Thứ Tư, ngày 10 tháng 2 năm 2016

THẤY THƯƠNG QUÁ:

MÈO ĂN CHAY, CHÓ CẦU NGUYỆN



Chú Mèo Phật Tử tại Nam Hàn. Thầy Hằng Thất nói về một chú mèo ăn chay và thường chiêm ngưỡng tượng Phật suốt 4 tiếng đồng hồ tại một ngôi Chùa ở Nam Hàn, phim thâu hôm Chủ Nhật 27 tháng 8, 2010 tại Chùa Kim Thanh. 


Chú Mèo dễ thương quá, có thể kiếp sau chú mèo sẽ được làm người. Mèo là loài vật hiếu sát, thích ăn thịt cá nhưng khi người ta đưa thịt cá đến thì chú mèo này lại bỏ chạy, và ngồi trước bàn Phật suốt ngày để ngồi thiền nghe kinh thật là một tấm gương cho chúng ta noi theo. 

Chó Cũng Biết Cầu Nguyện. Đó là chú chó một tuổi rưỡi có tên Conan, đang ngụ tại thiền đường Shuri Kannondo ở Okinawa, tây nam Nhật Bản.

Mỗi ngày chú chó thuộc giống Chihuahua trắng đen này đều dự lễ cầu nguyện cùng với chủ, thiền sư Joei Yoshikuni.  


Khi cầu nguyện, Conan ngồi thẳng trên hai chân sau và chắp hai chân trước ở ngực, đầu hướng về bàn thờ rất nghiêm túc. Du khách từ các nơi đã tìm đến thiền đường để chụp hình chú chó độc đáo này. 


Bất kỳ tín đồ phật tử nào ghé thăm ngôi đền Shuri-kannondo ở thành phố Naha, Nhật Bản đều kinh ngạc khi nhìn thấy một chú chó biết chắp móng vuốt y chang con người đứng cầu nguyện bên cạnh nhà sư.


Trong ảnh là Conan - chú chó nhỏ 18 tháng tuổi với bộ lông dài, mượt đứng khấn vái trong lúc chủ của mình lầm rầm đọc kinh. Conan thường có thói quen cầu nguyện như vậy trước lúc đi dạo hoặc trước giờ ăn. 

Chủ của Conan cho biết chú ta được đặt tên theo tiểu thuyết gia lừng danh Arthur Conan Doyle chứ không phải theo nhân vật Conan trong bộ phim “Conan the Barbarian” (Chiến binh cuồng nộ) mà người ta thường nghĩ tới. 



CON LÀ AI? THẦY LÀ AI?

~ Thích Tánh Tuệ

- Bạch thầy, con là ai ?

- Con là một đứa con lai,
Nửa lai đức Phật, nửa lai Ta bà.
Con là nửa trái me già,
Nửa kia còn lại thì là... chôm chôm. 

Cuộc đời con thích ôm đồm,
28 ngày mặn, 2 hôm muối mè.
Bữa thì mặt áo hoa hòe,
Đến ngày vía Bụt... ấp e Lam hiền.

Nửa mê cái cảnh chùa chiền,
Nửa mê đi shop, mê tiền, mê yêu...
Con là thập cẩm, đủ điều,
Nửa thương đức Phật, nửa... thương nhiều "người ta".

THẾ THẤY LÀ AI?

Thầy là một cái chổi chà,
Quét chùa cho sạch... quét ra ngoài đường.
Quét chợ, rồi quét phố phường,
Quét cả vui, buồn mới rụng sáng nay.
Quét lòng thế nhiễm đắm say,
Quét cho tàn cuộc mộng này mới ngưng!

Quán đời, thầy chỉ người dưng,
Chỉ là hạt bụi đường trần rong chơi.
Chừng nào con được thảnh thơi,
Thầy trao nghề Quét... cho đời nó thong dong.

Thứ Ba, ngày 09 tháng 2 năm 2016

XUÂN HOAN HỶ, XUÂN HẠNH PHÚC,

 XUÂN HY VỌNG = XUÂN DI LẶC

Thích-Chân-Tuệ

Hỏi: - Kính Thầy, trong chùa thường có tượng Phật Di Lặc, ngoài dân gian thường có tượng thần tài.
Hai bức tượng này khó phân biệt​. Kính mong quí Thầy hoan hỷ giải thích. 
Thêm nữa, trong chùa thường nói XUÂN DI LẶC. Ý nghĩa như thế nào, nhân dịp mùa xuân và tết Nguyên Đán đang đến, kính mong quí Thầy chỉ dạy.

Đáp: - Hai bức tượng khác nhau ở chỗ: tượng nào cầm vàng hay tiền là thần tài, chỉ có trong tín ngưỡng dân gian, không phải Phật Giáo.
Kính mời quí vị đọc bài viết Xuân Di Lặc dưới đây để hiểu thêm ý nghĩa.

Ý NGHĨA XUÂN DI LẶC

Tỳ-Khưu Thích-Chân-Tuệ

Theo truyền thống từ lâu đời của Tổ Tiên, từ nơi đô thành thị tứ, cho đến nông thôn xóm làng, vào ngày mùng một Tết Nguyên Ðán hằng năm, chúng ta cùng gia đình, thường hay đi chùa, lễ Phật tụng kinh, chí tâm cầu nguyện, chư Phật mười phương, thùy từ gia hộ, nhà cửa bình yên, gia đạo hạnh phúc, từ đầu năm chí những cuối năm. Ðồng thời chúng ta cũng gửi đến nhau những lời cầu chúc một năm tốt đẹp, vạn sự như ý, an lạc kiết tường. Trong nhà Phật, ngày mùng một Tết Nguyên Ðán đầu năm cũng là ngày vía đức Bồ Tát Di Lặc.
 
Chúng ta thường tụng: Nam Mô Ðương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật. Nghĩa là theo kinh điển Phật giáo, Bồ Tát Di Lặc sẽ thành một vị Phật trong tương lai. Như vậy, lễ vía đức Bồ Tát Di Lặc ngày đầu năm, đối với mọi người, mang ý nghĩa hy vọng được vạn sự kiết tường, vạn sự như ý trong năm mới. Còn đối với những người tu học, ngày vía đức Bồ Tát Di Lặc còn mang một ý nghĩa trọng đại, đó là sự tinh tấn tu tâm dưỡng tánh, quyết tâm quyết chí để chuyển hóa tâm trí, từ một phàm phu tục tử, đầy dẫy phiền não và khổ đau của ngày hôm nay, trở thành sáng suốt, giác ngộ và giải thoát của một vị Phật trong tương lai.
 
Nhân dịp đầu xuân năm nay, chúng ta hãy lắng lòng, dẹp qua một bên niềm ưu tư về những chuyện thăng trầm của thế sự, cùng nhau cố gắng tìm hiểu về đức Bồ Tát Di Lặc và những hạnh nguyện của Ngài, để áp dụng ngay trong cuộc sống của người Phật Tử tại gia, nhằm mục đích tạo được sự an lạc và hạnh phúc một cách trọn vẹn và thiết thực.
 
