Thứ Năm, ngày 24 tháng 4 năm 2014

DANH NGÔN VỀ CƯ XỬ



* Đôi khi phải nhượng bộ mà thừa nhận rằng củ cải là quả lê.
Ngạn ngữ Đức

* Muốn uốn cây cong cho thẳng lại, ta uốn cong nó theo chiều ngược lại.
Montaigne

* Không có gì nguy hiểm bằng lời khuyên tốt đi kèm với gương xấu.
De Scudery

* Khuyên răn thay cho giận dữ, mỉm cười thay cho khinh bỉ.
Epiquya

* Bao giờ cũng nên có nhiều trí tuệ hơn lòng tự ái.
Epiquya

* Không bao giờ làm phiền người khác về những việc mình có thể làm được.
Jeffecson

* Yêu mọi người, tin vài người và đừng xúc phạm đến ai.
Shakespear

* Những người mạnh không dùng lời lẽ lăng mạ. Họ mỉm cười.
L.Leonop

* Ngoại giao là khoa học của sự nhượng bộ.
A.Musset

* Một trong những ưu điểm lớn nhất của diễn giả là chẳng những nói những điều cần nói mà còn biết không nói những gì không cần thiết.
Cicero

* Nghệ thuật sống với nhau chính là nghệ thuật giữ khoảng cách.
O. Wide

* Phép lịch sự là quy tắc chi phối các mối quan hệ, đó là nghệ thuật của lòng vị tha.
Erasme

* Ai vâng lời liều, hứa liều, tất nhiên khó lòng đúng hẹn.
Lão Tử

* Hãy cho đi cái mà bạn có. Đối với ai đó, thì món quà ấy mang một ý nghĩa mà bạn không ngờ.

* Ai có thể cãi được một lời chế nhạo.
W.Paley

* Câu trả lời gọn nhất là hành động.
Goethe

* Đi vòng mà đến đích còn hơn đi thẳng mà ngã đau.
Tục ngữ Anh

* Đừng bao giờ bắt buộc người khác làm những gì mà họ không muốn.
Tục ngữ Anh

* Đừng bao giờ ném bùn vào người khác. Bạn có thể ném trật và tay bạn chắc chắn bị bẩn.
Joseph Parker

* Đôi tai là lối vào của trái tim.
Voltaire

* Hãy vội nghe và chậm trả lời.
Ben Sira

* Hãy nói nếu bạn có những lời lẽ mạnh hơn, nếu không, hãy im lặng.
Euripide

* Làm chuyện gì mà có điều chưa thỏa mãn thì hãy tự xét lại thân mình xem làm như thế đã phải chưa.
Mạnh Tử

* Làm người nên tự lập lấy thân, tự trọng, không nên giẫm lên gót người khác, nói theo miệng người.
Lục Cửu Uyên

* Lời nói khéo còn hơn cả hùng biện.
Bacon

* Một lời xin lỗi vụng về vẫn tốt hơn im lặng.
Stephen Gosson

* Người đọc biết nhiều nhưng người quan sát còn biết nhiều hơn.
A. Dumas con

* Ở nhiều người, lời nói đi trước tư tưởng. Họ chỉ biết những gì họ suy nghĩ sau khi đã nghe những gì mình nói.
Gustave Lebon

* Phải lựa thứ quần áo thích nghi với nhân cách, đừng để nhân cách mình phải chịu mang tính cách của quần áo.
E. Weeler

* Phải biết chăm chú lắng nghe và khuyến khích người khác nói về họ.
D. Canergie

* Phải kính trọng con người! Đừng thương hại nó!
M.Gorki

* Tôi không biết chìa khóa của thành công là gì, nhưng tôi biết chìa khóa của thất bại là cố gắng làm vừa lòng mọi người.
Bill Cosby

* Điều oái oăm là, nếu bạn không muốn liều mất cái gì thì bạn còn mất nhiều hơn.
Erica Jong

* Không một người nào đã từng cười hết mình và cười xả láng lại đồng thời là người xấu xa.
Thomas Carlyle

* Nếu bạn tức giận thì hãy đếm 10 trước khi nói, còn nếu bạn nổi cơn thịnh nộ thì hãy đếm đến 100.
Jeffecson

* Thói quen làm những gì tốt đẹp nhất trần thế trở nên tầm thường.
Bade Rvew

* Sự quá thân mật và sỗ sàng đều làm phai nhạt tình yêu hơn là tình bạn.
Rôchepede

* Người ta thường khen chỉ để được khen. Từ chối lời khen là muốn được khen gấp hai.
La Rochefoucould

* Khi bạn không thể thực hiện những gì ao ước, bạn nên ao ước những gì có thể làm.
Terence

* Hãy tin một nửa những gì anh thấy tận mắt và đừng tin những gì anh nghe được.
D. Crai

