Thứ Ba, 23 tháng 4, 2013

CÁI HIỂU VỀ PHẬT GIÁO CỦA MỘT SỐ NHÀ TRÍ THỨC HIỆN NAY





Trao đổi với BBC ngày 15/4/2013, giáo sư Ngô Đức Thịnh phát biểu về Phật giáo Việt Nam hiện nay khi mà đại gia Trầm Bê phô trương tên tuổi trên các chùa do đại gia tài trợ  như sau:

Theo BBC: Ông bày tỏ sự quan ngại khi phải ghi nhận một bộ phận mà ông cho là "không nhỏ" các quan chức, trong đó có cả các nhà quản lý, cũng tham gia vào việc tiếp tay cho một số cá nhân, tổ chức buôn thần, bán thánh qua việc cầu lộc, cầu tài và lạm dụng kinh tài qua trao nhận cúng dường, công đức.
Đặc biệt nhà nghiên cứu văn hóa, tín ngưỡng dân gian này khẳng định cũng có một bộ phận không nhỏ các tổ chức, cá nhân hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có các nhà đền, nhà chùa, một số tăng ni, sư sãi cũng vụ lợi.

“không nhỏ” các quan chức…có nghĩa là phần lớn các quan chức tham gia tiếp tay vào việc buôn Thần bán Thánh…Đây là chuyện cá nhân của các quan chức khi mà họ đang trên đà danh vọng và quyền lợi như diều gặp gió, dĩ nhiên họ sợ mất mát nên phải bám víu vào đấng quyền năng nào đó khi họ chưa am tường về tinh thần của nhà Phật, vì thế giáo sư Ngô Đức Thịnh có nhận xét đúng : “"Thăng quan tiến chức phải do chính từ năng lực bản thân chứ không phải là do việc cầu tài, cầu lộc, xin âm phù, dương trợ như vậy..."
Ông cho rằng những hành vi cầu xin này chỉ phản anh sự thiếu tự tin vào bản thân, cũng như vào chính chế độ mà các đảng viên, quan chức này đang làm việc, chấp chính.”


Như vậy cái lỗi là do họ yếu bóng vía và thiếu tự tin chứ không phải do nhà Phật hướng dẫn họ. Tiếp đó, GS cũng quy kết cho: “ cũng có một bộ phận không nhỏ các tổ chức, cá nhân hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có các nhà đền, nhà chùa, một số tăng ni, sư sãi cũng vụ lợi.” Đây lại là sai lần lớn của GS khi bảo rằng bộ phận “không nhỏ”.Nếu 80% hoặc trên 50% các cơ sở và tu sĩ Phật giáo hiện nay vụ lợi thì xác định là bộ phận không nhỏ, nhưng thưa GS, kiểm lại được mấy chùa do các quan chức, đại gia liên kết với các tu sĩ Phật giáo làm việc đó? Trên vài chục ngàn ngôi chùa hiện nay, chỉ có vài ngôi chùa danh tiếng được các đại gia hỗ trợ sao gọi là “một bộ phận không nhỏ”?

Hiện nay chính sách đánh thuế của nhà nước đối với  các cơ sở tín ngưỡng chưa được đặt ra, vậy gs đặt vấn đề : “"Có những cơ sở tôn giáo tín ngưỡng kiếm đến hàng bốn, năm chục tỷ đồng mỗi năm," ông nói.
"Và vấn đề là các cơ quan quản lý nhà nước không thể biết nổi họ kiếm được bao nhiêu, chứ chưa nói tới đánh thuế."

Hình như gs đang tự mâu thuẩn khi đặt vấn đề: “Và vấn đề là các cơ quan quản lý nhà nước không thể biết nổi họ kiếm được bao nhiêu, chứ chưa nói tới đánh thuế."
Vì chưa có chính sách thuế má đối với tôn giáo thì cơ quan quản lý cần gì biết họ kiếm được bao nhiêu mỗi năm mà gọi là “chưa nói tới đánh thuế” ? Thế thì gs đặt vấn đề mỗi năm họ kiếm bốn năm chục tỷ để làm gì? Phải chăng gs vạch lá tìm sâu khi mà thấy sự thu nhập như thế so với sự thu nhập của cá nhân mình?

Trước đây, thỉnh thoảng gs Ngô Đức Thịnh, “một chuyên gia nghiên cứu tôn giáo và xã hội học” cũng vài lần phát biểu về những hiện tượng tôn giáo ở Việt Nam, rất tiếc, gs chỉ nhìn thấy những hiện tượng mà không nắm vững những thực chất cốt lõi của nhà Phật. Cũng thế, ông Nguyễn Đức Truyền cũng có cái nhìn gần giống với gs Ngô Đức Thịnh :” Ngược lại, nhiều cơ sở tôn giáo, gồm không ít chùa chiền và sư sãi cũng đang rời xa nguồn gốc của tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống lâu nay của dân tộc để đi tới lựa chọn vừa thích tu vừa thích hưởng thụ.”