Theo quan niệm thông thường của dân gian, người ta thường kiêng cử đủ thứ chuyện trong ngày đầu năm mới, bởi vì cho rằng, chuyện gì xảy ra trong ngày đầu một năm sẽ "dông" suốt cả năm, nghĩa là chuyện đó sẽ được lặp lại nhiều lần trong suốt năm đó. Người ta coi hướng tốt để xuất hành, chọn những người "tốt tên tốt tướng" để mời đến nhà xông đất đầu năm, với niềm hy vọng được "hên" trọn năm, được tài lộc dồi dào suốt năm. Chẳng hạn người tên "Vinh" đi cùng với người tên "Quang", hoặc người tên "Tấn" đi cùng với người tên "Phát", hoặc người tên "Tài" đi cùng với người tên "Lộc" đến thăm, trong ngày đầu năm thì được lắm, tốt lắm, hoan nghênh. Còn như người tên "Quan" đi cùng với người tên "Tài", thì không được đâu. Ngày đầu một năm người ta kiêng cử không quét nhà, kiêng cử không khua chén đũa bát đĩa, với niềm hy vọng giữ được sự sung túc, an hòa trong gia đạo suốt năm.
 
Thực sự, ai ai cũng biết rằng những điều đó không đúng thực tế, người ta chỉ nghĩ và làm theo thói quen, theo phong tục tập quán, với niềm hy vọng được điều này điều kia, chứ không có căn cứ vào đâu cả, và nhất là không đúng với Chánh Pháp, nhưng cho đến ngày nay, vẫn còn không ít người cứ tin như vậy. Bởi thế cho nên, trong đạo Phật, chư Tổ chọn ngày mùng một Tết Nguyên Ðán là ngày vía đức Di Lặc và Phật Tử chúng ta thường gọi mùa xuân hằng năm là "Xuân Di Lặc", mang ý nghĩa "Xuân Hoan Hỷ", "Xuân Hy Vọng", hay "Xuân Hạnh Phúc". Ý nghĩa này hết sức tích cực, thâm trầm và lợi ích, chúng ta nên cùng nhau tìm hiểu.
 
Trước hết, chúng ta được biết, hình ảnh của đức Di Lặc được thờ trong các chùa, trông rất khỏe mạnh, mập mạp, và gương mặt luôn luôn tươi cười một cách hoan hỷ. Ðặc biệt, chúng ta thấy có sáu đứa bé bám trên thân của Ngài. Ðứa thì móc mắt, đứa thì móc mũi, đứa thì móc miệng, đứa thì chọc lỗ tai, đứa thì moi rún, mà Ngài vẫn tươi cười, như không có chuyện gì làm cho Ngài phải phiền hà bực dọc hết trơn. Hình ảnh của sáu đứa bé chính là bài học tích cực, giúp chúng ta xây dựng được một cuộc sống an lạc và hạnh phúc cho chính chúng ta và cho những người chung quanh, ngay trong hiện đời, ngay trong cuộc sống đầy phiền não và khổ đau này.
 
Có người còn gọi bức tượng đó là "Phật Hoan Hỷ". Ðầu năm đến chùa cúng vái Ngài để được "hoan hỷ" suốt năm. Nhưng cũng có nhiều người hiểu lầm cho đó là vị thần có nhiều con cái, để những ai muốn có con, hãy đến lễ lạy Ngài mà cầu xin! Cũng có nhiều người lầm lẫn với bức tượng khác của một vị thần to béo, miệng cười toe toét, có vẻ khoái trá, hai tay nâng một lượng vàng, đó chính là tượng thần tài, không liên quan gì đến Phật giáo.
Sáu đứa bé bám vào thân của Ngài đó tượng trưng cho "lục tặc", tức là sáu tên giặc chuyên gây phiền não, gây rắc rối, gây bực dọc cho chúng ta trong cuộc sống thường ngày. Sáu tên giặc đó là những ai? Làm sao chúng có thể gây rắc rối cho cuộc đời của chúng ta được? Chúng ta cần nhận diện rõ ràng sáu tên giặc đó, mới có thể điều phục được chúng, để xây dựng cuộc sống an lạc và hạnh phúc, một cách tích cực hơn.
 
Chúng ta có lục căn, tức là sáu giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. 

**Với hai con mắt, chúng ta trông thấy những hình ảnh nào dễ thương, hạp nhãn, thì sanh tâm đắm nhiễm, nhớ nhung, tham luyến, muốn chiếm đoạt làm của riêng mình; còn nếu trông thấy những hình ảnh khó ưa, xấu xí, thấy phát ghét, thì sanh tâm bực dọc, tức giận, bất an. 

**Với hai cái tai, chúng ta nghe những tiếng êm dịu, tâng bốc, thì sanh tâm đắm nhiễm, ưa thích; còn nếu nghe những lời chỉ trích khó nghe, chạm đến tự ái, chạm đến bản ngã to lớn của mình, thì không kham nhẫn, nên sanh tâm sân hận, oán ghét, bất an.

**Với cái mũi, chúng ta chỉ thích những mùi hương thơm ngát, dễ chịu và ghét những mùi khó chịu, những mùi lạ không vừa ý, nên sanh tâm bực dọc, bất an. 

**Với cái lưỡi, chúng ta chỉ thích ăn ngon khoái khẩu, hạp vị, mà không nghĩ đến sự đau khổ của các chúng sanh bị giết làm thịt; còn nếu không được ngon miệng, thì sanh tâm bực bội, gắt gỏng, bất an.

**Với cái thân tứ đại giả tạm này, nhưng vì mê lầm, chúng ta thường chấp là chính mình, chúng ta chỉ thích mặc đẹp và những xúc chạm vừa ý; còn nếu không được như ý, thì sanh tâm cau có, quạu quọ, tức tối, bất an. 

**Quan trọng hơn cả với cái tâm ý lăng xăng lộn xộn, không một giây phút ngừng nghỉ, chúng ta luôn luôn suy tư, nghĩ tưởng lung tung, linh tinh lang tang, tính toán những điều gì có lợi cho bản thân mình, cho gia đình mình, cho tổ chức mình, luôn luôn khen mình khinh người.
 
Nghĩa là trong cuộc sống hằng ngày, khi "sáu căn" của chúng ta tiếp xúc với "sáu trần", mà tâm niệm khởi lên thế này thế nọ, trong kinh sách gọi là "sáu thức", tức là phiền não bất an dấy lên vậy. Trong trường hợp như vậy, lục căn của chúng ta chính là lục tặc, tức là sáu tên giặc, đã, đang và sẽ dẫn dắt chúng ta vào sanh tử luân hồi, nhiều đời nhiều kiếp. Nói cách khác, sáu căn của chúng ta chính là cội gốc của sinh tử luân hồi. 

