Thứ Tư, ngày 30 tháng 7 năm 2014

* BÁO NGƯỜI CAO TUỔI



Báo Người Cao Tuổi ra ngày 29/7/2014: Viết tiếp bài “Tu sĩ coi thường pháp luật”: Thấy gì từ “thông điệp” của Hòa thượng Thích Thiện Nhơn trụ trì chùa Minh Đạo?

Ngày 3/7/2014, Hòa thượng Thích Thiện Nhơn, Phó Chủ tịch Thường trực, kiêm Tổng thư kí TW Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trụ trì chùa Minh Đạo, địa chỉ 12/3B Kỳ Đồng, Quận 3, TP Hồ Chí Minh kí ban hành văn bản (sau đây xin gọi là “Thông điệp”) gửi: “Quý cơ quan chức năng; Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo (GHPG) Việt Nam Việt Nam các tỉnh, thành; Trụ trì các cơ sở Tự viện thuộc GHPG Việt Nam. Có điều không bình thường ở nội dung “Thông điệp” thể hiện dấu hiệu làm trái quy luật vềNgũ giới” mà đức Phật đã chế ra là “Không được nói sai sự thật”. Để rộng đường dư luận, Báo Người cao tuổi xin trích dẫn và có một số ý kiến về một số nội dung của “Thông điệp” này.
Trước nhất, xin hỏi tác giả Thành Nguyên, đứng tên bài viết, viết với tư cách là thành viên trong tổ chức Phật giáo hay chỉ là cây bút bá vơ xen vào chuyện không thuộc lãnh vực của mình? Thứ nữa, mục đích viết để xây dựng hay phá hoại nội bộ Phật giáo nhằm làm giảm uy tín của một chức sắc Phật giáo mà hiện nay, sau sự mất mát to lớn của HT chủ Tịch, người đứng đầu trong GHPGVN vừa viên tịch?

Trước nhất, một văn bản mang tính nội bộ của chùa Minh Đạo thông báo đến các cơ sở am tự viện của Phật giáo về nhân thân của một tu sĩ đã xin phép ra khỏi chùa với lý do trình bày của đương sự, thì sao gọi là Thông Điệp? Tác giả có hiểu giá trị và tầm vóc của một “Thông Điệp”? Khi sử dụng hai chữ “Thông Điệp” chứng tỏ tác giả không hiểu gì về thuật ngữ văn bản hành chánh tôn giáo thì làm sao hiểu được nội dung một văn bản có giá trị ở góc độ nào? Một khi đã không hiểu giá trị nội dung văn bản mà can thiệp vào một cách ngây ngô chứng tỏ dụng ý của tác giả về vấn đề có một hướng khích động bất thường, nhất là đối với một chức sắc cao cấp của GHPGVN hiện nay.

Thành Nguyên viết tiếp: Có điều không bình thường ở nội dung “Thông điệp” thể hiện dấu hiệu làm trái quy luật về “Ngũ giới” mà đức Phật đã chế ra là “Không được nói sai sự thật”.

Thật buồn cười, một kẻ không hiểu gì về Phật giáo mà lại đem giới luật nhà Phật kết tội một cao Tăng của Phật giáo.
Thế nào là không được nói sai sự thật? “Thành Nguyên biết bạn đời mình đi lăng nhăng mà vẫn nói với mọi người là đi làm ăn, như thế mới gọi là nói sai sự thật”. Đối với một tu sĩ khi xin phép rời khỏi chùa với lý do nào đó, và đi về nơi nào đó là quyền của đương sự, trụ trì chỉ chấp thuận trên nguyên tắc chứ không có quyển điều tra hạch sách cho chính xác, cho dù là đệ tử ruột, đằng này tăng sinh Thích Thiện Minh, thế danh Lê Tấn Bửu, nguyên quán TP Cần Thơ; chỉ là một học Tăng xin tạm trú, nhà chùa chỉ quản lý lúc đương sự còn trú tại chùa, khi xin ra khỏi chùa thì nhà chùa không còn trách nhiệm, vì thế HT. T.Thiện Nhơn mới ra văn bản thông báo các cấp Giáo Hội: Nếu có những công việc, phật sự cần liên hệ, đề nghị quý cơ quan, quý ban, quý vị liên hệ trực tiếp với chúng tôi tại chùa Minh Đạo, số 12/3B đường Kỳ Đồng, Quận 3; hoặc tại Văn phòng 2 Trung ương Giáo hội (Văn phòng Thường trực phía Nam Hội đồng Trị sự GHPG Việt Nam), Thiền viện Quảng Đức số 294 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 8, Quận 3, TP Hồ Chí Minh, ĐT: 08 3848 3080, Fax: 08 3846 9931.
Nay kính thông báo để quý cơ quan, quý ban, quý vị hoan hỉ và liên hệ khi hữu sự theo địa chỉ như trên”.

 Chứng tỏ HT tránh những trường hợp nhân danh đồ chúng của chùa Minh Đạo làm chuyện phi pháp về sau. Sao gọi là “nói sai sự thật?”

Cũng theo báo “Người Cao Tuổi”: Điều này được Báo Người cao tuổi phản ánh tại bài viết “Tu sĩ coi thường pháp luật” số 102 (1419) phát hành ngày 26/6/2014.  Điều trớ trêu là tu sĩ Lê Tấn Bửu đã “góp phần phục vụ đạo pháp và xã hội” bằng việc làm trái Điều 41, Nội quy Ban Tăng sự Trung ương quy định: Trụ trì là người thay mặt Giáo hội quản lí, điều hành các hoạt động của cơ sở tự, viện theo đúng Chánh pháp, Hiến chương Giáo hội và pháp luật Nhà nước; chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hoạt động phật sự tại cơ sở tự, viện.