Phật giáo chưa hề có vụ “vừa thích tu, vừa thích hưởng thụ” như ông Truyền nhận xét. Nêu thích tu thì không ai thích hưởng thụ bao giờ. Có lẽ các vị chưa nhìn thấy nếp sống đạo hạnh của Đức Pháp chủ Thích Phổ Tuệ cũng như rất nhiều bậc chân tu đang ẩn cư nơi non cao cốc vắng, trường trai tuyệt dục, giới luật tinh nghiêm, mời quý vị bỏ thời gian đến các núi non quan sát đa số sự tu hành của những người ”thích tu” mà không “thích hưởng thụ” bao giờ.

Có lẽ quý vị nhầm lẫn giữa hai khối tu sĩ: “thích tu” và “thích hoạt động xã hội”. Bậc  gọi là “thích tu”, ngôn ngữ của ông Truyền, hẳn nhiên không bao giờ “thích hưởng thụ” và “khối hoạt động xã hội” không thể ghép chung vào khối “thích tu”; vì không thể bắt cá hai tay một lúc thì làm gì có việc “ vừa thích tu lại vừa thích hưởng thụ” như trò bôi bác như thế! Ông Truyền giải thích và minh họa tiếp:
“"Chùa ngày nay là để cứu với sinh linh, cho nên đem cái khổ của mình ra để xoa dịu cái khổ của nhân loại, cho nên họ muối một vại dưa, vại cà ăn hàng một hai năm, nhà chùa toàn mặc áo thô, đi chân đất thôi, chứ không diện, sang trọng hay sa hoa như bây giờ," ông nói.”

Hình như ông Truyền đang bị  tiêm nhiễm bởi sân khấu cải lương diễn tuồng vào những thế kỷ con người còn đi xe ngựa và chân đất? Nhà chùa nào mà đem cái khổ của mình ra để xoa dịu cái khổ của nhân loại bao giờ? Lấy cái khổ của mình để xoa dịu cái khổ của chúng sanh là việc xa lạ chưa hề thấy trong kinh sách Phật giáo. Ăn dưa muối, mặc vải thô, đi chân đất đâu phải là cái khổ của nhà tu, vì chân tu nên họ chọn cuộc sống đạm bạc để khỏi mất thời giờ về ăn uống và khỏi khởi tâm tham muốn của nhục thân chứ đâu phải đó là cái khổ để xoa dịu cái khổ của chúng sanh. Nếu đem cuộc sống đạm bạc như thế để buộc chúng sanh noi theo thì càng tạo cái khổ cho chúng sanh , sao gọi là xoa dịu khi họ chưa cảm nhận được cuộc sống thanh đạm của bậc xuất trần?

Ngày xưa chưa có phương tiện đi lại như ngày nay, các tu sĩ buộc phải thích ứng với xã hội đương thời, ngày nay, đi Hoằng pháp và làm từ thiện từ Nam ra Bắc, cứ đi bộ như “nhất bộ nhất bái của ĐĐ Tâm Mẫn” thì đưa Phật giáo về lại thời kỳ đồ đá, chẳng những phản khoa học mà còn làm trì trệ sinh hoạt Phật giáo so với các tôn giáo bạn trong xã hội “phi thuyền lên sao hỏa”. Thế thì Phật giáo không có quyền thích ứng với văn minh xã hội, cứ phải đi đầu trần chân đất, mặc vải thô như những thế kỷ trước? Nhà Phật có câu: “Phật Pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác, ly thế mịch Bồ đề, cáp như cầu thố giác”. Sao cứ buộc các sư phải sống xa cách xã hội như thế? Chính cái nhìn lệch lạc vì không hiểu tinh thần thích nghi của nhà Phật mà ông Truyền phán: “"Bây giờ các sư sãi sống cũng tốt hơn ngày xưa, điều kiện đi lại cũng dễ hơn, ngay cả trong chùa cũng có điều hòa nhiệt độ.
"Ăn uống tiêu chuẩn cũng cao hơn. Mặc dù ăn chay những cũng rất là sang trọng, rất là đảm bảo về mặt dinh dưỡng, về mặt an toàn thực phẩm,
"Cách sống rất là thanh cảnh như vậy mà lại vẫn đầy đủ như vậy."

