Thứ Năm, ngày 05 tháng 8 năm 2010

THỰC TRẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM NGÀY NAY



TAP I

LỚI NÓI ĐẦU


Trong quá trình tồn tại của PGVN hàng thế kỷ qua, sự phát triển và hình thành một sắc thái đặc thù vào hậu bán thế kỷ 19, đã vực dậy một cơ thể trầm tích hư ảo mông lung mà một thời sáng chói trên nền trời Đông Á vào kỷ nguyên Lý Trần, một thời mà ngỡ chừng PG không còn hiện hữu trong những tháng năm cận đại trước trào lưu vọng ngoại từ tín ngưỡng đến kỷ thuật, từ cách sống đến giao tế, những truyền thống tốt đẹp của cha ông như bị chối bỏ một lạc hậu lỗi thời; Nhưng, những nhân sĩ trí thức đã kịp thời nhận diện cái phù phiếm giả tạo của nền văn minh thiếu chân đứng tâm linh được du nhập từ Tây phương, nhân dân ta hô hào phục hưng nền văn hóa dân tộc, trong đó PG được xem là mầm sống cốt lỏi góp phần xây dựng truyền thống tốt đẹp cho đất nước.

PG đã thật sự trổi dậy sau những tháng năm dài ngũ quên và bị bức bách bởi gia đình trị họ Ngô, chính sách nhuộm đen dân tộc bởi Kitô giáo. Trong sự vội vã chạy đua với thời gian cực ngắn, PGVN đã có những kỳ tích phục hồi sức sống giữa lúc đất nước còn nồng mùi binh biến, một mình đứng giữa các phe phái đầy thao túng, lợi dụng và xách động, một thân một mình chống chọi bảo tố tàn dư của Cần Lao Nhân Vị.

Tránh né những cám dổ bên ngoài, PG đã vạch một kế sách xây dựng quê hương, củng cố nội lực và hoá giải hận thù. Tiếng nói của PG lúc bấy giờ quả có trọng lực và nhiều khó khăn, nhưng 1975 cuộc diện đổi thay, như một vận động viên đang hăng say bổng dưng bị ngưng đấu, quả có choáng váng trong bước đầu, giáo hội bấy giờ đang định hướng để có một sinh hoạt thích hợp với thể chế mới, nhưng xã hội đã thay đổi mọi cơ bản, vì vậy một giáo hội mới ra đời, PG bắt đầu trở lại điểm khởi xuất với một cơ chế nhiều chắp vá thiếu đồng bộ. Trong gần 30 năm, một thời gian gần gấp 3 so với thời gian của GHPGVNTN trước đây tồn tại và hoạt động, thế nhưng hiệu quả và dư âm quá khiêm tốn, thậm chí là số không với một khung sườn chệnh choạng, nhân tài không thiếu nhưng thiếu cách trọng dụng nhân tài, và tự mình dựa quá nhiều vào sự bảo trợ mà không tự nổ lực cởi trói để đóng góp sứ mạng cho dân tộc như quá khứ cha ông đã làm, từ đó nẩy sanh quá nhiều tệ nạn làm đau lòng quần chúng.

Là một Phật tử, không thể nhắm mắt, đành mạo muội nói lên cái hiểu hạn chế của mình, hy vọng nơi đó, một chút sáng kiến hoặc lòng tha thiết được chiếu cố, lòng tin của tín đồ chúng tôi không bị đánh mất, và tiền đồ PG sẽ được vững trụ trong lòng nhân dân VN, đó là lý do bản tham luận Thực trạng PGVN hiện nay ra đời.


MINH MẪN
10/2002










THỰC TRẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM HIỆN NAY


DẪN NHẬP

Trong chiều dài lịch sử dân tộc, P.G.V.N. đã có mặt, hòa nhập và đóng góp cho dân tộc trong nhiều lãnh vực: Chính trị, văn hóa, y học, xã hội, giáo dục...lúc đất nước độc lập,tự trị. Khi quốc gia bị xâm lăng đô hộ, P.G. cũng không quay lưng với đất nước, không tiếp tay cho ngoại bang, cũng không bòn rút tài sản nhân dân để làm giàu cho kho tàng thánh địa viễn vông ở nước ngoài.


QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN

Trong quá khứ, từ ngày lập quốc đến khi đất nước trải qua nhiều cuộc chinh chiến ( từ nội chiến đến ngoại xâm ) dân tộc được thống nhất hiện nay, P.G. và dân tộc như hình với bóng. Có những lúc vận nước tăm tối, P.G. cũng hiu quạnh như đồng hội đồng thuyền, đó là lúc Bắc thuộc và Pháp thuộc, cứ ngỡ P.G. vắng bóng, nhưng tiềm lực P.G. đã bàng bạc trong huyết mạch nhân dân, mãi đến lúc Ngô đình Diệm nắm quyền,kết hợp với thủ đoạn Gia tô hóa dân tộc, buộc lòng P.G. trổi dậy để sinh tồn, từ đó, nói lên tinh thần trách nhiệm đối với đất nước từ 1964 đến 1975 song song việc phục hồi sinh lực mà non thế kỷ suy kiệt dưới sự bành trướng của thực dân Pháp, phát xít Nhật và tập đoàn Catô giáo. Sứ mạng chưa thành, đã bị phân lập do ngoại lực chính trị đương thời. 30/4/1975 cũng là thời điểm đình chỉ sách lược góp phần trách nhiệm với đất nước của P.G.mà trước đây, có kẻ ác ý nghĩ rằng P.G. muốn trở thành một lực lượng chính thay thế lực ảnh hưởng của Catô tại miền Nam V.N.

Sau khi nhà nước C.S.V.N. ổn định an ninh xã hội,qua giai đoạn ban liên lạc phật giáo yêu nước,tổ chức phật giáo do nhà nước thành lập bắt đầu hoạt động, mặc dù một vài khía cạnh có thừa hưởng của Giáo Hội Phật Giáo V.N.Thống Nhất( G.H.P.G.V.N.T.N. ) như nhân sự,cơ sở,nhưng pháp quy,chủ trương, đường hướng hoàn toàn khác biệt tổ chức P.G.trước 1975.Dĩ nhiên gặp không ít trở ngại trong bước đầu điều hành,bởi lẽ vẫn còn lấn cấn tình cảm và pháp lý đối với G.H.P.G.V.N.T.N. mà cán bộ và nhân sự của giáo hội mới, và tăng ni phật tử dẫu sao cũng xuất thân từ G.H.P.G.V.N.T.N.Và một bất lực khá lớn mà hơn 20 năm giáo hội P.G. hiện nay vẫn chưa điều hành được toàn bộ cư sĩ, trong đó có gia đình Phật tử ( G.Đ.P.T. ) ta sẽ bàn sau vấn đề này.
Từ ngày thành lập (1982) đến nay,G.H.P.G.V.N. đã làm được những gì ?

ĐẠO-PHÁP - DÂN TỘC - XÃ HỘi CHỦ NGHĨA

Đó là tiêu đề của tổ chức giáo hội P.G V.N. hiện nay, ta chưa đề cập đến X.H.C.N. hãy thử phân tích hai phạm trù tương liên trong suốt 2000 năm qua mà hiện tại G.H. P.G.V.N. đã kế thừa.
Trước tiên ta hiểu đạo pháp một cách khái quát là mạng mạch,sinh mệnh của P.G. vì bản thể của P.G. là trí tuệ,giác ngộ, giải thoát. Tướng là kinh-luật-luận, và dụng được thề hiện qua văn học, nghệ thuật, chính kiến,y đạo...mọi mặt trong đời sống thường nhật ở một giai tầng cao thượng, thánh thiện; đó là tinh hoa cập nhật và thường tại của phật pháp.
Ta không nhắc lại quá trình đóng góp của P.G.từ ngày lập quốc đến thời Trần vãng – sách sử đã ghi nhận.
Giai đoạn mà quốc gia ổn định, độc lập, hòa bình là lúc P.G. phát tiết tinh hoa ươm mầm sống cho xã hội,khi cây cổ thụ dân tộc bị bảo tố xáo trộn,nhựa sống cũng bị hạn chế cho cây cổ thụ ít sum suê tươi tốt, đó là quy luật tất yêu ! Chiều dài thăng trầm của đất nước đã phản ảnh rõ qua biên sử.

Ta tạm lấy thời điểm Ngô Đình Diệm cướp quyền Bảo Đại để đánh giá sự có mặt của P.G.V.N. đã làm được gì cho đất nước.

Pháp-Nhật đua nhau cướp bóc V.N. Do cán cân lực lượng trên chiến trường và chính trường quốc tế thay đổi, lần lượt Pháp Nhật rút lui,Mỹ vội chen chân thế chổ,tuy gia tộc nhà Ngô được ân sũng sâu đậm từ Pháp,nhưng Mỹ dùng Ngô Đình Diệm như là con bài mới, đưa về nước,khi tổ quốc tạm thời chia đôi, nhà Ngô làm lãnh chúa từ vĩ tuyến 17 trở vào, ra sức củng cố đế vị bằng hậu thuẩn từ Rome và Mỹ.

Với sự cộng tác đắc lực của Ngô Đình Nhu, con người đầy thủ đoạn, nham hiểm, áp dụng thủ thuật của Vatican triệt tiêu dị giáo,xóa tan tín ngưỡng địa phương, nhà Ngô lập ấp chiến lược, đưa đồng bào di cư 1954 đến các đồn điền, các khu trù mật rãi rác từ Trung vào Nam, lên cao nguyên, xuống các đồng bằng, khoanh vùng da beo làm thành trì chống Cọng mà nhà Ngô tuyệt đối tin tưởng, đồng thời là vết dầu loan triển khai đạo chúa mà họ tin rằng trong vòng 30 năm sẽ Giatô hóa V.N. trấn áp tối đa các chùa miền quê, nơi đó các sư chưa kịp trang bị kiến thức trong suốt thời Pháp thuộc.Đồ hộp thừa mứa đổ vào V.N. cũng được gia đình trị nhà Ngô tận dụng làm lợi thế mua chuộc dân nghèo phải theo đạo,tiền của Mỹ viện trợ lọt vào tay các cha cố và con chiên. Địa vị chức quyền cũng là miếng mồi câu kẻ tham quyền háo danh, ngược lại, cán bộ,công chức,binh sĩ, ai không theo đạo sẽ bị trù dập, gặp vô vàn khó khăn,thậm chí bị qui kết là C.S. Người dân cô thế càng khốn đốn nếu không chấp nhận Chúa. Tóm lại, họ tận dụng mọi lúc để mở mang nước Chúa song song với thế quyền, hy vọng con dân thế quyền và con dân giáo quyền sẽ là một như Itali, Philippine...

Vào thời điểm đó, một số người lương, P.G.,Hòa Hảo, Cao đài đã bị khống chế cải đạo khá đông, dù miễn cưỡng rửa tội, nhưng sau thời gian bị tẩy não cũng trở nên cuồng tín và mù quáng, dù tân tòng cũng ngoan đạo không thua đạo dòng nhiều đời. Những tín đồ P.G. có đức tin kiên cố, gặp không ít khó khăn trong đời sống, luôn luôn bị khủng bố đe dọa.

Sau khi thoát ách đô hộ của Pháp, như người bệnh vừa khỏi, P.G.V.N.chỉ có miền Trung tương đối còn sinh lực và có qui củ, từ Nha trang,Bình định trở ra Huế có sức sống, các tỉnh phía Nam còn rời rạc, sau nầy mới có Phật học Lưỡng Xuyên,xuất hiện sau các trường Báo Quốc,Liểu Quán...Công cuộc chấn hưng P.G., một công trạng to lớn được cổ súy bởi bác sĩ Lê Đình Thám và số nhà trí thức đương thời,chư tôn đức tài danh trong lịch sử P.G.V.N. đương đại xuất thân phần lớn từ lò Phật học lúc bấy giờ, công cuộc chấn hưng kéo dài cho đến đất nước bị chia đôi. Miền Trung
được chư tôn đức tổ chức hành chánh trên cơ sở khuôn hội lên đến tỉnh hội, sau khi G.H.P.G.V.N.T.N.ra đời,các vùng được chia theo miền.Huế lúc bấy giờ được xem là cái nôi của P.G.V.N.cũng còn gọi là trung tâm văn hóa P.G.V.N. bởi lẽ đền đài,miếu mạo,lăng tẩm,bia tháp mang nét cổ kính,nghệ thuật rãi đều và nhiều trên đất thần kinh.Các tạp chí,nguyệt san,tuần báo như : Từ bi Âm,Đuốc Tuệ,Từ Quang... đã gióng lên tiếng chuông truyền bá,tạo sự lưu tâm trong giới trí thức ,Và cũng từ các vị trí thức như Mai Thọ Truyền,Đoàn Trung Còn...đã góp phần phục hưng P.G.V.N.không ít, ngọn lửa bé nhỏ từ từ lan tỏa và bùng phát !
Trên đà tiến triển,P.G.V.N. đi vào ổn định thuần túy sinh hoạt tôn giáo và văn hóa thì nạn kỳ thị tôn giáo của nhà Ngô bắt đầu xuất hiện.
Ngô Đình nhu, Trần thị Lệ Xuân, Ngô đình Cẩn,Ngô Đình Thục,đã lạm dụng uy quyền Ngô đinh Diệm, dùng quân đội, công an, cảnh sát trấn áp P.G.nhất là vào dịp lể Phật Đản.Dùng đảng cần lao nhân vị, một tổ chức chính trị hậu thuẩn nhà Ngô để thanh trừng các phần tử đối lập, chống đối chế độ và các giáo phái phi Kitô.

Lợi dụng chiến trường hai bên đang củng cố tổ chức, chính trường miền Nam âm ỉ nữa nạt nữa mỡ, tay chân nhà Ngô ra sức bành trướng đạo, nhuộm đen tòan vùng, nên P.G. trở thành cái gai cần phải nhổ, đây là thái độ chủ quan và khinh bạc thường có của Giatô giáo, nhất là khi giáo quyền và thế quyền đều nằm trong tay gia đình trị. Có một bất lợi cho Ngô triều , tuy là con cờ của Mỹ thế nhưng Nhu Diệm vẫn muốn tách rời ảnh hưởng đó, tinh thần hướng Pháp còn nặng, dẫu sao mẫu quốc Pháp một thời cũng nhiều ân nghĩa ! Bấy giờ miền Nam bốc cao niềm bất mãn về sự kỳ thị tôn giáo, chính trị bất ổn ngấm ngầm, miền Bắc đã tung quân vào Nam, lập mặt trận giải phóng, bộ đội mở đường mòn hai ngã : Trường sơn và biển. Mỹ dự đoán trước mối đe dọa tiềm ẩn đó, đã làm áp lực nhà Ngô phải giải tỏa vụ P.G. Nhu Cẩn và Cần Lao càng ra sức bịt miệng và thủ tiêu tín đồ P.G. bắt bớ, giam cầm các tu sĩ, ngoài mặt vẫn có nhiều cuộc họp thương lượng, vừa đánh vừa đàm, biết chúng không thật tâm giải quyết, chư tôn T.T. đã cùng nhau hợp lực đoàn kết đấu tranh, nhiều thông cáo chung giữa P.G. và chính quyền được ký, nhưng hạ tầng cơ sơ P.G. vẫn bị trấn áp. Lần đầu tiên P.G.V.N. có sự đoàn kết công khai, chặc chẽ và thống nhất để đấu tranh một mất một còn với chế độ ngoại đạo thiểu số làm tay sai cho thực dân Lamã và da trắng thao túng miền Nam V.N. Một ủy ban dược mang tên ủy ban liên phái P.G.
Công cuộc đấu tranh của P.G.V.N. không có hậu thuẩn và chỉ đạo từ bên ngoài, thuần túy xuất phát từ nhân dân V.N. Nhờ sự trung thực của báo chí đã giúp nước ngoài hiểu được sự thật mà bà Trần thị Lệ Xuân, vợ Ngô Đình Nhu đã đi nước ngoài giải độc và xuyên tạc vụ P.G.Do đó ông Uthant tổng thư ký liên hiệp quốc dã phải lên tiếng.Mục đích cuộc đấu tranh đòi hỏi quyền tự do và bình đẳng tôn giáo, phủ nhận đạo dụ số 10, tàn dư của Pháp, ghép P.G. vào khuôn khổ một hội đoàn. P.G.V.N. không đòi hỏi thay đổi thể chế như sự kiện 1/11/1963 do quân đội bất mãn đứng ra lật đổ, vì vậy sau khi hội đồng quân nhân cách mạng phế quyền nhà Ngô, Dương văn Minh lãnh dạo,liên tục xẩy ra đảo chánh để cuối cùng một chế độ độc tài khác ra đời,P.G. vẫn tiếp tục là nạn nhân của sự trả thù do tay chân Diệm Nhu còn sót lại.


GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT RA ĐỜI

- Sau 1963 nhà Ngô sụp đổ, Diệm Nhu chết, Ngô đình Cẩn tử hình, Trần thị Lệ Xuân bôn tẩu, Ngô Đình Thục ẩn náo ở Rome Gia tô giáo tạm thời im lặng nhưng vẫn còn ảnh hưởng rất lớn với các chính quyền kế tiếp. 1964 các tông phái sơn môn được sự vận động đã ký tên tham gia một tổ chức mới với danh xưng Giáo Hội Phật Giáo V.N. Thống Nhất (G.H.P.G.V.N.T.N. ) một cuộc vận động làm việc ngày đêm đã cho ra đời một giáo hội thống nhất các hệ phái Bắc Nam tông Một tổ chức P.G. đầu tiên có tầm vóc đã có mặt sau hàng thế kỷ bị lãng quên bởi trào lưu vọng ngoại ( của một số người hãnh diện sống bằng bơ sữa và thêm cái mark tín ngưỡng Tây phương, mode thời thượng cứ ngở mình văn minh tiến bộ so với đại bộ phận quần chúng đương thời ) G.H.P.G.V.N.T.N. đã có một hiến chương, không những có pháp nhân, ngay cả là thành viên của P.G. thế giới, từng bước uy tín P.G.V.N. đã đứng vững và tạo sự kính nể đối với bạn bè thế giới.
Chủ trương của G.H.P.G.V.N.T.N. là đào tạo tăng tài,hoằng pháp lợi sanh, nâng cao kiến thức phật học cho tín đồ, thêm vào đó, có trách nhiệm đối với dân tộc đang chìm trong bom đạn, P.G. phải đấu tranh cho một đất nước hòa bình và một xã hội công minh theo khuynh hướng hóa giải, vì thời gian quá ngắn,một giáo hội non trẻ phải đối đầu quá nhiều vấn đề cần phải làm, đã bị các thế lực chính trị phân hóa và lái chệch hướng.
Về nhân sự lúc bấy giờ, hàng giáo phẩm trung ương, phần lớn chư tôn đức có học vị,thực tài và có khả năng lãnh đạo, nhất là đạo hạnh mô phạm như đức cố tăng thống H.T. Thich Tịnh Khiết, H.T. Thích Giác Nhiên... Hàng T.T. năng nổ nhiệt tình, vô tư,mẫu mực và nguyên tắc;Một tăng tài như chư H.T. T. Huyền Quang, T.Quảng Độ.T. Thiện Minh, T. Trí Quang,T. Thiện Hoa, T. Thiện Hòa...lấy đâu ra để điều hành giáo hội hiện nay?
Nhờ uy tín, phẩm hạnh, tài năng đó mà các cấp địa phương đã
tuân chỉ một cách nghiêm túc,phật sự trôi chảy và tiến bộ thấy
rõ từ trung ương đến cấp huyện,xã,khuôn hội.Một tổ chức giáo hội cấp quốc gia, vừa khai sinh, tự mình vươn lên, củng cố tổ chức nội bộ, còn phải xây dựng quê hương bằng chính sách hóa giải hận thù. Thực ra trên mặt trận đấu tranh ý thức hệ gay gắt, một mất một còn giữa hai khối C.S. và tư bản lúc bấy giờ. Tiếng nói của P.G.V.N. như tiếng vọng giữa sa mạc, chủ trương hóa giải hận thù khi hai bên còn đấm đá chí chóe nó mang tính lãng mạng mơ mộng hơn là ý thức chính trị, nhưng dẫu sao cũng còn nói lên nổi ưu tư và trách nhiệm đối với dân tộc. Tuy chưa đạt kết quả và có lúc bị lạm dụng, tiếng nói ấy đã đổ một ít máu xương trên quê hương cho lý tưởng mình và được một bộ phận nào đó bên ngoài lắng nghe,nghiên cứu,trong lúc đó, Giatô giáo suốt thời gian dài đã im lặng một cách khó hiểu,ngược lại bòn rút tài sản làm giàu cho giáo hội, thậm chí Vatican còn nhúng tay vào chiến tranh để thủ lợi !

Việc ý thức trách nhiệm đối với dân tộc không phải mới có từ G.H.P.G.V.N.T.N. mà đã có từ ngàn xưa, cũng chính việc năng nổ nầy có người ngại rằng P.G. muốn thay Giatô giáo chi phối chính trị tại miền Nam V.N.đó là một ý tưởng đố kỵ ác tâm sợ tôn giáo mình văng khỏi vũ đài chính trị,P.G. hoàn toàn không có mưu đồ đó và không tham danh thủ lợi.Song song vời hoạt động đó,P.G. cũng có những đóng góp văn hóa,văn học có tầm cở do H.T. Nhất Hạnh, Tuệ Sĩ, Lê Mạnh Thát,H.T. Trí Tịnh, cố H.T. T. Thiên Ân, H.T. T.Thiện Hòa.H.T. T.Minh Châu...
Bộ phận giáo dục,P.G. cũng đã có đại học Vạn Hạnh và trung học Bồ Đề các tỉnh đồng hành với công tác từ thiện xã hội. Khi P.G.V.N.thoát khỏi vùng kềm tỏa tăm tối suốt thời Pháp thuộc và Ngô triều, do nổ lực cá nhân với sự lãnh đạo của chư tôn đức đã tạo được cảm tình với bên ngoài,nếu có sự tài trợ của mạnh thường quân nào đó, đó là việc tất yếu, vì vậy quỷ tài trợ châu Á đến với P.G. là việc tự nguyện, nếu có dụng ý là từ phía tài trợ chứ không từ kẻ được tài trợ. Trong quá trinh chiều dài giáo sử P.G.V.N. nói riêng và P.G. thế giới nói chung, đạo Phật chưa hề phản lại dân tộc vì quyền lợi hay vì thọ ân kẻ khác,P.G. có quyền hảnh diện không để lại vết nhơ lịch sử trong vấn đề nầy.Một tu sĩ của tôn giáo nào đó được đào tạo và du học, ngoài ngân khoản do gia đình chu cấp nếu có,giáo hội phải đài thọ, còn P.G.không hề có một tài khoản để bao trọn gói cho tu sĩ, một tăng tài được hoàn thiện do nổ lực cá nhân, sự giúp đở của bá tánh, hoặc tài trợ học bổng của tổ chức nào đó, vì vậy trước 1975,số lượng tu sĩ du học rất hạn chế vì khó khăn về tài chánh; Tu sĩ nhận tài trợ cho việc học không là vấn đề được đặt nghi ngại mà vấn đề được đặt ra là P.G. do những tu sĩ đó, sau nầy lãnh đạo có đi ngược lại quyền lợi dân tộc hay không ! Trí thúc thế học đối với P.G. có tính khế cơ tạm thời, cập nhật theo thời đại chứ không là yếu tố quyết định uy tín và sự tồn tại của P.G. Cho nên chúng không là vấn đề ưu tiên một. Cốt lỏi của đạo Phật là trí tuệ do giới đức tu chứng, hạnh đức là thân giáo, Giới Định Tuệ là cánh hoa ngát hương ngược gió lan tỏa trong nhân gian, vì vậy P.G. không cần so sánh số lượng tu sĩ trí thức với các tôn giáo khác mà tri thức là chất liệu sống của người con Phật.( cám ơn ông Nguyễn Văn Trung đã thầm mừng cho P.G.V.N. nếu mở lại đại học Vạn Hạnh sẽ không thiếu giáo sư như trước 1975 ) Trong giáo sử đã minh chứng, ngoài lục tổ Huệ Năng vẫn có những H.T. dốt đặc cán mai, thế mà vẫn được quần chúng ngưỡng mộ tôn kính ngài qua đạo phong và tâm chứng.Tôi còn nhớ 1980 tại Mũi Né, H.T. trụ trì chùa Linh Long bị bắt vì chứa người vượt biên, địa phương lập tòa án nhân dân kết tội thầy để đoạt chùa, không người dân nào nở tâm tố thầy, họ đã khóc suốt vì thầy.Thầy sống chất phát chơn tu, tuy không biết chữ, nhưng đạo hạnh thật tuyệt vời. Thế đấy, P.G.V.N.tồn tại trong lòng dân không do quyền uy thế lực,trí thức, mà suốt bao thế kỷ chìm trong tăm tối, tu sĩ đã gắn bó với dân tộc,sống vì dân và cũng là điểm tựa tâm hồn cho dân quê nghèo khổ.