* Đừng bao giờ khuyên răn ai giữa đám đông.
Tục ngữ A rập

* Để hiểu nhau, tôi thích anh hoài nghi tôi để rồi có ngày tin cho chắc chắn. Tôi không thích anh vội tin tôi để đi đến hoài nghi.
M.Gorki

* Không nên nói tất cả những gì bạn biết, nhưng bao giờ cũng phải biết những gì mà bạn nói.
M. Claudius

* Kẻ nào gian dối trong việc nhỏ thì sẽ gian dối trong việc lớn.
Kinh thánh

* Đừng đọc gì anh không muốn nhớ và đừng nhớ gì anh không định dùng.
G. Blecki

* Lời nói nào bạn kiềm chế được là nô lệ của bạn, lời nói nào buột miệng thốt ra là kẻ sai khiến bạn.
S. Gaphit

* Mình thế nào mà không dám tỏ ra như thế là mình khinh mình.
Mat-xi-lông

* Kẻ nào không biết giữ cái nhỏ sẽ mất cái lớn.
Mênanđơ

* Tướng giỏi sau khi thắng trận không cần ai khen và cũng không cần ai biết đến công lao.
Tôn tử

* Đừng hoãn lại một việc gì về sau, bởi vì về sau bạn cũng không gặp dễ dàng hơn.
Jăngpon

* Không hứa bậy nên mình không phụ ai. Không tin bừa nên không ai phụ mình.
Ngô Hoài Dã

* Nếu một người lừa tôi lần đầu, thì sự xấu hổ thuộc về anh ta, nếu lần thứ hai thì cái ô nhục thuộc về tôi.
John Gray

* Muốn điều khiển phải biết người. Muốn biết người phải hiểu mình trước đã.
Đitơcuppơ

* Anh cho những gì anh có là cho rất ít, nhưng khi anh phải hy sinh anh mới cho một cách thực sự.
Gibran

* Cho mượn ít, tạo ra một con nợ. Cho mượn nhiều, tạo ra một kẻ thù.
La Bruyere

* Hỏi một câu, chỉ dốt nát trong chốc lát. Không dám hỏi sẽ dốt nát suốt đời.
DN phương Tây

* Nên tập thói quen tìm sự thật trong các việc nhỏ nếu không sẽ bị lừa trong các việc lớn.
Vontaire

* Khi con người ta sống chỉ vì mình thì trở thành thừa đối với những người còn lại.
I.Rađep

* Sự căm ghét bất lực là một thứ tình cảm ghê tởm – vì thế không tội gì phải căm ghét người bạn không thể đấm được.
T.phulơn

* Trong cuộc sống cũng như khi hát đồng ca nếu có giọng hát hay thì bạn hãy hát, bằng không bạn hãy mấp máy môi.
M.Genin

* Nếu cười chính bản thân mình thì lúc nào bạn cũng có thể tìm thấy người có chung ý nghĩ.
A.Climôp

* Nghệ thuật làm cho mọi người thích mình bắt đầu bằng nghệ thuật khen người khác. Lời khen không đúng vẫn thú vị hơn lời phê bình đúng.
Vontaire

* Người ta không bao giờ cảm thấy lương tâm bị cắn rứt về cách đối xử mà họ đã quen rồi.
Vontaire

* Lương tâm là giọng nói bên trong mà nó nói với bạn rằng: ”Hãy cẩn thận, có một người đang nhìn mình đấy!”
O.Uainđ

* Im lặng không bao giờ muộn, nếu bạn biết rằng mình đang nói dối.
A. Đuma con

* Kẻ nói dối không tính đến những khó khăn của mình: để giữ vững điều dối trá đầu tiên, anh ta còn phải nói dối đến 20 lần nữa.
A.Paus

* Chó sói bị ngạt thở song vẫn không chịu tháo bộ lông cừu khỏi mình.
V.Briugen

* Sự thật tự nó có thể chiến thắng, nhưng dối trá thì cần phải có người giúp đỡ.
Epictec

* Khi nào nghi ngờ bạn hãy chỉ nói sự thật.
Mactoes

* Nếu để một người trèo lên đầu bạn, thì sau anh ta sẽ có một hàng dài.
M.Genin

* Tính cẩn thận là mẹ đẻ của sự an toàn nhưng lại là con đẻ của nỗi sợ hãi.
A.Xenblec

* Đừng để những lời nói của người khác trong miệng mình. Làm sao mà biết được trước đó chúng đã ở trong bao nhiêu cái miệng khác.