Tác giả dẫn chứng điều 41 chương VIII của Nội Quy Tăng sự về việc bổ nhiệm trụ trì và quy định trách nhiệm trụ trì không liên hệ gì đến việc làm của một Tăng sinh khi xây dựng cơ sở vật chất mà chưa đủ tiêu chuẩn để Giáo Hội ký quyết định “Bổ nhiệm trụ trì” như Thích Thiện Minh thì sao gọi là “góp phần phục vụ đạo pháp và xã hội” bằng việc làm trái điều 41 của Nội quy Tăng sự? Tác giả không hiều gì về mặt sinh hoạt nội bộ và chức năng hoạt động của tu sĩ Phật giáo thì đừng tỏ ra hiểu luật Đạo đem dẫn chứng ngu ngơ đến thế.

Bài viết: Hai là, đọc kĩ “Thông điệp” ai cũng nhận ra là tu sĩ Lê Tấn Bửu có thời gian sinh sống, học tập và làm phật sự rất rõ ràng, minh bạch. Đặc biệt là “Thông điệp” khẳng định “kể từ đầu năm 2014 đến nay, tăng sinh Thích Thiện Minh vì lí do sức khỏe đã xin về quê dưỡng bệnh và nhập thất tịnh tu”. Nhưng, thực tế không phải vậy, mà trong khoảng thời gian này tu sĩ Lê Tấn Bửu đã “góp phần phục vụ” đạo pháp và xã hội dưới hình thức bị chính quyền các địa phương “ghi nhận” bằng những quyết định xử phạt hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở huyện Đức Trọng và huyện Long Thành (ngày 23/1/2014 xử phạt 40 triệu đồng về hành vi xây dựng không phép liên quan đến hoạt động tôn giáo của cơ sở Thiền thất Tuyền Lâm xã Long An)

Như đã giải thích ở trên. Theo xin phép của học Tăng T.Thiện Minh về quê tịnh dưỡng là lý do của đương sự, HT trụ trì không cần biết thực hư để làm gì khi ngoài tầm kiểm soát của chùa. Nếu đương sự làm việc phi pháp phạm luật thì chính quyền xử phạt, không liên hệ gì đến chùa Minh Đạo. Chuyện xử phạt hành chánh là việc của bộ phận xây dựng, chẳng có gì phải ầm ỷ khi mà xã hội hiện nay có những cơ sở xây dựng bạc tỷ vẫn phạm luật như thường, vi phạm luật đời thì pháp luật giải quyết, không can dự gì đến nhà chùa một khi đương sự đã xin ra khỏi.

Ba là, có điều bất ngờ là từ hai mâu thuẫn trên, đã thể hiện rõ ràng Hòa thượng Thích Thiện Nhơn đã nói sai sự thật, là vi phạm điều răn cấm Phật khuyên “Không được nói sai sự thật” (một trong “Ngũ giới”) mà đức Phật Thích Ca đã có lời di chúc khẩn thiết trước khi Ngài nhập cõi Niết Bàn.

Điều một và hai mà Thành Nguyên trình bày cũng chỉ là một vấn đề, một vấn đề  mà Thành Nguyên quy kết là đã thể hiện rõ ràng Hòa thượng Thích Thiện Nhơn đã nói sai sự thật, Đến đây đủ hiểu HT Thiện Nhơn nói sai sự thật hay tác giả không đủ trình độ hiều đúng sự thật về cách làm việc hành chánh qua một văn bản, làm sao tác giả hiểu thêm được giới luật nhà Phật mà bảo là đức Phật Thích Ca đã có lời di chúc khẩn thiết trước khi Ngài nhập cõi Niết Bàn???

Thiết nghĩ, xã hội ngày nay còn quá nhiều tệ nạn cần chấn chỉnh mà báo chí có trách nhiệm quan tâm hơn là chuyện một tu sĩ bình thừơng xây dựng trái phép lại quy tội cho một trụ trì nói sai sự thật khi đương sự đã xin ra khỏi chùa với một lý do khác với sinh hoạt hiện tại của đương sự đó. Phải chăng đầu óc tác giả bài báo có vấn đề hay có vấn đề toan tính trong đầu óc của người cầm bút không hiểu gì về nội tình và luật giới của nhà Phật mà tỏ ra uyên áo, dẫn chứng lung tung? Nếu trong hai vấn đề trên không nằm trong não trạng của tác giả thì đằng sau tác giả là ai khích động muốn hạ giảm uy tín các chức sắc Phật giáo hiện nay?