Khi G.H.P.G.V.N.T.N. ra đời, các chùa quê cũng được sống lại theo một nề nếp và nghi thức thống nhất, tu sĩ được trang bị một kiến thức tối thiểu, giáo hội đã đào tạo các lớp cán bộ hoằng pháp, hành chánh, tổ chức đưa về các tỉnh, quận lỵ xa xôi như đoàn Phú Lâu Na do cố H.T. T.Thiện Minh lãnh đạo,Thanh niên phụng sự xã hội do H.T. Nhất Hạnh sáng lập. Các tổ chức thanh thiếu niên như G.Đ.P.T. mà tiền thân là Gia Đình Phật Hóa Phổ được phát triển mạnh, giáo dục cho thanh thiếu niên một lý tưởng sống, có phong cách mẫu mực đạo đức,
Phải công nhận một cách khách quan, sau khi G.H.P.G.V.N.T.N. hình thành, trong chín năm liên tục hoạt động, giáo hội là mãnh đất phì nhiêu hội tụ nhiều danh tăng và nhân tài trong nhiều lãnh vực, ví dụ: đại học Vạnh Hạnh nổi bậc hẳn các bộ mặt trẻ lừng danh như Tuệ Sĩ, Lê Mạnh Thát,Phạm công Thiện, Bùi Giáng, Trí Hải, Phạm Thiên Thư...Cấp lãnh đạo lưỡng viện như quý H.T. Đức Nhuận, Trí Quang, Quảng Độ,Huyền Quang, Thiện Minh,Thiện Hoa...Bất cứ tăng tài có khả năng nào đều tự do phát triển và được lắng nghe. P.G. bấy giờ lan tỏa từ giới trí thức đến tiểu thương lao động, quân dân chính đều có đại diện phật tử, trong không khí đoàn kết,hòa hợp,đạo vị và nhất quán. Mỗi người phụ trách một chức năng, không kiêm nhiệm, mỗi chức năng thích hợp với sở trường của mỗi vị, vì thế công việc luôn trôi chảy. Cơ cấu hành chánh phân định rõ ràng,gọn nhẹ trong từng bộ phận, từng tổng vụ, không dẫm chân nhau; cán sự được huấn luyện,bổ cử về địa phương,được giào hội tại chổ tiếp đón và chấp hành nghiêm chỉnh; Không kỳ thị, băng nhóm, phe đảng để cản trở công việc chung. Nếu không có những năm tháng đấu tranh liên tục để bị phân hóa, có lẽ P.G.V.N. lúc bấy giờ là một giáo hội năng động và hiệu quả nhất trong các giáo hội P.G.của khu vực châu Á.

Trong thời kỳ đấu tranh gay cấn nhất,hàng giáo phẩm trung ương đã nghĩ đến việc tách hai giáo hội để thích nghi và tiện việc tranh đấu, một thông tư do Viện Hóa Đạo phổ biến, H.T. Huyền Quang ký tên lúc bấy giờ, ngầm giải thích cho tín đồ hiểu rằng – sự rạn nứt của vỏ cây biểu thị cây đang tăng trưởng, nghĩa là muốn đạt hiệu quả trong việc đấu tranh không thể giữ nguyên một khối, dể bị thương tổn, là điểm duy nhất cho các thế lực chỉa vào, do vậy phân đôi G.H.P.G.V.N.T.N. là một chiến lược ! Nhưng dẫu sao, quý H.T. T.T. vẫn là người thuần phát chân tu làm sao tránh khỏi mưu ma chước quỷ của thế lực chính trị bằng mọi cách lợi dụng và phân hóa hòng làm suy giảm tiềm lực G.H.P.G.V.N.T.N. lúc bấy giờ, kết quả việc tách đôi giáo hội trở thành một thực thể đầy thất bại !
Nếu P.G. là tôn giáo có xu hướng lợi dụng, cơ hội,sau khi Nhu Diệm mất, các thể chế kế tục, kể cả Mỹ, cũng muốn lấy lòng P.G. dùng P.G. như một lực lượng hậu thuẩn cho chính trường miền Nam,đó là lợi điểm và thời cơ tốt nhất để P.G. củng cố nội bộ và bành trướng tôn giáo, nhưng cấp lãnh đạo P.G.không thể vì tư lợi đó, quây lưng lại quyền lợi dân tộc, thậm chí bắt tay với thế lực bên ngoài như Giatô giáo đã làm tại V.N. và trên thế giới.Trong khi đó,Hội Đồng Giám Mục V.N.suốt thời Nhu Diệm Thiệu Kỳ chưa hề có tiếng nói bênh vực dân tộc, Vatican ngược lại còn đầu tư tài nguyên vũ khí với tập đoàn kinh doanh chiến tranh để nhuộm đen V.N, nghĩa là cái im lặng khó hiểu đó đã đồng hóa với quyền lợi kinh tế và sự ưu đãi truyền bá tín ngưỡng, P.G. không biết lợi dụng thời cơ đó để thủ lợi !

Từ 1964 đến 1975, 11 năm thuận lợi cho P.G.V.N. cuối cùng vẫn là số không, nhưng uy tín và pháp nhân vẫn còn lưu dấu, quan trọng nhất, người phật từ V.N.tự hảnh diện và lòng thanh thảng đã thủy chung cùng dân tộc, không lưu vết đen trong sử sách !


VẤN ĐỀ CỦA GHPGVNTN

– Sau 1975 trong buổi giao thời, lãnh đạo miền Bắc đang hân hoan thắng lợi, nhân dân miền Nam hoang man,hổn loạn, kẻ vượt biên, người tù tội, các tôn giáo đều thúc thủ lắng nghe chính sách an dân của chính quyền Cách Mạng lâm thời hay Mặt Trận Giải Phóng do ủy ban quân quản điều hành, mỗi tôn giáo đều có lời trấn an, riêng P.G.được mặt trận khích lệ:..” P.G. là điểm son của dân tộc...” trong giới lãnh đạo P.G.có những vị như H.T. Huyền Quang,H.T. Quảng Độ, H.T. Tâm Châu...quá khứ đã là nạn nhân của C.S. nên những lời trấn an đó chưa đủ để an lòng P.G. Rồi H.T. Minh Nguyệt, Thiện Hào từ rừng về vận động thống nhất P.G.do hậu thuẩn của mặt trận và chính sách của ban tôn giáo chính phủ, kể cả H.T. Trí Hải từ Bắc vào, tuy là pháp lữ sư môn với cấp lãnh đạo G.H.P.G.V.N.T.N. cũng khó ngồi nói chuyện chung với nhau.
Nhiều lần chính quyền mời họp và làm áp lực,viện Hóa Đạo và Viện Tăng Thống vẫn chưa nhất trí việc thốnh nhất, bởi lẽ G.H.P.G.V.N.T.N.chưa nắm được mô hình và quy chế thống nhất P.G.Bắc Nam do nhà nước chỉ đạo. Trước đó,1977 hội đồng lưỡng viện đã cấp tốc tổ chức đại hội kỳ 7 tại Ấn Quang để chỉnh đốn nhân sự. Tại các tỉnh, do áp lực của chính quyền, giáo hội các cấp như tê liệt, một số cán bộ giáo hội bị bắt và bị khủng bố tinh thần để phải chấp nhận một giáo hội mới.Đó là thời kỳ chuyển tiếp do ban liên lạc P.G. yêu nước vận động.

Đến nay, một số tu sĩ vẫn còn mù mờ đặt vấn đề: P.G. vẫn là P.G.mỗi giai đoạn có một danh xưng thích nghi với hiện thực, tại sao cố chấp duy trì danh xưng G.H.P.G.V.N.T.N.?
Xin thưa,đây là vấn đề pháp lý chứ không phải là danh xưng ! Nếu 1975,nhà nước đối xử tôn giáo như bây giờ, hay ít ra biết lắng nghe và tôn trọng nguyện vọng của dân,cùng nhau tìm hướng giải quyết những gút mắc, có lẽ mọi sự đều tốt đẹp,nhưng kiêu binh là thói thường của kẻ chiến thắng, Mỹ Pháp còn cút xéo nghĩa gì mấy sư,do vậy chỉ thị chứ không nói chuyện phải quấy, bắt buộc chấp hành không cần thương lượng.Hậu quả thật trầm trọng, toàn bộ cấp lãnh đạo cương nghị của G.H.P.G.V.N.T.N. đều đi tù, các cán bộ nhân sự như Thông Huệ,Thanh Thế, Minh Mẫn,Không Tánh...tại Sài Gòn đều vào khám,các tỉnh lẽ lần lượt bị an trí nếu không thay đổi thái độ.
Khách quan nhận xét, các cụ nhà ta quá cứng, không uyển chuyển như Giatô giáo, đến nay Gia tô giáo vẫn duy trì được tổ chức và giáo quyền của mình, phải nói thêm, họ có hậu thuẩn tại Rome và quốc tế nên cũng khó mà sứt mẽ, tan vỡ nhu GHPGVNTN
Song song việc giam giữ đó, số còn lại bị áp lực, mua chuộc, cuối cùng miễn cưỡng tham gia giáo hội P.G.V.N. do nhà nước thành lập. Các vị có uy tín như H.T. Trí Thủ, H.T. Trí Tịnh,H.T. Minh Châu, H.T. Thiện Siêu...đều được duy trì ở vị thế tương xứng; các ngài, với tư cách thành viên G.H.P.G.V.N.T.N.tham gia giáo hội mới kể cả H.T. Trí Thủ lúc bấy giờ là viện trưởng viện Hóa đạo,không có quyền tuyên bố khai tử G.H.P.G.V.N.T.N. để gia nhập giáo hội mới, chỉ gia nhập với tư cách cá nhân.
Hiện nay,trong nước G.H.P.G.V.N.T.N. chả là cái gì ngoài danh xưng còn vang vọng, mọi hoạt động đều tê liệt. Nếu G.H.P.G.V.N.T.N. không còn giá trị nữa thì tại sao vẫn có kẻ muốn đứng ra hòa giải để mời nhị vị H.T. tham gia giáo hội mới ? Mấy vấn đề cần lưu ý:
- Pháp nhân – vẫn còn là một tổ chức P.G.V.N. trên trường quốc tế.
- Một số cán bộ của giáo hội mới vẫn là pháp lữ,đồng môn,huynh đệ của chư tôn H.T. giáo phẩm giáo hội cũ
- Cơ sở G.H.P.G.V.N.T.N. trong nước không còn, nhưng phần lớn
Tu sĩ và phật tử vẫn dành nhiều cảm tình và ủng hộ ngầm, cấp lãnh đạo tuy chỉ còn nhị vị H.T. đại diện lưỡng viện, nhưng uy tín và cơ sở hạ tầng tại hải ngoại vẫn giữ được tầm vóc, dược chính giới quốc tế biết đến.
- Lực lượng tăng tín đồ G.H.P.G.V.N.T.N. tại nước ngoài là thành
phần có học vị, có năng lực, ảnh hưởng lớn .
- Sau khi C.S. Liên Sô sụp đổ, từ Liên Sô về, Nguyễn văn Linh đã họp với bộ chính trị và chính phủ tìm thế đứng ở lòng dân. Liên sô và Trung Quốc không còn là điểm tựa quốc tế nữa, P.G. chiếm hơn 80% tại V.N.một tôn giáo biết nghĩ đến quyền lợi dân tộc, từng đóng góp cho đất nước một thời gian dài độc lập phú cường an lạc. P.G.V.N. không bị ràng buộc với P.G. quốc tế, không cực đoan cuồng tín. P.G. là dung môi hòa hợp mọi dị biệt tôn giáo và tập quán, vì vậy P.G. là cơ sở tốt nhất làm nền tảng duy trì xã hội và phát triển đất nước.
- Nếu thống nhất toàn bộ P.G.V.N. hiện nay sẽ là lợi thế cho đất nước.
Về phía nhà nước V.N. hiện nay, thật đáng tiếc đã bỏ lở cơ hội đoàn kết các tổ chức và giáo phái P.G. Tổ chức P.G.V.N. hiện hữu chỉ thống nhất hành chánh nhưng không thống nhất tình cảm và ý chí. Một số giáo phái trước 1975 rút khỏi G.H.P.G.V.N.T.N. nhưng vẫn nương P.G.T.N. nếu 1980 nhà nước tế nhị và tôn trọng thì G.H.P.G.V.N.T.N. đã vui vẻ tham gia G.H.P.G.V.N. hiện nay và các giáo phái khác cũng sẽ đồng lòng nhất trí trong một tổ chức nhất quán. Một bên mặc cảm tự tôn của thế quyền, một bên mặc cảm tự ti của tôn giáo đã kéo dài sự rạn nứt mà bên ngoài như chừng không đáng kể, nhưng thực lực hao mòn cho dân tộc là việc nhạy cảm và tế nhị.
Cái lấn cấn duy nhất của nhà nước V.N. hiện nay đối với G.H.P.G.V.N.T.N. là chuyện lở dĩ đã rồi, không thể hạ mình phân bua qua trung gian của giáo hội hiện tại hoặc nhân sự của giáo hội P.G.V.N.T.N. như H.T. Quảng Liên, T.T. Thông Bửu...để giàn xếp hòa giải là chuyện không thể chấp nhận, bởi lẽ vấn đề là giữa nhà nước hiện tại và giáo hội P.G. quá khứ qua quy chế pháp nhân, hai giáo hội cũ và mới không có vấn đề để giải quyết nhau,( thầy Quảng Liên và thầy Thông Bửu không đủ tư cách để hàn gắn vấn đề ), và một trở ngại không kém phần tế nhị, thật lòng mà nói, giới lãnh đạo P.G. hiện nay rất ngại chư tôn đức như H.T Quảng Độ,H.T. Huyền Quang,nếu hai giáo hội sáp nhập với nhau, ai sẽ lãnh đạo ai ? đó là ái ngại về phía giáo hội do nhà nước bảo trợ, về phía G.H.P.G.V.N.T.N. sẽ đặt vấn đề sáp nhập như thế nào ? quyền hạn tối đa của cơ chế P.G. hiện nay tới đâu, giáo hội có quyền quyết định mọi vấn đề trong nội bộ mà không phải xin phép hoặc có sự đồng ý của nhà nước và đảng?Mọi hoạt động độc lập của P.G. như trước 1975 liệu chính phủ và đảng có chấp nhận ? dĩ nhiên giáo hội không thểvượt quá giới hạn cho phép làm tổn thương dân tộc.Nghĩa là G.H.P.G.V.N.T.N.chưa có một thông tin tối thiểu để có thể quyết định việc giải thể giáo hội cũ,gia nhập giáo hội mới lúc bấy giờ ( vả lại từ 1975 đến 1980 giáo hội mới chưa định hình rõ nét, một dự án chung chung làm sao G.H.P.G.V.N.T.N.có thể tự mình quyết định giải thể. Lãnh đạo một tôn giáo lớn như P.G.chư tôn đức không thể nhắm mắt quyết định liều để đưa hàng triệu tín đồ và vận mệnh P.G. đi vào con đường mà mình chưa nắm rõ sẽ về đâu,nhà nước phải hiểu và cảm thông,ngược lại dùng quyền lực loại trừ G.H.P.G.V.N.T.N. ra ngoài vòng pháp luật mà không hề có một văn bản giải thể là một việc làm sai nguyên tắc, chỉ có kết quả trên mặt quyền lực mà phản tác dụng trên khía cạnh pháp lý và tâm lý, đó là sai lầm trong bước đầu giải quyết để dẫn đến lấn cấn kéo dài gần 30 năm, ăn vào không được, nhả ra không xong ! )
Và nếu chính quyền hiện tại thực sự vì quyền lợi nhân dân và tiền đồ dân tộc, cần sự đoàn kết toàn dân để phát triển và cạnh tranh,mà P.G là thành phần cốt lỏi của dân tộc, nên giải quyết vụ P.G.V.N.T.N.theo khuynh hướng vừa lòng đôi bên ! hãy lắng nghe và tiếp thu ý kiến mọi chiều để có phương án thích hợp hòa giải dân tộc mà chính quyền đã nêu...hòa giải các tôn giáo, giáo phái dị biệt trong xã hội để đồng lòng xây dựng quê hương chứ không chỉ hòa giải giữa hai thành phần của chế độ cũ và mới.
Người Việt ta bản chất hiền hòa,dể tha thứ, nhưng lòng tự ái quá lớn, dàn xếp một việc nhỏ giữa lối xóm đến việc lớn của quốc gia đều khó dể dàng thỏa mái. Nếu nhà nhước không cảm thấy dể chịu để chủ động việc giải tỏa mắc mứu đó ( G.H.P.G.V.N.T.N. )tu sĩ P.G. cũng không bận tâm đến việc nghiệt ngã ấy, chư tôn H.T. lãnh đạo G.H.P.G.V.N.T.N. cũng không khó khăn gì để tạo sự đoàn kết dân tộc, xây dựng đất nước phồn vinh và nhất là phát tiết tinh hoa cung ứng cho tâm linh và đặc tính cho dân tộc. Chúng ta không đặt vấn đề quá khứ lên bàn mổ hay gắn một y liệu lên vết thương càng tạo thêm một ấn tượng mà không bên nào dể quên,vậy xin mạo muội đề nghị:
-Về phía chính quyền V.N. vào các dịp lể lớn của dân tộc và của P.G.nên cử cán bộ trung ương đến thăm viếng, vấn an chư tôn đức của G.H.P.G.V.N.T.N. dù các ngài còn bị quản thúc tại gia, tham vấn ý kiến các ngài trong lĩnh vực liên quan đến tôn giáo và dân tộc. Lắng nghe nguyện vọng của các ngài. Hãy xem các ngài như bậc cha anh để xóa bớt thành kiến. Tâm sự một cách chân tình như gia đình.
- Về phía G.H.P.G.V.N.T.N.cấp lãnh đạo uy tín tại V.N. chỉ còn hai H.T. Huyền Quan và H.T. Quảng Độ, các ngài không hề câu mâu thắc mắc, vì tâm từ, tánh hỷ xã không cho phép các ngài làm nặng lòng một chuyện mang tính giai đoạn và vô thường, nếu nhà nước biết lắng nghe và biết đối thoại, tôn trọng, thiết nghĩ từ đó sự cảm thông sẽ nẩy mầm. Dẫu sao bây giơ, tuy là mark X.H.C.N. nhưng sự thay da đổi thịt từng ngày trên quê hương và đời sống nhân dân từng bước cải thiện đã nói lên tinh thần cải tiến của một chủ nghĩa trước 1985 chủ trương tuyệt đối vô sản.

Người P.G. hiểu rằng nhà nước gặp không ít khó khăn từ bao cấp chuyển qua kinh tế thị trường, cởi bỏ từng bước ràng buộc là điều tất yếu để ổn định an ninh xã hội, đời sống kinh tế đang gặp khó khăn và xuống cấp do nhiều nguyên nhân, mặc dù chính phủ cố gắng cải thiện chính sách đầu tư và ngoại thương, xoá đói giảm nghèo và nâng cấp tiện nghi đời sống,tuy chưa được như Cuba trong lãnh vực y tế và học đường, nhưng cũng giải tỏa được cơ chế ràng buộc vô lý đối với bệnh nhân và học sinh trước 1985. Nhà nước đang nâng cấp hạ tầng cơ sở để kịp thích nghi kinh tế, giao thương, đầu tư với quốc tế. Trong thời gian đổi mới vừa qua đã được quốc tế công nhận có tiến bộ,dỉ nhiên một số tiêu cực vẫn tồn tại, đó là việc tất yếu,
Chư tôn H.T. lãnh đạo G.H.P.G.V.N.T.N.không thể ngẫu nhiên tự đứng ra làm hòa hay xin hòa với nhà nước, vì các ngài vẫn chưa là công dân chính thức (còn bị quản chế). Các ngài cũng không là thành phần đáng sợ, lạm dụng uy tín để làm hại dân tộc. Nếu thuận lợi từ phía nhà nước tạo sự cảm thông, các ngài sẽ hòa hợp xây dựng một P.G.V.N. thuần túy để đóng góp tâm linh cho dân tộc được phong phú về nghệ thuật,đạo đức, ý thức dân tộc,ổn định xã hội, và một đất nước thịnh vượng. Nếu cứ phải bị hạn chế mọi mặt như hiện nay thì các ngài chỉ chăm lo tâm linh cá nhân và soạn dịch kinh điển, sẽ mai một một nhân tài dân tộc. Biết rằng dẫu 100 người như vậy cũng không cần thiết cho nhà nước hiện nay, nhưng nếu biết trọng dụng một người có nhân cách đạo đức,thực tài như quý ngài, dẫu sao cũng là một nguồn lợi vô tận ( biết trọng dụng hiền nhân ) cho dân tộc huống nữa không chỉ là vấn đề lợi hại mà là tinh thần hòa hợp đoàn kết giữa nhà nước và nhân dân, tạo sự đoàn kết trên dưới một lòng mà hiện nay nhà nước đang bị sức ép và sự phá hoại từ mọi phía. Một vết thương nhỏ, được giai tỏa cho cơ thể khỏe mạnh vẫn tốt hơn là mang vào cơ thể !

Hơn ai hết, qua kinh nghiệm máu xương giải phóng đất nước khỏi ách thống trị ngoại bang, chính quyền C.S. biết rõ thực lực của sự đoàn kết toàn dân. Ngày nay, kể từ kinh tế thị trường mở cửa, giải thể bao cấp, hạn chế cửa quyền quan liêu, áp dụng luật pháp trong đời sống, sinh khí dể chịu hơn, do vậy đời sống nhân dân thoải mái, không ai nghĩ đến chuyện vượt biên nữa,kể cả những động thái vô ích, ngoại trừ những kẻ vì lợi ích cá nhân, tạo nhiều tệ nạn xã hội. Phải chi từ 1975 sự cởi mở hòa hợp được thực hiện sớm hơn, có lẽ đất nước ta không mất nhiều nhân tài, không sứt mẻ tình đoàn kết, không thất thoát nhiều lợi ích, không thua kém các nước trong khu vực, nhân dân ta không phải điêu đứng hoảng loạn trong 10 năm liền. Dân tộc ta vốn hiếu hòa, không nặng đầu óc kỳ thị,không quan trọng chính kiến chế độ chính trị, miễn người dân sinh sống thoải mái,tự do làm ăn, đi lại, cư trú và một số quyền cơ bản, không bị o ép quá đáng và được thụ hưởng do công sức đem lại, thế là đủ. Tư bản hay C.S. không thành vấn đề, tuy X.H.C.N. nhưng chỉ còn là cái mark, V.N. cũng như Trung quốc có thể chủ nghĩa hiện nay chỉ còn là trade mark.

Vì sự phát triển và đoàn kết dân tộc, nhà nước nên đi trước một bước tìm hiểu nguyện vọng của giới lãnh đạo G.H.P.G.V.N.T.N. và tăng tín đồ của họ,họ không phải tội phạm chiến tranh, không là kẻ thù dân tộc, không nợ máu nhân dân, không làm tay sai cho ngoại bang, không là mầm mống đe dọa an ninh đất nước, hãy cùng nhau thảo luận bàng bạc tìm cách giải tỏa bế tắc hiện nay, thiển nghĩ chư tôn đức cũng đã về chiều, tuổi cao, sức yếu, tâm hồn muốn được thanh thảng trước khi buông xuôi, không muốn mang theo niềm ân hận những phật sự còn dang dở,không muốn phiền muộn chuyện không dính dáng đến đạo đức tâm linh, do vậy các ngài cũng không cố chấp, cực đoan để khai thông một bế tắc không đáng có. Đừng ai nghĩ rằng chuyện nội bộ tôn giáo không quan trọng bằng chuyện bang giao quốc tế, việc gia đình hay việc xã hội đều có một cái giá nhất định, không thể xem thường và thiếu tế nhị hoặc bỏ qua.Tất cả bỏ lại sau lưng, hãy thể hiện thiện chí, đừng vì bất cứ mặc cảm nào.Giải quyết được mắc mướu P.G. hiện nay là ta đã ổn định tâm lý và niềm tin phần lớn của nhân dân ta đối với chính quyền.Cấp lãnh đạo đất nước nhiều tự ái chả giúp ích gì cho nhân dân, ai cũng vấp phải sai lầm, biết sửa sai là tốt.Mọi lợn cợn trong xã hội là trách nhiệm của nhà nước.
Thành phần trí thức nhân tài của đất nước đang nằm ở nước ngoài, đa phần họ có tôn giáo, giải quyết êm đẹp tôn giáo của họ là tiếp nhận được tài năng của họ.
- G.H.P.G.V.N.T.N. không phải là C.S hay Tư bản như sự chụp mủ của các phe phái.
- G.H.P.G.V.N.T.N. đặt quyền lợi dân tộc lên trên mọi chủ nghĩa.
- G.H.P.G.V.N.T.N. chú trọng an sinh xã hội và đạo đức con người
- G.H.P.G.V.N.T.N. không chủ đích trở thành một lực lượng chính của dân tộc.
- Quá khứ cho thấy sau khi hoàn thành nghĩa vụ đối với dân tộc và đất nước về mặt ổn định đời sống xã hội,P.G. luôn rút khỏi chính trường và quyền lợi.
- P.G. không lợi dụng thời cơ để bành trướng quyền lực tôn giáo,không lòn cúi tìm sự dể dải,chổ an thân cho tôn giáo mình.
Đó là những yếu tố để bất cứ chế độ chính trị nào đương quyền không thể e ngại lo sợ hoặc lợi dụng P.G. và nhất là P.G. không tùy thuộc vào cơ cấu tổ chức quốc tế; P.G.V.N. là tín ngưỡng thuần túy của nhân dân V.N.
Nhà nước xử dụng P.G. như một tiềm lực phát triển văn hóa đặc thù cho V.N. xây dựng đoàn kết ổn định xã hội và là dung môi hòa hợp mọi dị biệt,thì đó là chính sách đúng hướng; Nhưng, cái Nhưng quá lớn để ta thấy hiện nay vẫn chưa có một đóng góp khả dĩ xứng đáng nào từ P.G. cho đất nước kể từ 1982 G.H.P.G.V.N. được sự bảo trợ của nhà nước ra đời. Vậy G.H.P.G.V.N. có mặt hôm nay, nhà nước được gì ? Dân tộc lợi gì? Mà trong buổi giao thời 1975 đã chấm dứt chủ trương của G.H.P.G.V.N.T.N.làm trung gian hóa giải các thế lực đối kháng, đồng thời xây dựng một xã hội bình đẳng theo học thuyết P.G.


