.../ - thấp sanh còn gọi là nhân duyên sanh, nóng lạnh hòa hợp mà sinh sản như tôm, cá, muỗi, dòi bọ,.../ - hóa sanh như hữu tình ở cõi trời, địa ngục, 9 cõi (cửu hữu): Người và trời cõi dục - trời Phạm chúng - trời Cực Quang Tịnh - trời Biến tịnh - trời Vô tưởng - trời Không vô biên - trời thức vô biên - trời Vô sở hữu - trời phi phi tưởng (Phật Quang đại từ điển).

Nếu sinh sản vô tính như loài thấp sanh trong cõi vật thể hữu hình này thì hóa ra La Hầu La thuộc loại nóng lạnh hòa hợp mà có, cùng giòng họ với tôm cua, cá, muỗi, dòi bọ. Còn sinh sản theo kiểu hóa sanh chỉ có ở cõi trời và địa ngục thì đâu cần có Da Du Đà La, nghĩa là tự nhiên mà hiện ra.

Tóm lại, sinh sản đơn tính theo Chân Quang, không thuộc khoa học, không thuộc tín điều như Kito giáo, không thuộc hóa sanh hay thấp sanh theo nhà Phật, có lẽ đây là phát minh mới mà gần 3.000 năm qua chưa hề ai biết; vượt ra ngoài nguyên lý của cuộc sống. Cho nên mới bảo - BÍ MẬT SAU HƠN 2500 NĂM MỚI ĐƯỢC HÉ LỘ VỀ CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT do Chân Quang tuyên bố.

Hãy theo dõi tiếp về nguyên tắc khoa học. Sự chuyển đổi giữa sinh sản hữu tính và sinh sản vô tính(Wikipedia)

Một vài chủng loài chuyển đổi giữa sinh sản hữu tính và vô tính theo chiến lược. Đó là một khả năng đặc biệt, gọi là sự dị giao (heterogamy), tùy thuộc vào các điều kiện. Sự chuyển đổi luân phiên này được thấy ở vài loài luân trùng và một số côn trùng, chẳng hạn như một số loài 
rệp, sẽ thay đổi trong vài điều kiện nhất định, sinh ra trứng mà không qua giảm phân, do đó tự nhân bản chúng. Loài ong Apis mellifera capensis ở mũi Hảo Vọng có thể sinh sản vô tính qua một quá trình gọi là thelytoky. Một vài chủng loài lưỡng cư, bò sát, chim cũng có khả năng tương tự. Ví dụ loài giáp xác nước ngọt Daphina sinh sản bằng phương pháp trinh sản(parthenogenesis) vào mùa xuân để gia tăng mật độ trên các ao hồ. Sau đó chuyển sang sinh sản hữu tính vì mức độ cạnh tranh và tìm mồi. Một ví dụ khác là loài luân trùng monogonont thuộc chi Brachionus, sinh sản thông qua trinh sản theo chu kỳ: khi mật độ bầy đàn thấp, những con cái sẽ sinh sản vô tính. Còn khi mật độ bầy đàn cao hơn, một tín hiệu hóa học sẽ tích lũy và gây ra sự chuyển đổi sang sinh sản hữu tính. Nhiều loài sinh vật nguyên sinh và nấm cũng chuyển đổi giữa sinh sản hữu tính và vô tính. Một số thực vật sử dụng cả sinh sản vô tính lẫn hữu tính để tạo ra cây mới, vài chủng loài chuyển đổi từ hình thức sinh sản chính là hữu tính sang vô tính trong nhiều điều kiện môi trường đa dạng.

Còn một loại sinh sản vô tính, đó là từ ống nghiệm -Ngày 23/2/1996, các nhà khoa học thuộc Viện Roslin, Scotland thông báo thành công trong việc cho sinh sản vô tính cừu Dolly. Từ đó đến nay đã 10 năm, mặc dù còn nhiều tranh cãi nhưng sự ra đời của cừu Dolly đã hứa hẹn nhiều ứng dụng quan trọng trong cuộc sống nhân loại.