Tại sao một tờ báo mệnh danh” Người Cao Tuổi” lại đăng chuyện vu vơ mà đáng ra người cao tuổi không nên làm???
Tác giả bài báo kết: Như vậy, Hòa thượng Thích Thiện Nhơn, trụ trì chùa Minh Đạo đã kí, ban hành và gửi đến nhiều cơ quan chức năng và nhiều địa chỉ của Giáo hội Phật giáo một văn bản có nội dung sai trái thể hiện vi phạm điều răn cấm Phật khuyên nêu trên; làm trái Điều 41, Nội quy Ban Tăng sự Trung ương quy định và ảnh hưởng đến uy tín của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Việc làm phật sự không bình thường này của Hòa thượng Thích Thiện Nhơn và tu sĩ Lê Tấn Bửu là cơ sở để dư luận trông chờ một kết luận chính xác, khách quan của Cơ quan TW Giáo hội Phật giáo Việt Nam về những nội dung Báo Người cao tuổi phản ánh.
Cám ơn Thành Nguyên đã nhận định văn bản trên của HT T.Thiện Nhơn sai trái so với điều răn cấm của Phật mà một cao Tăng như HT không thấy, chỉ có Thành Nguyên thấy đúng mà thôi. Cũng cám ơn tác giả lo cho GHPGVN mất uy tín vì việc làm không bình thường nầy của HT.Thiện Nhơn khi mà Thành Nguyên quá bình thường đến độ tầm thường qua bài phê phán ấu trĩ nầy.
Cái đáng trách chính không phải người viết bài báo “bé xé ra to”, mà trách Ban Biên Tập không đủ trình độ thẩm định giá trị một bài viết có tác dụng và tác hại đến một bộ phận không nhỏ trong cộng đồng xã hội. GHPGVN là một thành viên có tầm vóc lớn trong xã hội, trước bài báo quá ấu trĩ nhục mạ uy tín một cao Tăng và cũng là một chức sắc của Phật giáo, quần chúng Phật tử nghĩ gì về một tờ báo “người cao tuổi” mà làm một việc của người “tuổi không cao” như thế? Chuyện nhỏ của một bài báo mà báo không quản lý được thì làm sao góp tiếng nói có giá trị của người cao tuổi?
Qua sự kiện nầy, GHPGVN không mất uy tín mà mất uy tín của một tờ báo của “người cao tuổi”.Nếu thực sự nhận thức được sai lầm của một bài báo, BBT nên chỉnh đốn lại nhân sự và đánh giá đúng khả năng của người cầm bút đừng để bổn báo bị bôi tro trét trấu vào mặt chính mình.
MINH MẪN
29/7/2014
BÁO NGƯỜI CAO TUỔI:
     Viết tiếp bài “Tu sĩ coi thường pháp luật”: Thấy gì từ “thông điệp” của Hòa thượng Thích Thiện Nhơn trụ trì chùa Minh Đạo?
29/07/2014
Ngày 3/7/2014, Hòa thượng Thích Thiện Nhơn, Phó Chủ tịch Thường trực, kiêm Tổng thư kí TW Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trụ trì chùa Minh Đạo, địa chỉ 12/3B Kỳ Đồng, Quận 3, TP Hồ Chí Minh kí ban hành văn bản (sau đây xin gọi là “Thông điệp”) gửi: “Quý cơ quan chức năng; Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo (GHPG) Việt Nam Việt Nam các tỉnh, thành; Trụ trì các cơ sở Tự viện thuộc GHPG Việt Nam. Có điều không bình thường ở nội dung “Thông điệp” thể hiện dấu hiệu làm trái quy luật về “Ngũ giới” mà đức Phật đã chế ra là “Không được nói sai sự thật”. Để rộng đường dư luận, Báo Người cao tuổi xin trích dẫn và có một số ý kiến về một số nội dung của “Thông điệp” này.
“Thưa quý cơ quan, quý Ban và Quý vị,
Vào năm 2007, thực hiện tinh thần chung của GHPG Việt Nam, Thành hội Phật giáo TP Hồ Chí Minh, v/v tiếp nhận tăng ni sinh thuộc các tỉnh, thành vào tạm trú tu học theo các chương trình đào tạo của Giáo hội, chùa Minh Đạo chúng tôi có tiếp nhận một tăng sinh pháp danh Thích Thiện Minh, thế danh Lê Tấn Bửu, nguyên quán TP Cần Thơ; xuất thân từ Tu viện Hạnh Chiếu, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai vào tạm trú tu học theo chương trình Trung đẳng Phật học – Trường Trung cấp Phật học TP Hồ Chí Minh tại chùa Vĩnh Nghiêm, Quận 3; Học viện Phật giáo Việt Nam, số 750 Nguyễn Kiệm, Phú Nhuận; Lớp đào tạo Cao cấp Giảng sư thuộc Ban Hoằng pháp Trung ương tại chùa Hòa Khánh, quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh.
Đến năm 2012, đã mãn khóa và nhận bằng tốt nghiệp. Theo quy định của Giáo hội, các tăng ni sau khi tốt nghiệp Phật học hay Giảng sư đều trở về địa phương để đóng góp phật sự cho tỉnh nhà; nếu có điều kiện thì du học một trong những nước thích hợp theo yêu cầu.
Trong thời gian tạm trú tu học tại chùa Minh Đạo, tăng sinh Thích Thiện Minh đã có góp phần công đức trang nghiêm ngôi Tam Bảo và làm thị giả (người hầu cận) cho chúng tôi một thời gian.