Người ta thường nói: "tam bành" (tham, sân, si) do "lục tặc" (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) gây ra, chính là nghĩa đó vậy.
 
Tuy nhiên, trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Ðức Phật có dạy: "Sáu căn chính là cội gốc của sanh tử luân hồi và sáu căn cũng chính là cội gốc của giải thoát Niết Bàn". Tại sao vậy? Bởi vì, nếu lục căn của chúng ta, tức là sáu giác quan, gồm có: nhãn, nhĩ, tĩ, thiệt, thân và ý, khi tiếp xúc với lục trần, tức là sáu trần cảnh bên ngoài gồm có: sắc, thinh, hương, vị, xúc và pháp, mà không đắm nhiễm, không dính mắc, không sanh lục thức, thì chúng ta đâu có bị phiền não, trong lòng đâu có nổi "tam bành". Tức là chúng ta không tham, không sân, không si, dù vẫn thường xuyên tiếp xúc với mọi người mọi cảnh trong cuộc đời. Giữ gìn được như vậy tức là chúng ta được giải thoát khỏi phiền não khổ đau, sống trong cảnh giới Niết bàn an lạc vậy.
 
Mắt trông thấy hình sắc thì biết rõ ràng người nào là người nào, món này là món này, nhưng không khởi niệm thương hay ghét, ưa hay không ưa. Tai nghe thấy tiếng thì biết rõ ràng là tán thán hay phê phán, nhưng không khởi niệm khoái chí hay bực bội. Mũi ngửi thấy mùi thì biết rõ ràng là mùi hương gì, nhưng không khởi niệm thích hay không thích. Lưỡi nếm vị thì biết rõ ràng là vị gì, nhưng không khởi niệm khen ngon hay chê dở. Thân xúc chạm thì biết rõ ràng là tốt hay xấu, nhưng không khởi niệm dễ chịu hay khó chịu. Tâm ý nghĩ suy thì biết rõ ràng là đúng hay sai, phải hay quấy, nhưng không khởi niệm kỳ thị, đố kỵ, so sánh, hơn thua, tranh chấp. Do đó, chúng ta đâu có bị kéo lôi, không có bị cột trói vào chuyện thương thương ghét ghét, chuyện đấu tranh tranh đấu, chuyện lặp đi lặp lại, chuyện nói tới nói lui, chuyện nói xuôi nói ngược, nghĩa là chúng ta đã thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi khổ đau đó vậy.
 
Thí dụ như mắt trông thấy lượng vàng, trông thấy kim cương hột xoàn, mà chúng ta không nổi lòng tham lam, ham thích, muốn sở hữu nó, thì đâu phải khổ công khó nhọc, đi làm đầu tắt mặt tối, để mua sắm nó. Còn nếu bản thân, vốn đã lười biếng, không chịu làm việc, mà lại tham lam, muốn có lượng vàng, muốn có hột xoàn, thì còn khổ hơn, gấp muôn bội phần! Không phải là chúng ta không cần tiền để sinh sống, nhưng cổ nhơn có dạy: 
"Tri túc tiện túc đãi túc hà thời túc. Tri nhàn tiện nhàn đãi nhàn hà thời nhàn". 
Nghĩa là người nào biết đủ thì lúc nào cũng thấy đủ và người nào biết nhàn thì lúc nào cũng thấy nhàn. Chỉ cần "biết" như vậy thì cuộc đời đã đủ quá rồi, đã nhàn quá rồi. Bằng như ngược lại, bao nhiêu mới gọi là đủ, chừng nào mới gọi là nhàn? Con người bận lo toan chuyện tranh danh đoạt lợi suốt cả cuộc đời, cho nên không bao giờ thấy đủ, chưa bao giờ thấy nhàn, chẳng kịp tỉnh thức thì đầu đã bạc trắng, thân đã mỏi mòn, không còn thời giờ để lo liệu sắm sửa hành trang, thì đã phải đi du lịch thế giới khác rồi!
 
Trong Kinh Di Giáo, Ðức Phật có dạy:
"Tri túc chi nhơn tuy ngọa địa thượng du vi an lạc.  
Bất tri túc giả thân xử thiên đàng diệc bất xứng ý".

Nghĩa là người biết thế nào là đủ, tuy nằm trên đất cũng lấy làm an lạc, vui sướng. Người không biết thế nào là đủ, dù thân có ở thiên đàng, tâm cũng vẫn không vừa ý! Chỉ cần "biết" như vậy thì cuộc đời an lạc và hạnh phúc hiện tiền! Bằng như ngược lại, dù có được cầu chúc tiêu diêu nơi miền cực lạc hay siêu thăng về cõi thiên đàng trên báo chí, cũng khó mà được lắm thay!
 
Thí dụ như tai nghe thấy tiếng khó nghe, mà tâm không chấp những lời vô nghĩa, thì chúng ta đâu có nổi lòng sân, và đâu có bị lôi vào vòng sanh tử luân hồi khổ đau. Trong kinh điển, Ðức Phật có dạy chúng ta là "y nghĩa bất y ngữ", tức là chỉ nghe theo những lời nói có nghĩa, mà không chấp những lời nói suông vô nghĩa. Nếu có người mắng chúng ta là đồ ngu, mà chúng ta nổi sân, cãi lại cho ra lẽ, thì quả là chúng ta ngu thật rồi, còn gì nói nữa. Nếu có người miệt thị chúng ta mất uy tín quá, mà chúng ta khiêm nhường chẳng thấy mình có uy tín gì để mà mất, thì bình yên quá! Những lời nói vô nghĩa như vậy khi đến nhĩ căn của chúng ta, tức là hai cái lỗ tai, cũng giống như gió thoảng mà thôi! Ðược như vậy, chúng ta sẽ sống cuộc đời an lạc và hạnh phúc, không nghi.

Bởi vậy, có một bài kệ như sau:

Mắt trông thấy sắc rồi thôi, (không dính) 
Tai nghe thấy tiếng, nghe rồi thì không. (không mắc) 
Trơ trơ lẵng lặng cõi lòng, (vô niệm) 
Nhẹ nhàng ta bước khỏi vòng trầm luân. (giải thoát)

Ngược lại, cũng có bài kệ như sau:

Mắt thấy sắc, thấy rồi thì dính, (dính)  
Tai nghe tiếng, nghe rồi thì mắc. (mắc)  
Tam bành lục tặc trong lòng, (loạn tâm)  
Nặng nề ta lọt vào vòng tử sanh. (phiền não)
 
Có người đến hỏi một vị thiền sư: Làm sao để được giải thoát? 
Vị thiền sư đáp: "Lục căn tiếp xúc lục trần, không sanh lục thức là giải thoát". 

Nghĩa là thường ngày, nếu chúng ta sống trong cõi đời này, sáu giác quan của chúng ta tiếp xúc với sáu đối tượng ở trần đời, mà không sanh tâm dính mắc, không sanh tâm loạn động vì tham sân si thì chúng ta sẽ được tự tại, giải thoát ngay hiện đời. 

