Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn thích ngộ chánh là ai. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn thích ngộ chánh là ai. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 21 tháng 5, 2013

THICH NGỘ CHÁNH LÀ AI???



Đọan băng ghi âm cuộc đối thoại giữa ông Nguyễn Hữu Tư, trưởng Ban tôn giáo kiêm Phó sở  Nội vụ Tỉnh Bình Phước và tu sĩ Thích Ngộ Chánh cho thấy  những vấn đề mắc mứu còn nặng nề quanh vụ tượng Phật bị chặt đầu ở Bà Rá mà người quay trực tiếp sẵn sàng làm chứng.

Đang là mùa Phật Đản, giữa niềm hân hoan của người con Phật cộng với đại tang của Phật giáo mà các cao Tăng chức sắc lần lượt ra đi, ngỡ chừng vui buồn lẫn lộn, thì trong số hàng chục ngàn tu sĩ hiện nay trong nước, xuất hiện một tu sĩ với tên gọi: Thích Ngộ Chánh, luôn bức xúc sự kiện đã xầy ra tại Bình Phước làm xôn xao trong cộng đồng Phật giáo, tưởng rằng các văn bản giải trình của BTSPG Bình Phước và chính quyền Bình Phước khỏa lấp được những việc đáng tiếc đó, nhưng chuyện đáng tiếc vẫn là nỗi bức xúc chưa được thỏa mãn của  một tu sĩ ở vùng sâu vùng xa, địa đầu giới tuyến của tỉnh Bình Phước.

Tu sĩ T. Ngộ Chánh đã gửi văn bản yêu cầu ông Nguyễn Hữu Tư lên tiếng xin lỗi  Phật giáo về hành động hủy phá tượng Phật ngoài ý muốn mà cơ chế Phật giáo hiện nay đồng thuận với sự giải trình mập mờ của BTSPG Bình Phước, không được phúc đáp, tu sĩ  T. Ngộ Chánh trực tiếp gọi điện thỉnh ý với lời lẽ và xưng hô thật khiêm hạ của một tu sĩ đối với một quan chức đương quyền; Nội dung không ngoài vấn đề để bảo vệ danh dự cho  nhà nước trước sự kiện đó, nếu ông Nguyễn Hữu Tư khôn ngoan thì nên trả lời một cách khiêm tốn, vừa lòng kẻ chất vấn cũng như quần chúng sẽ thấy được cái tâm tôn trọng của ông đối với Phật giáo. Có lẽ do thói quen cửa quyền, ông ta nói: "muốn gì thì cứ lên gặp ông ta", ông ta không cần trả lời vì cơ quan đương quyền trả lời rồi, chẳng những thế  ông ta còn hăm he đe dọa  sẽ đến xã Đăng Hà để kiểm tra cơ sở của tu sĩ T. Ngộ Chánh.

T.Ngộ Chánh đang gặp khó khăn tại địa phương, tại sao lại phải đương đầu với một quan chức nắm quyền sinh sát tôn giáo như Nguyễn Hữu Tư? Tu sĩ T. Ngộ Chánh có suy nghĩ kỷ khi lên tiếng vụ việc nầy? Nếu Nguyễn Hữu tư với tâm nhỏ hẹp, liệu tu sĩ T. Ngộ Chánh sẽ được yên thân giữa chốn hoang vu rừng núi?

Tuổi trẻ có những bốc đồng để bộc lộ tâm tư của mình trước vấn nạn mà cha anh không ai dám lên tiếng, có lẽ vì thế mà tu sĩ T. Ngộ Chánh trực tiếp đặt vấn đề với ông Nguyễn Hữu tư chỉ cần một lời xin lỗi với Phật giáo, cho dù  xin lỗi không thật lòng, nhưng ông Nguyễn Hữu Tư chưa quen nếp văn hóa khiêm hạ khi mà sự khiêm hạ của một tu sĩ trẻ đối với một quan chức chưa hẳn vì e sợ quyền lực của ông ta.
Rất tiếc những cán bộ đương quyền không biết cách gắn bó với quần chúng bằng sự thân thiện mà luôn tỏ ra uy quyền không cần thiết.

Hãy nghe cuộc đối thoại giữa tu sĩ T,. Ngộ Chánh và ông Nguyễn Hữu Tư qua đoạn băng ghi âm sau đây.
                                                                       MINH MẪN
                                                                          21/5/2013

http://voluongcongduc.com/news/news/Su-Kien/Noi-chuyen-cua-DD-Ngo-Chanh-voi-nguoi-quay-phim-vu-dap-pha-tuong-Phat-tai-Binh-Phuoc-188/

Thứ Sáu, 22 tháng 11, 2019

* LÀM CHỦ SANH TỬ


Sanh tử là đại sự, chư Phật vì mục đích này mà xuất hiện ra đời.
Tại sao?
Sáu nẽo luân hồi trôi lăn chìm đắm, trong lục đạo, cõi người tương đối buồn vui lẫn lộn. Bốn cõi dưới khổ nhiều, cõi trên chư Thiên quá sướng, chính vì thế, theo Phật, cõi “người” là điểm then chốt giải quyết mắc xích tử sinh, dễ tu.

                                                      * * *
Sự thường ở đời, người trí tự xử, người không tự xử cần nương nhờ người khác trước một sự kiện. Vấn đề “sinh tử”, dù trí hay ngu, đều cần một phương hướng giải quyết, giải quyết theo hướng được dẫn dắt, người trí cần nỗ lực và tự nỗ lực. Chính sự nỗ lực của người trí đầy bản lãnh, được tôn xưng là “đại nhân”, hơn hẳn kẻ tầm thường, gọi là “thượng nhân”.

                                                      * * *
Mỗi xã hội, mỗi thời đại đều có những vấn đề cần hành xử. Có những phương cách hành xử ở góc độ này hợp lý, lại là vô lý ở một góc độ khác. Cũng thế, trong tâm người, nhìn một sự kiện cảm thấy bất an, vô lý, thế nhưng thời gian sau lại đồng cảm chấp nhận. Một tập thể có chung cái nhìn cá biệt, làm thành một cộng đồng ý hệ, nếu vì quyền lợi hay bị kích động, trở thành phong trào đối nghịch với một cộng đồng dị biệt về quan điểm, chánh kiến. Tất cả đều là cộng nghiệp và biệt nghiệp!

                                                     * * *
Xã hội Việt Nam ta, xưa cũng như nay, không tránh khỏi sự tương tranh về ý hệ, không tìm thấy mẫu số chung, tình nghĩa ruột thịt đồng bào phân ly, đó là một bi kịch. Không ai hoàn toàn đúng, cũng chả ai hoàn toàn sai; vì thế, gà nhà bôi mặt đá nhau! Thu gọn trong phạm vi Phật giáo, vẫn là những hiện tượng trong xã hội thu hẹp. Ta chỉ nói đến phạm trù Phật giáo hoạt dụng. Những bậc chuyên tu miên mật tầm cầu giải thoát hiện đời, không phải là đối tượng bị bình phẩm, dị nghị, bị ném đá. Các ngài thu mình vào phạm vi hẹp nhất để đối diện với việc tử sanh, tìm ra mấu chốt để gỡ. Không vì thế mà các ngài được yên ổn. Trong những lúc căng thẳng với nghịch duyên và nghiệp thức trỗi dậy, lực phấn đấu không mệt mỏi luôn là năng lực hóa giải các chủng tử tiềm ẩn trong tàng thức, chúng luôn chờ cơ hội trỗi dậy chống phá hành giả. Mỗi hành giả có một pháp hành đặc thù; có những pháp nhìn thẳng vọng tưởng để hóa giải, có những pháp không quan tâm đến vọng tưởng, đường ta ta cứ đi, vọng tưởng tự nó thui chột trước công năng pháp hành miên mật. Tuy vất vả với nội tâm, nhưng niềm an lạc bao phủ thân hành trong đời sống ẩn cư.

                                                     * * *
Trong thời Đức Phật và Thánh chúng, vừa nỗ lực hành trì, vừa giáo hóa chúng sanh, tuy có gặp không ít chướng duyên, do đạo lực của Phật và Thánh chúng, mọi ác duyên dần được hóa giải. Ngày nay, cuộc sống phát triển đa dạng, người tu phải đối diện với bao khó khăn khi chấp nhận nhập cuộc, vừa tu tập vừa giải quyết bao thế sự liên quan đến Phật giáo, một khi nhập cuộc liên quan đến xã hội thì bản chất chính trị khó mà thoát khỏi. Chính trị của người tu khác với thế nhân. Chính vì thế, các ngài là những dũng sĩ đi giữa bao lằn tên mũi đạn ba bề bốn phía. Thương có, ghét có, đúng có, sai có, cho dù bao việc vây quanh của thế sự, mục đích chính của những dũng sĩ đó vẫn là giải quyết sanh tử tự thân. Giải quyết sanh tử vẫn không quên nhiệm vụ với cõi trần, vì thế, những dũng sĩ như vậy phải hứng chịu bao lằn tên mũi đạn.

                                                     * * *
Trong giai đoạn thập niên 1960, Phật giáo đứng trước cơn lốc bão chưa từng có tại miền Nam Việt Nam. Chư Tôn túc phần lớn là những nhà tu chân chánh, chưa từng đối mặt với những khó khăn về chính trị đe dọa sự tồn vong của đạo Phật. Một số tu sĩ tốt nghiệp các trường Phật học tại Huế, tài năng xuất chúng về mẫu người tu sĩ dấn thân, lúc bấy giờ chỉ có TT Trí Quang và TT Thiện Minh, tuổi trẻ đầy nhựa sống và óc sáng tạo. Chính thời cuộc nhiễu nhương đối với sinh mệnh Phật giáo, các ngài thuộc thành phần dấn thân để bảo vệ đạo. Lúc bấy giờ, một vài Tỉnh miền Trung, các huynh trưởng GĐPT và các bác hội trưởng thường bị thủ tiêu, Phật giáo vẫn im lặng, mãi đến khi cao trào triệt tiêu PG, mới xuất hiện các nhà tu dấn thân đòi quyền bình đẳng Tôn giáo chứ không đòi lật đổ chế độ. Nếu các tướng lĩnh quân đội đảo chánh là do chính sách Mỹ hậu thuẫn, Phật giáo không có quyền sai khiến quân đội trong khi các tướng lãnh đa phần tùy thuộc vào các cha cố.

Ngoài những tu sĩ tình nguyện dấn thân, số còn lại cũng là những bậc uyên thâm nội điển, tham gia vào việc hoằng dương PP bằng cách trước tác, phiên dịch, giáo dục quần chúng và đào tạo Tăng tài, truyền đăng tục diệm... Cho dù dấn thân nhập thế hay ẩn tu xuất thế, con đường thoát ly sanh tử vẫn là mục đích ưu tiên của tu sĩ.

                                                     * * *
Dấn thân nhập thế: Tên tuổi Ngài T.Trí Quang trở thành một hiện tượng đương thời, một nhân vật khó hiểu, không một ai có thể đoán định đúng mẫu người thâm trầm sâu sắc hiếm có ở một tu sĩ trẻ. Ta nghe sự nhận xét sau đây của các phía:

LỜI DẪN NHẬP: Đã 44 năm sau cuộc Chiến tranh Việt Nam, vẫn còn những câu hỏi chưa có lời giải đáp. Chỉ riêng tên tuổi Thích Trí Quang đã gây ra rất nhiều tranh cãi.(1) Có nhiều nhãn hiệu gán cho ông: với một số người Việt chống cộng thì cả quyết Thích Trí Quang là cộng sản đội lốt tu hành hoạt động với sự chỉ đạo của Hà Nội; nhưng ngay với giới chức cộng sản cũng đã từng coi Trí Quang là một loại CIA chiến lược; còn theo tài liệu giải mật của CIA thì đánh giá Trí Quang không phải cộng sản, mà là một nhà tu hành đấu tranh cho hòa bình và muốn sớm chấm dứt chiến tranh. Thêm nguồn tài liệu còn lưu trữ về những cuộc đàm luận giữa Trí Quang và các giới chức Hoa Kỳ, cho rằng Trí Quang chống cộng mạnh mẽ và hiểu được sự việc sử dụng quân đội Hoa Kỳ để chống lại Cộng sản Bắc Việt và Trung cộng.

Với những rối loạn chính trị trong tuần lễ vừa qua, có một hiện tượng TRÍ QUANG trên khắp các báo chương ngoại quốc. Tuần báo Time coi ông như xuất hiện một Machiavel mới, trong khi báo L'Express gán cho ông là mẫu người đang làm rung động cả Mỹ quốc, đó là chưa kể tới những bài báo nói về ông đăng trên US News and World Report và Newsweek... Hiện tượng trên cũng được các báo Việt ngữ toa rập theo, thích thú đem ra phiên dịch và đăng tải. Nhiều người coi đó như một khám phá mới lạ về một nhà tu hành tài ba, nhiều quyền lực nhưng cũng rất bí ẩn và khó hiểu. Trở lại trường hợp Thích Trí Quang, từ nhận định bảo ông là cộng sản đến ý nghĩ một tay quốc gia cực đoan, hình như chỉ cần một chút ngộ nhận. Nghĩ rằng tôn giáo sẽ còn đóng một vai trò quan trọng trong tương lai chính trị miền Nam, việc tìm hiểu mẫu một nhà tu-hành-dấn-thân đang có nhiều ảnh hưởng là điều cần thiết, đó là lý do cuộc gặp gỡ Chín mươi sáu phút với Thượng Toạ Thích Trí Quang buổi chiều ngày 5-5-1966 tại Chùa Từ Đàm Huế. Tuy chưa giáp mặt ông lần nào, chúng tôi đã biết mặt Thượng toạ qua hình ảnh báo chí, và đặc điểm đầu tiên để nhận ra ông là đôi mắt vô cùng sắc sảo. Không với một cử chỉ xa cách nghiêm trọng, không với cả tia nhìn mãnh liệt như thôi miên, Thượng toạ vui vẻ tiếp chúng tôi qua những nụ cười dễ gây thiện cảm và những cử chỉ tự nhiên thoải mái. Trái hẳn với triết lý nhà Phật hiểu theo nghĩa thông thường là xuất thế và yếm thế, Thượng toạ Thích Trí Quang mang khuôn mặt của một nhà tu hành mới: một Nhà-Sư-Dấn-Thân, dấn thân vào tất cả những biến động xã hội, dùng tất cả những uy tín và quyền năng sẵn có để lèo lái tới một cảnh đời thích hợp với sự phát triển của đạo giáo. NGÔ THẾ VINH

PHẠM ĐÌNH VY
Chùa Từ Đàm, Huế 05.05.1966
[Trích Nguyệt san Tình Thương, số 29, 1966]

Theo đài VOA:
Hòa Thượng Trí Quang là một trong những nhà lãnh đạo Phật giáo gây nhiều tranh cãi nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam. Mãi cho tới ngày nay, nhiều thập niên sau khi chiến tranh kết thúc, báo chí, dư luận quốc tế, trí thức trong và ngoài nước vẫn chưa hết thắc mắc, không biết Hòa Thượng Thích Trí Quang theo quốc gia hay cộng sản; là cao tăng dấn thân vì đạo, bị cộng sản Bắc Việt lợi dụng, hay là ‘CIA chiến lược’ như tố cáo của các cán bộ cộng sản, hoặc ‘cộng sản nằm vùng’ hoạt động theo chỉ đạo từ Hà nội. Những thắc mắc đó vẫn là đề tài tranh cãi không dứt giữa các nhà khoa bảng, các nhà báo, cũng như trong giới tình báo Mỹ. Nhưng điều mà dường như mọi người đều đồng ý là Hòa Thượng Thích Trí Quang là một lãnh đạo Phật giáo đầy quyền lực vào lúc mà sức mạnh của giáo hội Phật Giáo lên cao nhất trong những năm đầu và giữa thập niên 1960. Lúc đó, Time, tạp chí có uy tín của Mỹ, đã đăng ảnh của Hòa Thượng trên trang bìa với dòng chữ “người đã làm lung lay nước Mỹ”. Báo chí ngoại quốc gọi Hòa Thượng Thích Trí Quang là ‘người đã lật đổ chính quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm’ vào năm 1963.