THỰC TRẠNG PGVN HIỆN NAY

- Tôn giáo là một thành phần trong xã hội, dù tôn giáo mang tính thần quyền như Giatô giáo hay nhân bản như P.G. cũng đều ảnh hưởng ít nhiều đến đời sống xã hội.
Trong quá khứ Trung quốc dùng Khổng giáo để ổn định xã hội theo giai cấp và giáo dục nhân dân qua tiêu chuẩn tam cương,ngũ thường, đó là căn bản mà các thể chế quân chủ phong kiến lợi dụng để vững trị và duy trì đế chế.Thế kỷ thứ 5 Constantine cũng lợi dụng Kitô giáo để củng cố địa vị và bành trướng quyền lực thống trị các nước, sau khi thoát khỏi sự lợi dụng đó,Kitô giáo trở thành tổ chức chính trị mang màu sắc tín ngưỡng cực đoan, luôn bắt tay song hành với các đế quốc xâm lăng mở mang nước chúa.
Riêng P.G.các nước châu Á mà một thời ảnh hưởng sâu rộng trong các từng lớp nhân dân, tuy được vua chúa nâng đở, xử dụng P.G. như phương tiện giáo dục dân, thống nhất ý chí dân tộc,nhưng P.G vẫn không là công cụ xâm lăng của chế độ đó. Các tăng lữ theo thương thuyền đi khắp vùng,mục đích truyền bá chứ không là gián điệp của bất cứ chế độ nào. Tại V.N. qua nhiều thời đại,P.G. được vua chúa yểm trợ đã mang lại kết quả tốt trong việc xây dựng đạo đức,ổn định và phồn thịnh cho nhân dân, thì bây giờ và về sau dù chính quyền nào trọng dụng P.G. như một phương tiện giáo dục đều là việc đúng và cần phải làm (với diều kiện P.G. tự thích nghi và uyển chuyển chứ không là thừa sai).
Từ căn bản này, được sự bảo trợ của nhà nước đương quyền, 1982 đến nay G.H.P.G.V.N. hiện nay vẫn chưa có một động thái tương xứng với thời gian dài hoạt động, nhất là mặt văn hóa do giáo hội chủ trương, tại sao ?

- Dù một tổ chức nào, do sự bảo trợ và quản lý chặc chẽ từ bên ngoài, tự thân nó đã đánh mất tính năng động.
- Phần lớn cán bộ từ trung ương xuống các cấp không tạo được một thành quả xuất sắc, bởi còn tùy thuộc quá nhiều vào ban tôn giáo, mặt trận và đảng mà giáo hội không toàn quyền quyết định. Ví dụ:Xuất gia, thọ giới phải có sự chấp thuận của nhà nước. Một tăng sinh muốn vào trường phật học, từ sơ cấp đến cao cấp đều qua nhiều cửa ải hành chánh giáo hội và quyết định cuối cùng là ban tôn giáo,mặt trận cấp xã, quận,tỉnh...
- Bổ cử nhân sự các cấp phải có sự đồng thuận của nhà nước.
- Người của nhà nước đưa vào các chức vụ đều có công cách mạng, từ đó ỷ thế cậy quyền phát sinh, không ai phục ai.
- Phần lớn nhân sự giáo hội hiện nay không qua trường lớp đào tạo, do nhu cầu chức vụ kiêm nhiệm nên phải tấn phong H.T. T.T. non, có nghĩa cấp giáo phẩm đó không do quá trình tu tập, đạo hạnh, kiến thức và tài năng mà do thế lực và quyền lực.
- Một số chức vụ không hợp với khả năng của người đảm nhiệm mà lại kiêm nhiệm quá nhiều chức vụ.
- Một số tu sĩ trẻ tốt nghiệp, ngoài việc giáo thọ,không được đứng chủ ngành một bộ phận nào trong giáo hội, chủ ngành có thể là vị quá tuổi, trình độ lạc hậu,bảo thủ, thậm chí không có khả năng,kiến thức ngoại trừ vây cánh thế lực.Lớp trẻ thừa hành chờ chỉ thị, không có quyền đóng góp sáng kiến và chủ động sáng tạo.
- Các chức vụ trong guồng máy hành chánh tuy không có lương bổng, vẫn có lắm kẻ cầu danh, bằng mọi giá phải nắm cho được dù là phó đại diện hay phó thư ký cấp huyện,xã, từ đây đưa đến tệ nạn tham nhũng,hối lộ.
- Một chức vụ liên tục nhiều nhiệm kỳ, không tạo một thành quả xuất sắc thế mà không chịu rời chức vụ. Nói nghe như đùa,điều nầy có thực tại quận 7, thầy chánh đại diện không nhường chức vụ, tuy tăng ni không tín nhiệm,thành hội miễn cưỡng lưu nhiệm khi vị nầy cậy một cán bộ cấp thành phố can thiệp( với lý do ông ta đã giúp cán bộ nầy trong thời kháng chiến).
- Một quyết sách hay dự án đều phải thông qua ban tôn giáo.
Đó là mặt hành chánh,trong lãnh vực giáo dục Viện Phật học Vạn Hạnh( còn gọi là trường cao cấp Phật học) do uy tín của H.T. Minh Châu, với sự cọng tác của tăng sĩ trí thức và giáo sư bên ngoài,chương trình phương án giáo dục khá tốt, có tầm vóc.Viện can thiệp học bổng cho tăng ni có khả năng, đến nay đã đào tạo được 5 khóa tốt nghiệp. Trường Cao đẳng và trung cấp tại Vĩnh Nghiêm suốt nhiều khóa do thầy Từ Thông điều hành với các nhân sự cọng tác như Thiện đức, Hoằng Đạt...hình như chương trình giáo dục chưa nhất quán và kém hiệu quả về mặt kiến thức lẫn giáo dục,trình độ tăng ni sinh không có thực chất,thiếu đồng bộ. Ban giảng huấn có số giáo thọ sư không có khả năng truyền đạt, và truyền đạt không theo nguyên tắc sư phạm. Cái khó khăn của tăng ni hiện nay phải đóng học phí quá nhiều cho mỗi đầu người, một triệu đồng đối với ngoài đời cũng đã quá lớn, tăng ni các tỉnh về học,phần lớn chùa quê, nghèo,không có thầy tổ trợ cấp, cư trú khó khăn,do vậy một số ham học,không đủ điều kiện,đã ghi danh học các môn ở trường ngoài không hợp với đời sống thực của tu sĩ.Một chức sắc giáo hội than phiền – mỗi năm hàng tỷ đồng tiền học phí của tăng ni sinh được gởi vào ngân hàng, trên 10 năm nay số tiền đó giáo hội không hay biết.
Đã thế, số lượng ni sinh đông gấp 3 – 4 lần tăng sinh nên ni sinh gặp vô vàn khó khăn,học phí, đơn từ,cư trú, giấy giới thiệu, chứng nhận... Nhất là tại thành phố, chùa ni ít,nên ni sinh đã phải ở nhà phật tử,phòng trọ...Ai bảo đảm để vượt qua vô vàn khó khăn đó đã không nẩy sinh tiêu cực từ ban giám hiệu trường mà tăng ni sinh thường than vãn ?
Số tăng ni sinh hiện nay thi đua học, vì phong trào nhiều hơn là nhu cầu,nên không chọn cho mình một con đường tu học thích hợp, ngoại trừ một số rất ít thành đạt.
- Riêng thầy Từ Thông tuy hiệu trưởng trường Phật học tại Vĩnh –Nghiêm, qua lối giảng phóng khoáng của thầy, tăng ni sinh không hiểu thầy đang truyền đạt thuyết duy vật hay duy tâm,vô thần hay hữu thần, và tệ hơn nữa, không thể hiện rõ một ý thức nhất quán về giáo lý.Thầy dựa vào luận cứ Đại thừa để lắt léo, chỉ đáp ứng thị hiếu nhất thời của người nghe mà kẻ có tầm nhìn và kiến thức Phật học cơ bản không thể chấp nhận; Phong cách diễn đạt mang tính diễu cợt,hề rẽ tiền; một giảng sư, một giáo sư đứng đắn không thể có.Phủ định bác bỏ của thầy đối với mọi vấn đề không phải dựa trên lập cước tính không, nghĩa là không có lập trường nhất định, chỉ biết phủ bác như một phong cách lập dị, khác thường,từ đó,Phật tử họ bỏ đi chùa,không ăn chay niệm Phật,sống cuộc đời của kẻ không tín ngưỡng,kể cả không thờ phượng.Điều này đối với bậc thượng căn không có vấn đề chướng ngại, nhưng hàng sơ cơ phải cần có điểm tựa để đặt niềm tin, thật hiệu quả khi dùng tướng tu sĩ phá hoại đức tin quần chúng ! Riêng tu sĩ trẻ,từ đó cũng dể phát triển tính phóng khoáng, buôn thả một cách tự tại.
- Tình trạng lạm phát tu sĩ, phải nói rằng, từ lúc mở cửa và đổi mới của nhà nước, P.G. trở thành mãnh đất phì nhiêu, sinh sôi nẩy nở nhiều sắc màu tệ hại mà lạm dụng hình thức tu sĩ là một. Thành hội và báo chí kêu ca, hội họp quá nhiều về tệ nạn khất thực phi pháp của số đông kẻ lạm dụng hình thức tu sĩ để làm tiền quần chúng.Họ là những kẻ từ các tỉnh đổ về ngụ các bến xe, nhà trọ,các khu ổ chuột.sáng mặc đồ tu sĩ đi khất, chiều về ăn nhậu cờ bạc, biếng lười lao động, lạm dụng niềm tin của quần chúng đối với tôn giáo, thế nhưng, giáo hội hầu như bất lực,không hiểu cố ý hay vô tình,nhà nước vẫn lơ cho họ hoạt động công khai.nhà nước và giáo hội đều phải có trách nhiệm, bởi lẽ, bôi bác xã hội, sinh nhai bất chính, trây lười lao động,lừa đảo đức tin,mạo dạng tu sĩ...không thể là việc làm chân chính những việc đơn thuần như thế giáo hội không giải quyết được thì quy hoạch một tầm vóc văn hóa cho dân tộc trong tương lai,sẽ làm được gì?
- Thụ động trong giới tu sĩ cho việc chung là điều hết sức phổ biến, ví dụ lể Phật đản không mấy quận huyện chịu làm xe hoa, hay trương cờ, biểu ngữ,vì vậy lể Phật đản quần chúng ngỡ như xa lạ,trong lúc Noel chưa đến, mọi người đều đã nhắc nhở.hành sự tôn giáo cứ như miễn cưỡng đóng góp lệ phí.nhưng thi nhau xây dựng am thất chùa miếu cá nhân một cách vô trật tự và kém thẩm mỹ không có nét đặc thù của P.G.V.N.( nếu giáo hội qui hoạch mỗi quận huyện một ngôi chùa tầm cở làm trung tâm, ngoài ra chỉ là thiền thất, niệm phật đường, thì vấn đề kiến trúc P.G. có nề nếp và công trình có giá trị hơn là tình hình bát nháo hiện nay.) Thật ra, hiện nay giáo hội không thể kiểm sóat tu sĩ hay nói cách khác mọi sinh hoạt và đời sống tu sĩ hiện nay ngoài tầm tay của giáo hội.
- Về văn hóa,ngoại trừ thành phố H.C.M. có sự cố gắng chừng mực từ viện Phật học Vạn Hạnh và báo Giác Ngộ, các đầu sách dịch phẩm, sáng tác, khảo cứu, thư pháp, được khuyến khích, triển lãm, in ấn. Hình như trung ương chưa có một chủ trương rõ nét cho một luồng văn hóa mới thích hợp với xã hội và dân tộc tính; Thậm chí, một tạp chí, nguyệt san văn nghệ P.G. vẫn chưa có mặt mà trong đó nội dung thuần về thơ văn, hội họa, nhạc và thư pháp.
G.H.P.G.V.N. hiện nay chưa định hình và định hướng rõ chiều hướng phát triển văn hóa và tâm linh của dân tộc để chủ động giáo dục quần chúng; P.G.V.N. hiện nay không thiếu nghệ sĩ các ngành,nhưng lòng nhiệt thành của họ không có đất để ươm mầm và phát triển.
- Cái bất lực hiện tại của G.H P.G.V.N.là trên dưới cá mè một lứa, không ai nghe ai, thông tư, chỉ thị không tuân chỉ chấp hành nghiêm chỉnh.( bởi vì tư cách của cấp trên giới đức thiếu trang nghiêm , không thể hiện phong cách của một chơn tăng.)
tệ nhất, một cán bộ giáo hội có phong cách cán bộ của đảng hơn là một tăng sĩ, do đó, ngay tại trú xứ của họ chỉ còn là nhà tư thờ tượng bác hơn là chổ tôn trí Phật tượng,cái đầu và chiếc áo chỉ là tấm chắn, phải chăng đó là hồn Trương Ba,da hàng thịt?
- Một tình trạng phổ biến thật đau lòng hiện nay,nghi lể, ngoài sự biểu hiện của tôn giáo, nó là một nghệ thuật tấu âm có giá trị, không những của P.G. mà còn biểu hiện một văn hóa âm nhạc của dân tộc trong quá khứ đến nay, thế nhưng, một tác dụng phụ giúp cho nhiều kẻ bám vào đó làm phương tiện sống.Các chùa thi nhau lập dàn chẩn tế,trai tăng tốn hàng chục triệu trong khi đó tăng ni sinh nghèo thiếu tiền ăn học, một số chùa chơn tu không đủ gạo cho chúng điệu mỗi ngày. Kinh Phật cũng được các thợ tụng ê a để nuôi vợ con ! Kỳ an kỳ siêu vào thời pháp thuộc là phương tiện giao tiếp để đưa quần chúng đến với đạo,bây giờ trở thành kỷ nghệ ma chay chuyên phục vụ kẻ chết mà nhiệm vụ trọng yếu của đạo Phật là giúp đở người sống đúng với đạo đức, đã bị lãng quên.Các chùa thi nhau tổ chức lể lộc,đám tiệc,trai tăng..thiên về hình thức,quá tốn kém.Các chùa miền Bắc còn tràn ngập mê tín,đồng bóng,tứ phủ,các sư kiêm nhiệm trụ trì nhiều chùa mà trình độ phật pháp không có,đưa quần chúng lún sâu vào tà giáo.
- Tăng ni trẻ đang có khuynh hướng nặng về vật chất,hư danh, đua đòi,bỏ quên tâm linh đang cần bồi dưỡng. Các bậc danh tăng, chơn tu đã tìm chốn ẩn cư nên quần chúng khó được giao tiếp.
- Hoằng pháp,một nhiệm vụ trọng yếu của việc truyền bá, các khóa giảng công cộng cho phật tử thường được tổ chức, đó chỉ là đem lại cho quần chúng một cái hiểu chung chung, không nắm vững và sâu giáo lý, không giúp ích thiết thực cho việc tu tập,vì vậy, cần phải có lớp chuyên sâu cho từng trình độ.Cán bộ hoằng pháp cũng được H.T. Trí Quảng tổ chức nhiều khóa, kể cả cao cấp giảng sư, nhưng thực chất một giảng sư do ban hoằng pháp đào tạo,không nắm vững nguyên tắc diển giảng, không nắm rõ trình độ thính chúng tại địa phương mình đang hành sự, không vững nghệ thuật diển đạt, thậm chí suốt nội dung buổi giảng chỉ là kể chuyện kiếm hiệp,tây du...thiếu hẳn trình độ chuyên môn và kiến thức Phật học.Chương trình hoằng pháp mang tính cục bộ, không nhắm đến toàn diện , chỉ nhắm đến một số phật tử gần gủi mà không thấy được nhu cầu hiện thực của đại đa số,chủ đề trọng yếu của giáo lý như nhân quả, nghiệp báo... giải thích một cách cạn cợt.Riêng thầy trưởng ban hoằng pháp, qua các bài diễn giảng luôn đưa cái tôi ra làm gương quá nhiều.
- Kiểm tăng ? hình như giáo hội hiện nay thả nổi và bất lực. Tình trạng suy đồi đạo đức cá nhân của tu sĩ hiện nay khá phổ biến đến mức báo động. Nhận đệ tử xuất gia bừa bải, không trách nhiệm dạy dổ,vì vậy tu sĩ trẻ dễ kiêu mạn,phạm giới thường xuyên. Oai nghi giới luật của tu sĩ là quân phong quân kỷ của quân đội, một tập thể không bị ràng buộc như vậy sẽ là tập thể bát nháo, ô hợp, thật nguy hiểm ! Số lượng tu sĩ trẻ hiện nay phát triển nhanh và đông , không phải là điềm tốt nếu không có kỷ luật và được giáo dục giới luật nghiêm minh.( một hiện tượng không thể bỏ qua, các nhà lãnh đạo giáo hội P.G.V.N. đương nhiệm cần lưu tâm – số tu sĩ trẻ có năng lực, có trình độ,xuất xứ không rõ ràng, phần lớn gốc đạo Gia tô, nếu chỉ có thế không phải là điều ngạc nhiên, vì quá khứ cũng đã có lắm tăng tài xuất thân từ Giatô giáo, thế nhưng, những tu sĩ xuất sắc nầy không do P.G. đào tạo, đột xuất xuất hiện và len lỏi trong các cấp giáo hội,ai bảo rằng đó chỉ là trường hợp ngẩu nhiên nếu không có sự sắp đặt từ bên ngoài với một mưu đồ đen tối về lâu về dài phá hoại P.G.? )

Trong những bất toàn hiện nay,qua đời sống vàng thau lẫn lộn,quần chúng cũng mệt mỏi và đau buồn nhìn các tu sĩ đánh mất giới hạnh, rất may, cũng có một số chân tăng, vì tiền đồ Phật pháp, không chỉ ẩn thân tu tập, còn cố gắng xây dựng đạo tràng để dẩn dắt Phật tử như thiền có H.T. T.Thanh Từ,các thiền đường như Viên Chiếu, Thường Chiếu, Linh Chiếu, Trúc Lâm...được sinh hoạt trong quy củ. Tịnh độ có thầy T.Chân Tính ở Hốc Môn, mỗi hai tháng có một khóa Phật thất, tuy chưa phải là một sinh hoạt mang tầm vóc quốc gia, nhưng dẫu sao cũng là diểm tựa tâm linh cho tín đồ hiện tại mà hiện nay mỗi khóa tu có hàng ngàn người tham gia,với sinh hoạt thuần túy tôn giáo như vậy, đã đóng góp rất lớn trong việc ổn định xã hội,hy vọng tương lai, mỗi tỉnh, quận đều có những đạo tràng như vậy thì tệ nạn xã hội sẽ được thuyên giảm. Ngoài hai điểm nổi bậc đó còn có các già lam thanh tịnh mang đúng tinh thần P.G. như tu viện Chân Như tại Trảng Bàng của H.T. T. Thông Lạc, tuy không rầm rộ quy mô như các điểm đã nêu, nhưng cũng tạo ấn tượng và có kết quả trong việc tu tập không ít.(Nhưng rất tiếc, thầy quá cực đoan về vấn đề nhục mạ Phật giáo Đại thừa, vì thế, đệ tử chưa thấm tương chao cũng a dua nặng lời đối với Bắc tông).Một vài điểm Thiền thất phái của thầy Duy Lực cũng được thực hiện. Đó là điều đáng mừng !

Trong một chừng mực nào đó,P.G.V.N. hiện nay vẫn được tự do hành đạo theo khuynh hướng riêng, thế nhưng giáo hội và các tông phái vẫn chưa vạch ra một phong cách và phương hướng hành đạo để nẩy mầm nếp sống văn hóa đặc thù ấy.Tình trạng tự phát như cây cỏ rừng hoang,thật đáng tiếc trong tình thế hiện tại ! Hình như phần lớn tu sĩ V.N hiện chưa biết mình phải làm gì và đi về đâu trong tương lai.Các bậc chơn tu đáng kính,thân giáo đủ làm điểm tựa đạo đức cho nhân quần giữa xã hội đầy nhũng lạm, giới đức và hồng ân của các ngài xứng đáng là bậc ứng cúng,nhưng với 80 triệu dân chỉ vỏn vẹn đếm trên đầu ngón tay sự hiện diện các Thánh Tăng chơn sư như thế e rằng cán cân đạo đức và xã hội trụy lạc chưa được cân bằng; tổng số tu sĩ còn lại,phần lớn quên mình là tu sĩ, quên luôn nhiệm vụ thượng cầu Phật đạo,hạ hóa chúng sanh,đời sống thường nhật không khác thế gian là mấy,thử hỏi tam đề,ngủ quán về hạnh đức có tương xứng với niềm tin và sự cúng dường của bá tánh ? Tu sĩ không làm ra của cải, đổi lại tự thân phát tiết dạo lực lợi lạc quần sanh đó là điều sòng phẳng, nếu không đủ tiêu chuẩn như vậy,tu sĩ sẽ là con nợ trầm kha, và tệ hơn nữa – một khất thực phi pháp có quy chế.
P.G là một tôn giáo trong những tôn giáo có mặt tại V.N lâu đời nhất, không chỉ là góp mặt cho vườn hoa đời thêm nhiều sắc màu,mà P.G. từng là tôn giáo mũi nhọn xây dựng tâm linh và tình thần dân tộc cho người V.N. người P.G. ý thức trọng trách đạo đức xã hội và tinh hoa tâm linh cần phải có ở bất cứ thời đại nào, vì đó là điều kiện tất yếu để P.G. có mặt ở cuộc sống,lợi lạc quần sanh. P.G. không phải là tôn giáo ra đời để kêu gọi con người phải quy lụy một thần tượng, nô dịch một thần linh.Không giống bất kỳ tôn giáo nào,P.G gạt thần linh ra ngoài đời sống cá nhân, đề cao và khôi phục nhân cách làm người mà thời gian quá dài con người đã tự quên mình trước ngoại lực vô hình ảo tưởng, vì vậy đạo Phật được mệnh danh là tôn giáo nhân bản,thế thì trách nhiệm của những bậc lãnh đạo P.G.V.N. hiện nay ra sao ?