Mắt trông thấy sắc, tai nghe thấy tiếng, mũi ngửi biết mùi, lưỡi nếm biết vị, nhưng mà đừng khởi niệm thương hay ghét, thích hay không thích, nếu như có khởi niệm rồi thì đừng theo. Như vậy chúng ta đâu có gì gọi là phiền não, sân hận hay bực dọc nữa. 

Từ xưa đến giờ, mỗi khi tâm khởi niệm, chúng ta liền theo đến cùng, theo từ chuyện đông sang chuyện tây, từ chuyện xưa đến chuyện nay, từ chuyện quốc gia đại sự đến chuyện hang cùng ngõ hẹp, từ chuyện xứ người đến chuyện xứ mình, từ chuyện người lớn đến chuyện trẻ con, từ đủ mọi thứ chuyện trên trần đời, để rồi than nhức đầu vì nhiều chuyện quá, than trời trách đất vì khổ thân khổ não quá!
 
Còn như sáu đứa bé luôn luôn chọc phá đức Di Lặc, mà Ngài vẫn tươi cười hoan hỷ như không có chuyện gì xảy ra. 
Nghĩa là "lục căn" của Ngài vẫn thường tiếp xúc với "lục trần", mà tâm của Ngài không sanh ra "lục thức", thì Ngài sống rất an nhiên, tự tại. 

Ðó là cảnh giới của những người "vô tâm", tức là những người không có tâm niệm lăng xăng lộn xộn, cho nên không có phiền não và khổ đau. 

Ðó là cảnh giới Niết Bàn ở ngay trong tâm trí của chúng ta hiện đời, chứ không phải đợi sau khi chết mới tiêu diêu nơi miền cực lạc, hay lên trên thiên đàng đâu đâu không tưởng. 
Ðạo Phật chủ yếu chỉ bày phương pháp rèn luyện tâm, chuyển hóa tâm, từ vô minh trở thành giác ngộ, từ tà vạy trở thành chân chính, từ phiền não và khổ đau trở thành an lạc và hạnh phúc. 

Ðạo Phật được áp dụng ngay trong thực tế của cuộc đời, trong mọi hoàn cảnh, giúp những người thiện tâm được sống bình an ngay tại thế gian này, chứ đạo Phật không phải chỉ lo cầu an cho người sống, cầu siêu cho người quá cố mà thôi. 

Hiểu được như vậy mới không phí phạm cả cuộc đời quí báu này!
Thiền sư Bá Trượng Hoài Hải có dạy: "Tâm cảnh không dính nhau là giải thoát". 
 
Nghĩa là chúng ta vẫn thấy, vẫn nghe, vẫn hiểu, vẫn biết tất cả các cảnh trên trần đời, trong kinh điển gọi là "kiến văn giác tri", nếu tâm của chúng ta không dính mắc thì không phiền não. Không phiền não tức là giải thoát. 

Thật là hết sức đơn giản. 

Lý lẽ tuy cao siêu, vi diệu, nhưng hết sức thực tế. Bất cứ ai cũng có thể làm được, không cần phải thờ lạy, cúng kiến, không phân biệt tôn giáo, sắc tộc, ngôn ngữ, nghề nghiệp, xuất xứ, học thức, nam nữ, già trẻ, bé lớn, giàu nghèo, sang hèn.

* * * 
Tuy nhiên, nói như vậy thì hiểu như vậy, chứ còn thực hiện được cái chỗ "không dính", cái chỗ "không mắc", cái chữ "vô tâm", cái chữ "vô niệm", thì chúng ta cần phải có phương pháp tu để ứng dụng, để thực hành. 

Làm sao chúng ta có thể sống vui tươi, hạnh phúc suốt năm và cả đời như đức Di Lặc? Ðiều đầu tiên, chúng ta hãy can đảm nhận thấy rõ cuộc sống của chúng ta vui ít khổ nhiều, đừng tự dối mình gạt người, nhưng không bi quan yếm thế và cũng đừng sống trong phiền não, khổ đau bi thảm như trước đây nữa. Muốn được như vậy, chúng ta phải đảnh lễ Ngài với tất cả lòng thành kính và hướng tâm hồn học theo cái hạnh nguyện của Ngài, đặng tâm trí được an vui phơi phới, dù đang ở trong bất cứ cảnh ngộ nào cũng vậy. 

Ðức Di Lặc tu theo pháp môn nào mà được tự tại như vậy? 
Ðó chính nhờ Ngài tu bốn hạnh "từ, bi, hỷ, xả", trong kinh sách gọi là "tứ vô lượng tâm", tức là bốn tâm địa rộng lớn thênh thang, không thể nghĩ bàn.
 
Với tâm từ, Ngài luôn luôn mang niềm vui đến với mọi người, bất cứ lúc nào, không phân biệt gì cả. 

Với tâm bi, Ngài luôn luôn cứu giúp những người đau khổ, những người bất hạnh, thương người như thương chính mình.
 
Với tâm hỷ, Ngài luôn luôn vui vẻ, hoan hỷ với những việc lành, những hạnh phúc, những thành tựu của tất cả mọi người xung quanh, không có tâm ganh ghét, đố kỵ, tị hiềm. Ngài luôn luôn nhớ câu: "Nam mô nhứt thiết chúng sanh hỷ kiến bồ tát". Nghĩa là Ngài luôn luôn noi gương những vị bồ tát mà tất cả mọi người đều hoan hỷ khi gặp mặt. 

Với tâm xả, Ngài không bao giờ chất chứa trong lòng, trong kho tàng tâm thức, bất cứ điều phiền muộn nào, dù nhỏ đến đâu. 

Trái lại, Ngài luôn luôn tha thứ cho bất cứ ai gây phiền muộn, rắc rối cho Ngài. 

Ðức Di Lặc không bị bất cứ phiền não nào tác động, cho nên thân tướng mập mạp khỏe mạnh, tâm trí thanh thản, thảnh thơi thơi thới, nét mặt lúc nào cũng hoan hỷ vui tươi. 
Nếu chúng ta muốn được an nhiên tự tại, muốn được hạnh phúc ngay hiện đời, chúng ta phải noi gương Ngài để tu bốn hạnh "từ, bi, hỷ, xả" vậy.
 
Nếu có tâm từ và tâm bi, chúng ta sẽ biết thương yêu và thông cảm với tất cả mọi người, dù kẻ đó đang gây phiền não cho mình, đồng thời chúng ta sẽ giảm bớt lòng tham và lòng sân. Thí dụ như chúng ta giúp đỡ bất cứ ai điều gì, hay chúng ta nuôi nấng con cái của mình, bởi do lòng từ bi, thì chúng ta sẽ không cầu báo đáp, không nhớ công lao, không kể lể ơn nghĩa, với mọi người hay ngay cả với con cái trong gia đình. 