Các học giả cánh hữu cho rằng Thích Trí Quang có nhiều khả năng là cán bộ cộng sản hoạt động dưới sự chỉ đạo của Hà Nội. Còn các học giả cánh tả lại cho rằng ông là một Thủ lãnh tôn giáo đấu tranh bất bạo động cho hòa bình và để bảo vệ Phật giáo.

Trong bài tham luận mang tựa đề “Political Monks: The Militant Buddhist Movement during the Vietnam War” - “Tăng Sĩ làm chính trị: Phong trào đấu tranh Phật giáo trong Chiến tranh Việt Nam”, tác giả Mark Moyar của Đại học Cambridge viết trong phần tóm lược nội dung:

Một nữ phóng viên chiến trường, từng đoạt giải Pulitzer và làm phóng viên tại Toà Bạch Ốc, bà Marguerite Higgins, là một trong những người hiếm hoi đã trực tiếp phỏng vấn Hòa Thượng Trí Quang. Sau cuộc phỏng vấn tại Chùa Xá Lợi vào cuối năm 1963, bà Higgins không dấu vẻ hoài nghi của bà đối với Hòa Thượng. Bà viết trong quyển ‘Our Vietnam Nightmare - Cơn Ác mộng Việt Nam của chúng ta’, miêu tả vị cao tăng của Phật giáo Việt Nam là “một Machiavelli thắp nhang.” Machiavelli ám chỉ một người quỷ quyệt, không có đạo đức, chủ trương “cứu cánh biện minh cho phương tiện.”

Nhà đấu tranh cho nhân quyền và Phật giáo Võ Văn Ái, cũng là một sử gia chuyên nghiên cứu về đạo Phật và lịch sử Việt Nam, nói cá nhân ông rất khâm phục Hòa Thượng Thích Trí Quang, vì ông là nhà sư am hiểu giáo lý Phật giáo rất thâm sâu, và có nhiều đóng góp cho Phật giáo Việt Nam.

Ông Võ Văn Ái nói: “Ngài là đại biểu, là tiếng nói của tinh thần Phật giáo qua suốt 2000 năm, mà qua suốt 2000 năm đó đã chứng tỏ sự kết hợp của Phật giáo Việt Nam, đối với dân tộc Việt Nam trên lĩnh vực tâm linh, văn hóa cũng như trong vấn đề chống ngoại xâm. Trong cuộc đóng góp cho dân tộc Việt Nam trên phương diện tôn giáo, tôi thấy sự đóng góp của Hòa Thượng Trí Quang rất lớn và cho thấy tinh thần của Phật giáo Việt Nam.”

Theo một tài liệu được giải mật của CIA có tựa đề “Momorandum for the Director”- (Báo cáo lên Giám Đốc) ghi ngày 11/9/1964 về đề tài ‘Động cơ, Mục tiêu và Ảnh hưởng của Thích Trí Quang’ ký tên George A.Carver, Jr., đại diện nhóm ‘South Vietnam Working Group’, các tác giả nói về Hòa Thượng Thích Trí Quang như sau:

“Đầy tham vọng, khôn khéo, một người không ngần ngại dùng mọi mánh khóe để lôi kéo, vận động chính trị và là một kẻ mị dân bẩm sinh. Ông là một trong những người hiếm khi xuất hiện - một nhà lãnh đạo chính trị thiên bẩm.”

Sau khi phân tích, tài liệu này kết luận rằng ‘không có bằng chứng thuyết phục để kết luận Thích Trí Quang là cộng sản’. Các tác giả nói rằng những người tố cáo Hòa Thượng Trí Quang là cộng sản thường là người của chế độ Tổng thống Ngô Đình Diệm, tuy cũng có một số nhà quan sát Mỹ hiểu biết và công tâm cũng tin như vậy.

“Sau khi suy xét cẩn thận, kết luận của chúng tôi là Trí Quang có phần chắc không phải là một người cộng sản, hoặc một gián điệp Việt Cộng.”

Kết luận đó được dựa trên cơ sở ‘Không một ai trong số nhiều người Việt thù ghét Thầy Trí Quang, chỉ chờ cơ hội để bôi nhọ ông, và không ngừng tìm cách chứng minh ông là cộng sản, có thể đưa ra bằng chứng vững chắc về bất cứ liên kết nào giữa ông với cộng sản.”

Đây cũng là ý kiến của nhà nghiên cứu James McAllister của Đại học Cambridge, trong bài tham luận “Thích Trí Quang và Chiến Tranh Việt Nam” (Only Religions Count in Vietnam: Thich Tri Quang and the Vietnam War) được Nhà Xuất Bản Modern Asian Studies ấn hành năm 2007.

 Bài tham luận viết:
“Nói tóm lại trong quá trình nghiên cứu của tôi, tôi không tìm ra được bất cứ quan chức Mỹ nào có thể nhận diện được, chưa nói tới bất cứ quan chức cấp cao nào, nghĩ Thích Trí Quang là người cộng sản hay có cảm tình với cộng sản.”

                                                      * * *
Quả là bản năng chính trị bẩm sinh mặc dù xuất thân dưới mái chùa từ bé, khác nào một Lý Công Uẩn. Tuy nhiên, không vì bẩm sinh mà sa lụy vào chính trị thế tục. Có những kẻ chủ quan tin rằng Thích Trí Quang có mộng tham chính hay ít nữa là một quốc sư. Ngài từng trả lời với báo chí rằng điều đó không thể có trong xã hội ngày nay khi mà VN là quốc gia đa Tôn giáo.

Nổi cộm trong thời chiến là một hiện tượng hiếm hoi đối với một tu sĩ Phật giáo, nhưng thời bình, sau 1975, việc im hơi lặng tiếng của “người” cũng là đợt sóng ngầm cho bao vấn nạn:

“Sự 'im lặng' của Hòa thượng Thích Trí Quang, một lãnh tụ của các phong trào đấu tranh sôi động của Phật giáo Việt Nam thời chiến, người được cho là đã từng làm 'rúng động' nước Mỹ, từ sau ngày 30/4/1975 có thể được nhìn nhận như thế nào là một chủ đề được các khách mời Bàn tròn thứ Năm tranh luận tuần này.
Trước hết, từ California, Hoa Kỳ, ông Mặc Lâm, nhà báo từng nhiều năm làm việc tại RFA Tiếng Việt, nêu quan điểm với cuộc hội luận hôm 14/11/2019:

"Về sự im lặng của Hòa thượng Thích Trí Quang từ sau tháng Tư 1975 đến bây giờ, chúng ta ai cũng ngạc nhiên và có rất nhiều câu hỏi đặt ra xung quanh thái độ này của Hòa thượng.

"Nhưng chúng tôi nghĩ rằng, chung quy đó là quyền tự do biểu đạt của từng người một trong thế giới này và khi Hòa thượng đã xuống đường, đã đem bàn thờ Phật xuống đường hay là đã biểu tình (tuyệt thực) trong vòng 100 ngày, cũng như những hoạt động khác, để chống lại một chế độ mà Hòa thượng cho rằng đã không phù hợp với Việt Nam, thì đó cũng là một quyền tự do của người tu hành, kể cả người tu hành đó là Phật giáo, Công giáo hay bất cứ một tôn giáo nào khác.

"Chúng tôi rất trân trọng những chuyện đó. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh Việt Nam bao nhiêu năm nay, mà Hòa thượng không lên tiếng một chút nào, thì người dân cũng có quyền của họ về suy nghĩ về thái độ sống và thái độ tranh đấu của Hòa thượng, trước đây, nó đã rất mạnh mẽ và rất là dấn thân, nhưng bây giờ lại im lặng hoàn toàn như vậy, thì người dân cũng có thể đánh giá rằng đây là một thái độ có vẻ là nó bị khuất phục trước cường quyền, hay là một thái độ mà ngài có thể là ăn năn.

"Hay là có thể cảm thấy rằng bây giờ nếu có chống lại chế độ hiện thời đi nữa, thì cũng không đi tới đâu. Cho nên đó là suy nghĩ riêng của ngài mà chúng ta không ai có thể đoán được, hay xét đoán được qua hành động của ngài."

'Không thể đổ tội cho một người'

Tiến sỹ triết học, nhà nghiên cứu Phật giáo Thái Kim Lan trước hết phản biện một số quan điểm liên quan Hòa thượng Thích Trí Quang và nêu quan điểm về bản chất tình hình chính trị của giai đoạn lịch sử hơn một nửa thế kỷ trước, có liên quan tới các phong trào Phật giáo ở miền Trung và miền Nam Việt Nam, bà nói:

"Trước hết, tôi muốn nói như thế này là nhận định lịch sử phải khách quan và rất kỹ lưỡng, bình tĩnh nữa. Bởi vì nếu chúng ta dùng chữ sai, thì sai một li là đi một dặm. Dùng chữ "tiếp tay", là tôi không đồng ý.

"Ví dụ như dùng chữ tiếp tay là cuộc vận động Phật giáo, hoặc là Hòa thượng Thích Trí Quang đã tiếp tay cho Cộng sản, tôi không đồng ý. Tôi không đồng ý ở cái chỗ trong lúc cuộc vận động Phật giáo xảy ra, thì mục tiêu của Phật giáo lúc ấy rất là hòa hoãn, chỉ muốn chính quyền ông Diệm chấp nhận sự bình đẳng tôn giáo.

"Và chấp nhận thứ hai là những nạn nhân của cái đêm Phật đản phải được bồi thường, chính tôi là một trong những người đi tuyệt thực để đòi sự thực thi công bằng như vậy.

"Thì trong mục tiêu này, không bao giờ có vấn đề tiếp tay cho Cộng sản một chút nào cả, nếu có sự tiếp tay, thì có thể những chuyện xảy ra là sau này, mà đó là xảy ra bên ngoài, chứ không phải là tự thân của cuộc vận động 1963. Thành thử chữ "tiếp tay", chúng ta nên cẩn thận để sử dụng.

"Điểm thứ hai là vấn đề lật đổ ông Ngô Đình Diệm không có ở trong chương trình của cuộc vận động 1963, mà chúng tôi khẳng định là mặc dù có nhiều cái giải thích khác nhau, nhưng mục tiêu và cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức chỉ muốn đánh động sự công bằng, tinh thần công bằng mà ông Ngô Đình Diệm và chính quyền Ngô Đình Diệm nên chú trọng.

"Bởi vì chính quyền đã buộc tội, cáo buộc tất cả đều là Cộng sản, mà chúng tôi thực sự lúc đó là sinh viên, rất là trong sáng, ngây thơ, không có một chút gì là chúng tôi nghĩ chúng tôi theo Cộng sản cả. Chúng tôi chỉ thấy nhà Chùa và người dân bị đánh đập và tuyệt thực, chúng tôi can thiệp, chúng tôi muốn đứng ra.

"Và đó là một tinh thần tự do ngôn luận, và phải nói đó là một điểm son ở trong chế độ đó, chúng tôi có quyền, chúng tôi đã được nói và chúng tôi được phản đối. Còn về lịch sử, tại sao Việt Nam sau này rơi vào tay như các ngài nói là "tiếp tay để rơi vào tay Cộng sản", thì chúng ta phải hỏi tất cả những nhà cầm quyền kế tiếp - trách nhiệm của họ thế nào? Tất cả những hành động của người Mỹ như thế nào?

"Chúng ta không thể nào nói một cách võ đoán được để mà buộc tội một người được!," Tiến sỹ Thái Kim Lan nói:

'Chánh pháp và hành động'

"Thì dù có nói lớn hay không nói lớn, vẫn chưa ai làm được gì cả. Tôi nghĩ rằng trong trường hợp của cố Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quang, thì trong thuật ngữ Phật giáo có một câu nói rằng: nói năng như Chánh pháp, im lặng như Chánh pháp.

"Nghĩa là ngài có nói năng, có phê bình, có xuống đường, có biểu tình, hay là không có tất cả những việc đó, tất cả những điều đó đều là Chánh pháp, chân lý của Đạo Phật."

"Sau năm 1975, cố Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang ở Bình Định và Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ vẫn tiếp tục con đường đòi hỏi công lý và hòa bình cho dân tộc.

"Tất nhiên, không có một sự im lặng, không có một sự thối lui, không có một sự khuất phục nào cả."
"Và ông giữ vững quan điểm của mình là sự im lặng này vượt lên trên hết tất cả các tranh cãi mà toàn là giả thuyết và ông không bao giờ trả lời," bà nói với Bàn tròn của BBC News Tiếng Việt.

Từ Paris, Pháp, ông Võ Văn Ái, một nhà biên khảo và hoạt động Phật giáo chia sẻ quan điểm của mình, đặc biệt về những câu hỏi đặt ra về "sự im lặng" sau 30/4/1975 của Hòa thượng Thích Trí Quang, ông nói:

Ông giữ vững quan điểm của mình là sự im lặng này vượt lên trên hết tất cả các tranh cãi mà toàn là giả thuyết và ông không bao giờ trả lời.

Thích Trí Quang và Chiến tranh Việt Nam – James McAllister
 Nghiên cứu của James McAllister, giáo sư Williams College, dựa trên hồ sơ lưu trữ của Bộ ngoại giao Mĩ. Trần Ngọc Cư dịch từ tiếng Anh.