Về mặt nhà nước V.N. ngành thông tin văn hóa,sau khi mở cửa và định hướng đức tin quần chúng, đã tự do buông thả !Cái
Mà trước đây cho là mê tín đị đoan,bây giờ được gọi là dạng văn hóa dân tộc,tín ngưỡng nhân dân,tự do phát triển một cách nguy hại.Ví dụ miếu mạo,đồng bóng tứ phủ,miếu năm ông,bà ngũ hành, chúa Xứ, đồng cô bóng cậu,xin xăm, vay tiền thánh...thờ các ngẫu tượng sặc mùi mê tín, bình vôi,gốc đa,ông táo,thậm chí ông Tề là nhân vật giả tưởng của Ngô Thừa Ân cũng trở thành hiển thánh,một ngôi chùa thuộc quận 12 đã thờ cúng,quần chúng đến tấp nập. người tin không rõ nguồn gốc,không phân biệt lợi hại, chánh tà ! Từ sự khắc khe đến buông thả một cách khó hiểu như vậy,thiết nghĩ nhà nước không cần phân biệt thế nào là chánh tín và mê tín,không nắm rõ thế nào là tín ngưỡng có văn hóa và không văn hóa, văn hóa chánh tín và văn hóa mê tín, đưa xã hội trở lại thời kỳ đa thần lạc hậu.Tuy những dạng đức tin như thế không có một tổ chức rõ ràng, không cấu kết thành lực lượng cuồng tín đe dọa an ninh quốc gia, nhưng nguy hại gấp ngàn lần cho dân trí trong nhiều thế hệ mà hiện nay các nước tiến bộ đã giản lược đức tin,loại trừ thần quyền,hướng về xây dựng đời sống tâm linh cho con người để xã hội có đạo đức lành mạnh. Việc buông thả cho nhân dân mê tín, thậm chí còn được báo,đài,truyền hình ca ngợi, quảng cáo ,đó không phải là tôn trọng tự do tín ngưỡng để xả xú báp cho người dân đang bị nghẹt thở ở mặt khác,vả lại,một nguồn lợi hàng tỷ đồng trong mỗi mùa lể, đem lại cho ngân sách địa phương một số tiền khổng lồ không cần phải đầu tư vốn liếng,đó là món lợi trước mắt mà hậu quả về lâu về dài đất nước phải gánh chịu một tầng lớp dân trí lạc hậu, chậm tiến (thí dụ bà Chúa Xứ ở Châu Đốc,mỗi ngày địa phương thu được hàng chục triệu từ thùng công đức do nhân dân thập phương đền cúng ) Thiết nghĩ nhà nước khởi xướng nếp sống văn hóa mới, nên định rõ đức tin và đời sống văn hóa tâm linh để xã hội V.N. không bị va vào những tệ nạn mà các nước hiện nay trên thế giới vấp phải ( không cực đoan mê tín, cuồng tín của tín ngưỡng, cũng không bát nháo, xáo trộn hụt hẩng niềm tin của xã hội phát triển vật chất không cân bằng với tâm linh; như ta đã thấy có những vụ tự sát tập thể của đạo Cơ Đốc ở Nam Triều Tiên vì tin đã đến ngày tận thế,những kẻ tâm thần xả súng bừa bải vào trường học ở Mỹ...)Trên thế giới nói chung và V.N. nói riêng những tôn giáo có bề dày lịch sử xây dựng và ổn định xã hội bằng tinh thần hòa bình,giáo dục nhân dân có tinh thần dân tộc,đào tạo đạo đức tâm linh để có những con người xuất chúng như thời đại Lý Trần,giới lãnh đạo nhà nước và chuyên ngành văn hóa nên biết tận dụng mà không phải mất thời gian mò mẩm,sửa sai để tìm hướng đi đúng cho dân tộc.Ngay bây giờ cần phải chắt lọc,khai triển và giáo dục nhân dân có một đức tin lành mạnh để kịp cân bằng với nền kinh tế mở cửa du nhập vào nhiều nền văn minh bạo lực,thần quyền mà các nước tiến bộ đang đào thải.

Qua cuộc sống kinh tế thị trường, nhân dân ta đang giành giật,bon chen, ít nhiều ảnh hưởng tâm lý ổn định.Tôn giáo không có cơ cấu tổ chức chặc chẻ như P.G.bị nhiều yếu tố chi phối như đã nêu, cơ quan chủ quản văn hóa không định hình rõ chiều hướng văn hóa V.N. trong tương lai, khuynh hướng vật chất nặng hơn tâm linh và tình cảm của xã hội ta hiện nay,luồng văn hóa ngoại lai không thích hợp tâm lý dân tộc đang là mode thời thượng xâm lấn vào đất nước ta từng ngày và nhất là một tín ngưỡng vong bản,xem con người là công cụ để phục vụ thần quyền quả là một đe dọa trầm trọng cho dân tộc.
Trách nhiệm của giới cầm quyền là một phần,P.G. cũng cần lột xác để cùng có nghĩa vụ với dân tộc cho dù đang bị ràng buộc.Nhất là lãnh vực văn hóa,P.G. thừa khả năng phát tiết tinh hoa nếu tu sĩ được giáo dục cẩn thận và thực tu,thực chứng.Tâm linh mới là nhu cấu gốc của mọi nền văn hóa mà sau gần 30 năm P.G.V.N. vẫn chưa có niềm trăn trở !

Thiết nghĩ, G.H.P.G.V.N. hiện nay cần kiện toàn lại cơ cấu tổ chức gọn nhẹ; khi mà hiệu năng hoạt động kém, tinh giảm các ban bệ chưa cần; Thải hồi những nhân sự thiếu năng lực và không kiêm nhiệm nhiều chức năng.Đặt nặng vấn đề giáo dục Tăng phong đạo cách để một tu sĩ P.G. xứng đáng một Thiên nhân chi đạo sư .Giáo dục bắt buộc mọi tu sĩ và Phật tử có một trình độ giáo lý cơ bản.Mở rộng mạng lưới đạo tràng chuyên tu trên toàn quốc.Đạo Phật đã từng là một kho tàng giáo dục kiến thức và đạo đức đồ sộ từ xa xưa,thế nhưng ngày nay chỉ còn là một khung sườn rổng ruột.Vấn đề nội lực và nội minh đã thế,điều hành nhân sự và quy nạp lực lượng tín đồ còn nhiều bất lực,chẳng hạn như Gia đình Phật Tử, một tổ chức thanh thiếu niên có mặt trên nữa thế kỷ,hiện nay giáo hội vẫn chưa điều động được triệt để,không tận dụng được tiềm năng to lớn ấy.
Thật vậy, cũng như các đoàn thể khác, các chuyên gia, nghệ sĩ,tiểu thương,thương gia, lao động mà G.H.P.G.V.N.T.N. trước đây đã đưa vào tổ chức và điều hành có hiệu quả. G.Đ.P.T. trực thuộc Tổng Vụ Thanh Niên, có quy chế biệt lập,tầm vóc hoạt động mạnh, có hệ thống dọc cân đối, chặc chẽ hơn so với các đoàn thể thanh thiếu niên bấy giờ trong cùng một tổng vụ như Sinh Viên P.T, Học Sinh P.T. Thanh Niên Thiện Chí...
Tiền thân G.Đ.P.T. là Gia Đình Phật Hóa Phổ, một trong những vị sáng lập hiện vẫn còn như nhà văn Võ Đình Cường...một điều đặc biệt đáng lưu tâm,qua bao lần dâu bể, các tổ chức P.G. đều bị biến thiên,riêng G.Đ.P.T. vẫn duy trì được hình thức tổ chức lẫn nội dung sinh hoạt. Gia Đình Phật Tử đã sản xuất nhiều công dân gương mẫu đạo đức,cung ứng cho P.G. nhiều nhân tài và một số trở thành tu sĩ có thực lực.Phần lớn 90% thanh thiếu niên xuất thân từ G.Đ.P.T. đều có bản chất tốt.
Đạo đức,khiêm tốn,tôn trọng sự sống mọi loài,hòa nhã,thương yêu,đức tin trong sáng và loại trừ nhiều tệ nạn xã hội nơi chính bản thân mình, ngoài phần giáo lý cơ bản,G.Đ.P.T. được trang bị thêm một kỷ thuật từ Hướng Đạo sinh quốc tế.

Do tầm vóc chặc chẽ,đạo đức cơ bản của G.Đ.P.T. nó đã đóng vai trò lớn trong lực lượng Phật Tử tại gia.Một thời vào thập niên 1966 – 1970 Tổng Vụ Thanh Niên được cố H.T. Thiện Minh quan tâm,đề nghị hệ thống G.Đ.P.T. làm một ngành chuyên biệt mũi nhọn trong việc củng cố đội ngũ Phật tử thanh niên các ngành.

Tóm lại, trong quá khứ cũng như hiện tại.G.Đ.P.T. đã đào tạo con em thanh thiếu niên trở thành người tốt trong xã hội, tín đồ mẫu mực trong P.G. hoàn toàn có lợi cho đất nước, thế nhưng 1975 đến 1995 G.Đ.P.T gặp vô vàn khó khăn để tồn tại, khắp các tỉnh thành huyện lỵ đã luôn bị áp lực từ mặt trận, ban tôn giáo, trụ trì các chùa, ban đại diện, bắt buộc giải thể vì nó song hành với tổ chức đội đoàn của thanh niên C.S. Thậm chí đội đoàn sinh hoạt còn bị lai tạp bởi trò giải trí, bài ca và cách điều hành của G.Đ.P.T. Các trụ trì không thấy được tầm quan trọng trong việc giáo dục đào tạo thanh thiếu niên, nên có những chùa trục xuất, gây khó khăn cho đoàn thể nầy,ban đại diện các cấp bị áp lực từ mặt trận cũng đã sách nhiểu các huynh trưởng,liên đoàn trưởng và ban hướng dẫn G.Đ.P.T. Trong thời kỳ khó khăn sau 1975 một số gia đình phải sinh hoạt lưu động và không mặc đồ đoàn; sĩ số đoàn sinh tuy có giảm nhưng lòng nhiệt thành và lý tưởng đạo của các em vẫn tăng cao.
Xét thấy không thể phủ nhận sự hiện diện của G.Đ.P.T. mà khi soạn thảo hiến chương,pháp quy tổ chức G.H.P.G.V.N. đoàn thể G.Đ.P.T. không được liệt kê biệt lập, mãi đến 1990, xét thấy G.Đ.P.T. vẫn là tổ chức sinh hoạt bán công khai song song và nằm ngoài giáo hội,bắt đầu giáo hội lập ban hướng dẫn nam nữ cư sĩ để điều hành G.Đ.P.T. thế nhưng, với tuổi đời và quy chế tổ chức dày dạn như G.Đ.P.T. Ban Hướng Dẫn Nam Nữ Cư Sĩ không đủ khả năng quản lý tổ chức này,vì vậy giáo hội làm áp lực bắt buộc các gia đình Phật tử đang còn nằm ngòai phải tham gia giáo hội. Qua nhiều lần thương thảo, vẫn không đi đến kết quả, ngoại trừ vài huynh trưởng vì lý do nào đó đã gia nhập.
Quản lý G.Đ.P.T. là việc cần và quan yếu của giáo hội, một lực lượng Phật tử tại gia có năng lực, có tổ chức nhất, góp tay với tăng sĩ hoàn thành tốt Phật sự, thế nhưng G.H.P.G.V.N. hiện nay cũng không thể điều động được toàn bộ lực lượng G.Đ.P.T.V.N. bởi lẽ bên trong còn nhiều điều kiện vô cùng tế nhị mà người chủ quản vẫn xem thường G.Đ.P.T. Đây là một thiệt hại to lớn song song với việc cảm hóa tăng ni thuộc G.H.P.G.V.N.T.N. Giáo hội hiện nay là một giáo hội có tổ chức trên hình thức nhưng vô tổ chức trong nội bộ, các am tự viện, đoàn thể phật tử vẫn sinh hoạt theo nhu cầu cá nhân vì giáo hội hiện nay chưa tìm được lối đi đúng hướng phục vụ cho dân tộc trong một xã hội lấy kinh tế và cơ giới làm đầu. Một tổ chức có sẳn và nhiệt tâm vì đạo như thế mà giáo hội chưa thực sự điều hành được thì những thành phần khác trong mọi tầng lớp Phật tử hiện vẫn buông thả là chuyện dể hiểu. Do vậy, nhà nước có muốn P.G. là tác nhân chính để ổn định đạo đức xã hội cũng khó mà thực hiện, bởi lẽ nhà nước chỉ có khả năng ổn định chính trị, kinh tế chứ không thể xây dựng nền móng đạo đức như tôn giáo.


Ý KẾT

Tóm lại, về phương diện nhà nước, việc quản lý mọi tổ chức trong xã hội là diều tất yếu,riêng P.G.đã hiện diện gần 3000 năm trên tinh cầu nầy,mọi sinh hoạt thường nhật chúng ta đã biết quá rõ về mặt lợi ích cho con người trong đời sống vật chất cũng như tâm linh, không còn lý do gì để e ngại.Nếu có bị kẻ xấu lợi dụng chỉ là cá nhân chứ không thể toàn bộ P.G.TRong cuộc sống mở cửa hiện nay, đất nước đang du nhập nhiều luồng văn hoá,tư tưởng bất lợi, nhà nước không chỉ ổn định đất nước trên mặt trật tự xã hội, cần ổn định tâm lý và tư tưởng, việc nầy không thể làm bằng công tác và khuynh hướng chính trị,vì nhân dân ta đã ảnh hưởng sâu đậm tinh thần tôn giáo,do vậy, ngoài việc quản lý hành chánh, nhà nước nên tạo điều kiện để P.G.đoàn kết hoà hợp thật sự,phát triển văn hóa và đóng góp tâm linh cho dân tộc, Có những cuộc hội thảo thường xuyên với giới trí thức và bậc chuyên tu của P.G. để điều chỉnh hướng đi đúng và thích hợp với tinh thần văn hóa dân tộc,không xen vào lãnh vực chuyên môn thuộc nội bộ P.G để giới lãnh đạo P.G.có ý thức tự chủ và chủ động trong nhiệm vụ,năng động trong công tác.Qua những bất an tại cao nguyên, nhà nước đã hành xử đúng, nhưng vẫn khó hiểu tại sao một số người dân tộc thiểu số luân phiên phân tán về ẩn cư tại ngoại vi thành phố mà nhà nước vẫn không biết họ làm gì,có thể bảo nhà nước không quản lý chăng? Thế thì tại sao lại quản lý những điều không cần thiết trong lãnh vực thuần túy văn hóa và tín ngưỡng như P.G.

Đối với giới lãnh đạo P.G.V.N. hiện nay, cần xét lại toàn bộ lề lối sinh hoạt, tổ chức, để chuyển hướng thích hợp với dân trí và nhu cầu tinh thần tương lai của dân tộc,canh tân hoằng pháp, chỉnh đốn tăng ni theo giới luật; giải toả mọi lợn cợn với chư tôn đức thuộc G.H.P.G.V.N.T.N. để cùng nhau đoàn kết vạch kế hoạch phát triển P.G.trong từng giai đoạn và cần một chiến lược thế kỷ tiếp nối công trạng của chư tổ đối với đất nước để P.G. không bị đứng ngoài lề dân tộc, sống bám nhân dân,và không là tội đồ thời đại.

NGƯỠNG MONG !
( hết Tập 1) Tháng 10/2002
MINH-MẪN




TAP 2




LỜI ĐẦU

31 năm thống nhất tổ quốc, mọi đoàn thể, tôn giáo cũng được hợp nhất trong một tổ chức, tất cả phát triển tiến hóa đồng bộ; Riêng PG VN, tuy có thống nhất một GH, nhưng GH đó chưa thật sự thống nhất về tư tưởng và ý chí, chưa thống nhất trọn vẹn mọi thành phần trong tứ chúng, vì thế, nội tình lỏng lẻo , dẫn đến trì trệ và nhiêu khê.

Đại Hội PG năm 2002 có nhiều góp ý xây dựng, nhưng tính trì trệ vẫn là bản tính cố hữu của PGVN, gần 5 năm vẫn không thay đổi; cơ cấu tổ chức đã vậy, tăng phong đạo cách càng đáng báo động hơn, tu sĩ ngày càng cách xa quần chúng; nhân dân mất niềm tin PG khá nhiều, mặt hiện tượng nhập thế đã vậy, mặt học thuyết tuy siêu xuất, nhưng hiện tại giảng sư PGVN chưa lột tả được tinh túy để đem PG vào xã hội, biến lý thuyết PG nằm lơ lửng tầng mây, ngoài tầm với của đại chúng; đối với giới trí thức, PG vẫn là cái gì khô khốc khó nuốt; trong tín ngưỡng, PG còn vướng nhiều dạng thần quyền; trong biểu đạt của một số ít giáo thọ, PG biến thành vô thần.. cứ thế, PG trở thành lung linh hưyền ảo đa dạng khó định hình, đã nằm ngoài nhu cầu cuộc sống thực dụng hiện nay.

Với tình trạng nầy, có lẽ thời gian không xa lắm, PG trở thành không cần thiết cho dân tộc, trở thành vướng bận cho một đất nước nhiều đổi thay trên đà tiến hóa.
Nhân tài PG không thiếu, nhưng kiểu cách phá hoại PG có thừa; Tăng sĩ trẻ có học thức, có ưu tư cho tiền đồ PG, cần phá vỡ vỏ bọc phong kiến bảo hoàng hiện nay, làm cuộc cách mạng văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng trong PG để PG tiếp tục sứ mạng nuôi dưỡng linh hồn dân tộc, đối phó mọi đe dọa từ mọi phía, để PG luôn đồng hành cùng dân tộc!

(Từ một nền giáo dục không thích hợp với sinh khí đạo Phật; từ một tổ chức chưa dung kết được giữa hai môi trường; từ lối hoằng pháp không tương ứng với trình độ thời đại, dẫn đến một tình trạng ương dở của PGVN hiện nay, phải chăng những dấu hiệu nhiêu khê nầy sẽ là nguyên nhân thúc đẩy một tâm lực chuyển hóa cho PG trong mai hậu)
Đó là lý do cho Thực Trạng PGVN Hiện Nay tập 2 ra đời, ngưỡng mong chư tôn túc khán giáo.

MINH MẪN
21/6/06











TRỞ LẠI CHUYỆN CŨ

PGVN hiện nay luôn là đề tài cần cập nhật, nhưng những vấn đề cập nhật cho PGVN cũng chỉ là tiếng sáo diều trên không trung bay theo luồng gió thoảng; Qua bao lần Đại Hội, có bấy nhiêu lần tham luận đưa ra, nhưng đâu lại vào đó, ban thư ký ghi nhận rồi xếp vào kho lưu trữ, phủ dầy lớp bụi thời gian; ĐH lại đến, tham luận lại xuất hiện, cứ thế mà hồ sơ và bụi bặm sắp lớp chồng chất lên nhau làm một kỳ quan lạ lẫm!

HÀO QUANG QUÁ KHỨ

Cuộc đấu tranh thời Ngô Đình Diệm mang lại thành công rực rỡ ( thành công đây không phải thay đổi chế độ, bởi lẽ chế độ thay đổi không phải PGVN là nguyên nhân chính làm nên lịch sử, mà PG chỉ một trong những yếu tố, và chỉ là chính nhân mặt nổi, của những thế lực chính trị ở mặt chìm ). Tại sao PG lúc bấy giờ huy động được qưần chúng, tại sao các hệ phái, tập đoàn PG lúc bấy giờ đồng lao cộng khổ đoàn kết và tạo được uy tín từ quốc nội đến quốc tế? Tại sao GHPGVNTN sau 1964 đến 1975 có một tổ chức nghiêm minh, hoạt động hiệu quả. Đó là thành quả của một nền giáo dục thiền môn từ thập niên 1930 trở về trước.

Khi PG cực thịnh đến cuối đời Trần, bắt đầu thiền môn có dấu hiệu bất toàn, Nho thần đố kỵ PG ngấm ngầm từ thời Lý nên Lý Cao Tông nghe Đàm Dĩ Mông tâu, đã sa thải phần lớn tu sĩ, tuyển chọn những cao tăng thạc đức trụ trì các danh lam, nhờ thế mà tăng đoàn được thanh lọc những thành phần ô tạp, tuy nhiên cũng hạn chế việc truyền đăng tục diệm, nhờ các danh tăng chân tu mà sinh lực PG vẫn lưu truyền suốt thời ấy; cuối đời Trần , bắt đầu Nho giáo lạm quyền đưa đất nước đến chỗ suy vi, các thiền sư ẩn dật chuyên tu, sau đó dân tộc lâm vào nội chiến Trịnh Nguyễn; năm 1696, Hòa Thượng Bạch Mai Lân Giác bắt chước tổ chức Bạch Liên Tông đời Tống Trung Hoa xướng lập PG Liên Xã, được lưu truyền rộng rãi nông thôn miền Bắc VN. rồi đến Gia Long, Tây Sơn, suốt mấy mươi năm ly loạn, PG ẩn sâu trong xã hội, tuy không như thời cực thịnh Lý Trần, nhưng Gia Long và các đời vua kế tiếp cũng ủng hộ PG và các Thiền sư cũng đã chấn chỉnh quy củ thiền môn, lúc bấy giờ các cố đạo Bồ Đào Nha , Tây Ban Nha và hội Thừa Sai Pháp đã có mặt trên đất nước ta, năm 1550 , phía Nam đặt chân lên Hà Tiên; miền Bắc ,Nam Định, Ninh Cường là bàn đạp, tuy họ gặp nhiều khó khăn, nhưng vẫn cố gắng vượt qua để truyền bá và phát triển; trong khi đó, với tinh thần an phận, các bậc danh tăng thạc đức lui sâu vào am vắng núi rừng tu dưỡng, bên ngòai xã hội các vị ứng phú sống lẫn với dân, hòa hợp đến độ PG chỉ còn là lọai tín ngưỡng dân gian lo việc ma chay tế tự, sinh họat và hình thức tu sĩ là lọai nghề kiếm sống trong đời thường.

Khi Pháp bành trướng tại VN, kết hợp với truyền bá Kitô giáo, một luồng gió mới về ngôn ngữ, phong cách đời sống, tiện nghi vật chất, ký tự văn hóa, khí tài, trang phục; nhất là lọai tín ngưỡng tôn giáo mang dáng vẻ văn minh lạ lẩm, đã cuốn hút một số dân thị thành, PG lại bị đẩy sâu vào vùng thôn quê, gắn liền với cuộc sống người dân nghèo nàn, chân chất…Chiến tranh Việt Pháp nổ ra, nhân dân khốn đốn, PG thành đối tượng bất khoan dung của Kito giáo và Pháp xem PG là biểu hiện một lực lượng quần chúng đối kháng, vì thế các cơ sở ,am tự của PG bị chiếm đọat hoặc bị thiêu hủy; Đồng thời trong chiến dịch tiêu thổ kháng chiến, một số chùa chiền đình miếu cũng bị hủy diệt; Riêng các nhà thờ, có sự giao ước và kiên dè, các phe lâm chiến đều tôn trọng và bảo vệ, thậm chí dưới chế độ XHCN miền Bắc, các tôn giáo bị đình trệ, thế mà Kito giáo vẫn được sinh họat, các cố đạo nước ngòai vẫn được hóan nhiệm, các tu sinh vẫn được thụ phong linh mục, các giáo xứ, tín hữu vẫn được hỗ trợ kinh tế! Chưa tới 3 năm tiếp thu chính quyền, miền Bắc tiến lên XHCN, cải cách ruộng đất tòan bộ, kể cả nội bộ đảng không ngòai biệt lệ, thế mà các giáo phận vẫn được hưởng sự nhân nhượng!

PG thế giới có khuynh hướng chuyển biến, cải cách và phát triển, khởi xuất bởi David Hewavitarane, người Tích Lan, tức Đại Đức Dharmapala; trong đó có Trung Hoa, Nhật Bản, Thái, Miến, Srilanka… vì thế VN cũng phát khởi phong trào. Trong công cuộc chống ngọai xâm, Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu và những nhà ái quốc đã ý thức được tầm quan trọng của PG là nòng cốt xây dựng đất nước. Một số Nho gia tiến bộ thân thiện PG hoặc nghiên cứu PG; Những nhà trí thức tân học yêu nước cũng cổ súy chấn hưng PG; Thập niên 1920, các thiền sư ba miền bắt tay vào cuộc: Miền Bắc có HT Thanh Hanh, miền Trung có HT Tuệ Pháp, miền Nam có HT Từ Phong xây dựng các Già Lam, đạo tràng giáo dục tăng ni và in ấn kinh tạng; đến 1923 HT Khánh Hòa vận động chấn hưng tòan bộ ba miền, nhưng với tinh thần cầu an của phần lớn tu sĩ, một cuộc cải cách tổng lực như thế mấy năm sau mới có kết quả, thậm chí người ngòai cuộc như Phan Khôi, Huỳnh Thúc Kháng cũng nóng ruột việc phục hưng PG để kịp đáp ứng nhu cầu chính trị trong nước hầu làm một chất dung môi cho những lực lượng có tinh thần dân tộc, cốt lõi tâm linh cho một đất nước đứng trước mối đe dọa chính trị, quân sự, tôn giáo, văn hóa của phương Tây và cái hào nhóang của Âu học!