Bước đột phá đầu tiên. Dù đã mất cách đây nhiều năm, nhưng cừu Dolly đã đi vào lịch sử y học với tư cách là động vật hữu nhũ đầu tiên trên thế giới ra đời bằng từ công nghệ sinh sản vô tính. Việc tạo ra cừu Dolly được thực hiện bằng công nghệ gọi là "chuyển giao nhân tế bào thân thể".
Theo đó, nhân của trứng sẽ được lấy ra khỏi trứng và được thay thế bằng nhân tế bào của con vật được chọn để nhân bản. Sau đó trứng sẽ được xử lý bằng điện hay hóa chất để chuyển hóa thành phôi trước khi được cấy vào tử cung của con vật.
Từ đó đến nay, các nhà khoa học tiếp tục nhân bản thành công hàng chục loài động vật khác, như bò, dê, heo, ngựa, hươu, la, chuột, mèo, chó, và cả những loài động vật hiếm và đang bị đe dọa tuyệt chủng, như bò hoang Java, mèo hoang châu Phi...
Để tạo ra cừu Dolly, các chuyên gia đã phải trải qua đến 277 lần thực hiện sinh sản vô tính mới thành công. Ngày nay, tính trung bình, cần từ 150 đến 200 lần thực nghiệm để nhân bản được một con vật. Rõ ràng là tình hình có cải thiện, nhưng chưa nhiều...
Người sinh sản vô tính theo phương pháp khoa học:-
Hiện nay, việc sử dụng tế bào mầm đang là một vấn đề đang gây tranh cãi. Nhiều 
người cho rằng tế bào mầm của bào thai là bất khả xâm phạm. Do đó, tế bào mầm ở người trưởng thành đang được xem là một sự lựa chọn để thay thế. Do còn nhiều điều kiện chưa thuận lợi nên cho đến nay, vẫn chưa có nhiều trường hợp dùng tế bào mầm để thử nghiệm lâm sàng trên cơ thể con người.

Thế nhưng, điều khiến công chúng quan tâm hơn cả, đó là việc nếu người ta có thể cho sinh sản vô tính một động vật như cừu Dolly, thì liệu có thể tạo ra con người từ sinh sản vô tính không?

NGHIÊN CỨU SINH SẢN VÔ TÍNH Ở NGƯỜI: Còn dè dặt
Mặc dù nhiều nỗ lực đang được tập trung vào lĩnh vực nhân bản động vật, nhưng các nhà khoa học vẫn quan tâm đến vấn đề sinh sản vô tính ở con người. Có nhiều nhóm chuyên gia trên khắp thế giới đã cố gắng tạo ra những dòng tế bào mầm từ phôi người vô tính nhưng chưa có ai thành công cả.

Người ta vẫn còn nhớ xì-căng-đan liên quan đến ông Hwang Woo Suk, thuộc trường Đại học Quốc gia Seoul.

Ông này từng tuyên bố đã tạo ra những dòng tế bào mầm từ phôi người vô tính, và báo cáo của ông đã được đăng tải trên tạp chí Nature, một tạp chí khoa học uy tín của giới chuyên môn. Rốt cuộc, người ta phát hiện ra rằng nội dung báo cáo đó là sai sự thật.

Không ít người cho rằng nhân bản người là một việc làm trái đạo đức. Theo quan điểm của họ, một phôi vô tính là một mầm sống tiềm tàng của con người, nên việc phá hủy một mầm sống như thế là sai trái. Họ cho rằng việc tạo ra phôi vô tính là một vấn đề rất khó chấp nhận về mặt đạo đức.

2001: Anh trở thành quốc gia đầu tiên hợp pháp hóa các phương pháp nhân bản vô tính con người cho mục đích nghiên cứu. 