Nhưng kể từ đầu năm 2014 đến nay, tăng sinh Thích Thiện Minh vì lí do sức khỏe đã xin về quê dưỡng bệnh và nhập thất tịnh tu để bồi dưỡng thêm phần nghị lực, tâm linh, hầu góp phần phục vụ đạo pháp và xã hội khi đủ điều kiện. Do đó, mọi công việc liên quan đến chùa Minh Đạo không còn qua trung gian tăng sinh Thích Thiện Minh.
Nếu có những công việc, phật sự cần liên hệ, đề nghị quý cơ quan, quý ban, quý vị liên hệ trực tiếp với chúng tôi tại chùa Minh Đạo, số 12/3B đường Kỳ Đồng, Quận 3; hoặc tại Văn phòng 2 Trung ương Giáo hội (Văn phòng Thường trực phía Nam Hội đồng Trị sự GHPG Việt Nam), Thiền viện Quảng Đức số 294 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 8, Quận 3, TP Hồ Chí Minh, ĐT: 08 3848 3080, Fax: 08 3846 9931.
Nay kính thông báo để quý cơ quan, quý ban, quý vị hoan hỉ và liên hệ khi hữu sự theo địa chỉ như trên”.
Tu sĩ Lê Tấn Bửu (tức Thích Thiện Minh) (đang ở cơ sở Thiền thất Tuyền Lâm xã Long An tiếp tục tổ chức xây dựng công trình chưa có phép (ảnh chụp lúc 10 giờ ngày 17/7/2014). Nhưng, Hòa thượng Thích Thiện Nhơn lại thông báo là “tăng sinh Thích Thiện Minh vì lí do sức khỏe đã xin về quê dưỡng bệnh và nhập thất tịnh tu để bồi dưỡng thêm phần nghị lực, tâm linh, hầu góp phần phục vụ đạo pháp và xã hội”. Ảnh: Quang Dương
Tu sĩ Lê Tấn Bửu (tức Thích Thiện Minh) (đang ở cơ sở Thiền thất Tuyền Lâm xã Long An tiếp tục tổ chức xây dựng công trình chưa có phép (ảnh chụp lúc 10 giờ ngày 17/7/2014). Nhưng, Hòa thượng Thích Thiện Nhơn lại thông báo là “tăng sinh Thích Thiện Minh vì lí do sức khỏe đã xin về quê dưỡng bệnh và nhập thất tịnh tu để bồi dưỡng thêm phần nghị lực, tâm linh, hầu góp phần phục vụ đạo pháp và xã hội”. Ảnh: Quang Dương
Tuy nhiên, “Thông điệp” của Hòa thượng Thích Thiện Nhơn có nội dung mâu thuẫn:
Một là, từ đầu năm 2014 đến nay, tăng sinh Thích Thiện Minh (tu sĩ Lê Tấn Bửu) đã không phải vì lí do sức khỏe xin về quê dưỡng bệnh và nhập thất tịnh tu, mà có nhiều việc làm trái pháp luật ở các địa phương huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng và huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Điều này được Báo Người cao tuổi phản ánh tại bài viết “Tu sĩ coi thường pháp luật” số 102 (1419) phát hành ngày 26/6/2014.  Điều trớ trêu là tu sĩ Lê Tấn Bửu đã “góp phần phục vụ đạo pháp và xã hội” bằng việc làm trái Điều 41, Nội quy Ban Tăng sự Trung ương quy định: Trụ trì là người thay mặt Giáo hội quản lí, điều hành các hoạt động của cơ sở tự, viện theo đúng Chánh pháp, Hiến chương Giáo hội và pháp luật Nhà nước; chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hoạt động phật sự tại cơ sở tự, viện.
Hai là, đọc kĩ “Thông điệp” ai cũng nhận ra là tu sĩ Lê Tấn Bửu có thời gian sinh sống, học tập và làm phật sự rất rõ ràng, minh bạch. Đặc biệt là “Thông điệp” khẳng định “kể từ đầu năm 2014 đến nay, tăng sinh Thích Thiện Minh vì lí do sức khỏe đã xin về quê dưỡng bệnh và nhập thất tịnh tu”. Nhưng, thực tế không phải vậy, mà trong khoảng thời gian này tu sĩ Lê Tấn Bửu đã “góp phần phục vụ” đạo pháp và xã hội dưới hình thức bị chính quyền các địa phương “ghi nhận” bằng những quyết định xử phạt hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở huyện Đức Trọng và huyện Long Thành (ngày 23/1/2014 xử phạt 40 triệu đồng về hành vi xây dựng không phép liên quan đến hoạt động tôn giáo của cơ sở Thiền thất Tuyền Lâm xã Long An).
Ba là, có điều bất ngờ là từ hai mâu thuẫn trên, đã thể hiện rõ ràng Hòa thượng Thích Thiện Nhơn đã nói sai sự thật, là vi phạm điều răn cấm Phật khuyên “Không được nói sai sự thật” (một trong “Ngũ giới”) mà đức Phật Thích Ca đã có lời di chúc khẩn thiết trước khi Ngài nhập cõi Niết Bàn.
Như vậy, Hòa thượng Thích Thiện Nhơn, trụ trì chùa Minh Đạo đã kí, ban hành và gửi đến nhiều cơ quan chức năng và nhiều địa chỉ của Giáo hội Phật giáo một văn bản có nội dung sai trái thể hiện vi phạm điều răn cấm Phật khuyên nêu trên; làm trái Điều 41, Nội quy Ban Tăng sự Trung ương quy định và ảnh hưởng đến uy tín của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Việc làm phật sự không bình thường này của Hòa thượng Thích Thiện Nhơn và tu sĩ Lê Tấn Bửu là cơ sở để dư luận trông chờ một kết luận chính xác, khách quan của Cơ quan TW Giáo hội Phật giáo Việt Nam về những nội dung Báo Người cao tuổi phản ánh.
Thành Nguyên
29/7/2014