Thập niên 1930, nhờ các trường Phật học khai mở, đào tạo tăng ni về kinh điển cũng như giới luật,một cách nghiêm túc, mà những năm trước đó, chư tôn đức –Lương Duyên - Tâm Tịnh - Giác Tiên … đã tạo sẳn nền móng đạo đức chuyên chính, do thế, hàng lọat các tăng sĩ xuất sắc xuất hiện như: HT Trí Quang, Trí Thủ, Thiện Siêu, Thiện Minh, Nhất Hạnh, Mật Thể, Mật Hiển, Mật Khế, Thiện Hòa, Thiện Hoa, Khánh Anh, Hạnh Tru, Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám… Từ những nhân tài nầy, là những nhân tố tìch cực chấn hưng Phật giáo có hệ thống vững chắc từ hạ tầng như khuôn hội trở lên đến tỉnh hội, ngòai ra có những cư sĩ trí thức tâm huyết hỗ trợ, PG thực sự đã được chỉnh đốn từ trước và sau 1954, đến khi đất nước chia đôi, miền Bắc bị dồn tổng lực tòan dân để tiến lên XHCN và công cuộc giải phóng miền Nam, nên sinh họat PG bị đình đốn, miền Trung, PG đi vào nề nếp nhờ các tăng sĩ thực tu thực học tổ chức và truyền bá, đáng kể nhất là xây dựng và đào tạo một đòan thể thanh thiếu niên Phật tử, do bác sĩ Lê Đình Thám hướng dẫn, sau nầy với danh xưng Gia Đình Phật Tử VN (GĐPTVN) một tổ chức tồn tại và hiệu quả nhất trong các tổ chức PG từ trước đến nay, 95% quần chúng miền Trung từ Bình Thuận trở ra Huế đều chịu ảnh hưởng PG; Trong miền Nam, sau khi họ Ngô nắm quyền, chính sách di dân các họ đạo từ Bắc vào, chính quyền đã ưu đãi, lập các khu trù mật miền Tây như Cái Sắn, Cái Mơn, các dinh điền miền cao, Long Khánh, Hố Nai, Gia Kiệm, Lâm Đồng…cộng thêm tinh thần quần chúng miền Nam hời hợt, dễ dãi, đất rộng, người thưa, việc tổ chức và truyền bá Phật Pháp không được thuận lợi và chặt chẽ…

Thế nhưng, khi đối diện với sự đe dọa tồn vong PG bằng quyền lực và bạo lực của Ngô triều, với đạo lực của chư tăng, đã kết hợp được tổng lực và nhiệt tâm của quần chúng, tạo một âm hưởng chấn động quốc tế; PGVN thóat khỏi đạo dụ số 10 từ thời Pháp thuộc ràng buộc; ngọn lửa Bồ Tát Quảng Đức và chư thánh tử đạo, thắp sáng PGVN trong thế kỷ 20; các tông môn hệ phái đoàn kết, khai sinh một Giáo Hội PG VN Thống Nhất, có tầm vóc quốc gia, các tổng vụ họat động hữu hiệu, nhịp nhàng, nhưng chưa kịp đào tạo tăng tài kế thừa, GH tiếp tục sa lầy trong những cuộc đấu tranh mang tính thời sự, các thế lực chính trị lạm dụng làm suy yếu tiềm lực PG; các quốc gia từng ủng hộ PGVN dưới triều đại nhà Ngô, giờ đây đã im lặng trước cuộc đấu tranh vùng vẫy tuyệt vọng của GHPGVNTN lúc bấy giờ; Song song với họat động nhuốm màu chính trị đó, từ PG, Thiền sư Nhất Hạnh cho ra đời THANH NIÊN PHỤNG SỰ XÃ HỘI, chuyên họat động từ thiện xã hội, nhằm giúp đỡ nhân dân trong các vùng chiến tranh tàn phá, xây dựng lại mái ấm, hướng dẫn nông thôn có kiến thức vệ sinh, nông nghiệp, đạo đức và đức tin trong xã hội. Muốn thành thị hóa nông thôn. quy tụ nhiều tu sĩ và sinh viên tình nguyện tham gia; Với lòng nhiệt thành và thiện chí của những tâm hồn đầy lý tưởng đó, trả giá bằng hàng chục sinh mạng của thành viên Tiếp Hiện bỏ xác tại trụ sở Pháp Vân, cũng như rãi rác khắp nẽo đường quê hương, làm phân bón cho những nơi thiếu tình người. Thiện chí là điều tốt, nhất là lúc nhân dân đau khổ vì cuộc chiến, nhưng thiện chí không phải là người bạn đáng tin cậy của những thế lực đang xung đột và bên cạnh là tôn giáo bạn nhiều đố kỵ. Các phe lâm chiến đều nhìn những đòan TNPSXH là kẻ thù! Và duy nhất của họat động thiện nguyện nầy mang ý nghĩa nhập cuộc của PG phi chính trị, gỡ gạc một phần định kiến của dư luận về những xáo trộn liên tục sau 1966 từ PG; Giữa cuộc chiến ý thức hệ ác liệt như thế, sự có mặt của Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội quả là liều lĩnh và mạo hiểm! Dẫu sao, cũng thể hiện được đức vị tha và tinh thần vô úy của đạo Phật !

TỪ MỘT NỀN GIÁO DỤC

Sự thành công từ việc canh tân PG trong những thế kỷ trước đem đến kết quả rực rỡ cho PGVN đến thập niên 1964, không ai phủ nhận; Thời cực điểm vang danh của PGVN trong nửa thế kỷ 20 dẫn đến hiện tượng xuống cấp cho đến ngày nay do những nguyên nhân như : Giáo dục đào tạo tu sĩ, truyền bá giáo pháp, khuynh hướng nhập thế, chất liệu hướng nội…và mô thức tổ chức.

Thật vậy,PGVN ngày nay, ngọai trừ một vài đạo tràng cho Phật tử như Hoằng Pháp, thiền viện chuyên tu như Chơn Như, Bát Nhã, Trúc Lâm, Thường Chiếu, Linh Chiếu…tất cả sinh họat của tu sĩ bên ngòai đều xuống cấp trầm trọng; Làm mất niềm tin quần chúng dưới nhiều hình thức:- mặc cả đám tiệc ma chay - kinh doanh dưới dạng tín ngưỡng - phong cách như một quan chức tôn giáo - hưởng thụ sang trọng - trọng phú khinh bần - khuynh hướng thực dụng… Sinh họat chùa chiền trở thành một nghề sống; ngày hai thời kinh cho xong việc, tu sĩ không còn gì để làm, thậm chí có chùa, vị trụ trì phải thuê tăng chúng trụ xứ tụng kinh và ma chay cho tín đồ. Một số tăng trẻ có học thức, có lý tưởng, băn khoăn tự hỏi: - cắt ái ly gia thóat hình dị tục chỉ vì miếng cơm manh áo bằng những nghi ứng phú vậy sao? Lý tưởng giải thóat bằng phương tiện tầm thường thế! Ở ngòai đời, với mảnh bằng đại học, có thể kiếm sống bằng cách dạy học, làm thuê còn ý nghĩa, khỏi mang nợ áo cơm Tam Bảo và bá tánh!!! Vậy xuất gia để làm gì ! Có nghĩa tu sĩ ngày nay đánh mất lý tưởng, học không biết để làm gì, vì không có chỗđứng trong GH đầy phe phái bảo thủ; xuất gia với mục đích gì; Có những em Gia Đình Phật Tử được giáo dục quá lý tưởng về hạnh nguyện của người xuất gia, nhưng khi vào chùa chứng kiến những bê tha đồi trụy, bổng chốc niềm tin biến mất, thế là bỏ đạo, không tin Tam Bảo! Những trụ trì không quan tâm đến đời sống tăng chúng, thậm chí thâu nhận đệ tử bừa bãi, không giáo dục, không nuôi ăn học, mạnh ai nấy vơ vét, bằng mọi thủ đọan làm tiền. Ngòai xã hội, cán bộ tham nhũng bê tha có pháp luật trừng trị, nhưng tôn giáo là vùng đất bất khả xâm phạm, nhà nước không thể xen vào nội bộ tôn giáo, và không phải nhiệm vụ của họ. GH là ai nếu không chính là biểu hiện của những bất tọai đó, giáo luật, giáo quy chỉ là vật trang trí, trên nói, dưới không nghe, bởi lẽ, thượng bất chánh hạ tắc lọan! Hầu hết quần chúng nhìn PG và tu sĩ PG là một tổ chức tràn đầy mê tín và quan liêu,không còn chỗ nương tựa niềm tin, (nơi có thể thỏa mãn niềm tin thì quá ít và họ chưa có duyên tiếp cận với bậc chân tu) những quan chức tôn giáo đó, không hề bận tâm đến sự tồn vong ngôi nhà mình đang nương náu, một lúc nào đó, không còn lợi dụng được, họ sẳn sàng trút bỏ chiếc áo như bộ cánh không còn hợp thời trang, lìa khỏi mái chùa như trút bỏ một đôi dép rách, đó là một Huệ Nhật đã chọn Tin Lành làm mảnh đất sống mới tràn đầy lý tưởng! Và những ai không đủ can đảm như thế, tiếp tục vật vã ẩn dương nương Phật, vì lìa khỏi mảnh đất tôn giáo mầu mỡ đó, không bằng cấp, không trình độ, ngại lao động, biết cuộc sống có sướng hơn chăng! Vì thế, ngòai những thiền môn có nề nếp, ngòai những tu sĩ chân chánh, khó mà định nghĩa thế nào cho đúng với PG VN qua những thành phần còn lại !

I. Giáo dục và đào tạo; Những thập niên 1930 trở về trước, thầy trò sống chung trong một Già Lam như tình cha con; Thầy có bổn phận truyền đạt kiến thức cho đệ tử, huấn luyện oai nghi, nghiêm trì giới luật và giảng dạy kinh điển, kinh nghiệm tu tập. Đệ tử học nơi thầy qua thân giáo và khẩu giáo một cách nghiêm túc. Mỗi chùa là một trường học mà bổn sư là giáo thọ, đệ tử là học trò ! Nếu có Phật học viện, thì giáo thọ và tăng sinh cũng thường trú trong một nề nếp thiền môn chứ không phải không khí của một học đường, chú trọng giới luật nhiều hơn kinh điển, sau khi hòan mãn kinh luật qua quá trình tu học, có người tiếp tục hầu thầy, có vị ra hoằng pháp, có bậc chuyên tu nơi am thanh cốc vắng, làm mô phạm cho học chúng hậu lai. Thầy xét thấy đệ tử đủ đạo phong đức hạnh, bổ cử đi các trụ xứ. Kinh thư ngọai giáo hay kiến thức xã hội được giáo dục ngay trong già lam, không giao tiếp nhiều với ngọai tục; quần chúng và tu sĩ có một khỏang cách nhất định. Cần giao tiếp với tín đồ hoặc thân thuộc, có vị tri khách chứng kiến, tiếp tại phòng khách, thời gian không quá 15 phút. Chỉ trao đổi những gì cần , không có thời giờ nhàn rỗi để hý luận, nói năng nhỏ nhẹ, khiêm ha.Thời giờ phần lớn dành cho tu và học.
Trước và sau khi đất nước phân ranh, chư tôn đức được hòan mãn từ các Phật học đường, ra làm việc. Thực tế đất nước đối đầu với bao thách thức từ đời sống vật chất đến tâm linh, từ văn hóa đến tập quán, đòi hỏi PG phải thay đổi cách nhìn, cách giáo dục, cách truyền đạt văn hóa thiền môn, và nhất là đem đaọ Phật vào quần chúng, mà xa xưa, quần chúng tự tìm đến với đạo Phật, vì vậy quy cách giáo dục truyền thống được chuyển sang mô thức học đường, tăng ni chuyển qua thế học, thời gian giành cho nội điển giảm dần, oai nghi luật giới dần dà xem nhẹ; Chẳng những thế, tăng sĩ ngày nay không thân cận, hầu thầy như xưa, thuyên chuyển chỗ ở tùy thích, vì thế mà dể buông thả phong cách; Mỗi vị một phòng ở, tiện nghi như một gia đình nhỏ, tiếp khách tại phòng riêng, ăn ngủ tùy tiện, không ai kiểm sóat ai; Trong thời ly lọan, tăng sĩ một phần trong tuổi động viên quân dịch tại miền Nam, một phần do PG đấu tranh liên miên, một phần ảnh hưởng xã hội thực dụng do nếp sống Âu Mỹ truyền nhập bởi quân đội Hoa Kỳ, và những tu sĩ xa thầy, xa bạn đồng tu, sống các tư gia , dẫn tới nhiều tệ nạn, không chịu tu mà cũng chẳng học hành, vì vậy, những năm trước 1975, số tu sĩ có mảnh bằng đại học và du học rất ít.
Tại Sài Gòn bấy giờ, chùa Già Lam do HT Trí Thủ trụ trì, Huệ Nghiêm do HT Bửu Huệ tọa chủ, học chúng nội trú tương đối nề nếp và học hành khá thành đạt; tại Già Lam, tốt nghiệp là bác sĩ, dược sĩ được mấy vị, nhưng chả thấm vào đâu; Ở Huệ Nghiêm, nhiều vị là pháp sư, giảng sư, luật sư có năng lực; Cũng như các tổ đình, tự viện miền Trung, tại hai đạo viện nói trên, tăng sĩ giữ được môn phong đạo cách, cũng bởi tình thầy trò hòa hợp như cha con, tình thương và trách nhiệm của thầy đối với trò là một phương cách giáo dục truyền thống gắn bó như một gia đình của dân tộc ta, đưa đến nề nếp cho con cháu vậy.

Ngòai ra, phần lớn các am tự viện miền Nam ngày nay, trụ trì và tăng chúng không có sự mật thiết và tôn kính, thiếu tinh thần trách nhiệm lẫn nhau, vị trụ trì nhận chúng bừa bãi, không biết gốc gác, chủ yếu ở cho đông để bá tánh cúng dường; nuôi chúng như nuôi heo, miễn đủ hai bữa, không đủ dinh dưỡng,muốn ăn thêm, tự lo; bệnh họan, ai có Phật tử thì nhờ, không quen phật tử đành chịu phận hẩm hiu; học hành tự liệu, không như Kito giáo bao thầu trọn gói, do thế, những ai không đủ nghị lực vượt qua, đều rơi rớt, hoặc ra đời, hoặc làm sư thất học, chuyển qua ứng phú lo chuyện ma chay kiếm sống!

Một ngôi chùa ngọai vi thành phố HCM, trước trào lưu bon chen đua nhau xây dựng phô trương vật chất, vị trụ trì đó về vùng quê thu gom trẻ em nghèo trên 50 đứa, cho cạo đầu, để chóp, chụp hình đăng báo, vận động nước ngoài dưới danh nghĩa nuôi trẻ mồ côi, thế là những Việt kiều hảo tâm không tiếc của, vung tay làm phước, dĩ nhiên người lợi dụng thân phận kẻ khác làm sao có lương tâm, cuộc sống của các em như những bê con vét từng ngụm sữa thừa khi sữa mẹ bị chủ vắt bán cạn kiệt, Chủ bò sữa thu nhập như thế nào thì sự thu nhập từ những nguồn lợi của mầm trẻ đó, vị trụ trì phải gấp mười lần hơn, vì bầu sữa bò mẹ có hạn nhưng nguồn lợi vô tội vạ kia không cùng tận, từ đó, tu sĩ kia đi đến những bê tha sa đọa trên đống tiền bất chánh tội lỗi . Trong số trẻ kia, có những em học hành xuất sắc, vì chúng có chí khí, có nghị lực và óc cầu tiến, cũng đã thành đạt cấp quốc gia, nhà nước trợ cấp đi du học; trụ trì kia không thấy được giá trị đó, tiềm năng cho PG về sau, vẫn thờ ơ lãnh đạm, để tiếp tục mai một cho những chồi non còn lại; một ít em đã phải bỏ chùa về quê làm ruộng, tuy khổ cực nhưng không để ai lợi dụng, một ít em tìm nơi trú ẩn những chùa khác để có điều kiện ăn học, tiến thân!

Một ngôi chùa lớn tại quận 10 TPHCM, vị trụ trì chân tu, nhưng chiêu nạp tăng chúng quá bừa bãi, sinh họat nội bộ không kiểm sóat, nội trú gần trăm vị, thời khóa kinh tụng chỉ vài người có mặt trên chánh điện, tăng trẻ gây xáo trộn vì bệnh đồng tính luyến ái, phe cánh giành giựt khi có ma chay, không học hành, chạy xe dạo phố và đến nhà tín đồ tạo phiền hà cho gia chủ; chưa nói những ngôi chùa chuyên đi tụng đám, hẳn nhiên họ không ăn chay, có cả vợ con bồ bịch, và cờ bạc công khai trong chùa…, giải quyết xích mích bằng xã hội đen.

Tình trạng tu sĩ PG ngày nay đại lọai như thế dưới nhiều hình thức, thầy vô trách nhiệm, thiếu tình thương đối với đệ tử làm sao trò tôn kính, vâng lời và nghiêm túc! trách nhiệm và tình thương luôn là điều kiện cho con cháu, môn đồ nên người!
Tuy vậy, vẫn còn một ít bậc chân tu, lo cho đạo, chăm sóc đệ tử khá chu tất, không những tu sĩ mà ngay cả đệ tử tại gia, họ cũng quan tâm về cuộc sống, sức khỏe và hạnh phúc gia đình, ít ra cũng còn những vị như vậy để giữ niềm tin cho môn đệ.

Một khi truyền thống giáo dục đạo đức thiền môn chuyển sang cơ chế tân học, tăng sinh phải đến trường thế học, và Phật học, không được trang bị oai nghi phẩm hạnh và một tình thương của thầy tổ, chắc chắn tăng sinh đó phải đối diện những khó khăn cho những phấn đấu tự thân; thêm một khó khăn nữa, giữa thế học và đạo học, thời giờ không đủ để chu tòan học trình; Cái bất cập trong giáo trình Phật học hiện nay,từ trung cấp Phật học trở lên, tăng ni sinh hầu như không thu thập được bao nhiêu kiến thức; Giáo thọ quen lối diễn giảng nhà chùa hơn là sư phạm học đường, học chúng nghe cho vui rồi ra về với cái đầu rỗng tuếch, cuối khóa có thêm ít xảo thuật lý luận PG đại thừa để hý luận mà không áp dụng vào đâu được; cũng không có một pháp môn cụ thể để tu tập có hiệu quả; Do giáo trình và phương pháp giảng dạy thiếu thực tế và không đạt chuẩn, tăng ni sinh đến để giết thời giờ, khỏi làm công việc ở chùa, chẳng những thế, giữa tăng và ni sinh tại Vĩnh Nghiêm có sự giao lưu thân mật ngòai giới hạn, dân chung quanh chùa hằng ngày chứng kiến như xem bộ phim quá nhàm chán. Một người gần đó than, thầy tu như thế mà mọi người cứ nhắm mắt cúng dường là sao!

Trong giáo trình Cao cấp Phật học, tương đương đại học, đòi hỏi sinh viên nỗ lực khá nhiều, nhưng bề rộng nhiều hơn chiều sâu, sinh ngữ như Anh, Pháp, Hoa, Nhật… cổ ngữ như Pali, Sanscrit liệu có cần tòan bộ cho những học trình như vậy mà sau khi tốt nghiệp, họ có thể tự chọn để đi vào chuyên sâu. Một số giáo sư có bằng tiến sĩ từ Ấn Độ hay Âu Mỹ, chưa đủ kinh nghiệm giảng dạy, làm cho giảng đường như ong vỡ tổ, tăng ni sinh chán nản và thấy vô nghĩa, mất thời gian, một số không cần bằng cấp, chứng chỉ, họ nghĩ học, về tự nghiên cứu, tự học hỏi
Những học đường PG như vậy, chú trọng về kiến thức nhiều hơn đạo đức và tâm linh, cuối cùng, những vị tốt nghiệp chẳng khác nào ông cử bà tú của thế tục, không giúp gì cho một tu sĩ trên con đường tu tập tự thân hay nhà mô phạm đạo đức cho quần chúng, thậm chí nâng cao ngã mạn với những học vị, thiếu tinh thần trách nhiệm trước sự tồn vong của Phật Pháp !

- Ngòai việc nuôi chúng và truyền đạt đạo lý, trang bị kiến thức, sau 1980 phong trào Kiết hạ an cư bắt đầu rộ nở, những chùa có bề thế đều muốn làm trường hạ; Ngày xưa, An cư là truyền thống tốt đẹp, ba tháng trong năm, sau chín tháng hoằng hóa, Phật chỉ định chư tăng cấm túc, vừa tránh vô tình sát hại côn trùng trong mùa mưa, vừa cùng nhau trau dồi đạo đức, thúc liễm thân tâm, kiểm điểm luật giới, tăng cường thiền định... Thế nhưng, với cơ chế thị trường và thời đại tryuền thông ngày nay, một số tụ điểm kiết hạ biến thành tụ điểm kinh tế, sau ba tháng, chư tăng ra về với những phong bì và vật phẩm hậu hỹ, khi mà ban tổ chức trường hương thanh tóan mọi chi phí, còn lại, theo giáo phẩm mà việc hồi hướng nặng nhẹ có khác.Những trường hương nào sung túc, năm sau số lượng tu sĩ đăng ký nhập hạ càng đông. Nội quy trường hạ thả nổi, tại chùa Quảng Đức, quận 12, những năm trước đây, chiều tối, một số tăng trẻ ra ngồi quán cà phê, ghẹo gái, nghe nhạc, nửa khuya mới trèo tường vào chùa.Ban tổ chức không cần quan tâm, mặc dù tín đồ phản ánh! Miễn có người nhập hạ đông để nhận cúng dường.

Hầu hết các điểm an cư là nơi giao lưu chư tăng thập phương, trao đổi mọi chuyện từ sao hỏa đến thâm cung bí sử, từ chiến sự đến du hý vào lúc nhàn rỗi, tuyệt nhiên không nghe luận bàn về phật pháp hay kế họach truyền bá PP, pháp hành tu tập…một vài bậc chân tu ở chung không khỏi chạnh lòng cho sự tha hóa của tăng trẻ ngày nay. Hầu hết các trường hạ thành phố, tăng trẻ đều phung phí thời gian một cách đáng tiếc, nhưng khi Bố tát kiết giới, vị tuyên xướng luật giới hỏi có ai sai phạm, tất cả im lặng như một sự thanh tịnh thật sự!

Trường Phật học và trường hạ là tụ điểm giáo dục của PG, nhưng ngày nay, trở thành tụ điểm đáng báo động mà chư tôn túc có trách nhiệm cần quan tâm chỉnh đốn để khỏi đánh mất niềm tin qưần chúng và tha hóa tu sĩ.

II. Truyền Bá Giáo Pháp, đó là thiên chức của ban Hoằng Pháp và các vị trụ trì . Ban Hoằng pháp chưa thóat được lối mòn của những thế kỷ xa xưa, do nhiều nguyên nhân:
a/ HT trưởng ban kiêm nhiệm quá nhiều chức vụ, do thế, không chức vụ nào được hòan thành xuất sắc.
b/ Ban Hoằng Pháp không có những cố vấn chuyên môn, cập nhật kiến thức và khoa học trong nghiệp vụ. Mỗi lần ngài trưởng ban đi truyền giảng, kéo cả ban bệ đạo tràng Pháp Hoa mở đường và tiếp đón, chủ yếu phô trương nhiều hơn là chú trọng kết quả công tác.
c/ Trong lối đào tạo diễn giảng, mang tính chung chung của những chủ đề giáo lý chung chung. Chưa giúp cho giảng viên, giảng sư nắm được tâm lý xã hội, kiến thức cập nhật,yếu tố quần chúng, đối tượng thính giả và ngôn ngữ bình dân, ôm cứng chủ đề bằng thuật ngữ chuyên môn, người nghe cảm thấy thiếu hứng thú.đưa đến tình trạng : giảng sư nói giảng sư nghe, thính chúng nói chuyện như chợ chồm hổm, chủ đề và nội dung buổi giảng không liên hệ gì với cuộc sống thực tại, cứ như ngôn ngữ người cỏi trên không liên hệ gì đến cõi hạ giới!

Cũng còn những giảng sư có tài, nằm ngòai tổ chức, chưa có điều kiện phát triển, vì Ban HP không cần nhân tài ngòai luồng. Giả thử không muốn xử dụng giảng sư ngòai luồng, ít ra Ban Hoằng Pháp và các giảng sư cần nghiên cứu những bí quyết mà cô Như Thủy và một số thầy đã thu hút được quần chúng.
e/ Ngoài ra, cũng còn một vài chức sắc PG gây trở ngại cho công cuộc hoằng pháp, ví dụ ông Chánh Đại Diện tỉnh hội cao nguyên, suốt ba tháng hạ, ngăn trở không cho cô Tố Liên do Ban Hoằng Pháp Trung Ương bổ cử lên giảng hạ; Pháp sư Giác Nhiên về thăm cũng bị cản trở việc thuyết pháp, nhưng ông ta lại cố tình mời Pháp Sư Giác Nhiên đến viếng chùa để xin được viện trợ; Pháp Sư ngạc nhiên khi làm một Đại Hồng Chung đem qua Mỹ chỉ tốn tám chục triệu, mà vị nầy làm tại chỗ phải hơn một trăm, ngài đành bấm bụng cúng dường! Ông ta luôn mặc áo quần rách rưới, nhưng từ chối cho những Phật tử người sắc tộc đến chùa lễ Phật, còn khinh thị bằng những lời hạ cấp; Phật tử muốn thỉnh Giảng sư lên thuyết pháp, ông ta viện mọi cớ thoái thác; Một chức sắc như thế, luôn là trở ngại cho Phật sự, tại sao vẫn tồn tại nhiều nhiệm kỳ mà GH TW không quan tâm cải tổ? Bao năm qua, Phật sự tỉnh nhà không phát triển, ngược lại tín đồ rơi dần vào tay ngoại đạo, ông trưởng ban trị sự tỉnh hội sốt sắng giao hảo với các chức sắc chính quyền và các tôn giáo như một niềm vinh hạnh; chức vị trong PG là điểm tựa cho ngài tiến thân và lợi lộc cá nhân, những người như thế làm sao PG được phát triển.