Do đó, ai cũng hoan hỷ khi gặp mặt, không ai cảm thấy khó chịu, sau khi thọ ơn của chúng ta.
 
Chúng ta thường có lòng từ bi với những loài vật nhỏ nhít như ruồi muỗi côn trùng, hay lớn hơn như gà vịt heo bò. Chúng ta không nở giết hại chúng, không nở ăn thịt chúng. Nhưng đối với những con người sống chung quanh, như cha mẹ, vợ chồng, con cái, bạn bè, đồng nghiệp, đồng hương, đồng đạo, đồng bào, đôi khi chúng ta không nhịn nổi một câu nói chạm đến tự ái hay một hành động xúc phạm đến danh dự của mình, dù vô tình hay cố ý! Lòng từ bi như vậy đó cần phải được xét lại! Cũng vậy, chúng ta thường có lòng từ bi với người chưa quen hay với người ở phương xa, lâu lâu gặp một lần. Nhưng chúng ta khó có lòng từ bi với những người ở gần chung quanh, khi họ nói lời nào mích lòng mình, làm điều gì trái ý mình. 
 
Khi chúng ta thấy một người làm việc phước thiện, như cúng chùa hay tặng hội từ thiện một số tịnh tài chẳng hạn, nếu chúng ta phát tâm tùy hỷ, nghĩa là vui theo với việc thiện người khác làm được, thì chúng ta cũng được phước báu như người đó. 

Tại sao vậy? 
Bởi vì, trong kinh A Hàm, Ðức Phật có dạy:
 "Khi có người mồi ngọn đuốc được sáng rồi, nếu người khác đến mồi từ ngọn đuốc đó, thì ngọn đuốc sau cũng sáng như vậy, trong khi ngọn đuốc trước không giảm sáng chút nào". 
 
Cũng vậy, khi có người phát tâm làm việc phước thiện, thì tâm từ bi của người đó tăng trưởng, tâm tham lam bỏn sẻn của họ giảm bớt. Họ được phước báu, giảm bớt phiền não, lần lần tâm tánh của họ được thanh tịnh, cuộc sống của họ được an lạc hơn, hạnh phúc hơn. Nếu chúng ta phát tâm tùy hỷ, một trong tứ vô lượng tâm, vui theo với việc thiện của người khác, thì chúng ta giảm được tâm đố kỵ, ganh tị, tâm từ bi của chúng ta cũng tăng trưởng, và khi đủ duyên, chúng ta cũng sẽ làm việc thiện đó vậy.
 
Còn đối với tâm xả, đó là chỗ hết sức cao siêu của người tu hạnh giải thoát. Muốn được giải thoát, muốn được tự tại, nhẹ nhàng bước ra khỏi vòng trầm luân, sanh tử luân hồi, nhứt định chúng ta phải tu hạnh xả. Nếu lục căn của chúng ta tiếp xúc với lục trần, đừng dính đừng mắc, cái gì cũng xả, cái gì cũng bỏ qua hết, thì chúng ta không còn gì để đem vào chứa trong kho tàng tâm thức của chúng ta hết. Lúc đó, chúng ta sống trong tự tại nhẹ nhàng, thảnh thơi thơi thới, không lo âu phiền muộn, không ưu tư lo lắng, không thấp thỏm phập phồng.
 
Do tâm từ bi, chúng ta làm được biết bao nhiêu việc phước thiện không mệt mỏi, và do tâm hỷ xả chúng ta vui vẻ bỏ qua hết, quên hết tất cả những việc đã làm, quên hết tất cả những việc bất như ý. Trong tâm thức của chúng ta không có bốn tướng "ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả". Tức là chúng ta không thấy có mình là người làm phước, có kẻ khác là người nhận lãnh và không nhớ, không để tâm đến những việc tốt chúng ta đã làm, đã cho, đã giúp đỡ bao nhiêu người khác. Như vậy chúng ta sẽ không cầu được báo đáp, không kể lể, không đòi hỏi bất cứ ai nhớ ơn chúng ta, thì chúng ta không có phiền não chút nào cả, nếu gặp phải những người không biết chuyện ơn nghĩa. Sách có câu: "Thi ân bất cầu báo", chính là nghĩa đó vậy.
 
Chúng ta sở dĩ bị sanh tử luân hồi nhiều đời nhiều kiếp, bởi vì chúng ta dính mắc quá nhiều. Chúng ta chẳng những không biết buông xả, trái lại, còn chứa nhóm quá nhiều thứ trong tàng thức, trong kho tàng tâm thức của chúng ta. Hôm nay, nhân dịp năm cũ sắp hết, để chuẩn bị chào đón năm mới sắp sang, theo thông lệ, chúng ta thường lo sửa soạn trang hoàng nhà cửa, và đồng thời mở cửa nhà kho, dọn dẹp cho sạch sẽ, sắp xếp cho ngăn nắp. 
 
Cũng vậy, để có được một mùa "Xuân Di Lặc", mang ý nghĩa "Xuân Hoan Hỷ", "Xuân Hy Vọng", hay "Xuân Hạnh Phúc", chúng ta không thể quên việc chăm sóc, dọn dẹp, sửa sang cho thực sạch cái "kho tàng tâm thức" của chúng ta.
 
Lục căn của chúng ta cũng như các bộ phận của cái máy quay phim, hằng ngày thu nhận không biết bao nhiêu là hình sắc, âm thinh, rồi đem chứa vào trong kho tàng tâm thức. Thỉnh thoảng hay lâu lâu, thậm chí đến mấy chục năm sau, đến lúc tuổi già, mang ra chiếu lại, để cười chơi hoặc để tức giận, như thể chuyện mới xảy ra ngày hôm qua còn nóng hổi vậy. Mặc dù những diễn viên trong đó đã đi vào quá khứ từ lâu! Họ đã quên hết mọi chuyện, chỉ có chúng ta là còn nhớ quá kỹ, để lãnh đủ phiền não khổ đau. Nếu buông xả được, xóa được những cuốn băng trong kho tàng tâm thức, chúng ta sẽ trở nên con người vui tươi dễ chịu, lúc nào cũng hoan hỷ vui vẻ như đức Di Lặc vậy, nhứt thiết chúng sanh sẽ hoan hỷ kiến, không nghi.
 
Lúc đức Phật còn tại thế, có một người mang hai chậu bông đến cúng dường, với tâm mong cầu pháp môn tu giải thoát. Khi gặp mặt, Ðức Phật bảo buông, ông ta bèn buông tay trái, chậu bông rơi xuống đất. Ðức Phật lại bảo buông, ông ta bèn buông tay phải, chậu bông thứ hai rơi xuống đất. Ðức Phật lại bảo buông, ông ta bèn thưa: Bạch đức Thế Tôn, hai tay con đã buông hết rồi, đâu còn gì để buông nữa? Ðức Phật dạy: "Như Lai bảo ông buông lần thứ nhứt là bảo ông buông sáu căn, lần thứ hai là bảo ông buông sáu trần, lần thứ ba là bảo ông buông sáu thức. Khi căn, trần, thức không còn nhiễm trước, tức thập bát giới không thành lập, thì ông được giải thoát". 

Lục căn, lục trần và lục thức nói chung là thập bát giới. Thập bát giới không thành lập có nghĩa là: lục căn tiếp xúc với lục trần không sinh ra lục thức! Thực là đơn giản!
 
Tóm lại, chúng ta cần lưu ý là đức Thích Ca đã đi tìm đạo, đã tu tập, đã chứng đạo và đã thành Phật dưới cội cây bồ đề, ngay tại thế giới ta bà này, từ 26 thế kỷ trước, lịch sử đã ghi lại rõ ràng. Và sau này, đức Di Lặc cũng sẽ hạ sanh ở thế giới ta bà này, để tu hành và sẽ thành Phật dưới cội cây long hoa. Nghĩa là mười phương chư Phật đều thành Phật ở ngay tại thế giới ta bà này, chứ không phải ở thế giới nào khác.
 
Bởi vì ở các cõi thiên giới quá sung túc vật chất, chúng sanh ở đó ham vui, lo hưởng thụ quên tu, còn ở các cõi địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh thì quá khổ về vật chất lẫn tinh thần, nên cũng không tu được. Chỉ có ở thế giới ta bà này, con người có đủ thuận cảnh lẫn nghịch cảnh để tu hành, để thử thách và tiến đến chỗ giải thoát mà thôi. Chúng ta nên bình tâm xét lại những mộng tưởng về cõi Tây phương cực lạc, hay cõi thiên đường ở kiếp sau, để tích cực tu tâm dưỡng tánh ngay hiện đời, để khỏi uổng kiếp làm người trong muôn một. 
 
Chúng ta đã nghiên cứu và thấu hiểu một cách rất rõ ràng phương pháp tu giác ngộ và giải thoát, hay ít ra cũng đạt được an lạc và hạnh phúc hiện đời. Vậy chúng ta hãy bắt đầu cất bước lên đường làm hành giả kể từ mùa xuân năm nay là vừa. Ðược như vậy, chúng ta sống trên cõi đời này sẽ thấy nơi đây chính là cõi an lành tự tại, là một thế giới đầy tình thương yêu, đầm ấm. Thế gian này chính là cảnh giới của chư Phật, chư hiền thánh nhơn, chư thượng thiện nhơn, chứ không còn là cảnh giới của phàm phu tục tử nữa. Kính chúc quí vị được hưởng một mùa xuân Di Lặc, mùa xuân hy vọng, mùa xuân an lạc và hạnh phúc, mùa xuân miên viễn của tất cả chúng ta vậy.

.... Không cần phải có chùa chiền ....... những triết lý phúc tạp.







Từng Ngày Nhớ Phật

Mùa Xuân ngồi niệm Phật
Lượng đất trời rộng thênh
Nghe Xuân về rót mật
Với yêu thương, thanh bình.

Mùa Hạ ngồi niệm Phật
Nắng trải vàng tâm tư
Cõi đời dù oi bức
Vẫn thanh lương, khoan từ.

Mùa Thu ngồi niệm Phật
Lá u sầu nhẹ buông
Bao muộn phiền nhân thế
Thoáng mây về xa phương..

Mùa Đông ngồi niệm Phật
Niệm dần vào lắng sâu
Thân và tâm hợp nhất
Đau thương hóa nhiệm mầu.

- Bốn mùa con niệm Phật
Mời Phật vào trong tâm
Rải lòng từ khắp cả..
Tây Phương nào xa xăm.

Từng ngày con nhớ Phật
Gỗ mục thành phong lan.
Cùng con ong, cái kiến..
Sẽ thành Phật xếp hàng.

Từng giờ con nhớ Phật
Đời bao dung, dịu dàng!
Chợt hiểu tâm là Phật
Phật không rời thế gian.
Namo Buddhaya
Như Nhiên - ( Th Tánh Tuệ)

                                                       

7,55 GB (50%) trong tổng số 15 GB được sử dụng
Hoạt động tài khoản gần đây nhất: 6 giờ trước
Chi tiết

XUÂN NẦY CON KHÔNG VỀ


Đầu Xuân nghe nhạc phẩm "Xuân nầy con không về" do con mình từ xa gửi về,  gợi nhớ lại những năm tháng lao lý.
Lần đầu tiên trong đời vào nằm trong nhà lao ở vùng hiu quạnh nơi rừng xanh xa lạ. Một cuộc đời tù mà không có tội trong buổi giao thời của đất nước sang trang. 30 năm làm tu sĩ, trãi qua nhiều Tỉnh thành, từ thôn quê đến phố thị, qua bao mùa Xuân trên đất nước chiến chinh, cũng bao lần nghe nhạc Xuân, kể cả nhạc phẩm "Xuân nầy con không về", thế mà lòng không khỏi xúc động khi nghe văng vẳng giữa đêm khuya, từ nhà dân, có lẽ xa lắm, vọng lại.
Trong phòng giam gần 60 mạng người đủ loại tội phạm. Cận tết, các phạm nhân đều có gia đình thăm viếng. Đêm giao thừa, anh em tù quây quần từng nhóm giữa các món ăn  ngày tết. Người nghĩ đến thân nhân bên ngoài liệu có đủ ăn hay dành những món ngon nhất gửi vào trại giam, khi mà xã hội còn ăn bột mì, bo bo. Cũng có những tội phạm hình sự vô tư chiếm đọat thực phẩm của kẻ khác. Những anh em binh lính, cán bộ chế độ cũ thấm thía niềm đau giữa lúc xa nhà, vợ con trong đêm giao thừa. Dĩ nhiên họ cũng đã từng xa nhà như thế trong lúc chiến tranh, nhưng cảnh xa nhà trong lúc nầy là vết roi thầm lặng thấm vào con tim. Riêng tôi,một tù nhân không thân thuộc, không bạn bè, không tín đồ, không ai quan tâm trong lúc cuộc sống của họ còn nhiều tất bật cho gia đình, và cũng không có sự gắn bó nào giữa mình và họ.Tôi là một tù nhân cô đơn mà anh em gọi là con bà Phước. Suốt 10 năm ăn cơm tù cũng là 10 năm thấm thía nghiệp quả do mình tạo trong những kiếp xa xưa. Ngày nắng cháy phơi lưng nơi rừng sâu, lao động, đêm gió lạnh Đông về co ro trong chiếc áo tù, mỏng manh; không có gì để nhớ để mong nơi xã hội bên ngoài, hình như an phận và sẵn sáng chấp nhận bỏ xác nơi lao lý mà không một ai nhang khói, giổ quảy, thế nhưng, 10 mùa Xuân là 10 mùa đau thương mỗi khi các  nhạc Xuân vọng lại. Anh em  từng nhóm ngồi hàn huyên bên quà tết thì riêng tôi, nằm quay mặt vào vách để nghe lòng thổn thức cô đơn.
Ra khỏi tù năm 1987, đã 39 tuổi, xã hội còn khó khăn, không chùa nào dám cho nhập cư, đành hội nhập với thế gian, phải thích ứng để sống tiếp tục kiếp gian truân.Ngồi vỉa hè bơm quẹt gas, chở gas, chở hàng mướn suốt 20 năm để có cuộc sống bên lề xã hội. Đến 70 rồi, không còn đủ sức lao động chân tay, buộc phải lao động trí óc để xác định sự tồn tại trên thế gian, tuy vẫn là loại vất vưỡng không pháp lý ở cỏi dương thì chắc sẽ là cô hồn không sổ bộ ở cỏi âm.
Ngỡ như bị chai lỳ với cuộc sống con người, thế nhưng, con trai đã gửi về nhạc phẩm "Xuân nầy con không về", một nhạc phẩm không xa lạ, từng là ngọn roi thầm lặng tạo vết thương con tim trong quá khứ, giờ đây, nó vẫn còn đủ khả năng tác động niềm đau cho bản thân hồi tưởng quá khứ và nghĩ đến số phận cho đứa con nơi xứ người, cuộc sống mỏng manh như sợi tơ hồng vất vưỡng trên đọt cây trước gió. Tuy tương lai của con rạng rỡ, nhưng hiện tại không có gì bảo đảm để tương lai vững chắc như thế. 20 tuổi một thân một mình con lưu lạc xứ người, chịu bao gian nan vất vả không có người thân bên cạnh; nhiều tháng con phải ăn bắp và khoai lang chiên lót dạ để tiếp tục vượt qua khóa khăn. Tuy giờ đây con được cô P cưu mang chỗ ở, mọi sự còn lại vẫn là gánh nặng đè trên vai người cha 70 năm khốn khổ suốt đời. Rất may, con chịu khó học và đủ bản lãnh vượt thử thách. Nỗi buồn xa xứ những năm qua của con dẩu sao vẫn là nỗi buồn tha hương lập nghiệp, vẫn hơn là nỗi buồn lúc 8 tuổi ba phải lưu lạc để ngày hôm nay tiếp tục làm kiếp cò lặn lội nuôi con. Làm người để trả quả cho đời, cho con, cho gia đình...ba không buồn nhưng vẫn đắng lòng mỗi độ Xuân sang. Trên đoạn đường còn lại, tuy không có ai là thân thuộc, nhưng vẫn còn đọng lại một chút thông cảm của ai đó trên quả đất nầy. 7 tỷ người chỉ cần một ai đó là người hiểu mình là đủ ấm lòng, như vậy mình chưa phải là kẻ cô đơn, vẫn phải tiếp tục sống cho qua kiếp người.
Đây là mùa Xuân thứ 4 con xa nhà, xa nhà cho một tương lai sáng lạn. 70 năm ba xa lạ với cuộc đời mà vẫn phải chấp nhận, không một hạnh phúc nào thật sự để bù đắp cho 70 năm gian truân kiếp người; chỉ mong tất cả người quen cũng như lạ đểu hạnh phúc mỗi độ Xuân sang, để phố phường, không ai là lẻ loi giữa rừng người hạnh phúc. Gian nan là phương tiện giúp ta mạnh mẽ hơn, đời còn dài, con sẽ tiếp tục gặp gian nan để tiến thân, dẫu sao, ngôi sao định mệnh của con vẫn sáng hơn ngôi sao của người cha nầy chưa từng được ăn học, chưa từng được ai lo lắng nuôi nấng dù đang ở trong tù lúc xưa.
"Xuân nầy con không về" thì những Xuân sau con cũng về thôi.


những ngày giáp Xuân BÍNHTHÂN 2016 - 27/ CHẠP NĂM ẤT MÙI       

    MINH MẪN

Thứ Bảy, ngày 06 tháng 2 năm 2016

Đi tìm sức mạnh dân tộc

Thục Quyên

Sự thành công của Hội nghị chống biến đổi khí hậu- Paris 2015/COP21 do một phần được xây dựng trên nền tảng ảnh hưởng của một ông cụ già Việt Nam, đang được ghi nhận và thán phục.

Người phụ nữ mang trọng trách tổ chức, sửa sọan và lèo lái diễn biến của Hội Nghị là bà Christina Figueres, con gái cựu tổng thống Costa Rica, Jose Figueres Ferrer.

Là người tham gia vào các cuộc đàm phán về thay đổi khí hậu từ năm 1995, và được Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-moon bổ nhiệm làm lãnh đạo "Cơ quan xử lý với tình trạng thay đổi khí hậu" của Liên Hiệp Quốc năm 2010, bà Figueres vừa cho biết trong một cuộc phỏng vấn với  ký giả Jo Confino của tờ The Huffington Post(1):

" Tôi biết đây là một cuộc marathon chạy bộ đường trường 6 năm dòng dã, không thời gian nghỉ mệt. Tôi thực sự cần một điểm tựa. Tôi nghĩ rằng tôi đã không thể có đủ khả năng chịu đựng về tinh thần, không có được sự lạc quan vững mạnh, độ sâu của cảm hứng và dấn thân, nếu tôi không luôn có bên mình những lời dạy của Thầy Thích Nhất Hạnh."

Sự dạy dỗ của hành động.
Bà Figueres không nhắc tới những lời dạy trong hàng trăm cuốn sách của Thầy Nhất Hạnh dịch qua hàng chục thứ tiếng quốc tế,  bà cũng không nhắc hay tung hô vạn tuế gì con người của Thầy Nhất Hạnh, bà chỉ nhắc tới đạo đức và sự kiên trì của Thầy đã là một tấm gương đưa bà đến tỉnh thức, nhìn thấy cốt lõi của vấn đề, gạt bỏ những phù phiếm ồn ào sặc sỡ để chú tâm vào chiều sâu của sự việc.

Người phương Tây có khuynh hướng không cả tin vào lời nói mà quan sát việc làm để học hỏi, và họ cũng tỏ lòng ngưỡng mộ, không bằng những bài viết tràng giang đại hải, mà bằng việc làm:

Như bà Figueres đơn giản nhắc tới Thầy Nhất Hạnh trong giờ phút thành công lớn nhất của đời bà : sau 20 năm chờ đợi đầy căng thẳng, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, 196 đại diện các quốc gia đã gạt bỏ được mọi vị kỷ để ký bản thoả thuận cắt giảm lượng phát thải khí carbon chống biến đổi khí hậu toàn cầu đang đe dọa loài người, tại Hội nghị Thượng đỉnh Liên Hiệp Quốc COP21-Paris lúc 17 giờ 30, tức 23 giờ 30 giờ Việt Nam ngày 12/12/2015.