                             

                        * * *

Như vậy, việc hạ sinh La Hầu La thuộc loại nào? Chả lẽ La Hầu La thuộc loại "thấp sanh" do nóng lạnh mà thành? Nếu La Hầu La được "hóa sanh" như chư Thiên và địa ngục thì đâu phải con người? Chả lẽ Da Du Đà La thuộc loại lưỡng tính? Bởi vì theo luận cứ khoa học thì Da Du Đà La không thuộc loại tách chồi, phân mảnh hay chuyển đổi hữu tính sang vô tính theo nhu cầu chiến lược? Cũng không thuộc loại nhập Thần như Kito giáo. Lúc bấy giờ khoa học chưa có kỹ năng tách trứng chuyển thành phôi như ngày nay, La Hầu La cũng không ra đời bằng phương pháp ống nghiệm như ngày nay. Quả đây là loại phát minh mới của một hành giả chìm ngập trong ngũ ấm ma mà Phật đã nói với ngài ANan. Sẽ xét sau về bệnh hoang tưởng từ ngũ ấm ma lạc dẫn.
                         

                             * * *
Phân tích về sản sanh đơn tính xong, ta hãy hiểu sơ qua về sinh sản hữu tính: Sinh sản hữu tính (Wikipedia)
Sinh sản hữu tính là một quá trình sinh học tạo ra các sinh vật mới bằng cách kết hợp vật liệu di truyền từ hai cá thể khác nhau của loài. Mỗi sinh vật bố mẹ góp một nửa yếu tố di truyền tạo ra giao tử đơn bội. Hầu hết sinh vật tạo ra hai kiểu giao tử khác nhau. Trong các loài bất đẳng giao (anisogamous), hai giới tính gồm đực (sản xuất tinh trùng hay tiểu bào tử) và cái (sản xuất trứng hay đại bào tử). Trong loài đẳng giao (isogamous), các giao tử là tương tự hoặc giống hệt nhau về hình dạng, nhưng có thể chia tách thuộc tính và sau đó chúng có thể được đặt những tên gọi khác nhau. Ví dụ, trong tảo lục, Chlamydomonas reinhardtii, chúng có các giao tử dạng "cộng" và "trừ". Một vài sinh vật như ciliates, chúng có nhiều hơn hai loại giao.
Nhìn chung, khi một cặp cá thể sinh sản hữu tính, con cái của chúng sẽ thừa kế ngẫu nhiên một allele từ bố và một allele từ mẹ. Những phát hiện về sự di truyền riêng rẽ và sự phân ly của các allele được phát biểu chung với tên gọi Quy luật thứ nhất của Mendel hay "Quy luật phân ly".
Một khi được sinh ra bởi giao hợp từ hai cá thể, chủng tử đó là hậu quả tất yếu mang tính di truyền của cá thể nào mạnh hơn thì đặc tính đó trội hơn. Đặc tính cá thể còn lại không mất mà ẩn tàng gọi là lặn. La Hầu La dĩ nhiên ảnh hưởng gen di truyền của Đức Phật mạnh hơn nên mới nhập vào Tăng đoàn để là một trong thập đại đệ tử của Phật trở thành Thánh Tăng, vậy ảnh hưởng gen di truyền đó không thể là sinh sản vô tính ở một động vật. 

(Khi đức Thế tôn trở về Hoàng cung, La Hầu La theo lời mẹ, chạy lại bạch Phật - Thưa cha, xin cha chia gia tài cho con, Đức Phật xoa đầu La Hầu La, và sau đó, gia tài Thánh chủng được đức Thế Tôn chuyển giao cho La Hầu La trong thập đại đệ tử lúc bấy giờ).
                                              * * *

Qua lãnh vực phát hiện mang tính "cõi trên" của Chân Quang mà gần 3000 năm mới được tiết lộ. RAHULA HẠ SINH là DO TÂM KHÁT KHAO CÓ CON CỦA CÔNG NƯƠNG YASHODARA, ĐỒNG THỜI để THỎA MÃN yêu cầu của VUA SUDHODANA (vua Thịnh Phạn) là nếu Thế Tôn lúc đó có con thì mới được xuất gia.
Công nương Da Du Đa La khát khao do "tính dục" hay khát khao với sự "truyền giống"? Công nương đã có khả năng sinh sản đơn tính thì cần gì đến "tính dục" mà chỉ cần "nhu cầu chiến lược"; phải chăng "nhu cầu chiến lược" đó là THỎA MÃN yêu cầu của VUA SUDHODANA.
Theo kinh điển, vua cha được Đạo sĩ già tên Asita (A Tư Đà), ẩn tu trên Himalaya đoán Thái tử sau này "... Thái tử này sẽ chứng:

Tối thượng quả Bồ Đề
Sẽ chuyển bánh xe pháp
Thấy thanh tịnh tối thắng
Vì lòng từ thương xót
Vì hạnh phúc nhiều người
Và đời sống phạm hạnh
Được truyền bá rộng rải..."
(Sutta-Nipata, Kinh tập, 101)


Càng yêu thương quý trọng con, Vua Tịnh Phạn lại càng lo sợ Thái tử sẽ không nối nghiệp ngai vàng, mà sẽ xuất gia tìm đạo như lời tiên đoán của đạo sĩ Asita. Càng lớn lên, Thái tử càng lộ vẻ trầm tư về cuộc sống. Bởi thế, vua cùng triều thần sắp đặt nhiều kế hoạch để giữ Thái tử ở lại với ngai vàng. Vua Tịnh Phạn đã cho xây 3 cung điện nguy nga, tráng lệ cho Thái tử thay đổi nơi ở hợp với thời tiết quanh năm của Ấn Độ. Hàng trăm cung phi mỹ nữ giỏi đàn ca hát múa được tuyển chọn để túc trực hầu hạ Thái tử.

Đức Phật đã đề cập đến quãng đời này trong kinh Tăng Chi I như sau: "... Này các Tỳ kheo, ta được nuôi dưỡng tế nhị, quá mức tế nhị; các hồ nước được xây lên, một hồ trồng hoa sen xanh, một hồ sen đỏ và một hồ sen trắng... Đêm và ngày, lọng trắng được che trên đầu ta, để tránh xúc chạm lạnh, nóng, bụi, cỏ, sương. Này các Tỳ kheo, 3 lâu đài được xây dựng cho ta, một cái cho mùa Đông, một cái cho mùa Hạ và một cái cho mùa mưa... Các vũ công đàn hát múa xung quanh ta..."
Không muốn Thái tử chứng kiến cảnh khổ đau của kiếp sống, không muốn tâm xuất gia của Thái tử tăng trưởng; Thái tử vừa tròn 16 tuổi, Vua Tịnh Phạn vội tiến hành lễ thành hôn cho Thái tử với Công chúa một nước láng giềng - Da Du Đà La - con Vua Thiện Giác, một trang quốc sắc thiên hương, hy vọng sẽ buộc chặt đôi chân của Thái tử ở lại với ngai vàng. Kinh điển rõ như thế, không  nơi nào nói do nhu cầu có cháu nội mới cho Thái tử xuất gia.
                                                  * * *

Thêm một sai lầm lớn khi sử dụng từ: ĐỒNG THỜI để THỎA MÃN yêu cầu của VUA SUDHODANA (vua Thịnh Phạn) là nếu Thế Tôn lúc đó có con thì mới được xuất gia.Lúc bấy giờ mới là Thái tử, chưa đi tu làm sao gọi là Thế Tôn, mà đã là Thế Tôn sao lại có con? Mà đã là Thế Tôn thì cần gì bỏ vương cung đi tầm đạo? Và chả thấy kinh điển nói đến điều kiện vua Tịnh Phạn đặt điều kiện cho Thái Tử như thế. Có lẽ Chân Quang thay mặt vua cha đặt điều kiện cho Thái Tử trước khi bỏ hoàng cung ra đi!!!
"Về sau này, ai mà cứ nghĩ rằng Thế Tôn đã không thanh tịnh vì đã có con là Rahula, thì những kẻ đó bị tổn phước nặng nề, khó thoát khỏi dâm dục"
Chả bao giờ ai dám nghĩ Thế Tôn có con hay Thế Tôn không thanh tịnh, vì Thế Tôn đã là Phật rồi; chỉ có Chân Quang mới dám nghĩ thế nên Chân Quang vẫn còn vướng nặng vào vòng dâm dục với tập thể Ni chúng và tín đồ.

Những đoạn trên đây, không những hư cấu hoang tưởng sai lệch lịch sử đức Phật mà còn nhận xuống bùn đen do óc hoang tưởng hay cố tình hoang tưởng để làm lệch hướng thực tế về cuộc đời Thái tử cũng như gương sáng của đức Thế tôn.

Phật tự xác nhận ngài không phải là vị Thần có khả năng ban phước giáng họa, không phải là đấng sáng tạo, ngài chỉ là con người mà là con người tự mình thoát khỏi trầm luân, mê lầm của một chúng sanh. Qua lịch sử cho thấy, Thái tử  nhìn vợ con lần cuối đang ngủ say, ngài cùng Sa Nặc cỡi ngựa Kiền Trắc vượt khỏi hoàng thành giữa đêm khuya. Việc ra đi như vậy là không có sự thỏa thuận của vua cha và công nương, sao gọi làĐỒNG THỜI để THỎA MÃN yêu cầu của VUA SUDHODANA (vua Thịnh Phạn) là nếu Thế Tôn lúc đó có con thì mới được xuất gia. Bẻ cong lịch sử là một xuyên tạc chứ không phải là một tôn vinh. Nếu xem là một tôn vinh thì là một tôn vinh mù quáng, ác ý để ngoại đạo xuyên tạc đức Phật.

                                             * * *

Toàn bộ bài giảng lâu nay của Chân Quang mang tính hoang tưởng như sự hoang tưởng năm anh em Kiều Trần Như là an ninh chìm do vua Tịnh Phạn cho theo bảo vệ Thái tử lúc tầm đạo; trong khi đó: 

"... sau một thời gian, người lại nhận ra rằng không thể tiến bộ thêm nữa. Do đó, Tất Đạt Đa tham gia cùng với năm nhà tu hành ở trong rừng Benares để tu luyện bằng cách hành xác, ăn cực ít và trải nghiệm sự khắc khổ. Từ đó trở đi, người ta bắt đầu gọi hoàng tử Tất Đạt Đa dưới cái tên Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni), nghĩa là “nhà hiền triết của dòng họ Thích Ca”. Sau khi tu luyện như vậy được sáu năm, Thích Ca Mâu Ni phát hiện ra rằng ông chưa đạt được sự giác ngộ nhưng thân thể của ông đã trở nên vô cùng suy kiệt, ông lại từ giả năm vị khổ hạnh đó ra đi tự tìm chân lý".
Chứng cứ thế nầy, chúng ta hiểu thế nào về sự hoang tưởng gán ghép trái lịch sử của Phật giáo?
Điên còn gọi là thần kinh, một trạng thái không kiểm soát được hành vi, lời nói và suy nghĩ của mình. Đó là một trạng thái kéo dài thời gian, có thể suốt đời, nhưng Ngáo Đá là trạng thái phấn kích nhất thời, cũng không làm chủ hành vi của mình trong lúc tác dụng ma túy đá còn luân lưu trong huyết quản, chỉ kéo dài vài giờ. Chân Quang không hẳn thuộc loại thần kinh phân liệt đưa đến điên, vì còn trí khôn để tìm thế lực dựa dẫm, biết sử dụng đồng tiền đúng chỗ có lợi cho mình, nhưng trong một lúc bốc đồng, máu hoang tưởng tác động ăn nói vung vít, không biết tàm quý, dù vừa phạm trọng giới mà vẫn ăn nói như Thánh. Chúng ta cần thông cảm cho kẻ bệnh hoạn hay cần bảo vệ tiền đồ Phật giáo trong buổi pháp nhược ma cường???


                                         MINH MẪN
                                          02/4/2017