Trình độ khoa học, kiến thức dinh dưỡng hợp với khoa học và vệ sinh thực phẩm, nhà chùa không được quyền áp dụng? “"Cách sống rất là thanh cảnh như vậy mà lại vẫn đầy đủ như vậy." có gì mà sai trái??? Vậy đặt vấn đề ra để làm gì? Những tu sĩ hoạt động xã hội cứ phải sống kham khổ như các bậc chuyên tu, liệu các ngài có đủ sức khỏe để làm công tác Phật sự? Do tầm nhìn hạn chế mà các vị thấy “xa lạ” với cơ sở tín ngưỡng chứ quần chúng không hẳn đã xa rời Phật giáo. Thử nhìn, các tôn giáo bạn cao sang lộng lẫy, đi lễ ăn mặc đẹp, sinh hoạt hấp dẫn, trái lại nhà chùa cứ buộc mặc vải thô, đi chân đất. mái chùa u ám thấp lè tè thì chỉ có các già sắp xuống lỗ và kẻ chán đời đến với đạo Phật, tuổi trẻ làm sao thích nghi?

“"Các ngôi chùa Việt Nam ngày xưa gắn với kiến trúc, khung cảnh Việt Nam, nó ẩn khuất, nó chan hòa không chỉ với cộng đồng mà với cả thiên nhiên nữa.
"Các ngôi đình, hay ngôi chùa nó cũng thấp thôi, nó không cao như bây giờ, hay nó cũng không phải là chót vót trên đỉnh đồi, để lôi kéo mọi người thập phương đến như kiểu nhà thờ thời Trung Cổ, nó gần gũi với con người.
"Nhưng bây giờ tôi thấy nó như một cái gì đó đồ sộ như là thành quách, như cung đình, nó mang tính chất biểu trương sức mạnh của tiền bạc nhiều quá...”

Thế là ông Truyền và những người vọng cổ như ông đều muốn nhà chùa phải thấp lè tè, chỉ tồn tại trên núi non hoặc nơi đồng mông hiu quạnh để hợp với thiên nhiên mà không cần hợp với xã hội hiện đại??? Đây có phải là thiện ý bảo tồn cổ vật hay muốn đẩy Phật giáo ra  ngoài lề xã hội như Phật giáo Nam triều Tiên sau thời đệ nhị thế chiến, nhường sân chơi cho Tin Lành suốt nhiều thập niên qua?
"Nhưng bây giờ tôi thấy nó như một cái gì đó đồ sộ như là thành quách, như cung đình, nó mang tính chất biểu trương sức mạnh của tiền bạc nhiều quá...”Có lẽ ông Truyền có thành kiến mặc cảm về tự ty nên thấy các cơ sở Phật giáo phát triển như thế biều trưng sức mạnh của tiền bạc, vì thế, ông nói thêm:  "Tôi thấy nó không gần gũi với tâm hồn đạo Phật, chùa chiền thời nguyên thủy, thí dụ ai cũng có thể đến được, nhất là người nghèo càng có thể đến được, chứ bây giờ đến chùa trông khang trang quá, người ta cũng sợ..."
Nghĩa là ông cứ muốn Phật giáo mãi mãi là Phật giáo thời trung cổ chứ không nên phát triển theo xu hướng phát triển của xã hội; Ta hình dung, tất cả ngôi chùa đều am tránh vách lá nằm chen giữa các nhà cao tầng, các sư nhắm mắt lầm lũi đếm từng bước chân giữa  giòng xe tấp nập, trên người mang bộ ý bá nạp, chân đất,  đi đâu cũng mang theo hủ dưa muối tương cà, thong dong khi mà nhu cầu Phật sự cấp bách, bá tánh cần cầu an cầu siêu cho thân nhân hấp hối…Có lẽ, không những ngoại đạo mà ngay cả xã hội đều nhìn các sư là một hiện tượng quái thai của xã hội!!!Chưa nói đến các sư đi hoằng dương đến hải ngoại, hay các sư từ hải ngoại vào Việt Nam, chắc phải giong buồm vượt biển như các đạo sư xa xưa hay cuốc bộ như Ngài Huyền Trang thưở nhà Đường???

Sau khi hoài cổ, muốn Phật giáo trở lại thuở bán khai, ông Truyền gợi ý  nhà nước quản lý mức thu nhập của Phật giáo để đánh thuế như các quốc gia khác tạo sự công bằng cho xã hội: “Được biết ở một số quốc gia, ngoài việc có luật pháp quy định rõ ràng, các nguồn thu nhập cá nhân hay tổ chức của các cơ sở hoạt động tôn giáo bị đặt dưới sự giám sát và kiểm tra chặt chẽ của chính quyền.
Một số nơi còn coi hành nghề tôn giáo tạo thu nhập là một nghề nghiệp và là đối tượng điều chỉnh của các luật thuế, một trong các lý do được biết là để tạo đảm bảo công bằng trong xã hội, đặc biệt giữa các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh từ hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, so với các lĩnh vực thương mại, dịch vụ thông thường khác.”
Ông Truyền đứng góc độ kinh doanh và lợi nhuận khi các quốc gia đánh thuế vào các tôn giáo, nhưng ông không thấy có những điều khoản mà các quốc gia  đó đối với những hoạt động tôn giáo tuy có thu nhập nhưng phi lợi nhuận cho những hoạt động từ thiện xã hội, họ không bao giờ đánh thuế.