Hoặc như giám đốc Ngân Hàng Thế giới Jim Young Kim, mời Thầy tới dạy sống tỉnh thức và an lạc cho nhân viên điều hành của ông, trong khi họ đang làm công việc xóa đói giảm nghèo trong thế giới. Như tập đoàn công nghệ Google mời Thầy đến hướng dẫn người của tổ chức họ cách sống đơn giản hạnh phúc, đưa tới khả năng hoạt động hiệu qủa.

Như chính phủ Cộng Hoà Liên Bang Đức giao toà nhà lớn nhất của thành phố Waldbroel cho Thầy để đặt Viện Phật học Ứng dụng, trung tâm phát huy tinh thần tương tức, an lạc của Phật giáo. Mô tả bài học đã nhận được từ chương trình chuyển đổi toà nhà khổng lồ này (đã từng là bệnh viện tâm thần bị Hitler trưng dụng sau khi đã bức hại tất cả các bệnh nhân) thành một viện Phật học của thầy Nhất Hạnh, bà Figueres kể:

Thầy cắt nghĩa lý do ông nhận nơi này vì ông muốn chứng tỏ, hoàn toàn có thể chuyển hóa đau khổ  thành tình thương, chuyển đổi từ vị trí một nạn nhân thành kẻ thắng cuộc, thay hận thù bằng tình thương và tha thứ. Thầy muốn chứng minh những điều này ngay tại đây, một nơi đã bị dính líu tới sự vô nhân đạo, độc ác tột cùng (của Hitler)....

Diễn biến chương trình này của Thầy có nhiều khía cạnh tương đương với cuộc hành trình tìm đồng thuận cho sự bảo vệ khí hậu. Đó là một chuyến đi từ đổ lỗi cho nhau đến bắt tay nhau hành động, từ cảm giác hoàn toàn bị tê liệt, bất lực, bó tay trước sự kiện, đến ý thức sức mạnh chúng ta có thể làm được"

Thầy Nhất Hạnh và quê hương của Thầy.
Trong mắt thế giới, quê mẹ "Bướm bay vườn cải hoa vàng" thân thương của Thầy Nhất Hạnh đã có những thái độ thiếu hiểu biết và phũ phàng đối với Thầy.

Trong khi nhà hoạt động nhân quyền vĩ đại của Mỹ và cũng của thế giới Martin Luther King Jr. viết về Thầy như hiện thân của hoà bình và bất bạo động, và năm 1967 đề cử Thầy với giải Nobel Hoà Bình, thì cả hai chính phủ Việt Nam, Cộng Hoà lẫn Cộng Sản, đua nhau kết tội và lần lượt dùng vũ lực buộc Thầy sống lưu vong, để họ có thể say sưa kéo dân tộc vào cuộc huynh đệ tương tàn, chỉ vì những ý thức hệ ngoại lai.

Trong khi Đức Giáo Hoàng Paul VI, sau khi đàm luận với thầy Nhất Hạnh, phái Đức Ông Pignedoli đại diện ngài qua Việt Nam năm 1966 họp hội đồng giám mục và cho ra bản tuyên bố (2) phù hợp với ý hướng của ngài là cuộc xung đột (Nam Bắc Việt Nam) phải được khắc phục, dù cho phải chấp nhận một vài điều bất lợi hay phiền hà, thì khối công giáo tại miền Nam Việt Nam lại tới tấp đánh phá Thầy và vu cáo  tranh đấu chống chiến tranh (phản chiến) là phản quốc, dù những hành động và lời kêu gọi của Thầy đều nêu rõ tất cả những bên tham chiến phải ngưng lại tìm giải pháp để chấm dứt sự tàn phá vô nhân đạo của chiến tranh.

Ảnh hưởng của „Đạo Bụt dấn thân“ do Thầy Nhất Hạnh khai triển và đưa vào phương Tây, được đón tiếp một cách trọng vọng như một mô hình đạo đức cần có, để bảo vệ sự cao qúi của con người và xây dựng một đời sống xã hội lành mạnh, an lạc. Thầy là nhân vật duy nhất trên thế giới được tạc tượng trong khi vẫn còn tại thế. Thầy là vị thiền sư duy nhất mà chính phủ một quốc gia có truyền thống Thiên chúa Giáo như nước Đức lại tín nhiệm giao cả một tòa nhà có tính cách lịch sử ngay trung tâm đất nước họ, để mong người dân của họ được hưởng hoa trái thực tiễn những công việc làm của Thầy. Vậy mà tại Việt Nam, thiền viện Bát Nhã của Thầy bị tranh cướp, ngay chùa tổ Từ Hiếu do thầy tổ giao phó để lại, Thầy cũng không được chăm lo.  

Không phải mặt vật chất là điều đáng nói. 
Nhưng Thầy Nhất Hạnh là một hiện thân của tinh anh Việt Nam mà dân tộc lãng quên, cái tinh anh ngàn đời đã là sức mạnh bảo toàn giòng giống hùng mạnh, không sợ hãi cúi đầu nô lệ giặc phương Bắc, không bị xoá khỏi bản đồ thế giới.

Tiếp nhận và biểu hiện sức mạnh dân tộc
Thầy Nhất Hạnh không phải là một nhân vật để tung hô vạn tuế hay để tôn thờ. Thầy chỉ là một người con của dòng giống Việt, đã biết tiếp nhận và làm biểu hiện tinh anh của tổ tiên và đạo giáo. Tinh anh đó tất cả mọi người dân Việt đều mang trong người. Chỉ cần ta nhìn nhận sự có mặt của nó và học hỏi Thầy Nhất Hạnh cách biểu hiện nó thành sức mạnh dân tộc.

Dân tộc chúng ta sẽ phải làm cuộc hành trình như thế giới vừa làm để đối phó với mối nguy tận diệt như bà Christina Figueres mô tả:

"Đó là một chuyến đi từ đổ lỗi cho nhau đến bắt tay nhau hành động, từ cảm giác hoàn toàn bị tê liệt, bất lực, bó tay trước sự kiện, đến ý thức sức mạnh chúng ta có thể làm được".

Thầy Nhất Hạnh đã tin vào sức mạnh của dân tộc Việt, tin vào ảnh hưởng nhiệm mầu của đạo giáo có thể  "chuyển hóa đau khổ thành tình thương, chuyển đổi từ vị trí một nạn nhân thành kẻ thắng cuộc, thay hận thù bằng tình thương và tha thứ"  nên Thầy chưa từng một lần chịu thua bạo lực của con người cũng như của thiên kiến, vị kỷ.

Chắc chắn còn vô vàn những con người Việt Nam mang trong mình tinh anh của dòng giống và còn vững tin vào sức mạnh dân tộc như Thầy. Chỉ cần mỗi chúng ta sẵn sàng dấn thân, thể hiện sức mạnh này trong phạm vi của mình, thì tình trạng kiệt quệ thảm thương của đất nước ngày hôm nay sẽ chấm dứt.
MÀN BIỂU DIỄN ÁNH SÁNG TUYỆT VỜI