Thứ Hai, ngày 28 tháng 7 năm 2014

* TỪ THIỆN VÀ TÂM BỒ ĐỀ


Thông thường làm từ thiện, ai cũng liên kết với lòng Từ Bi. Thấy ai làm từ thiện đều nghĩ người đó có tâm từ.
Thật ra, cùng một động thái nhưng nội hàm có nhiều sai biệt. Có người vì xu hướng mà làm từ thiện, có người vì ham danh mà làm từ thiện, có người chạy theo phong trào mà làm từ thiện... những trường hợp nầy thiết nghĩ không cần phải đề cập, cái cần đề cập là những người thực tâm vì thương xót đối tượng mà làm từ thiện. Trường hợp nầy hoàn toàn đồng ý đây là tâm tốt, nhưng tốt đối với người bình thường trong xã hội, riêng với một Phật tử dù xuất gia hay tại gia, việc hành thiện còn phải xây dựng trên nền tảng tâm Bồ Đề.
Tâm Bồ Đề là nền tảng khởi đầu đi đến giải thoát, trong quá trình thiết lập Bồ Đề tâm, buộc phải qua công hạnh lợi tha, lợi tha cả hai mặt: thế gian pháp và Phật pháp.
Thế gian pháp là hành trạng tâm từ vô điều kiện đối với mọi đối tượng; với Phật pháp là Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh; trên hướng đến giải thoát, dưới hoằng giáo độ sanh. Một hành giả thiết lập được nền móng vững chắc như thế là Phước Huệ song tu, hành đúng Bồ Tát đạo, cho dù hành giả nắm trong tay vô số điều lợi dưỡng mà vẫn không phạm giới, ngoại tướng như là hưởng thụ mà vẫn không phạm luật. Ngược lại: “Vong thất Bồ Đề tâm, tu chư thiện pháp, thị danh ma nghiệp”. Hành giả đánh mất tâm Bồ Đề, cho dù tu vô lượng thiện nghiệp cũng chỉ là nghiệp ma, vì không đủ để giải thoát, hưởng phước báu nhân thiên vẫn còn trôi lăn sanh tử  đó là ma nghiệp. Vì thế, người làm từ thiện của nhà Phật, cần phát tâm Bồ Đề để đường đi được thoáng đãng. Phát tâm Bồ Đề là tự trang bị giây cương để tâm viên ý mã không bị lệch hướng theo danh pháp. Không chỉ lãnh vực làm từ thiện, mọi việc trong cuộc sống, mọi hành trạng thường nhật của người con Phật cũng cần khởi phát tâm Bồ Đề. Nếu phát tâm Bồ Đề thì hành sự thế gian pháp nhưng vẫn là Phật pháp, bằng không, những việc được mệnh danh là Phật sự thì cũng chỉ là ma sự ẩn danh, vì không có chất Phật.
Ngày nay, phong trào làm từ thiện khá phổ biến, có những đoàn một năm đi cứu trợ hàng tỷ bạc, làm theo thói quen, mỗi phần quà trị giá vài trăm nghìn đồng, đến các vùng sâu vùng xa, thậm chí những vùng đã có sự lót ổ sẵn của tôn giáo khác, vẫn đến tặng quà để giúp họ sống hơn mươi bữa, rồi đâu lại vào đấy, tập cho họ có thói quen đợi chờ sự bố thí. Mỗi chuyến đi, xa phí gần bằng số tiền ủy lạo, trong khi đó, tại Thành phố còn rất nhiều mảnh đời đói khổ, bệnh tật không ai quan tâm, một số Phật tử chật vật không có tiền cho con ăn học, điều trị bệnh tình thì bỏ mặc. Có những gia cảnh chỉ cần số vốn nhỏ để bán vé số hoặc gầy dựng công việc thì chẳng có điều kiện. Thế thì việc từ thiện lấy muối bỏ biển như thế được ích gì, rồi năm nầy tháng nọ buôn làng đó nghèo vẫn nghèo, đói vẫn đói vì họ chỉ được cá mà không được cần câu để giải quyết cơ bản cho cuộc sống hầu dứt điểm cái đói nghèo. Làm vậy có thể hiểu TỪ mà không THIỆN (không THIỆN đây không có nghĩa là ác mà là thiếu hoàn hảo thiếu khôn khéo).
Việc hành thiện của thế gian đã được hiểu là chưa thiện thì đối với hành giả nhà Phật lại càng bất cập. Hành thiện nhà Phật không chỉ thể hiện lòng TỪ mà còn hướng đến việc xây đắp nền tảng giải thoát trong tương lai. TỪ theo nghĩa rộng hơn, không chỉ thể hiện tình thương đối với mọi đối tượng mà còn từ bỏ mọi chấp trước tham dục nội thân khi hành thiện, hướng đến chân trời rộng mở giải thoát. 
Một hành giả xuất gia, cạo bỏ râu tóc là từ bỏ mọi phiền não chướng duyên để bản thân nhẹ nhàng, Tổ Quy Sơn dạy: “Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương, tâm hình dị tục, thiệu long Thánh chủng, chấn nhiếp ma quân”, thì tục tử tại gia cũng phải: “Ly dục, ly ác pháp” trên con đường du phương hành thiện, hành thiện đối với tha nhân cũng như đối với tự thân.
Muốn được như thế phải khởi phát Bồ Đề tâm như một định hướng ắt có và đủ cho mọi hành động, trong đó là từ thiện không bị lạc vào ma đạo. Và từ thiện đó mới có tố chất Phật sự.

MINH MẪN
28/7/2014

HÃY BIẾN GIÁO LÝ YÊU THƯƠNG THÀNH HÀNH ĐỘNG


Đức Pháp vương Gyalwang Drukpa được coi là của Đức Phật Quan Âm. Vị Phật sống ấy đã đi bộ hàng trăm km trong chuyến hành hương vì môi trường, vượt qua dãy Himalaya hiểm trở, xuyên bão tuyết, cùng với các Phật tử tình nguyện từ khắp nơi trên thế giới, tự tay nhặt từng cái vỏ chai, giấy gói, đồ nhựa không thể phân hủy... để giúp bảo tồn môi trường tại Himalaya.

Giáo pháp của Đức Pháp vương Gyalwang Drukpa không xa lạ, hàn lâm. Ngài giác ngộ mọi người bởi sự chân tu và nhập thế, sự thông tuệ của Ngài được chuyển hóa đến với những người tiếp xúc một cách rất truyền cảm, giản dị và thực tiễn.
Là vị lãnh tụ tâm linh của Truyền thừa Drukpa thuộc Phật giáo Kim Cương thừa, Ngài hiện đang lãnh đạo hệ thống hàng trăm tự viện tại các quốc gia Nepal, Ấn Độ... và nhiều trung tâm Phật giáo trên toàn thế giới. Mọi triết lý của Ngài quy tụ trong ba chữ “Tình yêu thương, Trí tuệ và Hành động”. Đức Pháp vương đã đem những triết lý ấy trở lại thăm Việt Nam lần thứ tư để giảng pháp, hướng đạo trong thời gian từ 31.10 đến 7.11, theo lời mời của Thành hội Phật giáo Hà Nội. Trước đó Pháp vương đã ba lần viếng thăm Việt Nam vào năm 2010, 2008 và 2007. Ấn tượng đầu tiên từ Đức Pháp vương là sự gần gũi và nụ cười rạng rỡ của Ngài, và cách Ngài chào, bắt tay mọi người rất thân mật. Dưới đây là ghi chép của phóng viên từ những lời của Ngài tới người dân và Phật tử Việt Nam trong chuyến thăm này.
Nhân duyên với đất nước Việt Nam
Tôi có thể cảm nhận được sự kết nối đặc biệt giữa tôi với đất nước, người dân Việt Nam. Đó là do duyên lành, do “nghiệp” từ lâu đời. Đến nay, mối liên hệ đó phát triển mạnh mẽ nhờ tâm chí thành thực hành Phật pháp của các Phật tử Việt Nam và quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và Ấn Độ. Hơn nữa, Truyền thừa Drukpa trong tiếng Phạn có nghĩa là “Rồng thiêng”, tên gọi bắt nguồn từ việc bậc sáng lập Truyền thừa 800 năm trước đã thấy chín rồng thiêng cuộn mình bay lên hư không từ nơi thánh địa Namdruk. Rồng là biểu hiện cho tình yêu thương, hòa bình và sự thịnh vượng. Giờ tôi lại đến Hà Nội – Thăng Long, vùng đất rồng bay, chẳng phải là do duyên nghiệp hay sao!
Trí tuệ, tình yêu thương và  hành động
Truyền thừa Drukpa là Truyền thừa thực hành, chủ trương đem Phật pháp áp dụng vào trong cuộc sống thông qua những hành động thiết thực dựa trên tình yêu và trí tuệ, hiểu biết chân thật hơn là việc chỉ thuần túy ngồi thiền định và cử hành các khóa lễ, các nghi thức tôn giáo khác nhau. Chúng tôi cũng thực hiện các nghi lễ cầu nguyện và thiền định. Nhưng chúng tôi tin rằng nếu không áp dụng được giáo pháp vào trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta sẽ lãng phí thời gian và năng lượng. Thời gian và năng lượng mà chúng ta được ban tặng rất quý giá và cần phải được dùng để chuyển hóa thành tình yêu thương và trí tuệ, phải được thực hành hàng ngày trong từng phút từng giây.
Hành động là điều quan trọng trong căn bản của Phật pháp. Hãy đưa giáo lý tình yêu thương thành hành động, làm lợi ích cho tất cả các loài, không chỉ mọi người, động vật, mà cả với cây cối môi trường, đem lại sự tươi mát, sự sống và niềm vui cho muôn loài...
Tôi rất trân trọng người Việt Nam vì sự năng động. Các bạn tôi làm việc ở đây nói rằng người Việt Nam rất chăm chỉ,  tích cực, chủ động trong việc sửa đổi cách sống, cải thiện chất lượng sống, tôi rất trân trọng điều đó. Bởi tôi nghĩ rằng nếu bạn cải thiện cuộc sống của bạn, bạn đang làm cho Việt Nam tốt hơn. Nếu bạn làm cho Việt Nam tốt hơn, bạn đang cải thiện cả thế giới.
Với tâm nguyện chuyển hóa yêu thương thành hành động thông qua sự hiểu biết như vậy, năm 2007, Đức Pháp vương Gyalwang Drukpa đã khởi xướng phong trào thiện hạnh quốc tế “Live To Love” (Sống Để Yêu Thương). Hiện nay, trụ sở chính của Live To Love được đặt ở Hồng Kông và được sự hưởng ứng của tình nguyện viên tại nhiều quốc gia như Đức, Pháp, Anh, Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Singapore, Nepal, Bhutan, Monaco, Mexico và Peru. Các thiện hạnh “Sống để yêu thương” được tập trung trên các lĩnh vực bình đẳng giới, y tế, giáo dục, môi trường, bảo tồn di sản...
Trong chuyến đi bộ vì môi trường gần đây vào cuối năm 2010, Đức Pháp vương đã dẫn đầu đoàn lữ hành 300 người hành hương, đi bộ vượt 300km từ bang Tây Bengal đến Sikkim, Ấn Độ. Trên bước hành trình, cả đoàn người đã thu gom được 980kg phế liệu. Trong những cuộc đi bộ kéo dài hàng tháng đó, Pháp vương đã qua những vùng khắc nghiệt nhất của dãy Himalaya, gặp gỡ người dân bản địa tại những xóm làng xa xôi hẻo lánh nhất và những bộ tộc du cư để đánh giá nhu cầu viện trợ và hỗ trợ của họ. Ngài phát động chương trình trồng một triệu cây xanh để cứu  sinh thái ở bang Ladakh, Ấn Độ. Điểm nhấn của chương trình này là một kỷ lục thế giới Guinness: Lúc 10 giờ 10 phút, ngày 10/10/2010, hơn 9000 người đã trồng tới 50.033 gốc cây chỉ trong hơn 33 phút. Năm 2010, Đức Pháp vương được trao giải thưởng Anh hùng xanh – giải thưởng cao quý nhất về môi trường của Ấn Độ.
Cũng năm 2010, Liên Hợp Quốc đã trao cho Đức Pháp vương giải thưởng cao quý “Vì mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ” để tri ân những nỗ lực và đóng góp của Ngài ở khắp nơi vì một thế giới tốt đẹp hơn. Tại Ấn Độ, Ngài lập ra ngôi trường xanh Bạch Liên Hoa (Druk White Lotus School), vừa thân thiện với môi trường, vừa cung cấp cho học sinh nền giáo dục hiện đại, nỗ lực giúp bảo tồn nền văn hóa địa phương của họ.
Bình đẳng giới là một ví dụ nữa về chữ “hành động” của Đức Pháp vương. Ngài chú trọng nâng cao địa vị của các ni cô trong cộng đồng Truyền thừa Drukpa, cho họ học hành, đào tạo kỹ năng sống, thậm chí khuyến khích họ học võ. Trong nhiều phái võ quốc tế, Ngài đã lựa chọn võ cổ truyền Việt Nam để  huấn luyện cho các ni sư tại một tự viện của Ngài ở Nepal, với thầy dạy là một võ sư người Việt, một mối thiện duyên khác của Ngài với Việt Nam. Trong mọi hoạt động của mình, Đức Pháp vương luôn nhấn mạnh vai trò của giáo dục. Theo Ngài, trí tuệ được tạo ra từ giáo dục. Không có sự giáo dục thì sự hiểu biết nhỏ không thể thành trí tuệ. Giáo dục cần phải được trưởng dưỡng bằng nhiều cách, không chỉ qua việc đến trường đọc sách mà còn nhờ sự ban truyền cảm hứng, gương mẫu thực hiện các hành động cụ thể trong cuộc sống. Giáo dục hay giáo pháp là quá trình phát triển thực hành mỗi phút mỗi giây.
Ý nghĩa của Tình yêu thương
Chính vì ta không thể trốn chạy thực tế nên ta cần phải sống với tình yêu thương lớn lao. Cho dù ta sống thế nào, gia đình ta thế nào, trong điều kiện nào, chất lượng ra sao, thì thực tế vẫn là ta đang sống và tồn tại trên thế giới này. Thông thường khi nhắc đến một cuộc đời, người ta chỉ ghi năm sinh, năm mất và ở giữa là một cái gạch ngang ngắn ngủi và vô cảm. Nhưng thực sự, “cái gạch ngang” đó lại là toàn bộ cuộc đời và ý nghĩa cuộc đời của chúng ta. Gạch ngang đó phải được kích hoạt thành sự sáng tạo, thành  những hành động tích cực đóng góp cho xã hội, làm cho cuộc sống của mình có ý nghĩa.
Tôi lấy một ví dụ, thực chất các loại thiên tai thảm họa trên thế giới, tất cả cơ bản đều xuất phát từ việc thiếu tình yêu, sự quan tâm, sự hiểu biết. Tình yêu đó không chỉ là tình yêu nam nữ, mà là giữa con người với tự nhiên. Chúng ta không quan tâm tự nhiên, ta chỉ quan tâm đến bản thân. Ta không quan tâm đến cây cỏ, đến động vật, ta chỉ quan tâm việc của ta. Đó là lý do cơ bản gây ra mọi thảm họa. Với một đứa trẻ, hãy dạy cho nó biết đừng xả rác ra môi trường, đừng bẻ cây, ngắt lá... Đó là cách yêu thương của tôi và muốn mọi người chia sẻ.
Đối trị stress và phiền não trong cuộc sống
Thực tế, stress là kết quả của một vài tà kiến, những nhận biết sai lầm về cuộc sống của chúng ta. Đó là lý do khiến chúng ta suốt ngày bận rộn cho những mục đích hão huyền vô nghĩa. Chính sự bận rộn vô lý này đem lại vô số lo lắng, căng thẳng và stress cho chúng ta. Stress là kết quả của sự tuân thủ một cách rập khuôn những khuôn mẫu và tiêu chuẩn nhất định. Và nếu mọi chuyện không diễn ra theo cách bạn mong đợi thì bạn trở nên căng thẳng. Công việc của bạn, bạn bè và gia đình, đối tác, hay bất cứ điều gì khác cũng có thể khiến bạn chịu stress, và vì vậy trở thành nguyên nhân của căng thẳng và khổ đau. Tại sao vậy? Đó là vì bạn hy vọng và sợ hãi. Bạn sợ mình không hoàn hảo, và hy vọng mình trở thành hoàn hảo, trong khi mọi chuyện chúng ta làm đều chỉ mang tính chất tương đối mà thôi. Vì thế, chúng ta nên cố hết sức mình. Nếu chúng ta cố gắng làm hết sức mình, thì nói một cách tương đối, như thế là đủ.
Hãy biết trân trọng cuộc sống và thực tại nhiệm màu
Thực ra thì chẳng có gì đáng để theo đuổi, cho dù đó có là sự giàu có hay bất kỳ điều gì khác. Bạn cũng không cần phải cạnh tranh đến mù quáng vì tất cả đều chỉ là tương đối, và chẳng có gì thực sự tồn tại vững bền. Nếu biết rằng cuộc sống của mình chỉ là tương đối, chúng ta có thể đi làm để kiếm tiền, rồi xây dựng gia đình và sống một cuộc đời bình dị, mà vẫn tận hưởng niềm vui. Chúng ta có thể có được rất nhiều thứ cùng một lúc như là hạnh phúc và sự bằng lòng – những thứ tuyệt vời nhất. Nếu không có sự bằng lòng, không có sự mãn nguyện, không có hạnh phúc, thế thì bạn làm việc để làm gì. Những người may mắn hiểu về sự thật tương đối sẽ có khả năng tận hưởng cuộc sống.
Tình yêu thương là quyền năng lớn nhất giúp bạn không sợ hãi.
Tình yêu thương là quyền năng lớn nhất thế gian, trong vũ trụ này.
Chẳng có gì mạnh hơn tình yêu thương.
Khi đã dưỡng trưởng tình yêu thương, lòng bi mẫn, sẽ không còn sợ hãi. Sợ hãi không thể tồn tại vì tình yêu thương là phép đối trị nỗi sợ hãi.
Tình yêu thương có thể tồn tại cùng nỗi sợ, song đó là tình yêu thương không chân thật.
    (Đức Pháp vương Gyalwang Drukpa)
Mỹ Hằng
theo Laodong

NHÌN LẠI SỨC SỐNG



Học đạo là có một cái nhìn rõ ràng về những bóng ảo trong tâm, từ đó chúng ta mới có thể tập cách sống tỉnh thức trên những sự việc rất gần. Bạn nhìn xem chính mình và suy nghĩ của chính mình, luôn dệt từ một việc còn lưu lại trong tâm.
Tại sao chúng ta luôn nghĩ đến một điều không thể thực hiện, không thể thay đổi hoàn cảnh để có được điều chúng ta muốn có.
Tại sao chúng ta không làm khác được? Vì đó là sức sống của chúng ta. Thâm sâu ta không muốn tự hủy diệt ta, nên sức sống phải được duy trì. Khi một người phải làm khác điều họ mong muốn, lúc đó bổn phận trách nhiệm là sức sống – nhưng ở một nghĩa nào đó, họ sống như đã chết. Vì sức sống của phận trách nhiệm lại được nuôi dưỡng bằng niềm đau, nên cho rằng sống vì bổn phận chính là sống vì một điều đang được nằm sâu trong tâm.
Nỗi đau trong tâm tuy không biểu hiện ra bên ngoài, nhưng nó luôn âm ỉ. Khi có dịp khơi dậy, nó bộc phát dữ dội, nhưng sẽ được nhanh chóng dập tắt bởi hòan cảnh sống.
Cuộc đời đã cho thấy rất nhiều cảnh ngộ như thế.
Nếu nhận ra trong tâm mình đang như thế, bạn mới tự hỏi có cách nào sức sống không phải bị biến hình như thế không.
Câu trả lời rất khó được chấp nhận. Mỗi người với những điều kiện sống khác nhau.
Có một mẩu chuyện thường được kể rằng, có một người với một hình bóng anh ta yêu quý để trong tâm, và anh ta đã nuôi hình bóng đó là sức sống cho anh suốt mấy mươi năm trôi nổi ở cuộc đời. Anh sẵn sàng đánh đổi cả gia sản tạo dựng để gặp lại người bạn ấy. Khi xem một đọan phim quay người bạn ấy hiện tại là một “mụ già’ mệt mỏi, dữ dằn với con cháu, cặp mắt lờ đờ… Anh đã không chấp nhận đó là hình bóng anh nuôi trong tâm suốt gần nửa thế kỷ! Sự thất vọng và tuyệt vọng.
Kết quả là anh trở về với đời sống hiện thực, bắt đầu xây dựng những mối tương giao mới. Hình bóng cũ làm anh thất vọng hay tỉnh ngộ? Đoạn kết là cuộc đời, nên anh có một cuộc sống mới với những người bạn mới vừa quen.
Vậy rõ ràng sức sống mấy mươi năm qua với anh được xây dựng trên một ảo tưởng về một người ngày xưa. Nhưng nếu chưa thấy lại cái hình bóng anh nuôi nó hay chính nó nuôi sống anh, thì anh vẫn sống với một mối tình chung thủy, sẽ được ghi vào sử sách của những chuỵên tình bất hủ!
Một người thật, khi chia xa được nuôi sống bởi ảo tưởng, mọi cái sẽ đổ vỡ khi sống gần nhau và những va chạm đời thường khiến cả hai đều tỉnh ngộ và thấy mình lầm lẫn. Nên sức sống ảo chỉ được nuôi sống bởi ảo tưởng.
Nhưng làm sao để có thể rời xa những bóng ảo trong tâm? Sở dĩ chưa có câu trả lời bởi chính chúng ta vẫn cảm thấy dường như hãy để chúng ta có một sức sống mà vui sống trên đời với những bóng hình không thật. Và cuộc đời thật thì quá nhiều bất như ý và khổ đau, ẩn náu vào đó xem ra có đôi phần dễ sống hơn.
Học đạo là có một cái nhìn rõ ràng về những bóng ảo trong tâm, từ đó chúng ta mới có thể tập cách sống tỉnh thức trên những sự việc rất gần. Bạn nhìn xem chính mình và suy nghĩ của chính mình, luôn dệt từ một việc còn lưu lại trong tâm. Từ đó chúng ta chỉ sống trong những bóng tiền trần. Chính vậy bước đầu học Phật luôn nhắc đến Chánh niệm, để tập quen giữ tâm trên những gì đang xảy, mọi việc sẽ rõ ràng hơn khi nào bất chợt chúng ta thấy rằng, quả thật chính mình đã dệt và duy trì những bóng ảo, niềm tin ảo, chờ đợi ảo…
Mọi việc vẫn chưa giải quyết được gì, nhưng khoan nghĩ đến sẽ giải quyết được gì, khi mình đã quen trôi theo suy nghĩ  không thể dừng. Nhận biết được mình đang nuôi một điều không thật, từ đó mới có thể có một cái nhìn khác hơn. Khi có một ý định thay đổi, mình mới có thể thay đổi đời mình.
(Trích Từ Bước Chân Xa)