Ý kiến của gs Ngô đức Thịnh và Nguyễn Đức Truyền, nếu  là một thiện ý thì là thiện ý của những người ở những thế kỷ trước; nếu là thiện ý của  vị trí trong xã hội ngày nay thì không phải là một thiện ý, vì các vị nhập nhằng giữa những bậc chuyên tu và những người làm xã hội, hai lãnh vực khác nhau, hành trạng khác nhau thì cuộc sống phải khác nhau, làm gì có việc vừa “thích tu” lại vừa “thích hưởng thụ”. Đây là một gán ép ác ý làm tổn thương đại bộ phận các bậc chân đức và chuyên tu đang ẩn cư khắp nơi. Nếu là nhà nghiên cứu xã hội và tôn giáo, mong các vị không nên nhìn vào hiện tượng mà đánh giá, cần phải chuyên sâu vào thực chất của Phật giáo qua những hiện tượng quá nhỏ so với đại bộ phận Phật giáo hiện nay, bởi vì tất cả không là như các vị tuyên bố. Những đóng góp to lớn của Phật giáo đối với dân tộc, bù đắp thiệt thòi cho những mãnh đời bất hạnh trong xã hội, và các bậc chuyên tu phần lớn, tại sao quý vị không nêu ra mà chỉ nêu ở một góc độ tiêu cực? Thà rằng một người bình thường nhận xét, có thể thông cảm những khiếm khuyết, nhưng một nhà trí thức đại diện cho những nhà nghiên cứu xã hội và tôn giáo cho một chế độ như thế thì người phật tử chúng tôi cảm thấy có cài gì bất ổn trong kiến thức và thiện ý của quý vị.

Những phương tiện gọi là hưởng thụ trong một số ít tu sĩ hiện nay phải so sánh những đóng góp của họ cho xã hội có tương xứng để lên án. Nếu bảo chỉ đóng góp mà không được thụ hưởng những tiện nghi hiện có, có phải là một bất công trong xã hội? Ai quy định  cho sự đóng góp mà không được bù đắp những tiện nghi bảo đảm sức khỏe cho năng suất đóng góp đó??? Sao các vị muốn quản lý thùng công đức để gọi là công bằng cho xã hội mà lại không công bằng cho những đóng góp thầm lặng thường xuyên trong giới  nhập cuộc của Phật giáo?

                                                        MINH MẪN
                                                          20/4/2013







Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2013

TALIBAN VIỆT NAM


Một độc giả vừa gửi youtube cho thấy Trưởng ban tôn giáo tỉnh Bình Phước đích thân ra lịnh đập phá tượng Phật và triệt hạ chùa tại núi Bà Rá,

Trên Youtube không cho biết sự kiện xầy ra vào ngày nào, nhưng đủ cho thấy sự  kiện vô cùng lạ, chưa từng xầy ra sau 1975 đến nay đối với Phật Giáo.

Đã từng có những giang hồ trá hình đánh đập tu sĩ, gần đây nhất cũng là tại Bình Phước, xã Đăng Hà, huyện Bù Đăng, tu sĩ Thích Ngộ Chánh, sau khi làm việc với xã, địa phương yêu cầu thầy di dời tất cả tượng thờ đi nơi khác mà không nêu rõ lý do, thầy không chấp nhận biên bản, sau đó giang hồ đến chùa đánh thầy mà không đuợc cơ quan an ninh đến can thiệp.

Giờ đây, cũng tại Bình Phước, Ban Tôn giáo Tỉnh lại ra lịnh chặt đầu các tượng Phật và BỒ Tát, đập nát nơi thờ tự tại núi Bà Rá. Chưa rõ nguyên nhân, nhưng dù nguyên nhân nào, chính quyền cũng không thể có hành động vô ý thức như thế.

Thời chiến tranh, khi du kích núp trong các nơi thờ tự của tôn giáo, máy bay cũng không nỡ oanh tạc triệt hạ cơ sở. Huống nữa lúc hòa bình, cho dù cơ sở xây dựng bất hợp pháp, Ban Tôn Giáo chỉ có quyền làm việc với Ban Trị Sự Phật giáo Tỉnh để nội bộ giải quyết.

 PHật giáo là một tổ chức hợp pháp được  nhà nước chấp thuận , một tôn giáo có hiến chương, làm việc và điều hành theo pháp lệnh tôn giáo và hiến pháp Việt Nam, thì hà cớ  chính quyền xử sự như một băng đảng vô ý thức như thế.
Việc làm trên đây đã gây bức xúc cho quần chúng và cư dân mạng trong ngoài nước khi nhìn thấy hành động rất ư dã man không thua Taliban triệt hạ các biểu tượng Phật Giáo tại Afghanistan.

Dĩ nhiên đây không phải là chủ trương của trung ương, nhưng khi Ban Tôn Giáo tỉnh hành động, cũng phải thông qua các ban ngành trong Mặt trận Tỉnh. Vậy yêu cầu Bộ Nội Vụ, Ban Tôn Giáo chính phủ, an ninh tôn giáo và các ban ngành hữu quan hãy gấp rút xem xét giải quyết thỏa đáng việc nầy để hạ nhiệt sự bức xúc của quần chúng.
                                                     MINH  MẪN
                                                        16/4/2013 

Thứ Bảy, 13 tháng 4, 2013

NHẠC SĨ PHẬT GIÁO : HẰNG VANG






HẰNG VANG – NHẠC SĨ TÀI HOA CỦA PHẬT GIÁO


Không biết anh  thâm nhập Phật giáo từ lúc nào, nhưng lúc còn là Oanh vũ, năm 1945  anh đã tham gia sinh hoạt đoàn thể  tiền thân của Gia Đình Phật Tử hiện nay.

Anh sáng tác nhạc rất sớm, và cũng giữ trường trai rất sớm. Thập niên 1955 của thế kỷ 20, cộng đồng Phật giáo đã biết và nghe tên anh qua nhiều nhạc phẩm mang đậm tư tưởng Phật giáo. Hiện nay số lượng tác phẩm do anh sáng tác và phổ thơ đã trên 500 bản. Anh và nhạc sĩ Lê Cao Phan là hai cội sen già trong vườn hoa Đạo Phật.

Đặc biệt toàn bộ gia đình, gồm 5 gái 4 trai, 19 cháu nội ngoại, con cháu dâu rễ đều  được quy y và sống rất đề huề, an lạc. Đây là gia đình Phật giáo kiểu mẫu thấm đượm chất Phật.

Tuy tuổi gần 80, anh vẫn miệt mài sáng tác, và sống thanh đạm đầy đạo vị trong một góc phố cao nguyên trầm lắng. Chẳng những là nhạc sĩ tài hoa,  anh còn là một tín đồ đúng nghĩa thể hiện lòng từ đối với mọi sinh vật, dù bé nhỏ nhất như cái kiến con sâu.  “Nội tướng” của anh cũng là một trong những Phật tử thuần thành và ủng hộ anh hết mực trong việc tu tập và sáng tác. Hiện hai anh chị sống trong căn nhà khá đầy đủ. Chị là gái Huế nên việc nội trợ gia chánh đều đạt chuẩn “cung đình”. Tuy có những bữa ăn đơn giản, nhưng hương vị không thể thiếu chất Huế. Như vậy, Huế không chỉ bàng bạt trong ca từ nhạc lý của anh mà còn thấm đượm trong bữa ăn hàng ngày do chị đem đến. Sống trên cao nguyên nhiều chục năm, nhưng chất Huế vẫn chưa phai theo màu đất đỏ.

Anh em đồng hương  trên cao nguyên có sự gắn bó thâm tình với nhau, nên khi anh Hằng Vang muốn tổ chức đêm “Huế trên Cao ngyên”, tất cả anh em ra tay hỗ trợ mọi mặt; lúc bấy giờ, Hằng Vang như trẻ thơ biết suy tư với ống pipe trên môi, đi tới đi lui trong sân cứ như con trẻ lăn lộn bơi giữa hồ nước mát.

Có gần mới thấy anh là người khá dễ mến, rất chân thành và hồn nhiên. Vì thế, từ gia đình đến xã hội, từ chùa đến đồng hương trên xứ cao đều quý mến anh, trang trọng anh hết mực.

Có lẽ hơi thừa khi nói về nhân thân Hằng Vang, vì gia tài đồ sộ nhạc phẩm anh để lại cho Phật giáo đủ nói lên gíá trị của một con người, nhưng cũng cần phải nói về con người mà Đạo và đời luôn gắn kết một cách nhuần nhuyển, nhẹ nhàng như tơ trời vươn nhẹ trên không gian cao nguyên, để ra đời những nhạc phẩm  như mây khói, như hương sen phảng phất êm nhẹ trong các chương trình thơ nhạc Phật giáo.