* Nếu người đồng chí thất vọng về bạn, điều đó chứng tỏ rằng: anh ta chả còn cần đến bạn nữa.
M.Genin

* Hãy lao động nhiều hơn tất cả mọi người, nhưng hãy nói về bản thân mình ít hơn tất cả mọi người.
G.Xanluyxti

* Ai không tự tôn trọng bản thân mình thì cũng sẽ không được người khác tôn trọng.
N. Caramdin

* Con người cần 2 năm để học nói và cần 60 năm để học cách im lặng.
L.Phayvanghe

* Hãy ngừng nói ngay khi nhận thấy bản thân mình hoặc người nói chuyện với mình đang nổi nóng. Lời không nói ra là lời vàng lời bạc.
L.Tônxtôi

* Biết làm tròn bổn phận người con, sau này mới biết làm cha.
Gia Ngữ

* Quá tử tế dễ bị lợi dụng.
Ngạn ngữ Anh

* Ngay sau khi hành vi được giải thích bằng sự biện luận phức tạp thì hãy tin rằng hành vi đó là xấu xa. Cách giải quyết của lương tâm là thẳng thắn và đơn giản.
L.Tônxtôi

* Cách tốt nhất để trở nên có uy tín với mọi người là trở nên có ích cho họ.
M.Ep-sen-băc

* Trên đường đời, hành lý của con người cần mang theo là lòng kiên nhẫn và tính chịu đựng.
Maiacopxki

* Nói dối là dấu hiệu chắc chắn của sự hèn nhát.
Xuthơn

* Ai có thể làm được việc thiện mà không làm thì là ác rồi.
Sách cách ngôn Trung Quốc

* Lời nói nhã nhặn ôn tồn là lời nói có sức mạnh mãnh liệt nhất.
Glôđơn

* Để nói dễ hiểu, hãy nói chân thành. Và để nói chân thành, hãy nói như bạn nghĩ.
L.Tônxtôi

* Cái gì không tìm khi còn mặt trời thì phải tìm dưới ánh trăng. Cái gì không làm trong mùa thu thì mùa đông sẽ phải làm bù vất vả.
Ngạn ngữ Mông Cổ

* Hãy sống tốt đẹp đi và nhớ rằng, mỗi ngày có một đời sống riêng cho nó thôi.
Seneca

* Muốn nói phải nghĩ đến làm. Muốn làm phải nhớ đến nói.
Cổ ngữ Trung quốc

* Nên yêu cầu mọi người giúp đỡ chúng ta theo khả năng của họ chứ không phải theo nguyện vọng của mình.
G.Lit-then-bec

* Những sai lầm không được sửa chữa ngay dần dần trở thành một phần của tâm hồn.
Lê-ô-nôp

* Đừng thừa nhận điều gì không rõ ràng.
Decartes

* Đừng để cái gì đi đến chỗ quá đáng.
Ngạn ngữ Hy lạp

* Phương pháp tốt nhất để chống lại cái xấu là lánh xa nó.
Ngạn ngữ Anh

* Hành động tốt mà âm thầm là đáng kính nhất.
Pascal

* Bạn hãy tin cậy mọi người, họ sẽ trung thành với bạn. Bạn cao thượng với họ, họ sẽ biểu lộ sự cao thượng với bạn.
Emerson

* Chỉ có cuộc sống vì người khác mới là cuộc sống đáng quý.
A.Einstein

* Người ta thường cô đơn bởi vì người ta chỉ lo xây tường chứ không lo xây những nhịp cầu.
Anonymous

* Cách tặng quà nói nhiều về tính cách người tặng hơn cả chính món quà.
J.K.Lavater

* Tha thứ đã là tốt. Quên đi lại là tốt hơn.
Browning

* Sự chân thành là điều tốt đẹp nhất bạn có thể đem trao tặng một người. Sự thật, lòng tin cậy, tình bạn và tình yêu đều tùy thuộc vào điều đó cả.
Elvis Presley
THẠCH ĐỘNG ĐÔN HOÀNG 
NGUỒN GỐC VÀ THÀNH TỰU NGHỆ THUẬT 


Tâm Hiếu dịch
Đôn Hoàng - vùng đất phía Tây Bắc Trung Quốc - là điểm khởi đầu trên con đường giao thương hay còn được gọi là “con đường tơ lụa” giữa Trung Quốc và các nước Tây vực. Không chỉ đẹp về mặt vị thế, Đôn Hoàng còn là nơi chứa đựng nhiều kho báu nghệ thuật của người Trung Hoa cổ, đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 1987.
Hang đá Mạc Cao (tiếng Trung: 莫高窟, bính âm: mò gāo kū) là một hệ thống 492 ngôi đền cách trung tâm thành phố Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc, Trung Quốc 25 kmvề phía Đông Nam. Đây cũng được gọi là Thiên Phật Động(chữ Hán: 千佛洞; bính âm: qiān fó dòng)[1], hay hang Đôn Hoàng. Các hang đá này thực sự không phải làđộng mà là các công trình chạm khắc trong đá, thuộc dạng kiến trúc chạm khắc đá.
Hang Mạc Cao là một ngôi nhà đá có quy mô lớn nhất, nội dung phong phú nhất và có giá trị nghệ thuật cao nhất Trung Quốc còn tồn tại cho đến ngày nay. Các tác phẩm nghệ thuật chủ yếu trong ngôi nhà đá này là các tượng điêu khắc và các bức bích họa. Hiện nay nơi này còn có 492 hang động, 45.000m² bích họa và 2415 pho tượng, 5 ngôi nhà gỗ từ đời Đường, Tống. Năm 1987 hang Mạc Cao đã đượcUNESCO công nhận là "Di sản văn hóa thế giới".
(Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
Phía Tây hành lang Hà Tây, trên núi Minh Sa thuộc Đông Nam huyện Ðôn Hoàng tỉnh Cam Túc, có một vách núi cao sừng sững, bên trên gồm rất nhiều thạch động trông như tổ ong. Đây chính là khu Mạc Cao nổi tiếng Trung Quốc.

Đôn Hoàng vốn có lịch sử   lâu đời. Sách Thượng thư   Vũ Cống ghi: “Tam Nguy tức trạch”. Tam Nguy tức Cổ Qua Châu, nay là động Ðôn Hoàng. Hiện tại, phía Nam của động Ðôn Hoàng cũng gọi là núi Tam Nguy. Sách thường chép: “Vũ Cống thuộc thời đại Chiến Quốc”. Như vậy, Ðôn Hoàng đã có ít nhất hơn 2.000 năm lịch sử. Vào thời Hán Võ đế, Ðôn Hoàng được sáp nhập vào bản đồ nhà Hán, và tên gọi Ðôn Hoàng cũng bắt đầu từ đây. Hán thư Ðịa lý chí chép: “Ðôn Hoàng đương thời có 11.200 hộ, hơn 38.000 dân khẩu”. Hán Ứng Thiệu giải thích danh từ Ðôn Hoàng rằng: Ðôn là đại, Hoàng là thạnh. Có thể thấy, Ðôn Hoàng thời Hán Võ đế đã rất hưng thịnh.
Ðôn Hoàng nổi tiếng hoàn toàn không phải do lịch sử lâu đời của nó, mà nổi tiếng nhờ vào những thạch động. Thạch khu Mạc Cao từ Nam chí Bắc dài 1.618m, nay còn lưu lại 492 khu; trong những thạch khu này, hiện bảo tồn hơn 1.000 pho tượng và bích họa tương đối hoàn hảo. Theo thống kê, nếu liên kết những bích họa này lại, chúng có độ dài từ 50-60 dặm. Do đó, Đôn Hoàng được xem là viện bảo tàng mỹ thuật lớn và hùng vĩ nhất trên thế giới. Thạch khu còn lưu trữ nhiều sách cổ, kinh điển, tranh lụa quý giá, thật lộng lẫy, đẹp mắt.
Thạch khu Mạc Cao Ðôn Hoàng xây dụng sớm nhất vào thời Ngụy Tấn Nam Bắc Triều, và thời Tùy Ðường chính là giai đoạn phồn vinh nhất. Việc xây dựng thạch khu đầu tiên có liên quan đến một truyền thuyết ly kỳ như sau: Vào năm thứ 2 niên hiệu Kiến Nguyên Tiên Tần (năm 366), có một vị Hòa thượng hiệu Lạc Tôn vân du đến núi Tam Nguy phía Nam thành Ðôn Hoàng. Lúc này, mặt trời sắp lặn, song Hòa thượng vẫn tìm không ra chỗ nghỉ. Ngài thất vọng dõi mắt nhìn ra xa. Ðột nhiên, một cảnh tượng kỳ lạ xuất hiện: trên núi Tam Nguy phát ra luồng ánh sáng trang nghiêm sáng chói, tựa như ánh hào quang của chư Phật. Hòa thượng vô cùng xúc động, vội vàng đảnh lễ, và cho rằng đây là điềm chỉ thị của Ðức Phật: “Nơi đây chính là thánh địa!”. Sau đó ngài vội hóa duyên khắp nơi, quyên góp được một số tiền lớn, mời người đến khai mở thạch khu. Khi thạch khu thứ nhất ở Mạc Cao xuất hiện, tứ chúng Phật tử khắp nơi đến chiêm bái. Không lâu sau, Thiền sư Pháp Lương từ phương Đông đến khai mở thêm thạch khu thứ hai bên cạnh thạch khu của ngài Lạc Tôn (Theo “Văn bia trùng tu Phật am khu Mạc Cao” của Lý Hoài Nhượng - niên hiệu Thánh Lịch, Võ Chu, đời Ðường).
Kỳ thực, ánh sáng mà Hòa thượng Lạc Tôn thấy được, chỉ là sự phát xạ ánh sáng trên nham thạch lúc mặt trời sắp lặn. Cảnh tượng này bây giờ vẫn có thể nhìn thấy được. Vào thời đó, mọi người chưa lý giải được cảnh tượng tự nhiên này, họ lại sùng tín Phật giáo, nên cho rằng đó chính là ánh hào quang của chư Phật. Từ đó về sau, thạch khu Ðôn Hoàng bắt đầu nổi tiếng, các viên quan địa phương, thương nhân, thường dân, thậm chí cả những vị đại thần, công chúa nước ngoài, vì cầu phúc mà tiếp tục khai mở các thạch khu lớn nhỏ khác nhau. Ðến đời Ðường, khu Mạc Cao đã trở thành thánh địa Phật giáo với hơn 1.000 thạch khu, cho nên cũng gọi là “Thiên Phật động”.
Nghệ thuật Ðôn Hoàng không chỉ riêng ở khu Mạc Cao, mà còn ở tại Thiên Phật động, Du Lâm khu và Tiểu Thiên Phật động. Tuy nhiên, do số lượng tác phẩm, thành tựu nghệ thuật, cũng như được bảo tồn hoàn hảo nhất, nên thạch khu Mạc Cao nghiễm nhiên được chọn làm đại diện cho nghệ thuật Ðôn Hoàng. Vì vậy, trong bài văn này, chúng tôi chỉ chủ yếu giới thiệu đến nghệ thuật của thạch khu Mạc Cao.
Nghệ thuật khu Mạc Cao chủ yếu là tượng và bích họa. Nghệ thuật gia cổ đại kế thừa truyền thống tiền đại, sáng tạo rất nhiều các pho tượng màu đặc sắc. Nhưng những pho tượng nơi đây đều bằng đất, khác với các pho tượng đá ở thạch khu Long Môn, Tân Cương. Vì chất liệu đá của núi Tam Nguy khá thô cứng, không thể tạc tượng được, cho nên các nghệ nhân mới dùng đất để tạc tượng. Với những dụng cụ đơn giản, điều kiện khó khăn, bằng sức tưởng tượng phong phú và kỹ xảo điêu luyện của mình, các nghệ nhân đã sáng tác không ít những pho tượng độc đáo màu mang nhiều sắc thái khác nhau.
Những pho tượng đời Bắc Ngụy dáng dấp to cao, trán rộng, mũi cao, mày dài, tóc quăn, ngực trần, mang đậm sắc thái nghệ thuật Ấn Ðộ. Những pho tượng đời Ðường, gương mặt đầy đặn, nhu hòa, tai to, mũi thấp, dáng dấp không cân xứng, mang phong cách dân tộc Trung Quốc.
Ðời Ðường, tượng khu Mạc Cao đã đạt đến đỉnh cao nghệ thuật. Tổng cộng có hơn 670 pho tượng, chiếm hơn 1/4 trong số những pho tượng điêu khắc ở đây. Những pho tượng này hoàn toàn mang sắc thái riêng - nét mặt hài hòa, thần thái trang nghiêm, phục sức trang nhã. Tượng Thiên Vương thể hiện rõ phong cách của đấng trượng phu: oai nghiêm, chánh trực, dõng mãnh, cương nghị. Tượng Bồ tát dáng vẻ thoát tục, gương mặt đầy đặn, miệng mỉm cười, sinh động như thật, thể hiện nét đẹp hiện thực trong sinh hoạt của người phụ nữ đời Tùy Ðường.
Theo thống kê, khu Mạc Cao tổng cộng có 2.415 pho tượng, trong đó tượng cao nhất hơn 30m, tương đương độ cao tiền môn lầu thành Bắc Kinh; tượng nhỏ nhất chỉ hơn 10cm, điêu khắc tinh xảo. Những pho tượng này không những thể hiện được tài năng sáng tạo, trí tuệ siêu việt của nghệ nhân cổ đại Trung Quốc, mà còn hình thành nên chiều dài lịch sử phát triển nền nghệ thuật tạc tượng qua các triều đại Trung Quốc.
Bích họa khu Mạc Cao càng đặc sắc hơn. Nghệ thuật gia dùng bút màu, họa rất nhiều cảnh sinh động trên tường vách. Nội dung chủ yếu của các bích họa gồm: kinh biến, bổn sanh, tôn tượng, tượng người cúng dường và các đồ trang sức.
Kinh biến: kinh, chỉ Phật kinh; biến, là biến dịch. Có nghĩa là những bức họa biến Phật kinh thành hình tượng hóa. Kinh biến, chính là tranh Phật kinh. Những bức họa này chiếm phần quan trọng trong thạch động. Như “Tây phương tịnh độ biến”, các họa sư dùng sức tưởng tượng của mình, họa cảnh Cực lạc thế giới: Cung điện lầu đài nguy nga tráng lệ, ao nước thanh khiết, bồ đề xinh tươi, thiên không tường vân bay, trong ao thủy điểu dang rộng cánh, chính giữa là Phật Di Ðà đoan tọa trên tòa sen, hai bên là hai vị Bồ tát Quan Âm và Ðại Thế Chí, cùng rất nhiều Thánh chúng vây quanh.
Bổn sanh: Bổn sanh là chỉ những câu chuyện tiền thân Đức Phật Thích Ca. Tứ chúng Phật tử tin vào thuyết luân hồi, cho rằng Phật Thích Ca trước khi thành đạo đã trải qua nhiều kiếp, có kiếp là quốc vương, tăng sĩ, thương nhân... làm rất nhiều việc thiện cứu độ chúng sanh, đây là những câu chuyện chủ yếu trong kinh Bổn Sanh. Điển hình như phía Bắc thạch động số 275, có bức bích họa mô tả câu chuyện vua Thi Tì, vì cứu chim bồ câu sắp bị chim ưng ăn thịt, đã hiến thịt mình cho chim ưng. Trong bích họa, bên cạnh vua Thi Tì là một người đàn ông ngồi cắt thịt, cắt rất nhiều, nhưng vẫn không bằng trọng lượng chim bồ câu, cuối cùng đành phải lấy thân thể vua làm trái cân, và bồ câu được đặt trên bàn cân. Thạch khu số 254, họa câu chuyện bổn sanh của thái tử Tát Ðóa Na. Bích họa miêu tả 3 vương tử cưỡi ngựa đi săn, giữa đường trông thấy một con cọp đói, trừng mắt nhìn 7 con cọp con vừa sinh của mình. Xem chừng, nếu không có gì lót dạ, e rằng nó sẽ ăn thịt 7 cọp con. Thái tử Tát Ðóa Na cảm thương cọp con, quyết định hy sinh mạng sống của mình để cứu chúng. Thái tử để các anh đi trước, còn mình cởi áo quần, nằm trước mặt cọp mẹ. Qua hồi lâu, hai người anh không thấy em đâu, mới đi tìm, trông thấy áo quần và hài cốt của em, đau lòng bất tỉnh. Quốc vương và hoàng hậu sau khi nghe tin, đau buồn vô hạn, liền cho kiến tạo một ngôi bảo tháp ngay nơi thái tử xả thân để an táng di cốt thái tử...
Tôn tượng: là ảnh vẽ tượng Phật, Bồ tát, A La Hán, tiểu thiên Phật, thuyết pháp đồ... Trong bích họa tôn tượng, gây sự chú ý nhất là tượng phi thiên. Phi thiên là hình ảnh tiên nhân trong trí tượng tượng của người cổ đại, tự do bay lượn trên không, Phật giáo gọi là “Thần Hương Âm”, có thể tấu nhạc, nhảy múa, toàn thân tỏa hương. Ðạo Gia Tô phương Tây cũng có tiên, gọi là thiên sứ. Thiên sứ có đôi cánh, có thể bay. Ðạo giáo cũng tin tưởng có tiên, thường vẽ những đám mây dưới chân các vị tiên, biểu đạt chư tiên cưỡi mây bay. Tuy nhiên, phi thiên trong những bích họa khu Mạc Cao kết hợp cả hai thuyết trên. Các họa sư giỏi chỉ cần vẽ trên thân chư thiên hai dây phiêu đai, một xoay một gấp, thư thái nên trông các vi tiên trở nên nhẹ nhàng, uyển chuyển như đang bay. Phương pháp này đơn giản, khéo léo, lại giàu óc tưởng tượng.
Tượng người cúng dường: chỉ người xuất tiền cúng dường kiến tạo thạch khu, họ muốn họa hình ảnh mình trên tường vách, muốn thể hiện Phật tượng trong thạch động là do chính họ cúng dường, và như vậy, Phật và Bồ tát sẽ hộ trì cho họ. Những người cúng dường này là người có thật trong xã hội, có tên có tuổi đàng hoàng. Trong số họ có công tôn quý tộc, cũng có người ở vào địa vị thấp kém nhất. Như thạch khu số 107, có tượng của các kỹ nữ v.v...
Những pho tượng và bích họa này đã mô tả lịch sử thời đại một cách sống động. Nghệ thuật phản ánh cuộc sống hiện thực, tôn giáo vào thời đó. Xuyên qua tầng lớp mê tín, màn che thần Phật, chúng ta mới có thể nhận ra diện mạo thời đại một cách cụ thể, quan hệ giữa người và người, giữa giai cấp với giai cấp... Thời kỳ Ngụy Tấn Nam Bắc triều, xã hội loạn lạc, Nam Bắc Trường Giang, Hán tộc và bộ tộc du mục kiến lập chính quyền, chinh chiến không ngừng, đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc đan chéo nhau, nhân dân rơi vào cảnh lầm than. Những điều này cấu thành một bộ phận chủ yếu trong bích họa thạch khu. Mặc dù nghệ thuật khu Mạc Cao đa phần là câu chuyện Phật kinh, nhưng với tay nghề họa sư kỹ thuật cao, có lúc họ cũng vẽ lại những cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội hiện thực, càng thể hiện được thành tựu lớn của nghệ thuật thạch khu Mạc Cao.
Như trong bích họa phía Nam của thạch khu số 285, chúng ta thấy 5 tên cướp bị quan quân vây bắt, và bị đưa ra phán quyết. Một kẻ thống trị mão cao đai rộng, tuyên án: móc mắt. Thế là những tên cướp này bị tước hết áo quần, bị móc đi hai mắt, vứt ngoài đồng trống, cầu sống cũng không được, muốn chết cũng không xong. Thật không gì bi thảm bằng!
Một bích họa khác miêu tả cảnh tượng cuộc sống ở gần Phổ Ðà Sơn. Trong tranh có rất nhiều lữ quán: quán Long Tuyền có người đang giã gạo, quán Linh Khẩu có người đang đẩy cối xay, quán Thái Nguyên có người đang mài dao; trong chùa có người đang hội yến, các tăng sĩ đang hoạt động; trên đường người đi kẻ lại, không khí thật náo nhiệt. Ðây là bức tranh sinh động của Ngũ Ðài Sơn đầu đời Tống. Trong bích họa thạch khu số 45, chúng ta có thể thấy được một số thương buôn người Hồ, mũi cao, mắt sâu, râu cằm rậm đang lùa đàn lừa thồ đầy hàng, đi vào sơn cốc. Ðột nhiên, đoàn thương buôn gặp cường đạo, họ chắp tay cầu xin tha mạng, hàng hóa rơi vãi đầy trên đất. Bức họa phản ánh được cảnh mậu dịch Trung ngoại...
Những bích họa sinh động này không chỉ mang nghệ thuật tôn giáo, mà còn là bức tranh lịch sử, là di sản văn hóa xán lạn, huy hoàng của dân tộc Trung Hoa, miêu tả được hiện thực xã hội, thể hiện rõ hỷ nộ ái ố của con người, đồng thời, cũng phản ánh sự tàn bạo, dối trá của giai cấp thống trị.
Thời kỳ Minh Thanh về sau, thạch khu Mạc Cao bị vùi trong sa mạc, không người chú ý đến, mãi đến năm 1900, khu Mạc Cao mới bắt đầu khôi phục lại.
Ngày 26-5-1900, đạo sĩ Vương Viên Lục cư trú tại khu Mạc Cao, lúc thanh lý cát, phát hiện bức tường hướng Bắc có vết nứt. Ðâu ngờ rằng, lần phát hiện ngẫu nhiên này trở thành sự kiện trọng đại trong lịch sử văn hóa loài người thế kỷ XX.
Vương đạo sĩ thuận tay gõ vào bức tường, phát hiện bên trong vang vọng âm thanh trống rỗng. Ông Vương phá tường, thấy một cánh cửa nhỏ, bên trong cửa là một gian phòng chất đầy những vật trân quý, như: kinh quyển, văn thư, tranh lụa, hội họa, pháp khí... Nơi đây sau này gọi là Tàng kinh động. Trong những đồ vật phát hiện, có một số tư liệu văn hiến vô cùng quý giá của xã hội phong kiến 1.000 năm, là báu vật của dân tộc Trung Hoa.
Theo nghiên cứu của các nhà khảo cổ, thời kỳ Tây Hạ thống trị Ðôn Hoàng (sau 1049), Hòa thượng ở khu Mạc Cao vì lánh nạn, nên đem lịch sử bảo tạng đặt trong gian phòng này, bên ngoài kiến lập một bức tường phong lấp. Sau khi chiến loạn kết thúc, các vị Hòa thượng không ai trở lại, gian phòng trở nên bí mật không người biết đến.
Vương đạo sĩ hoàn toàn không biết được giá trị của đồ vật, nên tự ý đem một ít trong số đồ vật này tặng cho huyện trưởng Uông Tông Hạn. Ông Hạn lại đem tặng cho Diệp Xương Xí . Ông Xí là một học gia kim thạch nổi tiếng, nên đối với những di vật này vô cùng trân quý. Nhưng triều đình nhà Thanh bấy giờ thối nát, không lưu tâm đến những văn vật như thế này. Vì thế, từng đoàn thám hiểm nước ngoài, như Anh, Nga, Hungary, Pháp... đến khu Mạc Cao tìm báu vật, một số lượng lớn bảo vật bị họ mang đi, làm hư hỏng nặng một số bích họa, mãi đến khi bảo vật khu Mạc Cao chẳng còn lại bao nhiêu thì người Trung Quốc mới bắt đầu quan tâm đến.
Thời gian giải phóng, khu Mạc Cao được Ðảng và Chính phủ biết đến; năm 1950, Sở Nghiên cứu Văn vật Ðôn Hoàng được thành lập, khu Mạc Cao qua đó được trùng tu. Viên minh châu trên Con đường tơ lụa này bắt đầu phát sáng!
Ngày nay, nghệ thuật Ðôn Hoàng được các học giả thế giới chú ý đến, tiến hành nghiên cứu rộng rãi, hình thành một chuyên ngành nghiên cứu, gọi là Ðôn Hoàng học, đã nhiều lần tổ chức hội thảo Ðôn Hoàng học có quy mô thế giới. Nền nghệ thuật lâu đời Ðôn Hoàng đã được các nước biết đến, những tác phẩm nghệ thuật này trở thành báu vật quý hiếm trên toàn thế giới.
Tâm Hiếu
(Lược dịch theo Phật giáo và Văn hóa Trung Quốc)
Dưới đây là một số hình ảnh do BBT TVHS thu thập từ Internet:


Trong động có chứa Kinh Phật với 5 vạn bản kinh chép tay, tư liệu lịch sử, tranh lụa, tranh khắc gỗ và các tác phẩm thư pháp, được ca tụng là “Thư viện trên vách đá”. Khối lượng khổng lồ này đòi hỏi một phòng tranh dài 25km mới đủ để trưng bày hết, chẳng khác gì những kì động chứa bí kíp được mô tả trong những câu chuyện kiếm hiệp.
Phong cách nghệ thuật của những bức bích họa trong động Đôn Hoàng chịu ảnh hưởng của 2 phong cách bích họa Trung Nguyên. Các bức theo phong cách Tào gia có hình Phật mặc áo cà sa nhiều nếp gấp, vải mềm như bị ướt nước. Phong cách thứ 2 là phong cách bích họa đời Đường, chú trọng vào quần áo, cân đai của nhân vật.

Hang động ở Đôn Hoàng được vinh danh là thiên hạ đệ nhất động bởi sở hữu một quần thể lên tới 492 hang động và hơn 2.400 bức tượng Phật, cùng vô vàn bức bích họa, trải dài trên diện tích 45.000 m2.

.Cá chọi.


Fighting fish - Poisson combattant

***




VIDEO
Hình thu nhỏ


Hình thu nhỏ


Hình thu nhỏ


Hình thu nhỏ


Một nhiếp ảnh gia 43 tuổi người Thái Lan đã dùng các kỹ thuật đặc biệt để tạo ra những bức ảnh cá chọi dũng mãnh bay lơ lửng giữa không trung.


Hình ảnh tuyệt đẹp về loài cá chọi dũng mãnh
Những con cá chọi sặc sỡ được chụp lại với kỹ thuật đặc biệt





Hình ảnh tuyệt đẹp về loài cá chọi dũng mãnh
Hình ảnh tuyệt đẹp về loài cá chọi dũng mãnh
Chúng như đang lơ lửng trong không trung chứ không phải ở bể cá




Hình ảnh tuyệt đẹp về loài cá chọi dũng mãnh
Cặp cá chọi lung linh dưới ánh đèn




Hình ảnh tuyệt đẹp về loài cá chọi dũng mãnh
Một con cá chọi trắng nhìn như vũ công giữa không gian lơ lửng





Hình ảnh tuyệt đẹp về loài cá chọi dũng mãnh
Con cá chọi đỏ rực trên nền đen




Hình ảnh tuyệt đẹp về loài cá chọi dũng mãnh
Mỗi bức ảnh đều là một khoảnh khắc đặc biệt với loài cá này




Hình ảnh tuyệt đẹp về loài cá chọi dũng mãnh
Với những chiếc vây bản rộng và mềm, cá chọi trông như các vũ công trên sân khấu





Hình ảnh tuyệt đẹp về loài cá chọi dũng mãnh
Một chú cá chọi màu xanh bắt mắt




Hình ảnh tuyệt đẹp về loài cá chọi dũng mãnh
Cá chọi trắng




Hình ảnh tuyệt đẹp về loài cá chọi dũng mãnh
Cá chọi đỏ rực rỡ




Hình ảnh tuyệt đẹp về loài cá chọi dũng mãnh
Dựng vây chuẩn bị giao chiến




Hình ảnh tuyệt đẹp về loài cá chọi dũng mãnh
Cận cảnh khuôn mặt một con cá chọi đỏ sặc sỡ