 Tóm tắt
...Qua thời gian lâu dài, Thích Trí Quang vẫn là một trong những nhân vật gây nhiều tranh cãi nhất trong lịch sử Chiến tranh Việt Nam. Học giả bên cánh hữu thì cho rằng Trí Quang chắc chắn là tay sai cộng sản hoạt động theo chỉ thị của Hà Nội. Học giả bên cánh tả thì lý luận rằng Trí Quang là một lãnh đạo tôn giáo ôn hoà dấn thân cho dân chủ và quyết tâm đòi chấm dứt chiến cuộc nhanh chóng. Bài viết này cho rằng cả hai lối lý giải ấy đều không có tính thuyết phục. Như nhiều giới chức Hoa Kỳ đã kết luận đúng đắn ngay trong thời gian cuộc chiến còn diễn ra, không ai có bằng chứng vững chắc để nói được rằng Trí Quang là một công cụ của cộng sản hay chí ít là có thiện cảm với những mục tiêu của Hà Nội hay Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTDTGPMN). Nếu căn cứ vào những bằng chứng được lưu trữ qua các cuộc đàm thoại của Trí Quang với giới chức Mỹ thì rõ ràng là, Trí Quang thực sự có thái độ chống cộng mạnh mẽ và hoàn toàn chấp nhận việc Mỹ dùng sức mạnh quân sự đối với Bắc Việt và Trung Quốc. Yếu tố chính dẫn đến xung đột giữa phong trào Phật giáo và chính quyền Johnson là việc Trí Quang quả quyết rằng các chế độ quân sự tiếp theo Ngô Đình Diệm có thái độ thù nghịch với Phật giáo và thiếu khả năng đưa cuộc chiến đấu chống chủ nghĩa Cộng sản đến một kết thúc thắng lợi.



Khó có thể xem nhẹ vai trò quan trọng của Thích Trí Quang trong việc tìm hiểu quá trình diễn biến của Chiến tranh Việt Nam.

. Đáng tiếc là, các sử gia đương thời vẫn chỉ biết được rất ít ỏi về những mục tiêu và động lực chính trị của Trí Quang trong giai đoạn nghiêm trọng này của Chiến tranh Việt Nam. Cũng như nhiều yếu nhân khác ở Miền Nam, những nhân vật chính trị và tôn giáo như Trí Quang rõ ràng là ít được giới sử gia về quan hệ đối ngoại của Mỹ quan tâm; những sử gia này vẫn tiếp tục dành sự chú ý ưu tiên cho tiến trình hoạch định chính sách tại Washington, chiến lược quân sự hay những nỗ lực ngoại giao nhằm chấm dứt chiến tranh qua các cuộc đàm phán. Như George Herring đã nhận xét từ lâu: “Sự tương tác giữa người Mĩ và người Miền Nam Việt Nam là một trong những lãnh vực ít triển khai nhất trong kho tư liệu ngày một nở rộ về Chiến tranh Việt Nam. Người ta càng viết nhiều về cuộc chiến bao nhiêu, thì Sự thiếu quan tâm của giới học giả dành cho Trí Quang và cho mối quan hệ của ông với các giới chức Mĩ là điều đặc biệt đáng tiếc bởi vì chắc chắn không thiếu gì các nguồn tư liệu trực tiếp (primary sources) để các sử gia nghiên cứu. Các giới chức Mĩ thường xuyên gặp gỡ Trí Quang suốt những năm 1964 – 1966 ; những cuộc đàm thoại này đủ cung ứng một cái nhìn toàn diện về những tín lí của ông đối với hàng loạt vấn đề. Mặc dù Trí Quang trên một số mặt nào đó vẫn còn là một nhân vật mà giới sử gia khó nắm bắt, nhưng những tương tác giữa ông và giới chức Mĩ có thể cung ứng một nguồn tư liệu không thể thiếu và chưa được sử dụng đúng mức cho việc tìm hiểu cả phong trào Phật giáo lẫn sự thất bại chính trị to lớn của Mĩ tại Miền Nam.

Như các nhà phân tích của CIA đã kết luận tháng Chín 1964: “ Không một ai trong số nhiều người Việt thù ghét Trí Quang, những kẻ chỉ chờ cơ hội để bôi nhọ ông, hay thậm chí những kẻ hoài nghi về động lực chính trị của ông, có thể đưa ra bằng chứng vững chắc về bất cứ liên kết nào hiện có giữa ông và Cộng sản”. Giới tình báo Mĩ và Sứ quán Mĩ ở Sài gòn không bao giờ do dự trong cách đánh giá của họ về những động lực chính trị của Trí Quang, ngay cả vào thời cao điểm của cuộc khủng hoảng Phật giáo năm 1966. Vào thời đó và cả ngay bây giờ, người ta vẫn có nhiều lí lẽ rất thuyết phục để phản bác luận cứ cho rằng Trí Quang cố tình làm tay sai cho Cộng sản hay thậm chí trên bình diện trí thức đã có thiện cảm với chương trình chính trị của MTDTGPMN. Sự thể về sau này Trí Quang bị chế độ Cộng sản hành hạ và phải sống trong tình trạng quản thúc ở Việt Nam thời hậu chiến chỉ là một trong nhiều lí do để hoài nghi luận điểm của Higgins/Moyar .

Sau khi đánh giá kĩ lưỡng các bằng chứng do nhiều người chỉ trích Trí Quang đưa ra, CIA kết luận rằng không có bất cứ bằng chứng vững chắc nào để xác nhận giá trị của những luận cứ cho rằng ông ta chịu ảnh hưởng của cộng sản. Nhìn vào bản chất cá tính của Trí Quang, nhân viên CIA kết luận: “Khó mà tưởng tượng được Trí Quang chịu làm ‘tay sai’ cho bất cứ ai, dù đó là Hà Nội, Bắc Kinh hay Mạc Tư Khoa ”. Vì bất cứ một nỗ lực nào nhằm triệt hạ Trí Quang khỏi sân khấu chính trị Việt Nam sẽ gặp thất bại thảm hại, CIA kết luận rằng ông ta là một “thực tế” không thể bỏ qua được vì “bất cứ một chế độ chống cộng nào ở Miền Nam muốn có cơ may tồn tại đều phải được Trí Quang ủng hộ hay chí ít, chấp nhận” .

Sau cùng, điều khá lí thú về quan điểm của Toà Đại sứ Mĩ ở Sài Gòn là chính Toà Đại sứ lại lo lắng về một chính phủ có nhiều nhân vật thân cận với Tâm Châu, vị sư thường được coi là chống cộng hơn [Trí Quang], hơn là lo lắng về một chính phủ mà thành viên là người thân cận với Trí Quang.

. Theo quan điểm riêng của Komer, chính quyền Johnson cần phải đặt vụ khủng hoảng Phật giáo trong một tầm nhìn xa rộng và cần phải “trấn an những người hoảng hốt ” : “ Trí Quang và nhiều người khác nhất định là không cố tình làm cho người Mĩ phải rời bỏ Việt Nam. Chúng tôi cũng không hề thấy những Phật tử bất đồng chính kiến cũng là những người chủ trương trung lập, hay muốn thương thuyết với VC. 

James McCallister
Nguyên tác tiếng Anh: “Only Religions Count in Vietnam :
Thich Tri Quang and the Vietnam War,”
tạp chí Modern Asian Studies 42, 4 (2008), pp. 751–782

Nhiều chứng liệu tương tự đưa đến một kết luận giản dị hơn: Thích Trí Quang chắc không phải là một cán bộ cộng sản và Hà Nội đã coi ông như một nhân vật độc lập, một nhân vật có tiềm năng đe doạ quyền thống trị của họ như ông từng làm tại miền Nam Việt Nam...
(Nguồn: diendan.org)
                                                     * * *
Một nhân vật xuất thân dưới mái chùa từ bé, làm dậy sóng chính trường, các nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp và lão luyện cả hai phía, không thể đánh giá, nắm bắt được tư tưởng thầy Trí Quang, bởi vì họ quan trọng hóa tư tưởng chính trị mà quên rằng thầy không phải nhà chính trị chuyên nghiệp đi đúng bài bản. Nguyên chất vẫn là một chân sư dấn thân vì thời cuộc. Dựa vào đâu xác định như thế? Hãy xét trên quan điểm tu tập của nhà Phật.

Dấn thân hành trì: Sau 1975, Phật giáo nói riêng và bất cứ tổ chức hay Tôn giáo nào, không còn nhiệm vụ cá biệt đối với xã hội, nhà nước gom chung vào “Mặt trận”, xem như là một trong những thành viên của Mặt trận. Vì thế, HT Trí Quang “phong kiếm quy ẩn” chuyên lo tu tập, san định kinh sách. Gần 45 năm giam mình trong tư thất, chuyên tâm tu tập và biên dịch, chú thích kinh điển Bắc truyền. Thời kỳ dấn thân vào xã hội đã qua, đã đến lúc phải dấn thân giải quyết nghiệp thức và tô bồi công đức lưu truyền kinh pháp.

Qua hiện tượng viên tịch đã gây chấn động trong và ngoài nước (một người còn sống gây chấn động đã đành, viên tịch vẫn còn tác hưởng dư âm một thời quả là hy hữu). Ngài lưu lại xá lợi “thượng thủ” và để lại di ngôn như một cuộc cách mạng xây dựng nền văn hóa sinh tử cho PGVN.

Làm chủ sanh tử là gì? Người tu hành dụng công phu phải làm chủ sanh tử mới cho là công phu liễu sanh thoát tử, mới cho là công phu minh tâm kiến tánh, mới cho là công phu đại triệt đại ngộ, mới cho là công phu thành Phật làm Tổ. Nói tóm lại, chỉ có công phu tham thiền mới có thể khiến mọi người làm chủ sinh tử. (Tổ sư Thiền)

Làm Chủ Sanh Tử: Trong Tín Tâm Minh nói: “Nhị nhân nhất hữu, nhất diệc mạc thủ” (hai do một mà có, một cũng chẳng trụ), đó mới là thật một tâm, là thật lìa sanh diệt, là thật lìa sanh tử. Phải biết, sanh diệt là nhân, sanh tử là quả. (tổ sư thiền)

Lời Phật dạy:
“Này các Tỳ kheo! Chính vì không giác ngộ, không chứng đạt bốn pháp mà Ta và các Ngươi, lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Thế nào là bốn pháp?

1- Này các Tỳ kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh giới mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử.
2- Này các Tỳ kheo chính vì không giác ngộ... Thánh định mà...
3- Này các Tỳ kheo chính vì không giác ngộ... Thánh tuệ mà...
4- Này các Tỳ kheo, chính vì không giác ngộ... Thánh giải thoát mà...

Này các Tỳ kheo Thánh giới được giác ngộ được chứng đạt... thời tham ái một đời sống tương lai được diệt trừ” những gì đưa đến một đời sống mới được dứt sạch, nay không còn một đời sống nào nữa.
 (Trường Bộ, kinh số 16 Ðại Bát Niết Bàn, Mahàparinibbàna Sutta, DN.16). Trong bốn pháp môn này chỉ cần chúng ta giác ngộ và chứng đạt một pháp cũng đủ cho chúng ta không còn trôi lăn trong biển sanh tử.

Ðó là Thánh giới, Thánh định, Thánh tuệ, Thánh giải thoát “Giới luật còn là Phật giáo còn, giới luật mất là Phật giáo mất”. Ðó là đức Phật đã dạy như vậy, hãy lắng nghe: “Này các Tỳ kheo, chính vì không giác ngộ và chứng đạt Thánh giới mà Ta và các ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển khổ sanh tử”. Thu nhiếp tâm mình là một kỳ công tu tập, chớ không thể chỉ hiểu biết trong kinh sách suông là thu nhiếp được tâm. Hãy nghe đức Phật dạy: “Thế nào là các Tỳ kheo tự thu nhiếp tâm mình? Ấy là các Tỳ kheo trước quán THÂN trong thân, tiếp theo quán thân ngoại thân, sau này là quán thân trong thân và ngoại thân.

Phải quán một cách siêng năng, không lười biếng, ghi nhớ không quên để từ bỏ lòng tham dục, lo buồn của thế gian... (Trường A Hàm tập một 1 trang 110

“qua dòng sanh tử mà không tu tập theo pháp cấm giới” thì bị Ma Ba Tuần chiếm phần tiện lợi, đó là theo con đường đi tìm cầu Niết Bàn mong được giải thoát trọn không đạt kết quả, tự tạo tội lỗi và nghiệp báo cho mình, lại còn làm cho người khác đắm chìm trong tội lỗi và nghiệp khổ”. (Tăng Nhất A Hàm, tập 4, trang 179)

Phật dạy:
“Không thở ra thở vào
Tâm trú vào chánh định
Không tham ái tịch tịnh
Với tâm an bất động
Như đèn sáng chợt tắt
Tâm giải thoát Niết Bàn”.
(Tương Ưng Kinh)

“Như đá tảng kiên cố
Không gió nào lay động
Cũng vậy giữa khen chê
Người trí không dao động”.
(Kinh Pháp Cú, 81)

“Vô minh sanh ảo tưởng. Ảo tưởng chấp ngã nhân. Sanh tử vô lượng kiếp. Chỉ là niệm chấp thân. Duyên sanh trong vạn vật. Thuần tịnh một tánh không.  Phật mở khoa phương tiện . Nói tứ đế nhân duyên. Để lìa tâm chấp ngã. Thấy duyên giả tánh không. Tự tại nơi cõi lòng. Thuận duyên hành tùy pháp. Nhất thừa đạo vô thượng. Phật Phật hiện toàn chân!”

Theo HT Thanh Từ ái là gốc sanh tử luân hồi; Thiền sư Trung Phong nói: người thời nay tham thiền không linh, nguyên nhân là không xem việc sanh tử vô thường là đại sự. Cũng vậy, niệm Phật không linh nguyên nhân do không xem việc sanh tử là chuyện lớn, tâm sanh tử không tha thiết, đây là vấn đề to lớn, thế nhưng đại đa số người đều xem thường. Tâm sanh tử là căn bản để nhập đạo “Nếu không thật vì sanh tử mà phát tâm. Tất cả những khai thị đều là hí luận”.

 Giải Thoát Sanh Tử:
một trong những vấn đề chính của Phật giáo là giải thoát khỏi sanh lão bệnh tử, Thiền tông là một con đường của Phật giáo, chủ đề chính của Thiền phải là giải thoát khỏi sanh tử.

Tại sao có sanh tử?

Vua Trần Thái Tông có bài kệ về núi Sanh như sau:

Châu tể luân đào vạn tượng thành
Bản lai phi triệu hựu phi manh
Chỉ sai hữu niệm vong vô niệm
Khước bối vô sanh thọ hữu sanh
Tỵ trước chư hương thiệt tham vị
Nhãn manh chúng sắc nhĩ văn thanh
Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách
Nhật viễn gia hương vạn lý trình)

Trời đất nấu nung vạn tượng thành
Xưa nay không móng cũng không manh        
Chỉ sai hữu niệm quên vô niệm
Liền trái vô sanh nhận có sanh
Mũi lưỡi đắm tham hương lẫn vị
Mắt tai mờ mịt sắc cùng thanh
Lang thang làm khách phong trần mãi
Ngày cách quê hương muôn dặm trường.