Hầu như Phật tử đến chùa chỉ để cúng dường, tụng kinh và công quả, ít được các thầy giảng dạy. Do vậy, ít ai hiểu giáo lý, khi đối diện với sự cám dổ của ngọai đạo, hay sự kích bác của kẻ ác, người Phật tử dễ sa ngã! Những trụ trì không có trình độ giáo lý đã đành, những vị uyên thâm, cũng không hề có những buổi giảng vào những ngày sóc vọng khi tín đồ đến lễ sám mỗi tháng; TP HCM trên sáu triệu dân, chỉ có không quá năm điểm diễn giảng, mỗi điểm giảng không quá 200 người tham dự mỗi tuần, làm sao giáo lý đi vào quần chúng; Kito giáo, ngòai những buổi lễ Misa, các lễ theo mùa, thầy cả đều giảng phúc âm, chẳng những thế, kẻ kết hôn buộc phải cải đạo, hằng ngày đi học giáo lý, con sinh ra rửa tội, biết cắp sách đến trường phải tham dự giáo lý theo từng lứa tuổi; vì vậy khó mà tín đồ bị lung lạc đức tin .

Hoằng pháp là vấn đề tối quan trọng; nhờ tính năng nổ và kế họach truyền bá của Asoka sau Phật nhập diệt 3 thế kỷ, những vùng xa xôi như Tây Bá Lợi Á, chạy dài qua syri, Ai Cập..đều có sự hiện diện của PG; năm 1913 tại St Petersburg đã xuất hiện một ngôi chùa và nhiều Phật học viện gọi là Dastan; Tộc người Buriat và Kalmyk, Nga sô, thế kỷ thứ 17 đã có 300.000 người theo đạo Phật, nhưng, do tính thụ động mà PG Đại Hàn mất dần chân đứng trong xã hội; Afghanistan bị xóa trắng bởi Hồi giáo; do thiếu truyền bá mà quần chúng Phật tử trở thành mê tín, và PG dần rời xa quần chúng. PG là tôn giáo xưa nhất, thế mà tòan thế giới chỉ có 295.570.780 tín đồ, những tôn giáo xuất hiện sau PG trên 6 thế kỷ như Kito giáo La mã, hiện nay tín đồ có trên một tỷ , Hồi giáo cũng gần bằng; do việc truyền bá thiếu hiệu quả chứ không phải giáo lý không thích hợp với kiến thức thời đại. Ban Hoằng pháp nói riêng, tất cả chư tăng nói chung, phải xét lại phương cách sinh họat trước sự chuyển mình mau lẹ, linh họat của các giáo phái Kito giáo hiện nay tại VN.
Do tính thụ động của tu sĩ mà các nước PG nay mất dần chân đứng, Kitô giáo đang phát triển ở Nhật, Thái Lan, Triều Tiên, Lào, Campuchea,Srilanka… và nhất là VN với cấp số nhân.

III. Khuynh Hướng Nhập Thế - Như phần trên đã trình bày, khi đất nước đối đầu với luồng sinh khí mới lạ từ Âu Tây, mọi sự không còn nằm trong mô hình gia đình và truyền thống, việc tổ chức theo hệ thống quả là hiệu quả và trật tự, vì thế PG đã làm quen với mô hình tổ chức giáo hội theo thế tục của Kito giáo; việc đào tạo giáo dục tu sĩ cũng rập khuôn chìều hướng đó, nhưng quên rằng tinh thần PG khác với tinh thần tôn giáo phương Tây ( tuy Kito giáo xuất phát từ phương Đông, nhưng qua 20 thế kỷ đã được phương Tây quy củ hóa tổ chức, và tinh thần thần học khác với tinh thần tùy tính của PG );

Duy nhất trong PG, tổ chức Thanh thiếu niên Phật tử mệnh danh là Gia Đình Phật tử, một tổ chức thành công nhất, ngược lại hệ thống tu sĩ, theo mô thức tổ chức mới, là một thất bại nặng nề nhất. Bởi lẽ,GĐPT mang tính sinh họat nửa tôn giáo, nửa xã hội, chủ yếu giáo dục, vì vậy việc hòa nhập xã hội dễ hơn tổ chức tu sĩ.
a/ Giáo Quyền – Với tinh thần tự giác và dân chủ của Đạo Phật, ngay từ Phật còn tại thế’ một giáo hội không theo mô hình tổ chức quyền lực chiều dọc như ngày nay. Tuy đức Phật là vị sáng lập ra PG, giáo đòan thuộc quyền hướng dẫn của ngài, nhưng mọi quyết định liên hệ đến giáo đòan và Phật sự, ngài đều tôn trọng ý kiến của đại chúng; Điều hành, bổ cử sứ giả hoằng pháp đều tùy thuộc về sự hòa hợp và tự nguyện của đại chúng; Ngày nay cơ chế tổ chức, quyền lực theo hệ thống dọc, không thích hợp với tinh thần bình đẳng của PG, GHPG không có giáo quyền tuyệt đối, việc điều hành còn du di tùy tiện, kém hiệu quả. Một tổ chức lỏng lẻo trong một xã hội nề nếp, bên cạnh những tôn giáo có kinh nghiệm tuyệt đối về tổ chức và điều hành, chắc chắn, PG sẽ chậm phát triển và họat động thiếu hiệu quả.

b/ Thu thập kiến thức – Tu sĩ ngày nay trình độ học vấn nhiều hơn xưa, bằng cấp cao hơn và ngã mạn nhiều hơn; Người đời trang bị khoa bảng để có bổng lộc, nuôi thân và gia đình, tu sĩ sau khi cầm mảnh bằng, không biết làm gì, muốn đóng góp cho GH, không có chân đứng, trở lại điểm khởi đầu ê a vài thời kinh để qua ngày ngày đọan tháng. Tự mình không tìm được lối thóat bế tắt. Thất vọng vì tập thể GH không đem lại cho tu sĩ tín đồ một hy vọng sáng sủa, và chính tự thân tu sĩ cũng không tìm cho mình một phương án lý tưởng cho việc tu tập hoặc đóng góp gì cho PG và đất nước đúng nghĩa. Một ít tăng sĩ theo những môn học không dính dáng gì với người tu, ví dụ Kế tóan Tài Chánh…hoặc đi học theo phong trào, không có căn bản!
c/ tập làm kinh tế - Một số lại thiên hướng kinh tế, chuyên gia tổ chức hành hương, làm tương chao thực phẩm, nhang đèn, áp phe cò đất, chạy án hoặc huy động vốn, cầm cố thế chấp…Tất cả thành phần như thế, đạo không trọn mà đời cũng không thành đạt, không có kinh nghiệm cạnh tranh phát triển, lắm khi bị thất bại, thời giờ đâu cho việc tu tập hoặc hướng dẫn Phật tử!
d/ sinh họat từ thiện - Một vài vị có tâm hơn, lăn xả vào công việc từ thiện , lo cho trẻ em khuyết tật, cô nhi, bệnh xã hội, phong cùi…không có nguồn tài trợ ổn định, làm theo mùa, không nhân sự, thiếu tổ chức, phần lớn bỏ dở buông xuôi.
GH chưa tổ chức một sinh họat xã hội cho ra hồn, chưa có một đòan thể như Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội trong thời bình để sự có mặt PG trong cuộc sống có ý nghĩa hơn; Tuy nhiên, vẫn có những tổ chức từ thiện không thuộc GH mà họat động khá hiệu quả, cũng là hội Từ thiện của PGVN hiện nay, đóng góp nhiều mặt như xây nhà tình thương, làm cầu đường nông thôn,cấp học bổng và phát quà cho học sinh đạt 4 tiêu chuẩn – Hiếu kính cha mẹ – tôn trọng thầy cô – tử tế bạn bè – đòan kết yêu nước; phát quà cho những gia đình neo đơn; mổ mắt từ thiện cho người nghèo…

Ngòai ra, do khuynh hướng nhập thế đa diện, tu sĩ thiếu cơ bản giới đức và chân tâm, đã sai phạm vào những cám dỗ khó từ chối, cơ bản vì hành xử với mục đích tư lợi; Do thế, ta không lạ khi thấy PG nhập thế không đem lại hiệu quả hoằng truyền chánh pháp như Kito giáo La mã và Tin Lành mà hiệu quả là đánh mất niềm tin trong quần chúng! Phải chăng PG đang đứng bên lề xã hội !

IV. Chất Liệu Hướng Nội, trong cơn cuồng phong của cuộc sống thực dụng , cuốn hút không nhỏ số tu sĩ thiếu trang bị phẩm chất nội tâm, làm chao đảo hình ảnh cao đẹp của PG trong lòng quần chúng, rất may, vẫn có một số bậc chân chính, hoặc ẩn tu, hoặc nhập cuộc hướng dẫn cho một số cùng khuynh hướng trở về nương tựa chính mình, hoặc xử dụng tâm lý đạo đức PG vào lòng xã hội, giúp một bộ phần quần chúng có điểm tựa cho niềm tin, giúp họ thánh thiện và mẫu mực hơn.
Những bậc chân tu đó, có thể thiên hướng Tịnh Độ, có thể nhiều lọai thiền khác nhau, nhiều pháp tu khác nhau, mục đích chung điểm là giúp mình và người trong cuộc có một sự thanh thản an lành và thăng hoa, hữu dụng cho cuộc sống, giải thóat phiền trược trong hằng ngày. Đó là điều tối cần để sinh lực PG được lưu truyền trong xã hội;
Hiện nay, do nhu cầu tâm linh khi cuộc sống xô bồ làm mệt mỏi chán chường và căng thẳng, họ tìm đến với tôn giáo và một số hình thái tín ngưỡng phi tôn giáo; Có một số xuất phát từ trong nước, có một số du nhập từ nước ngòai; dĩ nhiên do trình độ tâm linh và kiến thức thẩm định không đồng nhất, các nền tín ngưỡng và tôn giáo đó được nồng nhiệt chào đón và chấp nhận một cách dễ dàng mà không cần nhận xét, và nếu nhận xét, cũng không y cứ vào tiêu chuẩn nào, đó là cái khó cho quần chúng mà PG chưa giúp gì để người Phật tử chọn cho mình một pháp hành đúng đắn; Chẳng những thế, ngay trong một số chùa, vẫn dung nạp những hình thức tín ngưỡng không chính đáng; Ta tạm lược sơ qua vài hình thức tín ngưỡng hiện có trong nước:
- Ngòai các hệ phái Kitô giáo như Vatican, Tin Lành, Islam, còn có B’hai, Ấn giáo ; mặc dù một số trường phái tu tập có từ xa xưa, nhưng phát triển gần đây tại VN như Quán Âm do thánh sư Bare Maharaji và các chân sư truyền thừa; Năng lượng sinh học của Dasira Narada do Lương Minh Đáng phổ biến; Nội tâm tĩnh lặng do Dadi Ranji thuyết giảng, phép luyện khí công của Yoga; Thiền quán Siêu Âm-siêu Quang của Surat Shabd Yoga … là những môn mang tính khoa học và khoa học tâm linh, phi tôn giáo, giúp chúng ta hướng về và phục hồi năng lực tâm linh, giải thóat mọi áp lực tinh thần và hệ trược của bản năng.
- Một số tôn giáo nội sinh như Cao Đài, Hòa Hảo, còn có tín ngưỡng nội sinh như Pháp Vô Vi của Lương Sĩ Hằng, Thủy hỏa ký tế Lão Đam ( được khôi phục tại VN ) Thần quyền chân truyền…
- Một số sinh họat tín ngưỡng dân gian như Đồng bóng, Tứ Phủ, Cầu cơ cầu hồn; Một lọai hình bán tôn giáo, bán tín ngưỡng như Diêu Trì Kim Mẫu và Maria, Phật và Chúa thờ chung mà không có một giáo thuyết nào làm cơ sở cho lọai hình nầy như Cao Đài. Và còn có một lọai không mang danh xưng nào, sinh họat bí mật, không phổ biến, người tập ngồi tư thế thiền, buông thả tâm trí sau khi đọc câu mật chú, sau đó tiếp nhận điển lạ, đưa đi cảnh giới khác học hỏi…
- Một lọai hình tâm linh phi tôn giáo, phi tín ngưỡng, phát sinh ồ ạt sau 1975, đó là Ngọai Thấu Thị, còn gọi là Ngọai Cảm, chuyên hướng dẫn truy tìm mồ mả
Người Phật tử và ngay cả một số tu sĩ còn bỡ ngỡ, hoặc chấp nhận như một hiện tượng mới lạ, hoặc nhắm mắt chống đối mà không chịu tìm hiểu căn cội và hiệu quả vấn đề’ Ngòai những lọai hình tín ngưỡng không rõ ràng, loại hình khoa học tâm linh, không có giáo điều, không có giáo chủ, nâng cao năng lượng sinh học, giúp cho thể lực. tâm lực và trí lực phát triển, chúng ta cần quan tâm chọn lọc.

Các tôn giáo thần quyền biết cách tiếp thị, đã ăn khách khá nhiều tại VN hiện nay; PG tuy là một tôn giáo sâu sắc về học thuyết, hiệu quả về tâm chứng, đạo đức về giáo dục, ôn hòa mặt xã hội, nhưng chưa giúp cho quần chúng nắm bắt được trọng điểm, dễ bị ngọai đạo lôi cuốn; đưa đất nước đến cực đoan bạo lọan. Muốn giúp cho quần chúng phân biệt đưực chánh tà, đúng sai trên thị trường tín ngưỡng tôn giáo, chúng ta xét các tiêu chuẩn như:
Nếu là tôn giáo, phải hội đủ tiêu chuẩn đạo đức tâm linh và đạo đức xã hội, đem lại đòan kết dân tộc, có tinh thần yêu nước và tôn trọng sự sống.
Nếu là tín ngưỡng, phải là lọai tín ngưỡng giúp cho hành giả đạt một trí tuệ, tình thương và ý thức trách nhiệm, không làm hại đồng bào và tha hóa bản thân, hiệu quả tốt đẹp có thể được thể nghiệm.
Chúng ta không hy vọng có một tôn giáo thống nhất, vì trình độ, căn cơ không giống nhau, hàng ngàn năm trước cho đến hàng ngàn năm sau vẫn thế, có thể tôn giáo, tín ngưỡng nầy họai, tôn giáo tín ngưỡng khác phát sinh, khó có một tôn giáo duy nhất, dù tôn giáo đó chân chánh, biểu tượng cho chân lý; Có thể bảo, tôn giáo là là biểu hiện nhu cầu tâm linh của quần chúng ở trình độ thấp, khi chưa có cái gì thay thế, hay xã hội chưa tiến đến cực điểm văn minh; lý thuyết là thế, nhưng thực tế tín ngưỡng tôn giáo là phản ánh nhu cầu tâm linh, dù dưới Xã hội Duy Vật, con người cũng tìm riêng cho mình một niềm tin vô hình che dấu dưới nhãn hiệu nào đó!
Ngòai ra tín ngưỡng bình vôi ông táo không nên được xem là điều cần phải có trong xã hội; PG không bảo thủ cố chấp riêng tín ngưỡng của mình, sẳn sàng chấp nhận những cái ngòai PG mà không đi ngược lại tinh thần tu tập PG, có thể hỗ trợ cho hành giả có thêm điều kiện thăng tiến tâm linh, hoặc không làm cho quần chúng đi lùi với tiến hóa.
Mục đích hướng nội trong PG giúp chúng ta an lạc và giải thóat hiện thực, không bị ô tạp chi phối mà vẫn có trách nhiệm với xã hội; Phương tiện hướng nội là những pháp hành của những pháp môn; chất liệu là năng lượng sinh học tự thân; Các đạo tràng, các tu viện, các già lam chuyên tu cần tìm và phối hợp những mô thức hiệu quả nhất giúp quần chúng phát triển tâm linh, an lành cuộc sống, không cố chấp trong một pháp hành truyền thống lỗi thời.

V. Hình Thái Tổ Chức, hình thái một GH từ thời Đức Phật không nặng về tổ chức mà nặng về tu chứng và truyền pháp; Qua nhiều thời đại và xã hội, PG hòa nhập và thích nghi, để đáp ứng nhu cầu xã hội, PG bắt đầu ghép mình trong khuôn khổ tổ chức hành chánh, nặng phần trình diễn, riêng cho PG, tổ chức càng chi ly, càng đánh mất tinh túy của tâm chứng, nói cách khác, giữ đúng tinh thần PG, không thể có một tổ chức hòan chỉnh và hiệu quả!, vì thế, những tổ chức GH trong quá khứ, tạm gọi là tổ chức không tổ chức; vì PG chưa tìm đúng mô hình hòa hợp thích nghi giữa thế tục và PG; Tổ chức giáo đòan, GH,tu viện, già lam của PG là lọai hình gia đình của Á châu, một đơn vị tổ chức trộn lẫn tình thương, trách nhiệm, giáo dục và hòa hợp, không như tổ chức hành chánh chỉ mang tính quyền lực và trách nhiệm;
a/ Sau khi PG bắt đầu kết hợp các hệ phái thành một GH, tu sĩ chưa quen mô hình mới, chưa có tinh thần trách nhiệm của chức năng, không có tình thầy trò trong công việc, không có tình cảm môn phái, không có trình độ hành chánh, ngay cả nhiệm vụ chuyên ngành cũng không nắm vững, vì thế dẫm chân tại chỗ,và dẫm chân lên nhau; Đặc biệt sau 1982, GHPGVN ra đời lại là lọai hình không đủ yếu tố hòan chỉnh của GHPGVNTN trước đây, cũng không thêm được nét sáng tạo giữa tổ chức hành chánh và tổ chức giáo đòan để có một sắc thái cá biệt; đây là nét chung của người VN ta; Cũng thế, dân tộc ta luôn có tính dân tộc, nên ngàn năm Bắc thuộc, ông cha ta luôn tìm cách thóat khỏi ảnh hưởng ngọai bang, trong đó có văn hóa, từ Hán tự, biến ra chữ Nôm, nhưng hình tượng thiếu đơn giản nên mất tính đại chúng; Trong khi đó, một số quốc gia cũng bị đô hộ, nhưng họ vẫn giữ được nét văn tự truyền thống như Campuchea, Thái, Lào, Đài Loan, Nam Triều Tiên; Riêng VN ta tự hào đã tiếp thu mẫu tự La Tinh của các cố đạo Bồ Đào Nha; tuy đó là ưu điểm cho việc truyền bá tôn giáo và văn hóa phương Tây, nhưng là điều tủi nhục cho dân tộc, vì cha ông chúng ta chưa kịp sáng tạo một dạng tự thích nghi thời đại như Nhật Bản; Xứ Hoa Anh Đào cũng xử dụng La Tinh, gọi là Romaji trong lãnh vực hành chánh, riêng quần chúng chỉ dùng chữ Hiragana và Katagana biến thể từ chữ Hán; Trong PG, khi đối đầu với một xã hội theo nề nếp thời đại, truyền thống sơn môn vẫn còn phảng phất sinh khí gia phong, lại sinh hoạt theo nề nếp tân thời, chưa kịp định hình một tổ chức đặc thù, vừa thích nghi xã hội, vừa giữ được nét cá biệt, nên cơ cấu tổ chức thiếu hiệu quả, chẳng phải tân mà cũng không phải cựu; Dẫu sao, GHPGVNTN vẫn còn thể hiện được tính bình đẳng trong tứ chúng, ni giới có ni Bộ đại diện, cư sĩ nam nữ có tổng vụ cư sĩ tham gia. GHPGVN ngày nay, tổ chức như có hình thức, Phật sự không cần hiệu quả, nếu không là vật trang trí thì công việc trôi chảy hay không cũng chẳng phải trách nhiệm của hàng giáo phẩm, có lẽ quen lệ thuộc bao cấp bao tiêu!
Đại hội PG vừa qua, Hồng Quang cũng đã đặt vấn đề chiếc ghế một chân, một tổ chức vừa phản khoa học, vừa phản tinh thần giáo đoàn, nhưng hình như tham luận chỉ là tham luận, không ai buồn quan tâm cải thiện cho PG tiến bộ hơn.
b/ Trong các ngành của GH, đoàn thể cư sĩ nam nữ đóng vai trò quan yếu, vừa hộ trì chánh pháp, vừa giáo dưỡng hậu lai, thế nhưng Ban hướng dẫn Nam Nữ Cư Sĩ không huy động được tìềm năng của lực lượng Gia Đình Phật Tử tồn tại trên 50 năm, họ có quá nhiều kinh nghiệm giáo dục thanh thiếu niên. Người có trách nhiệm chuyên ngành không đủ tư cách thuyết phục các đoàn sinh ngoài luồng, luôn mượn tay công an địa phương, dùng áp lực đe dọa, một thái độ sai lầm của thế tục, thiếu khôn ngoan của một người con Phật. Đáng ra, với tư cách đạo đức của một người huynh trưởng, với tình thương chân thật của người áo lam, đến với nhau bằng cả tấm lòng vị tha và chính nghĩa, làm sao các em không chấp nhận mình ! tiếc thay, những huynh trưởng trong hệ thống GH hiện nay, chưa thể hiện một tư cách gương mẫu, ngược lại các đơn vị Gia Đình ngoài luồng vẫn giữ được truyền thống giáo dục và tác phong áo lam rất tốt.
c/ Những tiềm lực còn lại trong hàng cư sĩ, bàng bạc khắp mọi ngành nghề mà GH vẫn chưa biết cách quy tụ, chính vì thế mà một số rẽ lối theo các tôn giáo khác, hoặc bất mãn PG vì không phân biệt được những ai là chân tu, ai là ẩn dương nương Phật; Nhưng, cũng từ hàng bạch y đó, không thiếu những tâm hồn tu tiến, có một nhiệt tâm và phong cách xứng đáng của người con Phật, GH không biết trọng dụng. Miền Trung, ngày trước, cư sĩ cũng từng là giáo thọ cho tăng chúng như Tâm Minh bs Lê Đình Thám, Thiều Chửu, Đoàn Trung Còn…những vùng xa xôi, cư sĩ thay mặt chư tăng đăng đàn thuyết giảng cho Phật tử, dẫn lễ ma chay…Năm 1963, nếu không có hàng cư sĩ, PG làm sao tạo một vết son trong bia sử! Ngày nay, ngoài nghĩa vụ cúng dường, cư sĩ không có quyền góp tay xây dựng ngôi nhà chung PG,đây là dấu hiệu độc quyền đưa đến độc đoán trì trệ; quan niệm cư sĩ chỉ có bổn phận cúng dường là con mang tư tưởng phong kiến lỗi thời!
Ban Hướng Dẫn Phật tử đã làm được gì với tiềm lực to lớn của Phật tử tại gia?
Chính vì cơ cấu tổ chức thiếu cân bằng, bánh xe hoằng pháp thiếu hiệu quả, kéo theo nhiều tệ nạn cửa quyền, tham ô, chư tăng biến thành những quan chức không tóc, xa rời quần chúng, GH biến thành tập đoàn tha hóa, phe cánh, hưởng thụ…

MỘT TƯƠNG LAI PG

Giữa những tạp nham trong cuộc sống hiện nay, quần chúng đang cần đến một điểm tựa tinh thần; Phật tử và tu sĩ cũng hướng đến một nhu cầu tâm linh chính đáng; Các tông phái như Thiền, Tịnh, Mật cũng muốn trăm hoa đua nở, một số đạo tràng phát triển, nhưng chưa đủ mạnh; Đây là điểm đáng mừng, báo hiệu những tha hóa sẽ bị đẩy lùi vào bóng đêm, những dạng tu sĩ phi pháp sẽ bị đào thải. Trong cơ chế hiện nay, vấn đề tín ngưỡng được mở rộng, tôn giáo tự do phát triển, đây là hình thái sinh hoạt lành mạnh giúp luật pháp nhẹ phần trừng phạt, nhà tù sẽ thuyên giảm, bệnh viện tâm thần cũng bớt bệnh nhân, và nhất là văn hóa dân tộc được xác định và củng cố, đó là những cố gắng tự phát mà không do GH chủ động.
Tình trạng một GH bất lực, quần chúng sẽ tự động tìm một lối thoát khả dĩ; chư tăng không đủ niềm tin cho tín đồ nương tựa, họ tự nương tựa chính mình.
Ngoài hệ thống GH cần chỉnh đốn cho thích hợp với PG, trình độ và đẳng cấp tu sĩ phải tương xứng với niềm tin của họ, một nhu cầu tất yếu là đạo đức và nội lực tu tập của chư tăng song hành với kiến thức thời đại; một tổng thể đó có nhiệt huyết, sống đơn giản và đức hy sinh mới hy vọng có một sắc thái tích cực cho PGVN.
Từ những thành phố đông dân đến các vùng sâu, vùng cao, trên sân chơi tôn giáo, đạo Phật đang bỏ trống nhiều mặt bằng; Cao nguyên Trường Sơn chạy dài ra Bắc bộ,Tin Lành thao túng như chỗ không người; Các vùng đồng bằng, Kito La Mã ra sức củng cố; Miền Tây Nam bộ, Champa có hậu thuẫn Hồi giáo đang lấn sân; Liệu PGVN có rút sâu vào rừng núi như PG Nam Triều Tiên đã từng làm sau đệ nhị thế chiến, sân chơi đã bị Tin Lành thế chỗ, đó là chuẩn bị cho một tấm khai tử giữa lòng dân tộc. Hiện tượng thụ động, thiếu trách nhiệm, chia rẽ suốt 30 năm đã là một minh chứng mà chưa đủ đánh thức các lương đống nắm vận mệnh PG hiện tại.
Bên ngoài các Phật tử nhiệt tâm, hướng về VN mong có một PG vững mạnh, để xây dựng quê hương, nhưng họ không hiểu được thực trạng trong nước, lắm khi mặc cảm quá khứ, có những động thái vô tình tạo sự chia rẽ trong nội bộ chư tăng và gây hoài nghi cho nhà nước, thêm một khó khăn cho đạo Phật nước nhà!
GH lắng nghe và tiếp nhận khả năng đóng góp của tứ chúng hầu cải thiện PG và ngăn chận những bất toại tồn tại trong đạo Phật gần phân nửa thế kỷ; Niềm hy vọng nếu thành đạt, chắc chắn PGVN sẽ là một tổ chức PG kiểu mẫu cho PG trong khu vực mà hiện nay, ngoài hình thức phô trương, PG các nước cũng không hơn gì PGVN ta hiện nay.
Và nếu GH không hoàn thiện thì chính nội tình PG là tội phạm xã hội nhiều nhất tính theo tỷ lệ; Nếu PG là tôn giáo mẫu mực cho quần chúng, là Thiên Nhân chi Đạo Sư, chắc chắn góp phần không nhỏ để đất nước phồn vinh !