                                                       MINH MẪN
                                                         10/4/2013

PHƯỚC BÁU XÂY CHÙA


Từ xưa, những ai hiểu về Phật giáo, đều biết đến quan niệm một trong những phước báu, đó là tạo tự, cúng dường Tam bảo, bố thí, phóng sanh, làm chuyện công ích như xây cầu đắp đường, nuôi dưỡng cô nhi và phụ lão…

Trong các nước chịu ảnh hưởng sâu đậm Phật giáo, không những quần chúng mà ngay cả vua chúa, quan triều đều tích công góp của xây chùa lập miếu. Chuyện kể, vua Lương Võ Đế hỏi Tổ Bồ Đề Đạt ma: “Trẩm xây 72 ngôi chùa, có công đức gì không?” Tổ đáp: - “không có công đức gì hết”. Dĩ nhiên vua rất ngỡ ngàng.

Trong quá khứ đã như vậy, hiện tại cũng không thiếu các mạnh thường quân, các đại gia, thậm chí  một số lãnh đạo trung ương  tại Việt Nam cũng đã xã bỏ bớt một phần tài sản để tái thiết hoặc xây dựng  chùa chiền khắp  Trung Nam Bắc, ( hẳn nhiên đa số cũng chỉ cầu phước mà thôi; đồng tiền đen hay trắng là việc khác)..

Gần đây, thiên hạ xôn xao vụ đại gia Trầm Bê bỏ tiền trùng tu tái thiết bảy ngôi chùa ở Trà vinh, gắn liển với hình ảnh, danh tánh của môn nhơn gia quyến treo khắp chùa K’hmer. Có lẽ đây là lần đầu tiên xuất hiện hình ảnh quái gở như thế.

Các triều đại Phật giáo cực thịnh tại nước ta, các vua xây chùa, cúng ruộng đất để bảo tồn và phát triển Tam Bảo, cùng lắm là ban “sắc Tứ” cho một danh lam, chứ chưa hề để hình ảnh , gia tộc, địa vị của hoàng tộc trong các chùa.

Những năm gần đây, đại gia Hoàng phi Dũng ( còn gọi là Dũng Lò Vôi, Bình Dương) xây Đại Nam cũng không thấy để hình ảnh gia tộc vào đó. Ngoài Bắc có Đại gia Xuân Trường, xây chùa Bái Đính với quy mô lớn nhất hiện nay cũng không hề thấy tên tuổi của mình nơi ấy.

Và , một nước có trình độ thấp hơn Việt Nam như Lào, vua Setthirat, thế kỷ 16, cho xây ngôi chùa đầu tiên là Vat Si Muang (1563), Ngôi chùa thứ nhì được nói đến nhiều là Haw Phra Keo xây năm 1565, Ngôi chùa thứ ba được vua Setthathirat cho xây trên một ngọn đồi giữa các đồng ruộng ở Vieng Chan năm 1566 là Vat Pha That Luang. Ngôi chùa thứ tư được xây dựng năm 1560 ở Luang Prabang. Những hành trạng đó, trong chùa chưa hề thấy hình ảnh của vua và hoàng tộc nằm chểm chệ trong chốn trang nghiêm. Và Campuchea cũng vậy, chùa Vàng chùa Bạc nổi tiếng như thế, có công đóng góp không nhỏ của hoàng cung, thế mà, bức tượng Norodom  (1834-1904) cởi ngựa do vua Napoleon III tặng, đặt trên nền đất chùa, ngoài khuôn viên chứ không ở trong chùa. Ngoại trừ chùa của hoàng cung dành riêng cho gia tộc.

Và thời đại Asoka đại đế, có công chấn hưng và truyền bá Phật giáo, thế mà không có ngôi tu viện nào khắc tên Asoka. Thời Đức Thế Tôn hiện tiền,  tu viện Trúc Lâm  cũng như  những nơi mà các đại gia đương đại cúng dường, mọi người chỉ biết đến tên như ông Cấp cô độc, thái tử Kỳ Đà…chứ không hề có hình ảnh xuất hiện khắp chốn trang nghiêm.

Thế thì vấn đề đại gia Trầm Bê xuất hiện trước và trong chánh điện là một điều bất bình thường đối với Phật giáo. Lấy cớ rằng đại gia bỏ số tiền quá lớn nên sư sãi K’hmer và quần chúng đồng thuận để hình ảnh như vậy, nhưng xin thưa, tuy là chùa của người K’hmer nhưng  du khách  trong và ngoài nước  xem đó là cảnh quan tôn giáo chứ không phải chốn riêng tư của đại gia. Điều nầy không đáng trách Trầm Bê, vì dù sao một người trần tục vẫn còn dính mắc một chút danh lợi do chưa có hiểu giáo lý và chưa có hành trì tu tập; việc cúng dường để cầu phước báu và kiếm chút danh thơm trong cộng đồng Phật giáo , trong xã hội thì là việc bình thường. Điều đáng nói ở đây là các Hòa Thượng, sư sãi bản tự không giải thích cho các mạnh thường quân hiểu giá trị việc cúng dường, dù là bạc tỷ hay vài chục nghìn với tâm vô cầu, giá trị vẫn như nhau. Nếu bạc tỷ được ngang nhiên xuất hiện trong chính điện và những nơi tôn nghiêm thì nhà nghèo xem như kẻ đóng góp thầm lặng với niền tự ty mặc cảm của mình; Vậy Phật giáo bình đẳng chỗ nào??? Nhà chùa trọng giáu khinh nghèo hay sao???

 Chúng ta không phủ nhận công lao to lớn của các đại gia, nhưng giá trị đó hãy nằm trên bảng vàng ở một góc nào đó trong khung viên chùa như một kỷ niệm, Sự khiêm tốn đó sẽ tăng giá trị hơn là việc chạm khắc hình ảnh, tên tuổi gia đình mình ở khắp trong, ngoài chính điện, nơi tăng ni, phật tử lễ lạy, chiêm bái..

 Ban Trị Sự PG Tỉnh cũng cần điều chỉnh những chùa như thế để thể hiện đúng tinh thần  vô ngã của nhà Phật.

Hy vọng những phản hồi của cộng đồng, nhà chùa nên điều chỉnh sớm để hình ảnh tôn nghiêm của Tam bảo được bảo vệ. Và các đại gia rút thêm bài học về tinh thần tôn trọng Tôn giáo của quần chúng. Có như thế, phước báu xây chùa mới đủ ý nghĩa.
                                                            MINH MẪN
                                                              19/4/2013

Thứ Năm, 4 tháng 4, 2013

TÔN GIÁO VÀ CHÍNH QUYỀN


Tôn giáo và chính quyền là hai thực thể song hành, tùy thuộc lẫn nhau trong một số trọng trách và nghĩa vụ trong xã hội Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, qua Pháp lệnh tín ngưỡng, văn bản pháp quy và Hiến chương, cho thấy Tôn giáo vẫn có một số đặc quyền tự quyết nội bộ sau khi thông qua các cơ quan chức năng về nhân sự, nội dung tổ chức…

Tuy nhiên, không thiếu một số địa phương, việc nhập nhằng quyền hạn giữa tôn giáo và chính quyền vẫn tiếp tục xẩy ra. Nhất là sở Nội vụ, ban Tôn giáo thường lấn quyền những BTS yếu kém. Trong số đó, có BTS PG Hải Dương. ĐĐ Thanh Vân nguyên là Trưởng BTS PG Hải Dương, qua nhiều nhiệm kỳ tỏ ra thiếu năng lực và không đủ uy tín với Tăng ni, quần chúng. Trong nhiệm kỳ 7 của Đại Hội  Phật Giáo Tỉnh, đại chúng đề bạt nhân sự mới, ĐĐ Thanh Vân cũng như Ban Tôn Giáo tỉnh gây cản trở, vì không chấp nhận thay đổi nhân sự, vì thế, mặc dù TW GH đã hoàn tất đại hội, thế mà Phật Giáo tỉnh Hải Dương vẫn dẫm chân tại chỗ, vì vậy Phật sự không thể phát triển.

Theo tinh thần nhiệm kỳ 7: “kế thừa – đoàn kết và phát triển” thì Phật giáo Hải Dương hoàn toàn đi ngược; nếu chính quyền không can thiệp sâu vào nội tình Phật giáo thì BTS PG HD cũng không đi vào bế tắt như hiện nay.

Để mở gút, TW có thể cử đại diện về tạm thời đảm nhiệm trưởng Ban trong 6 tháng đầu, sau đó sẽ hợp thức hóa toàn bộ nhân sự theo yêu cầu của Phật giáo Hải Dương.
Một tôn giáo mạnh thì nhịp độ sinh hoạt xã hội sẽ mạnh, cán bộ chuyên ngành tôn giáo nên ý thức trọng trách và quyền hạn hiện có để Phật giáo Hải Dương được thông thoáng và cởi mở.

Ban Tôn giáo chỉ có nhiệm vụ điều hướng sinh hoạt của tôn giáo theo đúng chính sách chứ không áp đặt tôn giáo theo cá nhân của mình. Có như thế Tôn giáo mới phát triển  một cách tự nhiên và đóng góp cho xã hội được hiệu quả hơn.

                                                    MINH MẪN
                                                      28/3/2013

Thứ Tư, 3 tháng 4, 2013

HUẾ GIỮA CAO NGUYÊN


Đêm 24/3/2013, chương trình Thơ nhạc  với chủ đề: “HUẾ GIỮA CAO NGUYÊN”, do anh em đồng hương Huế tổ chức với sáng kiến của nhạc sĩ Hằng Vang. Diễn ra tại chùa Hồng Phước – Daklak. Có sự tham dự của Hội Đồng Hương  Huế tại Daklak và một số thân hữu từ Sài Gòn - Huế lên tham dự.

Người con đất Thần Kinh, cho dù tha hương nơi đâu, cho dù thời gian xa Huế bao lâu, trong tâm tưởng luôn canh cánh nỗi nhớ  một vùng đất mà mình vẫn tự hỏi, Huế có gì để nhớ để thương? Huế cũng như bao mãnh đất thân yêu khác của nước Việt, nhưng Huế có Hương giang lững thững như kẻ thất tình, Huế có núi Ngự như chàng trai ngồi đợi ai đó với dáng vẻ mộng mơ. Người dân Huế chẫm rãi thả gót chân trên phố vắng, không bon chen vồ vập chỗ đông người. Cảnh vật  thong dong như  áng mấy trôi không cần điểm đến. Đất Thần kinh khô cằn như đôi tay trắng của nông dân sau mùa thu gặt…thế nhưng, tất cả những thứ ấy đã sản sanh những nét văn hóa lưu lại muôn thuở. Huế có nhạc cung đình, có văn hóa ẩm thực bình dân quến khách, Huế có tính kiêu kỳ  kiều diễm; Huế có đò dọc ru khách vào mộng những đêm trăng thanh; Huế đã sản sanh lắm anh tài lịch lãm. Mỗi người dân là một nguồn thơ, giòng nhạc lai láng, vì thế không lạ khi Huế có nhiều nhạc phẩm níu kéo gót chân những người con tha phương lập nghiệp, cho dù ở chân trời góc biển nào, cũng tìm cách về hội nhập đất tổ quê cha một lần, chỉ để ngắm lại giòng sông, nhìn tháp Thiên Mụ, nằm dài ở dốc Nam Giáo, lắng lòng trong đồi cây Núi Ngự. Ai có ra đi rồi mới nhớ lại quê; ai đã một lần đến Huế mới thấu hiểu sự quyến rũ thầm lặng của xứ sở chỉ có chùa miếu, lăng tẩm, sông, núi …Chính vì thế, những người con xứ Huế trôi giạt vào Cao nguyên, muốn lưu lại cái gì đó lắng sâu trong tâm khảm, để cùng nhau hội ngộ, chia xẻ nỗi niềm viễn xứ, đêm thơ nhạc “Huế Giữa Cao Nguyên” được hình thành.

Những anh em góp phần cho đêm văn nghệ cũng chỉ là những tâm hồn nghệ sĩ, đóng góp bằng cái tâm chứ không phải cái chuyên của những nhà tổ chức sự kiện. Tuy luộm thuộm nhưng vẫn nói lên được hồn thơ và nét Huế. Rất tiếc, buổi hội diễn quá đơn điệu chỉ ca-ngâm mà không có một hoạt cảnh thay đổi không khí, và quan trọng – chỉ thể hiện được một vế qua các bài nói về Huế mà không cho khán thính giả thấy được chất Cao nguyên đang nuôi dưỡng tâm hồn Huế, hay nói cách khác – Huế sanh sôi nảy nở trên đất đỏ trù phú Cao Nguyên. Bài thuyết minh lịch sử  nước Việt qua các triều đại  quá dài, thiếu hoạt cảnh minh họa, làm cho khán thính giả chỉ ngồi nghe giữa cái lao xao chung quanh như đang chờ đợi một tiết mục hấp dẫn nào đó, diễn trường trở nên trống trãi lạ thường!

Điều đáng ca ngợi tinh thần của anh em đồng hương:
Sáng/3/13 nhà thơ Kiều Trung Phương và nhà thơ  VN Mai văn Hoan cùng nhà giáo Nguyễn Động (Kim Đông) lên Ngự Bình lấy đất, sau đó đến núi Ngự Bân (nơi Nguyễn Huệ lên ngôi tiến quân ra Bắc đánh đuổi quân Thanh lấy lại Thăng Long, thống nhất nước nhà) để cáo tế, lại qua Nghinh Lương Đình lấy nước sông Hương. Nhà thơ Mai Văn Hoan trao cho Kiều Trung Phương và nhiếp ảnh gia Thừa Thiên là Đỗ văn Tri đem lên Buôn ma Thuộc trao cho Ban tổ chức, chia cho Hội đồng hương  thờ kính.
Với tinh thần  tha thiết quê hương như thế thật cảm động, chỉ có những người con của Sông Hương núi Ngự mới thể hiện sâu sắc chứ không chỉ có nhạc và thơ!
                                                           MINH MẪN
                                                                02/4/13