(HT. Thanh Từ dịch)

. Kinh Pháp Hoa nói: ‘Các pháp từ xưa nay, thường tự tịch diệt tướng.’ Chỉ vì tâm động cho nên có thế giới  chuyển động, vì tâm phân biệt khởi lên nên có thế giới phân chia. Vì tư tưởng phân biệt khởi lên nên có thời gian cách biệt,
 ‘Pháp ấy trụ pháp vị, thế gian tướng thường trụ’ (Kinh Pháp Hoa). ‘rỡ ràng thường tự tại’ (minh minh thường tự tại).

Như thế, một trong những giải quyết vấn nạn sanh tử của Thiền là ở ngay trong sanh tử để thấy bản tánh của sanh tử chính là tánh Không, do đó không có ai để tìm cách tránh và không có cái để phải tránh đi đâu cả. Thiền sư Giới Không, Thế hệ thứ 15, dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi, một hôm không bệnh, Sư nói kệ dạy chúng:

Ta có một việc kỳ đặc
Chẳng xanh, vàng, đỏ, trắng, đen
Thiên hạ tại gia, xuất gia
Yêu sanh, ghét tử là giặc
Không biết (nên) sanh tử khác đường
Sanh tử chỉ là được mất.
Nếu cho sanh tử khác đường
Lừa cả Thích Ca Di Lặc.
Nếu biết sanh tử sanh tử
Mới biết lão tăng ở đâu
Các người môn nhân, hậu học
Chớ nhận vòng vo phép tắc.

Nói kệ xong, Sư cười lớn một tiếng, chấp tay mà mất.

                                                      * * *

“Đạo phật dạy làm chủ nhân quả, vượt qua nhân quả, chớ không dạy ngăn chặn và dừng nhân quả. Vì từ nhân quả con người tạo ra thì chỉ có làm chủ tâm không tạo nhân quả ác nữa thì nhân quả sẽ chấm dứt, như Phật đã dạy trong pháp Tứ Chánh Cần (“ngăn ác, diệt ác pháp, sanh khởi thiện, tăng trưởng thiện”). Đó là pháp tu tập làm chủ nhân quả, hay là pháp môn tu nhập định để làm chủ sanh, tử, luân hồi.”

 Phật dạy: “1- Hộ trì các căn 2- Tiết độ ăn uống 3- Chú tâm tỉnh giác”.
“Trong Kinh Di Giáo, Ðức Phật có dạy: "Không nên quan tâm chuyện thế gian. Không nên loan truyền các tin đồn". Tại sao vậy? Bởi vì các chuyện thế gian thường là những chuyện thị phi, phải quấy, đúng sai, tranh chấp hơn thua, còn các loại tin đồn thường là vô căn cứ, không xác thực, khó kiểm chứng được, chỉ làm hại thanh danh người khác, tất cả đều làm cho tâm trí chính mình bất an, xao động chẳng ích lợi gì.”

Người đạo đức, là người hiền trí. Trí để không ai lợi dụng mình. Hiền để không ai ghét mình. Chỉ có bậc hiền trí mới tránh được cạm bẫy của người khác. (Trang Tử)

                                                      * * *
Bậc xuất ly, thân tuy nhập trần, hành sự vì chúng sanh, nhưng tâm luôn an trú vào chánh niệm. Đời sống các bậc chân sư thể hiện qua những tiêu chuẩn như:

“1- Thích giản dị, không thích sống rờm rà, cầu kỳ.
2- Ưa thích yên lặng, không thích nói nhiều.
3- Ít ngủ nghỉ, không ham ngủ.
4- Không kết bè, kết bạn, không nói những điều vô ích.
5- Không tự khoe khoang trong khi mình thiếu đức.
6- Không kết bạn với những người xấu ác.
7- Thích ở một mình nơi rừng núi thanh vắng”.
(Trường A Hàm tập 1 trang 92)

Làm chủ sanh tử, qua việc dẫn chứng trên đây; có thể hiểu 2 trường hợp:
 – Làm chủ sanh tử như Đức Phật muốn trụ thế bao lâu cũng được, gia đình Bàng Long Uẩn muốn bỏ xác lúc nào tùy ý. Người rời bỏ xác thân vẫn còn minh mẫn, lưu lại xá lợi, do tâm nguyện và công hạnh lúc sanh tiền, đó là làm chủ lúc Tử, nhưng cũng là cái nhân cho việc lai sanh. Người không tu không thể được như vậy.

- Làm chủ sanh tử, lúc sanh tiền luôn làm chủ cảm thọ, giới luật tinh nghiêm, tâm luôn chánh niệm, đó là làm chủ nhân sanh để đến lúc quả tử xuất hiện vẫn tỉnh giác ra đi tùy ý.

Như vậy làm chủ sanh tử là người làm chủ thân tâm lúc sống, lúc mãn nghiệp ra đi tỉnh táo không bị lạc dẫn hôn mê vào cảnh giới trầm luân. Làm chủ sanh tử là làm chủ tạo nhân chứ không phải làm chủ diệt quả đã tạo.

                                              * * *
Qua công hạnh của một danh Tăng, lưu lại thế gian lắm sóng cuộn gió dồi, nhưng mọi người chỉ nhìn hiện tượng hành hoạt  mà không thấy được bản chất ẩn mật, công năng tu tập của người, vì thế, cho là người khó hiểu. Một đặt để cho người ở vị thế bên này hay bên kia đều vô nghĩa. Thế nhân đánh giá sai lầm cũng đúng. Đến lúc ra đi, lời đàm tiếu cũng không xóa mờ hiện tượng công phu tu tập 96 năm trụ thế. Dù tán thán ca tụng, dù phẩn nộ sỉ vả, cũng chỉ mây trôi giữa khung trời miên viễn; Đạo đức làm người, xin tặng chân sư một niệm hoan hỷ bao dung! Vì dẫu sao, di ngôn người để lại cũng đã trở thành viên gạch đầu tiên làm nền tảng xây dựng văn hóa sinh tử cho PGVN hiện nay, thật giản dị, nhưng vô cùng mầu nhiệm!

MINH MẪN
17/11/2019

Thứ Ba, 23 tháng 12, 2014

Ý NGHĨA CỦA CẦU NGUYỆN, CẦU AN VÀ CẦU SIÊU

Thích Nhật Từ
daunamemdilechua-0101

Trong Phật giáo, các từ ngữ "cầu nguyện," "cầu xin" hay "ước nguyện" được hiểu đồng nghĩa với thuật ngữ "pràrthanà" (Sanskrit) hay "patthanà" (Pali). Pràrthanà bắt nguồn từ gốc "pra + arth" có nghĩa là ước nguyện, ước muốn, mong cầu, cầu xin.
I. Ý nghĩa của cầu nguyệnTrong Phật giáo, các từ ngữ "cầu nguyện," "cầu xin" hay "ước nguyện" được hiểu đồng nghĩa với thuật ngữ "pràrthanà" (Sanskrit) hay "patthanà" (Pali). Pràrthanà bắt nguồn từ gốc "pra + arth" có nghĩa là ước nguyện, ước muốn, mong cầu, cầu xin.

Đàn tràng cầu siêu bạt độ các hương linh tử nạn do động đất sóng thần ở Nhật Bản.

Cầu nguyện, cầu xin hay ước nguyện là một trạng thái tâm lý mong mỏi một điều gì đó sẽ được thực hiện, sẽ được thành tựu hay diễn ra theo chủ ý của người mong đợi. Nó phản ánh một thái độ mong chờ một sự kiện diễn ra theo chủ ý của người có ước mong.

Theo đạo Phật, tùy theo đối tượng và mục tiêu của ước muốn, cầu nguyện có thể trở thành một trạng thái tâm lý "tham" tức mong muốn gồm thâu về cho mình, gia đình mình, người thân mình, hay một trạng thái tâm lý "vị tha" mong cho người khác, chúng sanh được điều lợi ích, an lạc và hạnh phúc. Nói cách khác, bản thân của sự cầu nguyện mang tính cách trung tính về phương diện đạo đức. Tính chất đạo đức của cầu nguyện được xác định tốt hay xấu tùy thuộc vào mục tiêu của nó cũng như hệ quả của nó diễn ra đối với đối tượng được mong cầu. Nếu các ước mong của cầu nguyện hướng về tư lợi, tư hữu, cho cái ta và cái ta sở hữu thì cầu nguyện trong trường hợp này là một lòng tham, đồng nghĩa với tham ái (patthanà vuccati ta.nhà, tác phẩm Mahà Nidesa I. 316-37). Nói cách khác, cầu mong những điều xấu xa cho mục tiêu vị kỷ, tư hữu, thì cầu nguyện sẽ đồng nghĩa hay mang tính chất của lòng tham (patthanalakkha.no lobho, tác phẩm Nettippakara.na, tr. 27). Ngược lại các ước mưa hòa gió thuận, nông dân được mùa, đất nước hòa bình và thế giới hết chiến tranh là các sự mong cầu "thiện" (kusala) vì tính cách vị tha của mục tiêu mong ước. Ở đây, sự cầu nguyện hướng đến phúc lợi và hạnh phúc của người khác, mong điều vui và an lành đến với xã hội loài người, hoàn toàn không có bóng dáng của lòng vị kỷ, tóm thâu về cho mình. Một ước nguyện như vậy là ước nguyện chánh đáng và mang tính cách thiện ích.

II. Cầu nguyện thấp kém và cầu nguyện cao thượngNhư vừa trình bày, bản chất đạo đức của cầu nguyện sẽ được phân định tùy theo ý tưởng hay chủ tâm mong ước của người cầu nguyện. Nếu đối tượng và mục tiêu của mong ước được phân ra tốt và xấu thì cầu nguyện hay ước nguyện cũng theo đó được phân thành 2 loại: thấp kém và cao thượng.

Cầu nguyện thấp kém là lòng mong ước những điều bất chính, những gì có hại cho nhân quần, xã hội, những gì đi ngược lại lợi ích của số đông. Một ước muốn giết người (dù là kẻ thù), cướp đoạt tài sản của người khác, chiếm đoạt vợ / chồng người khác, lừa đảo người khác bằng lời nói v.v. là những ước muốn thấp kém về đạo đức. Những cầu nguyện cho chiến tranh xảy ra, cho người khác bị giết chết, bệnh tật, tán gia bại sản, cho những món lợi lộc bất chánh, phi pháp cho mình, gia đình mình, người thân mình, cộng đồng mình, xã hội mình và đất nước mình v.v. đều là những thứ cầu nguyện hay ước muốn trái lại với sự phát triển đạo đức bản thân và cộng đồng, do đó được xem là các ước muốn hay cầu nguyện thấp hèn. Có nhiều lời cầu nguyện xấu đã trở thành những lời nguyền rủa, trù ẻo, thư ếm, để hại người khác. Có lời cầu nguyện phản ánh thái độ bỏn xẻn, vị kỷ, cá nhân và không tùy hỷ với thành công và hạnh phúc của người khác. Tất cả những ước nguyện như vậy đều thuộc thấp kém, và không có giá trị đạo đức.

Cầu nguyện cao thượng, trái lại phát xuất từ tấm lòng vô ngã, vị tha, từ tình thương không phân biệt giới tính, giai cấp xã hội, không phân biệt thân sơ, bạn thù, chỉ vì mang lại lợi ích, phúc lợi và niềm an vui cho người khác v.v. Đó là những cầu nguyện hay ước muốn thiện và đạo đức. Những ước muốn cho chiến tranh chấm dứt, không còn cảnh máu đổ, không còn cảnh sát hại con người, động vật và môi trường; những ước muốn cho hạnh phúc đôi lứa của kẻ khác được lâu bền, cảnh chia rẻ, phân hóa trở nên đoàn tụ, liên kết nhau; những ước muốn cho mọi người có công ăn việc làm ổn định, không ai cướp bóc sức lao động và tài sản của ai, mọi người thương yêu, đùm bọc và giúp đỡ nhau v.v. là những ước muốn hay cầu nguyện cao thượng, và có giá trị đạo đức.

Theo lời Phật dạy, có nhiều nguyên nhân dẫn đến các ước muốn hay cầu nguyện thấp kém và cao thượng. Trong bài kinh nói về các hạt giống tâm thuộc bộ Tăng Chi (A. V. 213) đức Phật đưa ra mười nguyên nhân sâu xa dẫn đến các ước muốn và cầu nguyện thấp kém. Mười nguyên nhân đó là: (1) quan niệm sai lầm, (2) tư duy sai lầm, (3) lời nói sai lầm, (4) hành vi sai lầm, (5) lập nghiệp phi pháp, (6) nỗ lực sai lầm, (7) chú tâm sai lầm, (8) thiền định sai lầm, (9) kiến thức sai lầm, (10) tự do sai lầm. Mười nguyên nhân này thực chất có nguồn gốc sâu xa từ quan niêm sai lầm. Chính "quan điểm" là chủ não của nhận thức và hành động. Một khi nhận thức sai thì hành động trở nên nguy hại cho đạo đức và phúc lợi của người khác. Ví dụ khi một người nào đó nhận thức sai lầm rằng giết người, cướp của, quan hệ tình dục phi pháp, nói láo để lừa gạt người, uống rượu, hút thuốc và ăn chơi xa xỉ, là không có hại hay không trái với nguyên tắc đạo đức căn bản của xã hội loài người, thì chắc chắn rằng người đó không những có những ước muốn xấu ác, tổn hại tha nhân và xã hội mà còn có thể có các hành vi bất thiện, để đem về lợi ích vị kỷ cho bản thân mình. Trong trường hợp này, người cầu nguyện hay có ước nguyện thấp kém sẽ bất chấp luật pháp, làm những điều bất chính, tổn hại cho đạo đức xã hội. Do đó, để chặn đứng các cầu nguyện hay ước muốn xấu xa đó, trước nhất và hơn bao giờ hết, chúng ta nên phát triển quan điểm chân chánh (sammà-di.t.thi). Nói cách khác quan điểm chân chánh là đầu mối của tất cả hành vi đạo đức đem lại lợi ích cho bản thân và tha nhân.

Cũng trong bài kinh trên, đức Phật trình bày 10 nguyên nhân của ước muốn hay cầu nguyện cao thượng, đó là: (1) quan niệm chân chánh, (2) tư duy chân chánh, (3) lời nói chân chánh, (4) hành vi chân chánh, (5) lập nghiệp chân chánh, (6) nỗ lực chân chánh, (7) chú tâm chân chánh, (8) thiền định chân chánh, (9) kiến thức chân chánh, (10) tự do chân chánh.

Quan niệm chân chánh được xem là yếu tố dẫn đầu của chín loại chân chánh còn lại. Theo lời Phật dạy, quan điểm chân chánh là cái nhìn về con người và sự vật dưới ánh sáng của nguyên lý duyên khởi hay tương thuộc, không có một nguyên nhân khởi thủy, sanh ra muôn vật. Quan niệm như vậy đánh đổ hoàn toàn một niềm tin sai lầm về một đấng tạo dựng, sanh ra sơn hà vũ trụ do đó nắm lấy cán cân thưởng phạt đạo đức con người. Người có quan niệm chân chánh sẽ làm chủ bản thân mình, không than trời trách đất về những đau khổ khách quan, vì nhận thức rõ rằng nguyên nhân của nó là những hành vi tham lam, sân hận, si mê và tham ái trong hiện đời hay trong quá khứ. Người có quan điểm chân chánh cũng nhìn thấy được phương diện khác của cuộc đời là trạng thái hạnh phúc và an lạc do vắng bóng hoàn toàn các khổ đau tâm sinh lý. Để đạt được an lạc này, không thể cầu xin một đấng thần linh ban giáng hay mua đổi bằng tiền bạc, danh vọng, chức sắc, trái lại chỉ có phát triển chín điều chân chánh còn lại (như đã nêu ở trên) mới giúp cho chúng ta có được an lạc và hạnh phúc thật sự và bền lâu.

Nói tóm lại nếu mười tà là những nguyên nhân, là chất xúc tác, là chất dẫn đạo, là cội nguồn của những nguyện vọng hay cầu mong thấp kém thì 10 chân chánh là những nguyên nhân ngược lại, mang lại kết quả an lạc và hạnh phúc cho mình và người, đời này và đời sau. Người đệ tử của đức Phật nói riêng, và người mong mỏi tiến bộ đạo đức nói chung nên phát triển 10 chân chánh để sống an vui trong đời.

III. Khái niệm cầu an và cầu siêuĐạo Phật không chú trọng đến ước muốn thuần túy. Đạo Phật chủ trương hành động thực tiễn. Mặc dù trong đạo Phật có nhiều bài kinh dạy về cách thế nào để đạt được an lạc và hạnh phúc trong cuộc sống, cũng như cách tu tập để sanh về thế giới của các đức Phật, khái niệm "cầu an và cầu siêu" không những không phản ánh được điều trên mà còn có thể gây hiểu lầm rằng đạo Phật là đạo của cầu nguyện và van xin, đạo tùy vào tha lực.

Về từ nguyên, khái niệm "cầu an" và "cầu siêu" mới xuất hiện gần đây trong giới Phật giáo Việt Nam. "Cầu an" có nghĩa là đen là "cầu cho một người nào đó được khỏe mạnh và an lạc," trong khi "cầu siêu" có nghĩa là "cầu cho người chết được siêu độ, được sanh về thế giới của chư Phật."

Như vậy cầu an là sự mong muốn, là ước vọng được khỏe mạnh, an lạc và hạnh phúc. Nó không giới hạn ở việc cầu cho người bệnh sớm lành mạnh, tai qua nạn khỏi, như nhiều người đã hiểu lầm. Để được khỏe mạnh, tai qua nạn khỏi và sự an lạc nội tâm, theo đức Phật là mỗi người phải tự trau dồi đời sống đạo đức và trí tuệ, phát huy các hạnh lợi tha, giúp đỡ mọi người, sống an trụ, chánh niệm và tỉnh thức trong từng phút giây của hiện tại. Không hoài vọng về quá khứ để thoát khỏi thế giới kinh nghiệm đau thương. Không hoài vọng về tương lai để không lo âu và sợ sệt. Sống một cách sáng suốt, bình thản trong hiện tại để khắc chế mọi tham ưu ở đời. Người sống được như vậy thì lúc nào cũng "an" lúc nào cũng khỏe mạnh, cũng hạnh phúc, không cần cầu nguyện và mong mỏi cũng được. Trái lại, nếu chúng ta sống buông lung, sa đọa, bỏ rơi hiện tại, không làm các điều thiện, trái lại rơi vào con đường tội lỗi thì dù có cầu nguyện bao nhiêu cũng không thể an ổn được. Trên tinh thần đó, để tránh hiểu lầm, kinh cầu an nên đổi thành "kinh an lạc."

Cầu siêu là nguyện vọng hay ước muốn một người nào đó được siêu thoát hay sanh về thế giới chư Phật. Do đó, chữ "cầu siêu" có thể là hình thức viết ngắn của từ "cầu siêu độ" hay "cầu siêu sanh" hay đầy đủ hơn "cầu siêu sanh Tịnh độ." Như vậy cầu siêu là nguyện vọng và ước muốn nhắm tới chủ yếu là người quá cố. Trong các nước Phật giáo Bắc tông do chịu ảnh hưởng của pháp môn Tịnh Độ, các kinh được đọc tụng vào các lễ tang và đám giổ thường là kinh A-di-đà, kinh Địa Tạng và Vu-lan. Tụng kinh A-di-đà chủ yếu là nhắc cho người chết nhớ lại pháp môn niệm Phật thiền "nhất tâm bất loạn" như là điều kiện tiên quyết để vãng sanh Tịnh Độ, để hương linh nương theo đó niệm Phật mà vãng sanh. Tụng kinh Địa Tạng một mặt nhằm ôn lại công đức hiếu thảo của bồ-tát này, mặt khác phát huy và tu tập mảnh đất tâm (địa = tâm địa). Khi tụng kinh này, con cháu của người quá vãng được dịp học hỏi về hiếu hạnh và còn có cơ hội để trau dồi tâm tánh cho thuần thục. Đọc kinh Vu-lan để học hỏi tấm gương báo hiếu đặc biệt của ngài Mục-kiền-liên. Nói chung các bài kinh trên không chỉ có tác dụng tốt cho người quá cố mà hơn hết làm nhằm giáo dục cho thân quyến của người chết về các phương pháp tu tập và làm phước. Theo đạo Phật, không ai có thể siêu độ cho ai. Không ai có thể giải thoát cho ai. Sự cầu nguyện chỉ mang tính cách biểu tượng, thể hiện tấm lòng thương kính và biết ân đối với người quá cố, và ở phương diện khác nhằm nhắc cho người quá cố biết về quy luật sanh tử mà không còn quyến luyến thế gian, dễ dàng ra đi hay tái sanh. Do đó, để tránh hiểu lầm, thuật ngữ "kinh cầu siêu" nên đổi thành "kinh siêu độ" hay "kinh siêu thoát."

Nói tóm lại, để được sức khỏe và an lạc, theo đạo Phật, chúng ta phải tu tập công đức, làm việc lành, sống tiết chế, ngủ nghỉ ăn uống thích hợp, an trụ vào hiện tại, lấy chánh niệm và sự tỉnh thức làm phương châm của cuộc sống. Được như vậy thì sự an lạc sẽ hiện diện như người bạn đồng hành của ta trong cuộc đời. Tương tự, để được siêu thoát, mỗi người phải tự trang bị cho mình các hành trang đạo đức khi còn khỏe mạnh, để khi cơn vô thường đến, nhắm mắt xuôi tay, nghiệp thiện của chúng ta sẽ dẫn dắt chúng ta tái sanh về cảnh giới tốt hay vãng sanh về cảnh giới của chư Phật. Ở đây, không hề có yếu tố tha lực. Tất cả tùy thuộc vào đời sống đạo đức, trí tuệ và thái độ sáng suốt của chúng ta.

IV. Cầu nguyện và kết quảTrong đạo Phật, cầu nguyện hay ước muốn dù là đạo đức và cao thượng cũng có giá trị rất giới hạn, ở phạm vi của ý chí, chứ chưa thể hiện cụ thể ở hành động. Đạo Phật do đó đề cao chủ thuyết hành vi đạo đức có chủ ý (cetana) như là nền tảng của các thành công và toại nguyện trong cuộc sống. Nói cách khác cầu nguyện hay ước muốn dù tốt đẹp đến đâu nếu không có hành động hay ứng dụng cụ thể cũng trở nên vô ích. Học thuyết hành vi đạo đức của Phật giáo trên cơ sở này đã đóng vai trò quan trọng trong đời sống đạo đức của con người. Đạo Phật không dạy ta sống với những ước muốn hay cầu nguyện suông, trái lại dạy ta các phương pháp cụ thể để biến niềm mơ ước chân chánh và cao đẹp trở thành hiện thực.

Trên tinh thần hành động là quan trọng, ước muốn là phụ thuộc, đạo Phật đã dạy chúng ta sống với một thái độ tự tin vào các hành thiện và đạo đức của bản thân trong việc mang lại hạnh phúc và sự toại nguyện trong đời. Một khi hiểu được đạo lý nhân quả của Phật, nghĩa là hiểu rằng không có ai cầm cân cuộc sống thưởng phạt, ngoài chính hành vi thiện ác của chúng ta, người Phật tử không phải mất thời giờ để cầu nguyện hay ước muốn này nọ. Nếu thần linh không thể giúp được họ trong các hành vi bất thiện nếu có của họ, thì thử hỏi làm sao họ có thể cứu giúp được chúng ta. Thần linh và thượng đế nếu có cũng không sống ngoài quy luật nhân quả tương duyên. Do đó, người Phật tử không dại gì phải trông chờ vào một quyền năng bất thật của thượng đế, chúa trời, mẹ sanh mẹ độ, đức ông, đức bà v.v. Người Phật tử ý thức sâu sắc rằng, một khi đã tạo nghiệp ác, dù có van xin, chúng ta cũng phải là người gặt hái kết quả đau khổ của nó. Không ai có thể đánh đổ quy luật muôn đời này. Sau đây là một đoạn kinh cho thấy rõ điều đó:

"Nếu ai làm 10 nghiệp ác, rồi một quần chúng đông đảo đến cầu khẩn van xin, thành kính mong rằng người ấy sẽ được sanh thiện thú. Sự cầu khẩn như vậy là vô ích. Làm 10 nghiệp ác phải rơi vào đọa xứ. Sự thể như có một người quăng tảng đá vào hồ nước, rồi nhiều người đến cầu khẩn van xin cho tảng đá ấy được nổi lên. Sự cầu khẩn như vậy là vô ích. Vì tảng đá, với sức nặng của nó, không thể nổi lên, không thể trôi vào bờ như lời cầu khẩn. Cũng vậy, tạo 10 nghiệp ác thì phải rơi vào đọa xứ "(Tương Ưng IV, 313). 

Ở đây lời của Phật nhằm xác quyết rằng hành vi ác và bất thiện là nguyên nhân gây ra các hậu quả khổ đau, mà người đã tạo ra nó phải gánh chịu trong đời của mình, dù hiện tại hay về sau. Sức gia trì và cầu nguyện trong trường hợp này không có giá trị đạo đức nào cả. Bởi lẽ, nếu cầu nguyện có kết quả thì chắc chắc rằng những người triệu phú, tỷ phú trên thế gian này phải là những người siêu sanh trước nhất, được hết tội trước nhất, do tiền rừng biển bạc của họ tung ra trong các buổi cầu nguyện tôn giáo.

Theo đức Phật nhân quả là người thẩm phán tuyên án đau khổ cho người đã tạo ra nghiệp xấu ác và ban thưởng hạnh phúc cho người hiền lương. Vị thẩm phán này không thể bị các hình thức hối lộ thế gian tác động, để cải đen thành trắng, để trắng án, như trong các trường hợp của pháp luật đời. Vị thẩm phán của nhân quả rất công minh, chính xác và không lầm lẫn trong khi phán quyết nghiệp báo của các hành vi thiện ác.

Về phương diện cầu nguyện hay ước muốn thiện, đức Phật cũng khẳng định rằng cầu nguyện về điều thiện mà không nỗ lực thực hiện thiện cũng trở nên vô ích và không có kết quả nào cả. Trong các buổi cầu nguyện cao đẹp, thường người ta mong mỏi cho mình nào là có sức khỏe, sống thọ, có danh thơm tiếng tốt, có được sắc đẹp, có hạnh phúc v.v. Đức Phật khẳng định rằng những thứ này không thể do cầu nguyện hay ước muốn suông mà có được:

"Này các vị, có năm điều sau đây không thể do cầu nguyện hay ước muốn mà có được: (1) tuổi thọ (àyu), (2) sắc đẹp (va.n.na), (3) hạnh phúc (sukha), (4) danh tiếng (yasa) và (5) sanh cõi trời (sagga)." [Tăng Chi, A"nguttara Nikàya, III. 47]

Nghĩa là theo đức Phật, muốn có sức khỏe chúng ta phải sống tiết độ, thiền định, không sa đắm sắc dục, không rượu chè, hút sách, siêng thể thao, và ngủ nghỉ thích hợp. Muốn có sắc đẹp ta phải biết giữ gìn sức khỏe, ăn uống kiêng cử, nghỉ ngơi hợp lý, làm việc điều độ v.v. Muốn có đời sống hạnh phúc ta phải làm thiện, bỏ ác, tuân thủ pháp luật, sống vì lợi ích của mình và người khác. Muốn có danh tiếng ta phải siêng năng học tập, làm việc chăm chỉ, sống có lương tâm, đạo đức, cương trực, liêm sĩ, công bằng, thanh cao, rộng lượng giúp đỡ người khác và làm nhiều việc tốt. Muốn sanh cõi trời thì phải tu nhân tích đức, phát triển 10 hạnh lành, tu thiền định, bố thí cúng dường và làm nhiều việc từ thiện. Nói chung tất cả những thứ đó không thể do cầu nguyện hay ước muốn mà có được. Ở đây, chúng ta thấy chủ nghĩa hành động đạo đức là phương châm của một đời sống hạnh phúc và an lạc theo Phật giáo.

Kinh điển Phật giáo cũng xác định rằng một đời sống an lạc, hạnh phúc và giải thoát không phải là hệ quả của những ước muốn cao đẹp mà là kết quả của quá trình nỗ lực trau dồi đạo đức, thiền định và trí tuệ:

"Một người không chú tâm trong sự tu tập, dẫu có khởi lên ước muốn được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ, ước muốn ấy nhất định không được toại nguyện" (Tăng Chi III A, 123. Tương Ưng III, 184). 

Nói cách khác các ước muốn hay cầu nguyện cao đẹp trái với nguyên lý nhân quả báo ứng chỉ là một sự mỏi mòn chờ đợi, vô ích và không cần thiết, và đôi khi còn mang lại sự chán chường và thất vọng:

Vắt sữa nơi "sừng" con bò cái 
Tìm dầu nơi thùng cát có nước 
Dầu ước nguyện cũng không thành tựu -- (Kinh Trung Bộ I, 103).


Sự giác ngộ, giải thoát hay chứng đắc trong Phật giáo là kết quả của quá trình dày công tu tập, chặt đốt phiền não, lậu hoặc. Sự tận diệt phiền não là cội nguồn của Niết-bàn, của đạo quả Vô thượng Bồ đề. Nhưng đó không phải là hệ quả của cầu nguyện hay cứu rỗi:

"Muốn chứng được Vô thượng Bồ đề mà không đoạn trừ Sát Đạo Dâm Vọng, chẳng khác nào như nấu cát muốn thành cơm, dù trải qua ngàn ức kiếp cũng không thể nào thành tựu được" (Lăng Nghiêm, VI, 234-242).

Trong quá trình hướng đến giải thoát của mọi hành giả, Đức Phật đã tuyên bố là Ngài chỉ đóng vai trò của Đạo Sư dẫn đường, không thể ban bố cho chúng ta kết quả giải thoát. Do đó để đạt chân lý giải thoát, chúng ta phải là hành giả tu tập, như bài kệ dưới đây, Đức Phật đã khuyên:

"Hãy tự siêng trau dồi, 
Như Lai chỉ thuyết dạy. 
Tự hành trì thiền định, 
Tự giải thoát ác nghiệp" (Kinh Pháp Cú, kệ 276)


Sự tu tập trên cơ sở nỗ lực của tự thân còn được Đức Phật sánh ví với ốc đảo vững chắc, chính trên cơ sở này hoa tỉnh thức sẽ nở rộ, phiền não nghiệp chướng bị tiêu trừ:

"Hãy tự làm hòn đảo, 
Tinh cần gấp sáng suốt, 
Trừ cấu uế: thanh tịnh. 
Đến thánh địa chư Phật" (Kinh Pháp Cú, kệ 236).

Và Đức Phật cũng lưu ý chúng ta, không phải từ Ngài, không phải từ ân sủng cứu chuộc của Thiên Chúa, không phải do một ai, mà chính do sự tự tu tập của chúng ta dẫn chúng ta đến sự giác ngộ. Có như vậy, sự giác ngộ ấy mới vững chắc:

"Chẳng phải nương người khác, 
Mà đạt được Niết-bàn, 
Do tự điều, tự nương, 
Mà đích đến kiên cố " (Kinh Pháp Cú, kệ 323).

Do đó, người Phật tử khi nắm vững nguyên lý nhân quả nghiệp báo là cán cân thưởng phạt chính xác, công bằng, nên không hoài công nhọc sức mong đợi, vọng cầu. Trái lại khi làm xong bất kỳ việc thiện nào, họ trở nên thản nhiên, ung dung, không chờ đợi kết quả, vì họ biết chắc chắn rằng kết quả tốt sẽ đến, không chóng thì chày. Hai câu thơ vô danh sau đây cho thấy một niềm tin chân chánh đó:

Khai trì bất đãi nguyệt
Trì thành tất tự lai

Tạm dịch là:
Đào ao chẳng đợi trăng sao
Khi ao có nước trăng sao hiện về!

Nói tóm lại, cầu nguyện có giá trị rất giới hạn trong đời sống đạo đức của người Phật tử. Người Phật tử theo đúng tinh thần Phật giáo là người theo chủ nghĩa hành động thiện, chứ không phải là người chỉ biết ước vọng thiện. Chính hành động thiện quyết định đời sống đạo đức chứ không phải những cầu nguyện hay ước nguyện chân thành.

V. Cầu nguyện, phát nguyện và hồi hướngTrong Phật giáo Đại thừa còn có hai khái niệm liên hệ đến cầu nguyện là "phát nguyện" và "hồi hướng" hay "hồi hướng công đức." Hai khái niệm này chứa tải ý nghĩa đạo đức rất cao và đã trở thành nếp sống của các Phật tử theo truyền thống Bắc tông hay Đại thừa.

Trong nhiều trường hợp như chúng ta chứng kiến trong cuộc sống, cầu nguyện thường phản ánh thái độ tâm lý mong cầu hay mong đợi những lợi ích hay hạnh phúc cho bản thân mình, gia đình mình, đất nước mình. Dù là các ước muốn hay mong mỏi thiện, nó cũng thường xoay quanh cái ta, vì cái ta, dù nhỏ hay lớn. Nó có thể mang dáng dấp của vị kỷ, trong sự sâu kín nhất của tâm hồn. Người ta thường cầu nguyện cho người thân mình, chứ ít ai nghĩ đến việc cầu nguyện những điều tốt lành cho kẻ thù mình, cho những người hảm hại mình. Thái độ tâm lý này giới hạn vào người thân, người làm tốt cho mình, người có ân ích với mình đã trở thành thói quen và tập khí của chúng sanh nhiều đời.

Các bậc bồ-tát của Phật giáo thì khác hẳn. Các ngài không còn thái độ nhận thức lập cước trên thân sơ. Đối với các ngài, tất cả chúng sanh là thân bằng quyến thuộc từ nhiều đời kiếp trong quá khứ. Chúng ta đã từng là cha mẹ, anh em, bạn bè, thân thuộc, vợ chồng của nhau trong chuổi dài vô thủy của sanh tử. Tình thương thân quyến và đồng loại không thể ngăn cản được các ngài. Lòng từ bi của các ngài đã siêu vượt ranh giới của bỉ thử, ta người, thân sơ, thù bạn, mà còn trải rộng đến các loài động vật và cây cỏ, côn trùng. Một tình thương vô bờ bến như vậy đã thúc giục các ngài không sớm chứng đắc đạo quả vô thượng bồ-đề để cứu độ chúng sanh đang đau khổ trong ba cõi.

Đạo lý bồ-tát đã dạy người Phật tử mở rộng tình thương và trí tuệ đến với mọi người và mọi loài. Một khi dấn thân trên con đường bồ-tát, người Phật tử trước nhất phải biết "phát tâm." Sự phát tâm bao gồm 2 bước: trước nhất là phát tâm giác ngộ như Phật và bồ-tát (phát bồ-đề tâm) sau đó là phát tâm độ chúng sanh. Phát tâm độ chúng sanh chính là "phát nguyện" của người học theo hạnh bồ-tát. Phát tâm giác ngộ là một quá trình tự tu, tự độ. Phát tâm độ chúng sanh và quá trình lợi tha, và cứu độ tha nhân. Hạnh bồ-tát bao trùm tự độ và độ tha, chứa đựng đầy đủ nhân hạnh và quả chứng.

Ngoài ra, người Phật tử còn phải biết hồi hướng công đức tu tập của mình đến với tất cả chúng sanh trong ba cõi sáu đường. Nếu phát tâm giác ngộ và phát nguyện độ sanh là những tấm lòng vì đạo cao cả, vì thương xót chúng sanh thì hồi hướng công đức là một thể hiện cụ thể của tấm lòng giác ngộ và bao la đó. Nghĩa là người Phật tử tu tập không phải vì cho mình mà cho người, thành quả giác ngộ và công đức thu hoạch được không phải để dành riêng cho mình, mà còn san xẻ đều cho chúng sanh. Chia xẻ công đức như vậy chính là làm cho tâm mình giác ngộ, làm cho tình thương trở nên siêu vượt biên giới, thời gian và không gian.

Nói một cách khác, người Phật tử hiểu rõ đạo lý của đức Phật sẽ không còn cầu nguyện mang tính chất "thu hẹp" lợi lạc cho bản thân mình, gia đình mình, quốc gia mình, mà hơn hết, phải biết phát nguyện để "mở rộng" tấm lòng ra, hướng đến lợi ích của người khác và tất cả chúng sanh; để có những hoạt động cụ thể, giác ngộ mình và người. Tình cảm vị kỷ và mang tính giới hạn của "cầu nguyện" đã được tình thương của "phát nguyện" thay thế. Phát nguyện giác ngộ để tự độ. Phát nguyện hồi hướng công đức cho tha nhân và chúng sanh là độ tha. Đây là hai đặc tính thay thế hoàn toàn những cầu nguyện và ước muốn có tính cách hạn cuộc.

Không có gì cao đẹp cho bằng khi người Phật tử làm bất kỳ việc thiện gì không phải chỉ cho mình, vì mình, mà còn cho người khác, vì người khác và nói rộng ra là tất cả chúng sanh. Sự nghiệp cũng như mục tiêu lớn nhất của người Phật tử là hướng đến sự giác ngộ chính mình và chúng sanh. Sự phát nguyện và hồi hướng công đức của người Phật tử cũng không ra ngoài mục tiêu giác ngộ trọn vẹn, nghĩa là cùng nhau tu hành và thành Phật:

Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.

VI. Kết luậnNhư vậy, đạo đức của người Phật tử không nằm ở những hành vi đạo đức cho bản thân, mà cốt là cho xã hội loài người và các loài động vật. Mục tiêu đạo đức rộng rãi như vậy rõ ràng không thể phát sanh từ ước muốn đơn thuần, mà phải phát xuất từ từ nhận thức giác ngộ cụ thể, hành động lợi tha cụ thể, để tất cả chúng ta và chúng sanh cùng từng bước hướng đến và thành tựu con đường và đạo quả giác ngộ, vượt thoát vĩnh viễn đau khổ.

Đây chính là điểm khác biệt căn bản nhất và quan trọng nhất, giữa đạo Phật và các tôn giáo khác, không những về ý nghĩa cầu nguyện mà còn ở tính chất vị tha, vô ngã bao la trong hành vi đạo đức và thiện ích của người Phật tử trên con đường tu tập hạnh bồ-tát: phát tâm giác ngộ, phát nguyện độ sanh, tu tập công đức và hồi hướng công đức đó đến muôn loài, cốt chỉ để giác ngộ cho mình, người và tất cả chúng sanh.

Thứ Sáu, 26 tháng 12, 2014

TỨ ĐẾ

PHẬT HỌC THƯỜNG THỨC

Tâm Minh Lê Đình Thám
Nhà xuất bản PHƯƠNG ĐÔNG

TỨ ĐẾ
Tứ đế là đạo lý căn bản của Thanh Văn thừa, đồng thời cũng là cơ sở của các đạo lý khác trong đạo Phật, vì nếu không biết luân hồi là khổ, thì không thể phát tâm cầu đạo giải thoát, nếu không biết cái khổ luân hồi do những nguyên nhân gì, thì cũng không biết được đường tu chân chính, đi đến giải thoát, và nếu không biết đường tu giải thoát chân chính, thì không thể ra khỏi luân hồi và được chứng Niết-bàn.
Cả đến những vị tu theo Bồ-tát thừa, cũng cần nhận rõ cái khổ luân hồi, mới phát được thệ nguyện rộng lớn, độ thoát chúng sinh đồng thành Phật đạo.
Lần đầu tiên Phật thuyết pháp, độ cho 5 vị Tỳ-kheo ở Lộc uyển, Phật đã dạy: “Thế này là khổ, cần phải biết; thế này là tập, cần phải đoạn; thế này là diệt, cần phải chứng; thế này là đạo, cần phải tu”.
Vì thế, tất cả đệ tử Phật, muốn phát tâm đúng đắn, cần phải nghiên cứu suy xét, biết được luân hồi là khổ, biết được những tập nhân của luân hồi cần phải đoạn, biết được đạo quả diệt khổ luân hồi cần phải chứng, và biết được con đường diệt trừ tập nhân ấy ra khỏi luân hồi, cần phải tu hành. Những đạo lý dạy về cái khổ của luân hồi, tập nhân của luân hồi, đi đến đạo quả ấy, đều là những đạo lý chắn chắn xác thật, nên gọi là Tứ đế, gồm có: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế.
A. KHỔ ĐẾ
Khổ đế nhận định chắc chắn luân hồi là khổ, sống chết là khổ. Thân thể của chúng sinh đối với hoàn cảnh, thường sinh ra ba cái thọ: Đối với cảnh nghịch thì sinh ra khổ thọ, đối với cảnh thuận thì sinh ra lạc thọ và đối với những cảnh không nghịch, không thuận thì sinh ra xả thọ. Nói một cách khác, là các cảnh có thể làm cho người ta hoặc khổ, hoặc vui, hoặc không vui, không khổ. Nhưng cả ba thọ ấy cuối cùng đều sinh ra khổ cả. Khổ thị thì sinh ra khổ khổ, vì bản chất của nó là khổ, nên sinh ra khổ; lạc thọ thì sinh la hoại khổ, vì những cảnh thuận mà mình không ưa thích, không thể tồn tại mãi được, đến khi nó diệt mất thì sinh ra khổ; xả thọ thì sinh ra hành khổ, vì tuy xả thọ không có khổ vui, nhưng thân thể và hoàn cảnh, do nhân duyên tạo thành, luôn luôn chuyển biến và lần đi đến chỗ diệt mất, nên cũng sinh ra khổ.
1. Sinh khổ: Sinh khổ, nghĩa là có sinh có khổ, vì đã có sinh thì nhất định phải có diệt và bị vô thường chi phối, nên có khổ. Huống nữa, trong nhiều loài, chính trong lúc mới sinh ra, cũng đã phải chịu những cái khổ nhất định do thân thể yếu ớt và hoàn cảnh thay đổi, lại muốn duy trì được sự sống, còn phải tìm cái ăn, cái uống, phải chống cái nóng, cái rét, phải tự vệ đối với nhiều loài khác, phải đối phó với những tai họa thiên nhiên và nhân tạo, v.v. nên suốt đời vất vả lo âu, đó cũng là sinh khổ.
2. Lão khổ: Thân thể thường chuyển biến nên có lão khổ.
Người ta ai cũng muốn trẻ, muốn mạnh, nhưng sự già yếu cứ thôi thúc bên mình, cái già còn con mắt thì con mắt mờ, vào lỗ tai thì tai điếc, vào da thì da nhăn, vào xương sống thì lưng còng, cái già đến đâu thì suy yếu đến đó, làm cho không đủ sức thích nghi với hoàn cảnh thay đổi và dễ mắc bệnh tật.
3. Bệnh khổ: Lại trong đời sống, thân thể thường mắc nhiều tật bệnh, làm cho đau khổ. Nhất là khi đã già, sức đề kháng suy kém thì càng dễ sinh bệnh.
4. Tử khổ, là cái khổ trong lúc chết. Chúng sinh do nghiệp báo chịu một thân thể nào, thì gắn bó với thân thể ấy, xem thân thể ấy là thân thể duy nhất của mình, nên đến khi chết, sinh ra đau khổ vô hạn. Chúng sinh suốt đời yêu quí cái thân thể, chỉ sống với cái thân thể và do thân thể liên hệ mật thiết với người, với cảnh quanh mình, nên đến khi thân thể chết thì luyến tiếc vô hạn. Loài nào có thân thể xinh đẹp bao nhiêu, có hoàn cảnh thuận lợi bao nhiêu, thì lại càng luyến tiếc bấy nhiêu, đó là tử khổ.
5. Cầu bất đắc khổ: Ý niệm của con người thường rong ruổi theo hoàn cảnh, mong cầu những điều ưa thích. Khi mong cầu được cái này, thì lại mong cầu thêm cái khác, đến khi mong cầu chưa được, hoặc không được, thì buồn rầu và đau khổ.
6. Ái biệt ly khổ: lại sống trong cảnh vô thường, thì những cái mình ưa thích cũng đều là vô thường. Khi phải xa rời những cái mình yêu thích đó, như khi mẹ mất con, chồng mất vợ, người mất của báu, thì sinh ra đau khổ vô hạn.
7. Oán tắng hội khổ: Lại có những điều mình thù ghét, không thích mà nó cứ đến với mình, như mình muốn có con hiếu thảo mà sinh ra con bất hiếu, muốn có người láng giềng tốt mà lại phải ở với những người láng giềng xấu, muốn sống trong một chế độ tự do mà lại phải sống trong một chế độ độc tài, v.v. thì sinh ra khổ não.
8. Ngũ ấm xí thạnh khổ: Năm uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, che lấp trí tuệ, làm cho không nhận được bản chất, nên gọi là ngũ ấm. Đến khi chúng sinh phát được chánh tín, muốn trừ bỏ sự che lấp ấy, để được giải thoát, thì lại bị thói quen mê lầm ràng buộc, muốn trừ mà trừ không được nên sinh ra khổ. Vì thế ngũ ấm xí thịnh khổng cũng có tên là xả bất đắc khổ.
Năm ấm ấy che lấp trí tuệ, như áng mây mù che lấp ánh sáng mặt trời. Khi nhận thấy thật có sắc và không, nghĩa là có những cái có hình, có tướng và không hình, không tướng thì những tư tưởng chấp thật có sắc, thật có không đó, che lấp trí tuệ, làm cho không nhận rõ thật tướng của các thứ sắc, thứ không, là duyên khởi như huyễn, không có tự tính, đó là sắc ấm.
Khi thân đối với cảnh, cảnh đối với thân, có những khổ thọ, lạc thọ và xả thọ, mà không biết các thọ ấy đều do sự đối đãi giữa thân với cảnh mà thành, chấp là thật có, thì sự cố chấp này che lấp trí tuệ, làm cho không nhận rõ thật tướng của các thọ, đó là Thọ ấm.
Khi tâm đối với cảnh, với thân, sinh ra có ưa ghét, có thân sơ, thì tâm gắn bó với thân, với cảnh, tạo ra các tướng nơi thân, nơi cảnh, rồi nương theo các tướng đó, đặt ra những tên gọi, tạo thành cái cảnh danh ngôn đối với ý thức, tức là cái cảnh các sự vật có phân biệt, có tên gọi. Cảnh danh ngôn đó toàn là những tưởng tượng do ý thức biến hiện như cảnh chiêm bao. Nếu không biết như thế, lầm nhận cảnh đó là thật có ở ngoài tâm phân biệt, thì sự cố chấp này che lấp trí tuệ, làm cho không nhận rõ được thật tướng của danh ngôn, đó là Tưởng ấm.
Lại tất cả sự vật, cho đến các luồng tâm niệm, đều sinh rồi diệt, diệt rồi sinh, theo duyên chuyển biến mãi mãi không thôi. Nếu không biết đạo lý duyên khởi như huyễn, chính nơi sinh thật không có gì đáng gọi là sinh, chính nơi diệt thật không có gì đáng gọi là diệt, mà chấp thật có sinh diệt, thật có sự chuyển biến, thì sự cố chấp đó che lấp trí tuệ, làm cho không nhận rõ thật tướng của các sinh diệt, đó là Hành ấm.
Lại cái thức tâm theo nghiệp báo mà hiện ra thân thể và cảnh giới hàng ngày, chịu sự huân tập của các nghiệp mà chuyển biển không ngừng. Thức tâm ấy hình như yên lặng, nhưng không phải yên lặng. Thức tâm đó, chỉ là cái dụng riêng biệt của bản tính không riêng biệt, chỉ là một nhóm thức riêng biệt, hiện ra trong thức tính viên mãn cùng khắp, cũng như những luồng sóng hiện ra trong biển cả. Nếu không biết như thế, lầm nhận luồng sóng là biển, lầm nhận thức tâm là bản tính thanh tịnh, thì dễ lạc vào ngoại đạo, hoặc lầm nhận những quả dị thục nơi thức tâm của Thanh Văn thừa và Duyên Giác thừa là rốt ráo, là tối cao, tối thượng. Cái điều đó che lấp trí tuệ, làm cho không nhận được bản lai tự tính, nên gọi là Thức ấm.
Chỉ khi nào trừ bỏ được năm ấm, nghĩa là từ bỏ được những cố chấp mê làm che lấp trí tuệ, thì mới nhận được bản tính, nhập được với pháp giới tính, và lên quả vị Nhân địa của Như Lai.
Người học đạo biết rõ năm ấm là như thế, nhưng do thói quen mê lầm, muốn thoát ly mà chưa thoát ly được, thì vẫn còn mắc xả bất đắc khổ. Người thế gian bị năm ấm che mất tâm tính, luôn luôn ở trong đường luôn hồi, chịu cái khổ luân hồi mà không tìm lối giải thoát, đó là vì năm ấm quá nặng nề, quá mãnh liệt, nó làm cho phải luân hồi trong vô lượng, vô số kiếp, chịu vô lượng, vô số đau khổ, thế gọi là ngũ ấm xí thịnh khổ. Xác chết của một chúng sinh, trong nhiều đời, chồng chất lại cao hơn núi Tu-di, nước mắt của chúng sinh, trong nhiều đời, chứa nhóm lại còn nhiều hơn nước biển, đó là kết quả của ngũ ấm xí thịnh khổ.
Tất cả những điều khổ đã nói trên kia, xét ra quả thật là khổ, nên gọi là Khổ đế. Chúng sinh trong đường luân hồi, cần suy xét chín chắn, biết rõ luân hồi là khổ, chẳng những ở tam ác đạo là khổ, mà ở các cõi trời cũng vẫn là khổ, để tăng thêm lòng mong muốn giải thoát. Việc biết luân hồi là khổ và mong muốn giải thoát là điều cần yếu cho những người học đạo.
B. TẬP ĐẾ
Đã biết cái khổ luân hồi thì cần suy xét nhận rõ những nguyên nhân tập hợp lại mà duyên sinh ra cái khổ đó. Phải chính nơi cái khổ luân hồi, mà nhận cho được nguyên nhân của nó, một cách xác thật, không nên để cho những tà thuyết mê hoặc.
Phật thấy rõ những nguyên nhân của luân hồi, vì đã thiết thật biết hết những sự chuyển biến theo nghiệp báo của các chúng sinh trong vô lượng, vô số kiếp. Những nguyên nhân của luân hồi mà Phật đã dạy, có thể nhận rõ nơi cái quả luân hồi hiện tại, nó xác thật chắc chắn là nguyên nhân của luân hồi, nên gọi là Tập đế.
Nói tóm lại, nguyên nhân của luân hồi là lòng khát ái, nghĩa là lòng khao khát ưa thích đối với sự sống còn, sự hay biết, đối với thân thế và hoàn cảnh, phân tích ra thì cả 10 nguyên nhân chính là những tư tưởng sai lầm, ràng buộc và sai khiến chúng sinh, đó là 10 kết sử. Trong 10 kết sử, có 5 cái thuộc về tính chấp, là tham, sân, si, mạn, nghi, cũng có 5 tên là 5 độn sử, còn 5 cái nữa thuộc những cố chấp về tri kiến và thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến, và tà kiến, cũng có tên là 5 lợi sử.
Do 10 kết sử là nguyên nhân của luân hồi, nên cần biết rõ hành tướng của nó để doạn trừ cho kỳ hết.
1. Tham: Là đối với những cái gây ra lạc thọ hoặc hỉ thọ và những phương tiện để có các cái đó, sinh lòng đắm trước, muốn thu góp tất cả về phần mình.
2. Sân: Là đối với những cái gây ra khổ thọ hoặc ưu thọ và những phương tiện gây ra các cái ấy, đem lòng ghét bỏ, muốn gạt đi nơi khác, muốn trút hết cho người khác.
3. Si: Là đối với sự thật nhân quả, mê lầm không rõ, do đó phát sinh ra những tư tưởng sai lầm và những lối tu hành không đúng Chánh pháp. Si còn có tên là vô minh, khi nào chưa trực nhận bản tánh, chưa nhập một lời pháp giới tánh, thì chưa dứt sạch vô minh.
4. Mạn: Là tự đề cao mình, phân tích ra có ngã mạn, xem cái ta là quý báu hơn hết, quá mạn là mình chỉ bằng người, lại cho là hơn người, mạn quá mạn là chính chỗ mình thua kém người, lại tự phụ là hơn người, tà mạn là tự cảo tự đại với những tà pháp, với những chức vụ cao trong tà đạo, tăng thượng mạn là chưa chứng đã xưng là chứng, chưa ngộ đã xưng là ngộ, lại có cái mạn bình thường, mình có hơn người một ít mà cho là hơn nhiều. Mạn có tác hại tăng trưởng các hiến chấp, sinh lòng tự mãn, làm trở ngại rất nhiều cho sự tu tập.
5. Nghi: Là đối với Chánh pháp, sinh lòng do dự, không tin chắc chắn, như đã phát lòng tin với Tam bảo, lại còn cầu thần, vái quỷ, bảo rằng “Phật thì xa, bản nha thì gần”.
6. Thân kiến: Là chấp cái thân ngũ uẩn là ta, nhận định chắc chắn có cái ta và không tin đạo lý vô ngã.
7. Biên kiến: Là chấp có hai bên, chấp những sự đối đãi là thật có, như chấp thật có thường, có đoạn, có trước, có sau, có cao, có thấp, v.v.
8. Kiến thủ kiến: Là cố chấp những thành kiến đã có từ trước, dù được nghe đạo lý chân thật, nhận định là đúng, cũng không chịu rời bỏ.
9. Giới thủ kiến: là cố chấp những giới ngoại đạo đã được truyền thọ, khi đã được nghe Chánh pháp, cũng không chịu rời bỏ.
10. Tà kiến: Là cố chấp những ngoại đạo tà giáo đã học được, hoặc bát không nhân quả, hoặc tin những điều trái với nhân quả.
Mười kết sử này buộc con người, sai khiến con người, làm cho phải xoay chuyển mãi mãi trong đường luân hồi.
Các kết sử còn chia ra có kết sử câu sinh và kết sử phân biệt. Kết sử phân biệt phụ thuộc vào ý thức, nên đến khi ý thức chứng được chân lý vô ngã, tức là kiến đạo, thì các kết sử phân biệt đều được đoạn trừ, do đó, nên gọi là kiến sử đoạn hoặc, hay kiến hoặc. Những kết sử câu sinh là những tập quán mê lầm từ nhiều kiếp để lại và dây dưa trong tiềm thức, cần phải liên tục tu tập chánh quán lâu ngày mới đoạn trừ hết, nên cũng có tên là tư sử đoạn hoặc, hay là tư hoặc.
Trong 10 kết sử, có hai kết sử rất quan trọng, vì là cỗi gốc của tất cả phiền não mê lầm, đó là thân kiến và si. Do si mê nên mặc dầu, xét rõ thật tế không có cái ta riêng, lại cứ nhận rằng có cái ta riêng và mặc dầu, được nghe Chánh pháp, vẫn không chịu dứt bỏ sự cố chấp ấy. Như thế là do si mà có thân kiến, rồi do thân kiến mà có cái ta chịu sống, chịu chết, trong đường luân hồi.
C. DIỆT ĐẾ
Đã biết nguyên nhân của luân hồi, thì cần phải diệt trừ hết 10 kết sử để ra khỏi luân hồi.
Những vị đoạn được tất cả kiến hoặc trong tam giới, không còn phân biệt ngã chấp thì chứng quả Tu-đà-hoàn, những vị Tu-đà-hoàn diệt trừ được sáu phẩm tư hoặc của Dục giới, không trở về Dục giới nữa, thì chứng quả A-na-hàm. Những vị A-na-hàm hiệt trừ hết 72 phẩm tư hoặc của các cõi Tứ thiền, Tứ không thì chứng quả A-la-hán. Chứng được các đạo quả này của Thanh Văn thừa, thì chắc chắn ra khỏi luân hồi, các vị Tu-đà-hoàn thì chứng được Hữu dư y Niết-bàn, các vị A-la-hán thì chứng được Vô dư y Niết-bàn, nên gọi là Diệt đế.
D. ĐẠO ĐẾ
Đạo đế là con đường tu hành chắc chắn diệt trừ các kết sử là tập nhân của luân hồi, để chứng quả giải thoát ra khỏi luân hồi.
Phương pháp tu tập ra khỏi luân hồi rất nhiều, nay chỉ nói về hai pháp là 5 quán đỉnh tâm và 37 đạo phẩm:
a. Năm quán đỉnh tâm: Năm phép quán này, nhằm làm cho những phiền não sâu nặng nhất dừng nghỉ, nên gọi là đỉnh tâm.
1. Quán bất tịnh: Quán này xét nhận thân và cảnh đều nhơ nhớp, không sạch, dễ làm cho lòng tham dục ngừng nghỉ.
Đối với thân người, thì xét nó, bề ngoài mồ hôi nhễ nhại, lâu ngày không tắm rửa thì hôi hám không thể chịu được, rồi xét bề trong cái thân, sau lớp da mỏng thì toàn là máu, mỡ, thịt, xương rất nhơ nhớp và chứa đựng những tiểu tiện, đại tiện rất hôi thôi. Xét cho cùng, thì cái thân người khi ở trong thai, lúc mới sinh đã nhơ nhớp rồi và đến khi chết thì lại càng hôi thối nhơ nhớp hơn nữa.
Có phép quán bất tịnh, quán thân người khi chết rồi, thì máu da nhợt nhạt, có từng bợt xanh, bợt tím, bụng phình to lên, rồi nứt ra, chảy nước hôi hám, cuối cùng da thịt tiêu hết, chỉ còn bộ xương, rồi bộ xương còn đó cũng tan nát ra đất, ra bụi, gặp một trận gió thì bụi bay hết, không còn gì là cái thân nữa.
Quán thân mình như thế, quán thân mọi người cũng như thế, thì đối trị được lòng dâm dục.
Đối với hoàn cảnh thì quan sát tất cả đều vô thường, như hoa nở rồi tàn, không có gì đáng ưa thích cả. Loài người sống trong cảnh đất bụi, bùn lầy, ít ngày không quét, không lau thì đã nhơ nhớp, nên trong cảnh ấy thật không có gì đáng ham muốn.
Xét như vậy, thì trừ được lòng ham muốn ngoại cảnh và giữ được tâm thanh tịnh.
2. Quán từ bi: Đối với người hay nóng giận, thì nên học phép quán từ bi để đối trị. Phép này xem xét loài người chịu nhiều thứ khổ. Trong lúc sống khổ như thế, loài người lại tranh giành lợi lộc với nhau, gây ra những nghiệp ác, để về sau phải chịu quả báo khổ trong nhiều đời, rất đáng thương xót.
Với lòng từ bi đó, mỗi khi thấy có người bị đọa đày, áp bức, giết hại, thì người tu hành phải hy sinh tất cả để cứu khổ, cứu nạn, đi đến diệt những kẻ hung bạo sát nhân, để cứu vớt người lương thiện.
Người tu hành, tu phép quán từ bi, luôn luôn ở về phía đa số bị áp bức, không từ một hy sinh nào, một hành động đối nghịch nào mà vẫn không thù, không giận.
3. Quán nhân duyên: Quán nhân duyên là quán tất cả sự vật, dầu thân tâm, dầu cảnh giới, đều do nhân duyên hội họp mà giả dối sinh ra, nhân duyên tan rã là giả dối diệt mất, sự thật thì không có gì đáng gọi là thân tâm và cảnh giới cả. Pháp quán này, đối trị lòng si mê chấp thật có thân tâm, thật có cảnh giới.
4. Quán giới phân biệt: Quán giới phân biệt là xem xét chia chẻ nơi thân, nơi cảnh thành 18 giới riêng biệt. Trong 18 giới ấy (6 căn, 6 trần, 6 thức) không tìm ra được cái gì gọi là ta, nhưng ngoài 18 giới ấy ra, thì không còn cái gì, có thể gọi là ta được. Như thế, cái ta chỉ do một số tâm pháp và sắc pháp kết hợp lại mà thành, chỉ có tên gọi, chứ không có thật thể.
Cũng có thể phân tích cả thân và cảnh thành năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) hoặc thành 6 đại (địa, thủy, hỏa, phong, không, thức), để thấy rõ tất cả chỉ là tướng hòa hợp, chỉ có danh mà không có thật, trong đó không có gì đáng gọi là ngã cả.
Phép quán này, đối trị được ngã kiến và làm cho nhận được các pháp đều vô ngã.
5. Quán sổ tức: Đối với những người, tâm thường tán loạn, thì nên tập phép quán sổ tức. Sau khi điều hòa hơi thở, người tu hành tập đếm hơi thở từ 1 cho đến 10, rồi bắt đầu đếm trở lại từ 1 đến 10, phải chuyên tâm đếm như thế, một cách rõ ràng dứt khoát, không có nhầm lẫn. Tập lâu ngày, phép sổ tức thì tâm được định tĩnh, không còn tán loạn nữa.
Những người mới tu hành, đều nên tập 5 phép quán đỉnh tâm, tùy tự xét tâm mình, phiền não nào nặng hơn, thì tập phép đối trị phiền não ấy trước. Về sau thì có thể tập đủ năm phép, để cho phiền não được nhẹ nhàng và tâm được chánh định.
b. 37 đạo phẩm, gồm có: Tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, bát chánh đạo, và thất giác chi.
1. Tứ niệm xứ: Sau khi tu năm phép quán đỉnh tâm, người tu hành đã được phiền não nhẹ nhàng và bắt đầu được chánh định. Nhờ có định, người tu hành phát ra trí tuệ, diệt trừ 4 kiến chấp điên đảo thế gian là: Không sạch bảo là sạch, khổ bảo là vui, vô thường bảo là thường, vô ngã bảo là ngã, đồng thời phát sinh bốn chánh quán là thân bất tịnh, thọ thị khổ, tâm vô thường, pháp vô ngã.
Bốn chánh ấy là tứ niệm xứ gồm có:
Quán thân bất tịnh: Nghĩa là quán thấy cái thân mình không sạch sẽ, không đáng lưu luyến. Nhớ giữ luôn quan niệm như thế, nếu không bị cái thân sai khiến, ngược lại, còn sai khiến được cái tâm làm các điều thiện.
Quán thọ thị khổ: Nghĩa là quán thấy có lãnh nạp thì có khổ. Thọ ước lược có ba thứ là lạc thọ, khổ thọ, và xả thọ. Khổ thọ sinh ra khổ khổ, lạc thọ sinh ra hoại khổ, xả thọ sinh ra hành khổ, nên hễ có thọ thì có khổ.
Các thọ ấy đều sinh ra do sự đối đãi giữa thân thể và cảnh giới. Nếu không nhận cái thân là mình, thì không gắn bó với thân và sẽ không theo cái thân, mà nhận các sự sống chết.
Quán tâm vô thường: Nghĩa là quán thấy cái tâm ý phân biệt, duyên với cảnh danh ngôn, là vô thường. Cái ý thức ấy rong ruổi theo cảnh, chuyển biến mãi mãi, khi ngủ mê, khi chết giấc đã không còn, huống nữa, là khi chết. Thế mà trong thế gian, nhiều người lại tin rằng, cái ý thức phân biệt đó, vẫn tồn tại sau khi chết, đi đến tin có cái hồn biết người, biết mình, sống mãi dưới âm phủ.
Sự sai lầm ấy, làm trở ngại cho lòng tin chắc chắn về nhân quả và nghiệp báo.
Người ta thường tự hào với những tri thức của mình. Sự thật thì mọi sự hiểu biết, đều do học hỏi mà có, đều từ ngoài đưa vào, chứ cái hiểu biết riêng biệt của mình thì chẳng có là bao.
Vậy chẳng những cái thân, do sự kết hợp của các thứ vật chất từ ngoài đưa đến mà thành, mà cả cái tri thức cũng do từ ngoài đưa vào mới có, không có gì gọi là riêng mình và cũng không có gì gọi là chắc thật cả.
Lại cái ý thức đó lúc nhỏ khác, lúc lớn khác, khi chưa học khác, khi đã học khác, khi chưa tu khác, khi đã tu khác, nên quả thật là vô thường.
Nhận biết ý thức là vô thường, thì phá được thường kiến chấp có cái hồn bất diệt, đồng thời cũng giác ngộ được cảnh danh ngôn là giả dói, không thật và do tâm phân biệt biến hiện.
Quán pháp vô ngã: Nghĩa là quán thấy tất cả sự vật, dầu tâm, dầu cảnh, đều khôn có tự tính.
Tất cả các sự vật ấy, đều có thể nói được, có thể nghĩ được, nên gọi là pháp. Những sự vật có hình tướng đều do nhiều bộ phận hợp lại mà thành, nên đều là Nhất hợp tướng, dầu cho nhỏ như hạt bụi, hễ đã có hình tướng, thì đều có thể chia chẻ được, nên cũng đều là nhất hợp tướng.
Nhất hợp tướng như một tập giấy, do nhiều tờ giấy hợp lại mà thành, mỗi tờ giấy đều không phải là tập giấy, nhưng ngoài các tờ giấy ra, cũng không còn gì là tập giấy. Lại tập giấy có thể kết hợp lại với một tập giấy khác, mà thành một tập giấy lớn hơn, hoặc có thể chia ra thành hai tập giấp nhỏ hơn. Rõ ràng tập giấy chỉ có tên gọi, chứ không có thật thể.
Cái tâm thức, cũng đều do nhân duyên hội họp mà phát sinh. Ngoài các nhân duyên ra, cũng không tìm được cái gì là tâm thức.
Lại, tất cả sự vật đều đối đãi với nhau mà thành lập. Tâm đối với cảnh, cảnh đối với thân, lớn đối với nhỏ, dài đối với ngắn, sống đối với chết, có đối với không, tất cả sự vât đều do đối đãi mà thành và cái này có, nên cái kia có.
Xét cho cùng, tất cả các tâm pháp và sắc pháp chỉ có tánh đối đãi, chứ riêng một mình thì không có tánh gì cả, nghĩa là không có tự tánh, không có tự tánh là vô ngã, tâm cũng vô ngã, thân cũng vô ngã, người cũng vô ngã, mình cũng vô ngã, cảnh cũng vô ngã, thời gian, không gian cũng vô ngã, cho đến khi sống cũng vô ngã, chết cũng vô ngã.
Người tu hành giữ tâm niệm luôn luôn ở trong bốn chánh quán như thế, thì trí huệ ngày thêm phát triển và những bậc lợi căn, có thể chứng được Tu-đà-hoàn.
2. Tứ chánh cần: Là bốn sự siêng năng chân chánh tu tập bỏ ác làm thiện.
Bốn sự siêng năng ấy là:
Những điều ác đã làm thì quyết tâm không làm nữa, những điều ác chưa làm thì quyết tâm không làm, những điều thiện đã làm thì quyết tâm làm thêm nữa, và những điều thiện chưa là thì quyết tâm làm cho được.
Tứ chánh cần là giới, nhờ tinh tiến giữ giới như thế, mà người tu hành được định tuệ phát triển, theo con đường chân chánh.
3. Tứ như ý túc: Là bốn chỗ nương đứng để phát khởi sáu thứ thần thông, vì thế tứ như ý túc cũng có tên là tứ thần túc.
Túc là chân, như cái thân phải nương với cái chân mới đứng được, sáu thứ thần thông phải nương với 4 thần túc mới phát sinh được.
Bốn thần túc là dục, tinh tiến, định và quán (theo các kinh điển, tên của tứ thần túc có khác nhau ít nhiều, nhưng ý nghĩa vẫn như nhau).
Người tu hành khi quán năm phép định tâm đã có định, đến khi tu tứ niệm xứ, và tứ chánh cần, thì trí tuệ phát triển thêm nhiều, nên định lại hóa thành kém thua. Vì vậy, người tu hành cần phải tu tứ thần túc, để cho định tăng lên, cân xứng với tuệ. Định và tuệ cân xứng nhau, thì như con chim đủ hai cánh, làm việc gì cũng thành tựu, nên gọi là tứ như ý túc, gồm có:
Dục như ý túc: Là do quyết tâm tu hành do định tuệ cân nhau, mà được thần thông.
Tinh tiến như ý túc: Là do tinh tiến tu hành cho định tuệ cân nhau, mà được thần thông.
Đinh như ý túc: Là do tu chánh định, mà được thần thông.
Quán như ý túc: Là do chuyên tâm trong chánh quán, mà được thần thông.
Sáu thứ thần thông là thiên nhãn thông, thấy những cõi xa xăm, thiên nhĩ thông, nghe những tiếng ở xa, tha tâm thông, biết được ý nghĩ người khác, thần túc thông, làm được những điều biến hóa kỳ diệu, túc mạng thông, nhớ lại các đời trước, và lậu tận thông, tiêu diệt hết các sự mê lầm. Trong sáu phép thần thông, 5 phép trước chung với thế gian, duy có lậu tận thông là phép riêng xuất thế gian.
Người tu hành chỉ cốt được lậu tận thông nhưng do định tuệ cân nhau, nên cũng được cả các thần thông khác.
4. Ngũ căn: Là năm cái cội gốc, để phát sinh các thiện pháp gồm có:
- Tín căn: Là trong tâm đã ghi sâu lòng tin Tam bảo và Tứ đế.
- Tinh tấn căn: Là trong tâm đã ghi sâu lòng cương quyết tu hành các thiện pháp.
- Niệm căn: Là trong tâm luôn luôn nhớ nghĩ chánh pháp.
- Định căn: Là tâm luôn luôn chuyên nhất không có tán loạn.
- Tuệ căn: Là tâm luôn luôn suy xét chân lý, phân biệt chánh, tà.
Sau khi định tuệ đã cân nhau, thần thông đã thật hiện, người tu hành năm căn để có khả năng phát sinh các thiện pháp khác và uốn dẹp các phiền não.
5. Ngũ lực: Khi năm căn phát triển mạnh mẽ, đủ sức tăng trưởng mạnh hơn nữa các thiện pháp và đối trị mạnh hơn nữa các thiện pháp và đối trị mạnh hơn nữa các phiền não mê lầm, thì gọi là ngũ lực.
Ngũ lực gồm tín lực, tinh tiến lực, niệm lực, định lực, và tuệ lực.
6. Bát chánh đạo: Trong nhiều kinh điển, thường theo trình tự để Thất giác chi trước Bát chánh đạo. Nhưng Bát chánh đạo là đường lối tu hành trừ kiến hoặc, còn Thất giác chỉ là đường lối tu hành trừ tư hoặc, nên để Bát chánh đạo trước Thất giác chi là đúng hơn.
Bát chánh đạo gồm có 8 phần:
Chánh tri kiến: Sau khi được ngũ lực, phát sinh các thiện pháp đối trị các kiến hoặc, thì nhận rõ đạo lý tứ đế, phát ra vô lậu tuệ, hướng về quả Niết-bàn, đó là Chánh tri kiến.
Chánh tư duy: Chánh tư duy nương với chánh tri kiến, suy xét chân lý khiến cho chân trí vô ngã thêm tăng trưởng.
Chánh ngữ: Chánh ngữ nương với ý nghiệp thanh tịnh trong chánh tư duy mà tu khẩu nghiệp thanh tịnh, không phát ra những lời nói sai lầm, đó là Chánh ngữ.
Chánh nghiệp: Chánh nghiệp là nương theo ý nghiệp, thanh tịnh mà tu thân nghiệp thanh tịnh, trừ diệt tất cả các tà nghiệp.
Chánh mạng: Chánh mạng là nương với ý nghiệp, khẩu nghiệp và thân nghiệp thanh tịnh mà sống theo Chánh pháp, xa rời các tà mạng.
Ba phần chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng lấy vô lậu thế giới làm thể.
Chánh tinh tấn: Chánh tinh tấn là cố gắng tu trì theo chánh pháp, diệt trừ những kiến hoặc nhỏ nhiệm trong ba cõi.
Chánh niệm: Chánh niệm là nương với vô lậu tuệ, luôn luôn nhớ nghĩ đạo lý vô ngã, diệt trừ những kiến chấp sai lầm.
Chánh định: Chánh định là thiền định thanh tịnh vô lậu, phát sinh vô ngã trí, giác ngộ sinh không chân như và chứng quả Tu-đà-hoàn.
7. Thất giác chi: Các vị Tu-đà-hoàn đã diệt trừ các kiến hoặc, diệt trừ phân biệt ngã chấp, vào được thánh vị, nhưng còn có những tư hoặc dây dưa trong tiềm thức, gây trở ngại cho sự giác ngộ hoàn toàn.
Vì vậy, các vị phải nương với vô ngã trí, dùng sinh không quán để diệt trừ các tư hoặc trong chín địa.
Thất giác chi cũng có tên trong thất giác phần, thất đẳng giác chi, hoặc thất Bồ-đề phần, gồm có:
Trạch pháp giác chi: Là dùng trí tuệ vô lậu, phân biệt chân ngụy.
Tinh tấn giác chi: Là dũng mãnh dùng sinh không quán, mà trừ các tư hoặc, thực hành Chánh pháp.
Hỷ giác chi: Là vui mừng được pháp giải thoát và tùy hỉ tất cả các thiện sự.
- Khinh an giác chi: Là sự khoan khoái yên lành do đã diệt trừ các kiến hoặc.
Sự khoan khoái yên lành này, diệt trừ được các tư hoặc nặng nề, nên cũng có tên là Trừ giác chi.
Niệm giác chi: Là luôn luôn ở trong sinh không quán, làm cho định và tuệ cân nhau.
Định giác chi: Là dùng sinh không quán, đối trị các tư hoặc, làm cho tâm không tán loạn.
Hành xã giác chi: Là dùng sinh không quán, phóng xả hết tất cả các pháp thế gian, không giữ một bóng dáng gì trong tâm, làm cho tâm luôn luôn được thanh tịnh sáng suốt.
Các vị Tu-đà-hoàn, nương với sinh không quán, dùng các giác chi mà đối trị các tư hoặc.
Khi diệt được sáu phẩm trước của tư hoặc Dục giới, thì chứng quả Tư-đà-hàm.
Khi diệt hết 9 phẩm tư hoặc Dục giới, thì chứng quả A-na-hàm, không trở lại Dục giới nữa.
Khi diệt trừ hết các tư hoặc của Dục giới, Tứ thiền và Tứ không thì chứng quả A-la-hán hoàn toàn giải thoát ra khỏi ba cõi.