MINH MẪN
21/6/06




PHẬT GIÁO VÀ GIÁO HỘI

Từ khi nền văn minh cơ giới phát triển, khoa học hiện diện khắp ngỏ ngách của cuộc sống, mọi sinh hoạt cộng đồng được sắp xếp trong một nề nếp ổn định, trật tự, PG cũng được hệ thống hoá dưới hình thức một tổ chức gọi là Giáo Hội theo mô thức thế quyền và giáo quyền Vatican, tuy không rập khuôn của cơ chế đó, nhưng cơ bản phân nhiệm rõ ràng trên nguyên tắc hành chánh; nó hữu hiệu trong sinh hoạt xã hội đối với một tập thể, với PG, một tinh thần phóng khoáng và nội quán, tổ chức như vậy có cái gì đó không đồng điệu và bất ổn, đưa tu sĩ xa dần với bản chất tự thân.
Nói thế không có nghĩa PG không có một GH và không cần một GH, ngược lại PG có một GH rất sớm, khi Đức Thế Tôn còn tại thế, GH lúc bấy giờ được xem là một nhóm gồm bốn vị Tỳ Khưu, cùng sinh họat chung trong một trú xứ, cùng một thời điểm để tu học và hoằng hóa đạo đức, như vậy GH đối với đạo Phật, không được quan niệm như một tổ chức hành chánh mà là một sinh hoạt tâm linh, không là một qui mô lớn, cồng kềnh mà là mô thức sinh hoạt đơn lẻ hữu hiệu!

Từ sau khi Phật nhập diệt, quan niệm GH như vậy vẫn tồn tại, qua các lần kết tập kinh điển, 500 thánh tăng La hán lần đầu và trên ngàn thánh tăng, thanh tịnh tăng những kỳ kết tập sau cùng, vẫn không xem lượng số đông đảo là một GH. Niên đại Asoka đào tạo sứ giả Như Lai truyền bá Phật tạng và Ngọc Xá Lợi sang hướng Bắc và Nam, gọi la Bắc truyền và Nam truyền, được xem là một Phật sự không do hệ thống GH hành chánh đảm nhiệm; những dịp Yết ma, Bố tát do tăng đoàn thực hiện mà không mệnh danh GH triệu tập. Khi PG truyền vào VN, Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, cũng chỉ là những tông phái, môn phong cá lẽ , chưa hình thành một GH hành chánh. PG vào VIỆT NAM đầu kỷ nguyên thứ nhất cho đến hạ bán thế kỷ thứ hai khi trung tâm PG nổi tiếng, Luy Lâu, hình thành, vẫn là những sinh hoạt tự phát, không chịu lệ thuộc vào một cơ cấu hành chánh mệnh danh là GH.Đến niên đại Trần Nhân Tông, ngôn xưng GH Trúc Lâm mới được nhắc đến, nhưng cũng mang tính môn phong, truyền bá chứ chưa có hình thức phân nhiệm đa ngành; Đến lúc PG quá thịnh, tình trạng tăng môn lạm phát, sinh lắm tệ nạn, trốn việc quan đi ở chùa, bắt đầu tu sĩ phải có giấy Độ Điệp,chứng nhận qua kỳ khảo thí, thành lập Tăng Cang, kiểm soát tu sĩ, nhuốm một phần nhỏ về hành chánh; Các môn phái cũng tự phát mà không trực thuộc vào tổ chức điều hành tổng quát của GH. Các môn phái tự củng cố nội bộ và phát triển hạnh môn, có lúc rộ nở trăm hoa, có khi thu mình trong dòng phái, đã rộ nở hay không, tu sĩ chính thức của các tông môn vẫn giữ được tầm vóc xứng đáng Tăng phong đạo cách của mình, cứ thế, PG thấm nhuần vào máu xương của dân tộc, tinh anh phát tiết qua nghệ thuật, thi ca, kiến trúc…Tuy có một vài Nho gia châm biếm bài xích PG vì đố kỵ, nhưng hầu hết PG tạo được thế đứng trong nhân dân, luôn giành được vị thế kính trọng bởi đạo phong, nội lực và kiến thức. từ vua quan đến thứ dân. Dân số bấy giờ chưa là bao, thế mà lượng số tu sĩ đã trên dưới 30.000 người, riêng tu sĩ thuộc GH Trúc Lâm cũng đã chiếm phân nửa; phân nửa là dân phân nửa là tu sĩ; Các Thiền phái như Thảo Đường, Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô ngôn Thông, Lâm Tế…không chịu sự điều hành hay trực thuộc hệ thống GH của Thiền phái Trúc Lâm, như vậy danh xưng GH Trúc Lâm chỉ có nghĩa là hệ thống thiền Phái được khởi xuất và bảo trợ bởi nhà nước, các môn phái khác tự do sinh hoạt phát triển, đóng góp đáng kể một nền văn hoá đặc thù cho dân tộc, không những thế, các Thiền phái cung ứng cho dân tộc một sinh lực dồi dào và sinh khí tươi nhuận từ các bậc chứng đắc, một tinh thần vô uý, hiên ngang trước kẻ xâm lăng!

Tuy PG, từ thế kỷ 15 trở đi, lụn tàn do nội tại và ngoại cảnh, từ cực thịnh đến cực suy là lẽ tất nhiên, nhưng mạng mạch vẫn liên tồn dưới áp lực của Nho gia, rồi đến Pháp thuộc, thời đại Kitô giáo nắm quyền đến khi Mỹ thao túng miền Nam và XHCN miền Bắc.Từ thập niên 1930, các hội PG như Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học, Hội Lưỡng Xuyên Phật Học, Hội PH Kiêm Tế, Hội PG Bắc Kỳ, Hội An Nam PH…GH Tăng già cũng chỉ là danh xưng, không nặng về mô hình hành chánh,đều là những hội như các hội đoàn khác trong xã hội, chưa hình thành một GH, đến năm 1951 đại hội PG toàn quốc tổ chức tại Từ Đàm, trong xu thế chung của thế giới phục hưng PG, PG VIỆT NAM cũng chỉ tiến đến một Tổng Hội PG do HT T. Tịnh Khiết làm hội chủ. Dưới chế độ Pháp thuộc, PG bị khép vào đạo dụ số 10, nhưng khi Ngô Đình Diệm cuồng tín triệt tiêu PG, giành ưu tiên phát triển Kitô giáo, PG lúc bấy giờ mới đứng lên đòi hỏi thủ tiêu đạo dụ từ thời Pháp đối với PG, 11 hệ phái PG miền Nam kết hợp cho ra đời một GH với danh xưng GHPGVNTN sau khi Ngô Đình sụp đổ, đó là GH đúng nghĩa suốt 20 thế kỷ PG có mặt tại VIỆT NAM và thực sự một GH lịch sử cùng da thịt với dân tộc!

A/ ĐẠO PHONG - NỘI LỰC VÀ GIÁO HỘI

Từ lúc thăng cho đến khi trầm cùng dân tộc, những khi PG suy vi, không có nghĩa tu sĩ bê tha đạo đức hay tha hoá xã hội, trong quá khứ ấy, chư tăng thiếu nội chứng hoặc kém nội lực, thiếu tăng tài so với thời Lý Trần cung ứng cho xã hội, không có thạch trụ mang tầm vóc quốc gia, nhưng tăng phong đạo cách vẫn đủ để làm gương cho nhân quần; thời Pháp thuộc, tu sĩ PG phần lớn là thầy cúng, thiếu trình độ, nhưng tư cách vẫn có, tu sĩ không làm hoen ố xã hội. Một số rất ít các bậc chân tu đều ẩn cư, một số tu sĩ trẻ xã thn cứu quốc. Các Thiền sư tuy không xuất chúng, nhưng đạo lực có thừa như TS Khánh Hoà, TS Tịnh Khiết, TS Mật Nguyện,TS Bích Liên, TS Liên Tôn, TS Giác Tiên, TS Mật Thể, TS Thiện Hoa, TS Thiện Hòa, TS Hành Trụ…đều là những tấm gương mẫu mực cho tăng tín đồ đương thời; những thân giáo sinh tiền như vậy đủ để tăng sĩ và cư sĩ vâng phục, noi gương.

Nhưng từ khi GHPGVNTN có mặt gánh vác trách nhiệm cùng dân tộc, PG bắt đầu một hình thức mới, sinh hoạt mới, không còn hạn chế trong tông môn, có khuynh hướng hướng ngoại, mang tính xã hội, tăng sĩ được khuyến khích trang bị kiến thức thế học để cập nhật trình độ, kinh điển trở thành học lý để tham khảo hơn là hạnh môn tu chứng. Các Phật học viện, tu viện không còn là những Tòng Lâm nội quy, biến thành các giáo điểm nghiêng cứu học thuật, giáo luật và giới luật đã bị xem nhẹ, các môn phong không còn là chỗ đào tạo đạo lực cho tăng chúng; thu nhận đệ tử không qua thời gian tập sự thử thách như cổ đức đã làm, xuống tóc chưa đủ thời gian làm điệu, tự ý tách thầy ra nhận chùa; mới hôm qua là dân thường, mấy hôm sau đã làm thầy thiên hạ nhận sự lể lạy cúng dường của bá gia…bốn cuốn luật sơ đẳng Sa di chưa quen mặt chữ, năm đệ Lăng Nghiêm chưa hề nghe đến Diệu Trạm Tổng Trì…Thầy tổ thi đua cho đệ tử ăn học đặng nở mày nở mặt với các tổ đình.

Cái gọi là GH mới ra đời, hệ thống ban bệ tuy đồng bộ, nhưng chưa củng cố nội tình, chưa có cơ sở đào tạo tăng tài và chưa lập Tùng Lâm chuyên tu cho những bậc chí tâm xuất trần, vội dồn tâm lực vào cuộc đấu tranh đơn điệu, không được hậu thuẩn mà vào triều đại nhà Ngô, bạn bè năm châu đã lên tiếng đồng tình; thật sự GHPGVNTN bấy giờ một thân một mình cố gắng vận dụng đem lại hoà bình cho tổ quốc, đã bị thế lực chính trị các bên lợi dụng, phân hóa, nội bộ tu sĩ tự lo đời sống cá nhân và ăn học, không ai nâng đở, GH không có kế hoạch kinh tế tài trợ đào tạo tăng tài, vì thế một số tu sĩ trẻ thiếu bản lảnh tiến thân, đã lợi dụng tình thế xáo trộn của PG, chiến tranh của đất nước, tìm thế an thân, thủ lợi! Các môn phái trực thuộc GH hay ở ngòai GH đều buông thả đệ tử, không còn sợi giây tình cảm đạo nghĩa, giới luật tông môn ràng buộc, phong cách dần dà tha hoá.

Một tổ chức GH nặng về mô thức hành chánh, nhưng không có giáo quyền tuyệt đối như Kitô giáo, chắc chắn khó điều hành hữu hiệu, một cổ xe cồng kềnh nhưng cấu kết không vững chắc, người điều khiển sẽ khó đạt như ý, PG là một lực lượng bàng bạc trong quần chúng, không một ràng buộc nào hiệu quả ngoài tình cảm đạo đức và đạo vị, do vậy chư vị lảnh đạo GH bấy giờ khó mà thống nhất được ý chí và hành động, đưa đến chia rẽ là chuyện đương nhiên, và đối với nhân sự, tu sĩ, GH cũng không toàn quyền phán quyết hữu hiệu; GHPG chỉ là hình ảnh lung linh để bên ngoài nhìn vào thẩm định như một ảo ảnh qua bóng nước! Nếu sau 1963, GH dốc toàn lực cho việc đào tạo tăng tài và chuyên tu, với cặp mắt chính trị và xã hội, xem đó là thái độ yếm thế, thờ ơ, nhưng đạo lực và Hồng Đức tâm chứng sẽ giúp cho dân tộc nhiều hơn những thái cách mà GH đã chọn, lăn xả vào đời để rồi chỉ là điểm son giả tạo trên trang sử chính trị, đánh đổi lại một cơ đồ tan vở, bệ rạt kéo dài đến hôm nay cho giới tu sĩ! Có người sẽ đặt vấn đề ngược lại, thế trong quá khứ, PG cũng từng đóng góp cho đất nước chống ngoại xâm thì sao? Vâng, mỗi thời đại có một bối cảnh khác nhau, vào thời PG là quốc đạo, tinh thần nhất quán và đạo lực của các bậc chân tu phủ trùm dân tộc, uy tín PG và tiếng nói của chư tăng có sức mạnh của một hiệu triệu, chính trị đối phương chưa ma mãnh như ngày nay, kỷ thuật tình báo chưa tinh xảo và trong nhân dân không có nhiều tôn giáo, tôn giáo bấy giờ không thuộc loại quốc tế điều hành như ngày nay; PG không có hậu thuẩn quốc tế về chính trị cũng như quân sự, không cấu kết với ma lực, không thủ đoạn chính trị và cũng không là tổ chức chính trị khoác áo tôn giáo, tổ chức GH không chặt chẽ, tóm lại PG không có bất cứ yếu tố nào đủ để đối đầu với các thế lực thế gian ngoài thiện chí và tâm đức, dồn tâm lực vào canh bạc chính trị để kết cục là tay sai chính trị,một gia sản đổ vở và bệ rạc!

Chiến tranh VIỆT NAM chấm dứt trong hải hùng nhưng ít tổn hại, đành rằng một phần có công của PG, tuy có công với đất nước nhưng có tội với liệt tổ, chư Phật, vì không vun xới ngôi nhà Như Lai theo đúng khả năng mình. sau ngày thống nhất đất nước, PG được gì ngòai gia tài hoang phế, anh em đối đầu lẩn nhau, Phật sự đình trệ, uy tín giảm sút bởi chư tăng đánh mất niềm tin của đồng bào, tu sĩ mất định hướng, mất lý tưởng, mất niềm tin của đàn anh đương nhiệm, sống buông thả truỵ lạc, chạy theo vật dục thời đại…Tuy hiện nay còn có nhị vị tôn túc đạo cao đức trọng như TS T.Thanh Từ, TS T. Nhất Hạnh là ánh đuốc giữa đêm tối trên bầu trời PGVN, nhưng chưa đủ lực kết hợp toàn bộ tu sĩ PG còn ngái ngũ trên danh xưng những GH.

Cũng từ hai chữ GH mà PGVN đã phân hóa trầm trọng, mỗi bên đều bảo thủ vị trí, danh xưng làm đình trệ suốt 30 năm mà đáng ra PGVN phải vượt trội hơn các tôn giáo bạn; PG là đạo Vô Ngã nhưng bị vấp ngã bởi chấp ngã nặng nề. Ước gì Đạo Phật không bị ràng buộc vào danh xưng GH như chư tổ xa xưa, sẽ không bị vướng mắc, bấy giờ tinh thần thông thoáng bàng bạc khắp nơi, không gịới hạn bởi cơ chế tổ chức, PG như trăn hoa đua nở mọi lảnh vực trong cuộc sống; Những bài học đau xót trầm trọng như vậy, cấp giáo phẩm vẫn chưa rút tỉa kinh nghiệm, tiếp tục o ép các thành phần còn lại vô một tổ chức không tương xứng tầm vóc của nó, chẳng những thế, thủ thuật kết nạp thiếu tinh tế, dùng quyền lực đe doạ quá ấu trỉ, tạo thêm phân hoá vốn đã phân hóa; ví dụ Ban Hướng Dẫn Phật tử muốn các đơn vị Gia Đình Phật Tử trực thuộc sự quản lý của mình, thay vì thể hiện chánh nghĩa bằng động thái hiểu biết cảm thông và tôn trọng để các em tự nguyện tham gia, lại giở trò đe doạ, kết hợp với ban tôn giáo và công an, gây áp lực với các trụ trì, nhiều đơn vị bị trục xuất khỏi chùa vì không tuân lịnh. Có những vị trụ trì khôn khéo, vẫn duy trì GĐPT sinh hoạt mà không làm mích lòng bề trên, nhưng phần lớn các trụ trì quá yếu kém, sợ sệt đành xua đuổi những con em thánh thiện đó, những mầm non tương lai của PG. Chùa Vạn Hạnh , Bầu Nai, Hốc Môn, khi còn là thảo am nghèo nàn, các em GDPT hàng tuần sum vầy thật ấm cúng, khi chùa tái thiết khang trang, có sự đóng góp hàng tháng của các huynh trưởng trích từ tiền lương ít ỏi của mình, cho việc xây dựng, đến khi hoàn thành, các em bị xua đuổi, dời sang sinh hoạt chung với đơn vị bạn cách đó vài cây số, nhưng với tâm lành của con Phật, các em vẫn quây về giúp thầy vào những lể lớn, có những em trên mười tuổi, phải trở về nhà cách sáu cây số để ăn trưa rồi đến chùa công quả tiếp mà đáng ra, chùa phải bố thí cho các em bửa ăn chả đáng là bao! phải chăng đó là công hạnh của tu sĩ PGVN ngày nay chỉ biết lợi và dụng, không nghĩ đến tương lai PG từ những tín đồ thuần thiện? Hành động của phần lớn các cấp thẩm quyền trong GH đến các trụ trì, các tu sĩ , theo tập quán, thiếu phán xét cân phân, không đặt quyền lợi lâu dài của PP mà chỉ làm theo bản năng và phản ứng thiếu thận trọng của chính mình. Ngòai ra còn bao nhiêu chùaa, bao nhiêu chức sắc GH trong cả nước hành động có hại cho đạo và có lợi cho bản thân? Gần 50 năm qua, tu sĩ PGVN hướng ngoại quá nhiều, các ban ngành GH cũng hành xử thể hiện quyền lực nhiều hơn là tình cảm đồng đạo và quyền lợi dài lâu của PG. PG nói chung và PGVN nói riêng, không cần những GH, chỉ cần sự tu tập do các tông phái truyền thừa, chỉ cần thực tu, thực học như thuở xa xưa, nhờ thế PG đã đóng góp được nhiều cho đất nước. PG không cần một tổ chức GH mang tính hành chánh, chỉ có những tôn giáo mang màu sắc chính trị mới cần một tổ chức chặc chẽ để thống trị tín đồ, tạo lực lượng vững mạnh để cấu kết thế quyền.Tinh thần PG khác với tinh thần Kitô giáo, không thể bắt chước khung hình tổ chức đó để điều hành PG, PG vẫn phát triển khắp thế giới một cách hoà bình mà không cần một tổ chức GH nào; Nên chăng hãy trả PG trở về vị thế ban đầu của một giáo đoàn chuyên tu, vì xã hội rất cần những mẫu người thánh thiện.

B/ GIÁO HỘI - THẾ TỤC - QUYỀN LỰC

PG là tôn giáo thuần hướng tâm linh, nói cách khác, mục đích tối hậu là Tuệ Giác – Duy Tuệ Thị Nghiệp. Từ lúc đức Thế Tôn khai đạo đến hàng ngàn năm sau, mục tiêu vẫn không thay đổi; càng hướng nội, thiền quán, an trụ, thì ngoại cảnh và phương tiện vật chất càng giảm thiểu, ít vướng bận; GH ngày nay là một tổ chức mang tính tập quyền, những học lý tôn giáo đơn Thần thường đưa đến cực đoan, bạo động, độc tài; những học lý phi Thần, tổ chức GH sẽ dẫn đến chuyên quyền, lạm dụng, nhất là PG, một tín ngưỡng tâm linh không có khuynh hướng phóng ngoại, đề cao tự ngộ, tự giác, thì GH là một sự ràng buộc theo một mô hình, quy chế thuần thế tục, tạo không ít nhiêu khê cho tu sĩ.

Một bậc chân tu thuần tuý sẽ không đảm nhận bất cứ chức sắc, quyền hành nào từ tổ chức GH, ngược lại, các ban ngành trong cơ cấu tổ chức đó thường giao phó cho những tu sĩ không qua trường lớp hành chánh, không có khả năng chuyên môn, không có óc sáng tạo và tổ chức, nhất là không đủ uy tín cá nhân do đạo phong khiếm khuyết, dẫn đến thái độ cửa quyền, quan liêu, hống hách và gây khó nhau để có phong bì; phải chăng những tệ nạn trong GHPGVN ngày nay là phản ảnh trung thực từ những tệ nạn ngoài xã hội, khác chăng là những mỹ từ: cúng dường thay vì thủ tục đầu tiên của thế nhân. Một điều đau lòng, nghe ra như đùa, nhưng có thật, một tư sĩ từ nội thành, chuyển khẩu ra ngoại ô, qua thủ tục hành chánh của Công An quản lý hộ khẩu, chỉ tốn công mà không phải mất tiền, đến Thành Hội xác nhận, bị hạch sách khó dể để rồi một giá tiền không thể tưởng – ba chục triệu. Một học tăng , học ni xin đơn vào Trung cấp Vĩnh Nghiêm, bị chối từ vì hết hạn, sau đó được mách nước, một vị khác bỏ phong bì ba triệu, có ngay l đơn, mặc dù không có chứng chỉ sơ cấp. Thích Thiện Đức, một nhân viên v/p trường ngỏ ý với một học tăng trụ trì xin tám trăm ngàn để chuộc chiếc đồng hồ đã cầm vì thua cờ bạc. Chùa Hoằng Pháp Hốc Môn, thời gian đầu sinh hoạt Phật Thất, bị ban bệ Thành Hội cấm đoán vì những lý do hết sức vu vơ, giới hạn người tham dự, không cho các tỉnh thành tham gia, thầy Chân Tính nhất quyết không tiếp tay tham ô, nhờ một lá thư của Phật tử với lời lẻ đanh thép, Thành Hội đành chấp thuận cho tiếp tục sinh hoạt; cứ như thế, nhà nước không gây khó dễ cho PG, ngược lại nội tình sáng tạo những nhiêu khê, vừa thể hiện quyền lực, vừa được cúng dường bồi dưỡng; nếu không có quyền hạn được GH đặt để, có lẽ những chức sắc đó không có điều kiện để khó dễ tăng ni! người rắc rối với nội tình tăng ni, không lợi ích gì cho GH, cản trở nhiều Phật sự nhất, đó là Thiện Tánh!
Ngay cả tại v/p2 TW của PG, HT.Thiện Nhơn cấu kết Thiện Thống áp đảo gây khó cho Tắng ni của Câu Lạc Bộ Hoằng Pháp trẻ, vì họ quá năng động hoạt bát. Phải chăng những kẻ phá đạo đã nằm ngay trong TW Giáo Hội?

Tuy là một tổ chức nặng phần trình diễn, nhưng GH PGVN hiện nay ít nhiều mang sắc thái của quân chủ phong kiến, độc tài; Trong phần tham luận của anh Hồng Quang ở Đại Hội PG năm 2002 tại Hà Nội, đã nhiệt tình đóng góp để hòan chỉnh một GH trong hiện tình đất nước đang đổi mới, nhưng gần hết nhiệm kỳ 5 năm mà vẫn dậm chân tại chổ. Sinh hoạt GH hiện nay, ngoài Tăng ni, hàng cư sĩ đứng ngoài lề, nghĩa là cơ cấu tổ chức hiện nay đã tách rời phật tử tại gia với mọi phật sự mà trước đây, bốn mươi năm về trước, sinh hoạt PG, cư sĩ đảm trách toàn bộ, chư tăng chỉ chuyên tu, học và diễn giảng. Hình bóng tu sĩ bấy giờ là thần tượng tôn kính của mọi người. Ngày nay, tu sĩ bao cấp toàn bộ từ A tới Z, dĩ nhiên, phật sự đình trệ, cửa quyền phát sinh. Cũng trong tình trạng tha hóa chung, GHPGVNTN cũng không khá hơn, trong công cuộc chống Cộng, GHTN đã phạm phải từ sai lầm nầy đến sai lầm khác, sử dụng nhân sự sai lầm, thái độ chính trị sai lầm, phương án hành động sai lầm, tự tôn tự đại,độc tài, vì vậy tự mình đưa đến bế tắt phật sự là chuyện dể hiểu, tình cảm quần chúng giành cho GHTN ngày nay giảm suy rõ rệt, nhất là sau chuyến viếng thăm của TS Nhất Hạnh, GHTN đã chọn một hành xử đối với đồng đạo làm suy yếu uy tín tự thân! chẳng những thế, tiền bạc cũng làm hoen ố khá lớn hình ảnh cao thượng một thời của GH đó, khi hải ngoại gởi tiền về cứu trợ nạn nhân trong nước, Không tánh, sử dụng 200 triệu thế nào để phải tai tiếng tại Quảng Nam Đà Nẳng, trước đây vụ cứu trợ tại đồng bằng sông Cửu Long cũng lem nhem không ít, và khi HT Thích Huyền Quang ra Bắc gặp Thủ Tướng Phan Văn Khải, Liên Hiệp Âu Châu ủng hộ 10 ngàn Euro, cũng lọt vào túi riêng của thầy Tuệ Sĩ; còn vô số tai tiếng của cán bộ thuộc cấp đã bôi đen bộ mặt GH do ỷ lại chức quyền, danh vị…Chức sắc PGTN tại hải ngoại từ hàng cao cấp trở xuống, hết 90% tai tiếng tiền bạc và tình dục, thậm chí phải ra tòa như các vị Giám mục Kitô giáo, vênh váo nghinh ngang ra bề ta đây là thầy thiên hạ; Dù GH nào, trong cũng như ngoài nước, đều phạm lắm tệ nạn, phải chăng, đây là thời mạt pháp mà Dân tộc VIỆT NAM là một, PGVN là một!?

Toàn bộ nhân sự sử dụng trong GH hiện nay được xét theo lý lịch nên ỷ thế cậy quyền, nếu trọng dụng bậc tài và đức, chắc chắn PG sẽ đóng góp hữu hiệu cho đạo và đời khá nhiều, do cơ cấu lảnh đạo bất toàn, nên các tu sĩ trẻ ngày nay sống buông thả sa đoạ, không ai nói ai nghe; Nhà nước thật sự lúng túng phải dung dưỡng một lực lượng cán bộ PG trong GH hiện tại, không giúp được gì cho một bộ mặt đổi mới của đất nước hiện nay đối với thế giới; đành rằng cũng có những cán bộ GH chơn chánh, nhưng làm được gì khi đa số bê tha?

C/ SỰ KHÁC BIỆT GH KITO GIÁO VÀ GHPG

GH La Mã là một tổ chức hòan thiện nhất thế giới đã trải qua 16 thế kỷ dầy dạng kinh nghiệm, ( bốn thế kỷ trước chưa có một GH đúng nghĩa như hiện tại )vì mục đích:
-Củng cố , quản lý chặc chẽ tín đồ
-Thống trị tinh thần tín hữu một cách tuyệt đối bằng sự tin kính, vâng phục qua phép Thông Công
-Giáo Hoàng là người có quyền tuyệt đối quyết định thưởng phạt, vì là người duy nhất đại diện Thượng đế tại trần gian
-GH thủ đắc nguồn lợi tức từ kinh tài trên thế giới và các Giáo phận ở mỗi quốc gia có bổn phận đóng góp kinh tế cho tòa thánh
-Ngoài chức năng tôn giáo, GH còn là một quốc gia trong mọi quốc gia, nghĩa là quốc gia không biên giới, tuy lảnh thổ chỉ 44km2 tại Ý, nhưng GH có mặt hầu hết các quốc gia trên thế giới có tín đồ
-GH có những quyết định liên hệ vận mạng chính trị thế giới, vì GH liên hệ hữu cơ với các cường quốc qua quyền lợi kinh tế, cấu kết với chiến tranh và huỷ diệt.
- Pha trộn đức tin tôn giáo và quyền lực thế gian, vừa là một GH. vừa là một quốc gia, có đại sứ, khâm sứ tại những nước đã bang giao để củng cố quyền lực và quyền lợi
-Mưu đồ thống trị thế giới dưới trần để vinh danh Thượng đế trên trời, do vậy phạm phải nợ máu nhân loại suốt gần 20 thế kỷ
-Cán bộ GH qua trường lớp chuyên ngành, có trình độ hiểu biết nhất định
-GH chủ động về kinh tế, tài chánh và quyền lực

GHPG, trên cơ bản hành chánh là hệ thống điều hành một tập thể trên nhiều lỉnh vực, có nề nếp, thứ tự, nhưng:
-Không có một giáo quyền tuyệt đối, bởi tính bình đẳng theo tinh thần PG, tự giác, tự ngộ, không ai toàn quyền với một cá nhân khác, kể cả Đức PHật
-Tăng tín đồ không quen bị khép vào một kỷ luật tổ chức, ngoài kỷ luật tâm linh tự thân
-Tăng Thống, Pháp chủ là ngôi vị tượng trưng trong GH chứ không có quyền tuyệt đối đại diện cho Trời, Phật
-PG không quen làm kinh tế và không thủ đắc kinh tế, của cải theo tinh thần tri túc, thiểu dục, mọi sinh hoạt tuỳ thuộc vào sự hỷ cúng( đây là thế yếu của một tổ chức )
-PG tách rời thế quyền, xa lìa danh vị thế gian, do vậy không thể nhập nhằng giáo hội và thế quyền, PG bị hoen ố khi tham gia Tuyên Uý quân đội thời Mỹ và thành viên Mặt trận hiện nay
-Tự thân PG không là chính trị nên tham gia chính trị, hành động chính trị hay thái độ chính trị thường va vấp lắm sai lầm
-Cán bộ GH không qua trường lớp đào tạo chuyên ngành, thậm chí ngành chuyên môn như Hoằng Pháp, lối đào tạo Giảng sư cũng chỉ là hình thức không đạt chất lượng và đúng quy cách, những ngành khác thuộc hành chánh càng không thể chuyên môn
-Tu sĩ PG là một hành giả chứ không thể là một hoạt giả trong xã hội.
- Đức Phật xa lìa quyền lực vương vị làm nên kỳ tích- Thiên Nhân chi đạo sư, PG không thể trở lại nhập nhằng thế quyền và tôn giáo, vì PG không thống trị bất cứ ai, kể cả tín đồ.
-Tự thân PG là giải thoát,cô đọng PG vào hệ thống tổ chức GH là phương tiện để chính trị lợi dụng.
Do những sai lầm đó mà GH cũng như tu sĩ thiên hướng xã hội không thích hợp tư chất của PG, nửa thầy, nửa thợ, vừa hoen ố PG, vừa nạn tai cho đất nước
Mãnh đất thích hợp cho loại hoa quả tâm linh là nội quán, cách mạng tự thân, Tuệ Giác đó mới đóng góp hiệu quả cho dân tộc. Gần 50 năm, PGVN đã lệch hướng từ mục đích, hậu quả đưa đến là:
-lực lượng tu sĩ tha hoá
-Suối nguồn tâm linh èo uột
-Xa lìa quần chng, đánh mất uy tín,hao mòn tài năng; PG từng đồng hành với dân tộc, trở thành khách trọ của thế kỷ!
Có người sẽ bảo: mỗi thời đại có một hình thức sinh hoạt, ngày xưa trình độ dân trí và mức sinh hoạt không cần một GH hoàn hảo, ngày nay PG không thể sinh hoạt theo thời nguyên thuỷ! Xin thưa, có những cái cần cập nhật thời đại, nhưng với Tuệ Giác Đạo Phật không tuỳ thuộc thời đại, chỉ tuỳ thuộc trình độ tâm linh. Đạo Phật là đạo giác ngộ, đòi hỏi tuệ giác mà không cần một mô hình GH như Vatican hay thế quyền. Sự đóng góp của PG cho nhân loại ở tâm linh chứ không ở tổ chức.

KẾT

Ngày nay, sau 30 năm cầm quyền, nhà nước CSVN hiểu rõ bản chất của từng tôn giáo hiện diện trong đất nước, biết tinh yếu và nền tảng quan trọng của PG từng tẩm tưới cho quê hương; tuy hiểu chưa thấu đáo về PG nhưng biết PG là cầu nối giữa cội nguồn và hiện thực ; PG là nền tảng đạo đức xã hội và đạo đức tâm linh; Biết trọng dụng PG, PG sẽ là dưỡng tố nuôi sống tinh thần dân tộc, nếu sử dụng PG như một công cụ, chẳng những PG sẽ đánh mất giá trị tự thân mà còn trở thành gánh nặng cho đất nước.Phải biết cách trợ lực để PG phát triển chứ không điều hành PG phát triển theo ý muốn ; do có thiện ý nhưng không có phương cách và nắm rõ tư chất của PG, sự giúp đở đó nhanh chóng làm băng hoại PG; trước mắt, cái hại của tổ chức GHPG hiện nay, sử dụng nhân sự không qua tài năng và đạo đức mà thông qua lý lịch và công trạng.
Một hành giả PG trang bị quá nhiều kiến thức, sẽ trở ngại cho tâm thức quy chứng. Một tập thể PG trang bị hệ thống GH cồng kềnh sẽ là hiểm hoạ cho tự thân và vô bổ cho xã hội, vì tinh thần PG thóang đảng, siêu thoát chứ không thể ràng buộc! hậu quả như ta thấy hiện nay đối với PGVN.

MINH MẪN
06/7/05



Thay cho lời kết

ĐỀ NGHỊ


-Phật giáo là một bộ phận tín ngưỡng của khối đại đa số qưần chúng VN, trong tổ chức GH hay ngòai tổ chức GH, số lượng quần chúng mang màu sắc Tam giáo được gọi chung là tín ngưỡng dân tộc, được sự bảo vệ của luật pháp, màu sắc tín ngưỡng nhân gian đã thể hiện đa dạng, mang âm hưởng PG chính thống cũng có, và pha tạp đức tin đa thần cũng không thiếu, đều nói lên nhu cầu tâm linh của con người, không riêng VN, ngay các nước tiên tiến cũng không thóat khỏi những bức xúc tâm linh, xem như điểm tựa tinh thần; Khi mà vật chất phồn thịnh, cũng khó thỏa mãn niềm hạnh phúc do tham cầu thúc bách.
Một khi xác định tính nhu yếu của tôn giáo và tín ngưỡng, chúng ta phân định thế nào là chánh tín và thế nào là mê tín. Tôi xin dẫn chứng một quan niệm chưa đúng của ông Phạm Quan Nghị, Bộ Trưởng TT-VH nói: T1n ngưỡng là có thể tin vào một điều tốt lành nào đó, hoặc tin vào giá trị về mặt văn hóa lịch sử nào đó, của các nhân vật có liên quan đến lễ hội. Nhưng mê tín dẫn đến chỗ anh xử lý không trên cơ sở đạo đức và khoa học. Cho nên phải khắc phục mê tín.

Ở đây chúng ta không tranh luận, nhưng quan niệm tín ngưỡng như the không ổn và chưa đủ nghĩa; Mà tín ngưỡng phải là: loại tín ngưỡng giúp cho hành giả đạt một trí tuệ, tình thương và ý thức trách nhiệm, không làm hại đồng bào, không làm trì trệ tâm linh và kiến thức trong xã hội, và khôpng tha hóa bản thân. Hiệu quả của nó có thể thể nghiệm được.
Hiện nay trong xã hội chúng ta có quá nhiều dạng tín ngưỡng, tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng tôn giáo; Riêng PG chính tông, tín ngưỡng đó không thể là mê tín, ngọai trừ một số cơ sở PG pha tạp thần giáo và tín ngưỡng dân gian như xin xăm bói tóan, thần tài thổ địa,đồng bóng...Để chỉnh đốn nền văn hóa tín ngưỡng, Bộ Văn Hóa Thông Tin nên có bộ phận chuyên môn điều nghiên, phân lọai, cái nào nên phát huy làm nền tảng văn hóa dân tộc, cái nào thuộc lọai thần giáo, khoanh vùng, hạn chế phát triển để người dân khỏi lún sâu vào mê tín, đưa đến nhiều tệ nạn buôn thần bán thánh, cờ bạc...
Chúng tôi có những vấn đề cần nêu, nhưng chính là Cơ Sở Vật Chất, Cơ Cấu Tổ Chức, Quyền Hạn PG trong xã hội hiện nay, và Giáo Dục Đức Tin quần chúng mà nhà nước ra sức thăng tiến đồng bộ:

1/ Cơ sở Vật Chất

- Một số địa phương lợi dụng lể hội để móc túi khách đi lể một cách vô lý. Những nơi nhà nước trùng tu, hoặc thiết lập các phương tiện vận chuyển, có quyền bán vé để thu hồi sở phí hoặc tu bổ cơ sở vật chất, nhưng một số chùa có danh tiếng, nhà nước không phải đầu tư, chùa tự túc tu bổ, vẫn bị thu phí khi vào cổng, và thật vô lý khi chính tăng sĩ vào chùa cũng phải mua vé, điển hình tại chùa núi Trà Cú ,Bình Thuận.

- Một số thuộc di tích lịch sử của PG, đáng ra nhà nước giao trọn quyền cho GHPG quản lý, phải có tu sĩ trụ trì, cai quản, chăm sóc, nhà nước có nhiệm vụ giám sát và đôn đốc nhân sự bảo tồn di tích đó, ngược lại, bộ phận Văn hóa Thông Tin lẫn PG không ai quan tâm đúng mức để xuống cấp một cách đáng lo ngại, chẳng hạn chùa Một Cột, Hà Nội...Một số nơi mang tính lịch sử nhưng chưa liệt kê vào lọai di tích, bị các hộ dân lấn chiếm mặt bằng, đánh trộm bảo vật pháp khí tam bảo như tượng cổ, chuông trống, lư hương chân đèn...
-
- Một số cơ sở PG nổi tiếng, tuy không thuộc di tích cổ, nhưng là lọai lịch sử đề danh như chùa Từ Đàm,Thuyền Tôn... khi xin phép trùng tu, bộ phận VHTT nên đề nghi bảo lưu cơ sở lịch sử như từng bảo lưu thành phố cổ Hội An. Không thể bảo đó là trách nhiệm của người điều hành cơ sở PG hay của GHPG mà bộ VHTT không có trách nhiệm
-
- VHTT tổ chức lể hội liên quan đến PG, nên hợp tác PG cấp tương đương để thích nghi với nghi lể đạo Phật và hạn chế mê tín, lạm dụng thương mãi dưới nhiều dạng thức, ví dụ lể hội chùa Hương hàng năm; Tết cổ truyền, địa phương nên hổ trợ các chùa danh tiếng giữ an ninh trậ tư vòng ngòai tránh ách tắt giao thông và các con buôn quấy nhiểu khách đi lể.

2/ Cơ Cấu Tổ Chức và Quyền Hạn PG trong xã hội hiện nay

.

Riêng PG, cơ cấu tổ chức do Ban Tôn Giáo và Mặt Trận điều phối, cố vấn và chỉ định. Tuy nhân sự vẫn là nhân sự của GH cũ, nhưng quy định, hiến chương đều do nhà nước sọan thảo. Bằng chứng, giáo kỳ và giáo ca biểu hiện của bất cứ tổ chức tôn giáo nào cũng phải có, thế mà PG, các ngài lảnh đạo trung ương không hề dám đề nghị xử dụng lá cờ ngũ sắc, một biểu tượng PG quốc tế mà PGVN xử dụng trên 50 năm qua, và bản giáo ca,biểu hiện trọn vẹn nhất cho một tổ chức PG thống nhất từ Nam chí Bắc mà trước 1975 chưa hội đủ yếu tố tòan vẹn, vẫn xử dụng. Còn rất nhiều bất cập trong cơ cấu tổ chức lẫn danh xưng khôing thích nghi với đạo ngữ nhà Phật, như Chủ tịch Hội Đồng Trị Sự...Chủ Tịch Ban Trị Sự...thuần túy như một cơ cấu chính quyền thế tục! Chưa nói đến một số công tác mà cán bộ PG thừa hành chỉ thị từ nhà nước như một cán bộ chính quyền.

Do vậy, PG ì ạch như cổ máy bệnh họan, do không tự chủ , đủ thẩm quyền như tôn giáo bạn. Quyết định tổ chức lể cũng phải có sự chấp thuận từ nhà nước, ví dụ, lể Phật Đản, nhà nước ra lịnh làm xe hoa, tổ chức tự do, cho treo cờ, GH mới dám công bố cho các cấp cơ sở. GH không dám đạo đạt bất cứ nguyện vọng nào, dù hợp lý, lên cấp thẩm quyền, chẳng hạn chùa Hiển Quang bị đốt, GH không có quyền lên tiếng yêu cầu nhà nước can thiệp hay gửi văn bản thăm viếng nếu nhà nước chưa cho phép.

Do tính thụ động của PG trong thời bao cấp, vẫn còn di chứng đến nay, mặc dù nhà nước có thông thóang, và trên nguyên tắc, không can thiệp vào nội bộ tôn giáo, thế nhưng từ Trung ương đến địa phương, tu sĩ PG luôn chờ lệnh và đợi chỉ thị.
Quốc tế nghĩ gì khi đại hội PG tại Thủ Đô, luôn được nhà nước bao thầu từ cơ sở vật chất, địa điểm tổ chức, phương tiện đi lại cho các chức sắc và phí tổn suốt thồi gian Đại hội, đành rằng các cấp GH cũng phải đóng góp.
Một số cao tăng trong GH cũ trước 1975 đã viên tịch, GH cũng không được phép tổ chức giổ chạp, dù bản thân vị đó không thích ứng với nhà nước, nhưng đạo đức dân tộc không ai nở ghìm kẻ quá cố, huốnfg thay, các ngài không hề phạm pháp, có chăng không đồng quan điểm chính trị

Một số nhân sự trong GH, được đề bạt bởi nhà nước, ỷ lại thế lực, tạo vây cánh, gánh nhiều chức vụ mà không hòan thành nhiệm vụ, do đó, Phật sự dậm chân, mỗi kỳ đại hội luôn báo cáo thành quả rực rỡ. Ta hiểu tại sao qua 30 năm, PG hầu như chưa có một thành tích xuất sắc đối với nội bộ, có chăng thành tích hòan thành chỉ tiêu do nhà nước yêu cầu như xây nhà tình nghĩa, đóng góp an sinh xã hội, hưổng ứng những ngày lể lớn...

Chư tôn đức cao niên vẫn lưu nhiệm đến mãn đời, trong khi những nhân tài PG cả tu sĩ lẫn cư sĩ không có đất dụng võ. Tinh thần điều hành cơ cấu GH mang tính phong kiến quan liêu không ai đủ thẩm quyền khắc phục, trong khi nhà nước cố gắng thanh lọc nội bộ đảng và chính qưyền đê kịp thời đổi mới, PG cứ phải nằm im duy trì quyền hành tại vị. Năm thứ tư sau ky đại hội vừa rồi vẫn chưa có dấu hiệu tiến triển đàng kể.


PG chưa được phép thành lập bệnh viện riêng để phục vụ bệnh nhân nghèo và chữa trị cho tu sĩ, còn gặp lắm khó khăn trong việc xây dựng chùa chiền, tự viện

3/ Giáo dục đức tin quần chúng

Quần chúng chưa phân biệt thế nào là chánh tín và mê tín, một số tu sĩ PG cũng lập lờ trong vấn đề sinh họat tín ngưỡng do thiếu trình độ giáo lý hoặc vì lợi dưỡng cá nhân. Cần có sự kết hợp giữa bộ phận Văn Hóa TT và Phật giáo trong việc giáo dục quần chúng. Cán bộ nhà nước cũng cần hiểu thấu đáo về Tôn giáo khi làm công tác chính trị hoặc VHTT.

Một quốc gia thịnh vượng và khoa học không thể có tầng lớp nhân dân nặng mùi mê tín. Cán bộ nhà nước chưa phân biệt rõ thế nào là mê tín và chánh tín, tôn giáo nhân bản và tôn giáo phi nhân bản, vì thế đê nhiều hình thức tín ngưỡng lan tràn có hại cho trình độ tiến hóa của dân tộc, cũng như có hại cho an ninh xã hội.
Phật giáo, dĩ nhiên, qua 5 giới tại gia, có thể ổn định xãa hội, triết luận có thể nâng cao trí thức nhân lọai, thiền học và pháp hành có thể khai mở tâm thức và minh triết cho mọi hành động khi ý thức luật nhân quả, tự chế trong mọi hành động. Tóm lại, cả xã hội lẫn tâm linh, PG có thể đáp ứng tòan vẹn, nếu được giáo dục và huân tập đúng nghĩa.


Ngòai ra, cả PG và VHTT cần giáo dục quần chúng tinh thần yêu nước và bảo vệ văn hóa tổ tiên từ trường mầm non đến bậc đại học, giáo dục công dân phải song hành lể giáo và yêu nước, trung thực và can đảm!

Được giáo dục tốt, xã hội sẽ không bị văn hóa lai căn xâm thực, nhân dân không bị mua chuộc trước bả lợi danh, cán bộ nhà nước không nhập nhằng giữa văn hóa và thương mãi.

Tóm lại, để tránh những bất tòan vừa nêu, để PG thực thi sứ mạng tâm linh và giáo dục xã hội, để PG can đảm cởi bỏ tổ kén tự tạo, nhà nước nếu chưa đủ can đảm tách rời PG ra khỏi Mặt Trận, hãy khích lệ các chức sắc PG tích cực sinh họat, không chi phối PG dưới bất cứ hình thức nào, không đề bạt nhân sự vào GH theo lý lịch và nhiệm vụ giao phó ; không lạm dụng PG trong mục đích kinh doanh, khuyến khích GH lọai trừ những kẻ ỷ lại, tham ô, bất tài. Không dùng PG như vật trang trí chế độ, hãy để nó tự phát trong khuôn khổ luật pháp, tự khắc trăm hoa đua nở; Có như thế, PG cùng dân tộc tiến vào kỷ nguyên phát triển như sự phát triển nhà nước nhắm tới sự hòa nhập với khu vực và quốc tế!

Riêng nội tình PG, chư tôn đức cố phục hưng lại tu viện, Già Lam chuyên tu và kỷ cương gíới luật; trở lại cách giáo dục Thiền Môn từ thập niên 1930 trở về trước
Các trụ trì và thầy tổ giáo huấn đệ tử, tăng chúng nghiêm minh; Sa thải những tu sĩ không có lý tưởng chân chánh. Thâu nhận đệ tử phải có lý lịch rõ ràng, có thời gian tập sự tối thiểu 3 năm, kinh luật nhuần nhuyển trước khi xuống tóc và thọ giới
Mỗi quận huyện phải có lớp giảng hàng tuần nhắm vào giới bình dân, thường duy trì và phát triển các khoá tu Bát quan Trai, Thiền Thất, Phật Thất ngắn ngày cho tín đồ thấm sâu đạo đức. Mở rộng mạng lưới thư viện, phòng đọc sách, phòng nghiên cứu Phật học cho giới sinh viên và trí thức.
Về mặt xã hội, ngoài những đóng góp theo sự kêu gọi, PG phải có một hay nhiều đoàn thể hòa nhập xã hội, giúp dỡ những vùng sâu, vùng xa và vùng cao để nâng cao kiến thức vệ sinh và kiến thức phổ thông mà cuộc sống văn minh chưa được tiếp cận.
Ngoài các đơn vị Gia Đình Phật Tử, cần có các đoàn thể khác của các ngành nghề để giúp họ hiểu đạo và sống theo tinh thần yêu nước, tôn trọng sự sống và sự thật trong xã hội.
4/ Nhân sự: Không xét theo lý lịch, không bổ cử theo phe phái, tông môn, không có óc địa phương. Tu sĩ cũng như cư sĩ điều hành, phải có tâm, có đạo đức, có tác phong, có kiến thức phổ thông và Phật Pháp, năng nổ và hy sinh; không quỳ lụy trước quyền lực và lợi lộc…
Điều tối quan trọng, nếu có thể, PG làm một cuộc đột phá về tổ chức Giáo Hội:
Tu sĩ chỉ là cố vấn trong mọi ban ngành, và chuyên sâu tu tập, người điều hành là những cư sĩ có trình độ, có năng lực, hiểu đạo; Ngoài nhiệm vụ hộ trì Tam Bảo, cư sĩ còn có bổn phận làm cho chánh pháp phát triển. Ngày nay, hầu hết các tổ chức PG trên thế giới, cư sĩ điều hành phần lớn nhiệm vu và kết quả do tính năng nỗ không thể phủ nhận.
PGVN phải can đảm đổi mới và đổi mới toàn diện
MINH MẪN

2006

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét