Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo ngày cho truy vấn thích ngộ chánh là ai. Sắp xếp theo mức độ liên quan Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo ngày cho truy vấn thích ngộ chánh là ai. Sắp xếp theo mức độ liên quan Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2026

KALACHAKRA VÀ LỄ QUÁN ĐẢNH

 

 

Ngày 13/7/2011. Đức Đạt Lai Lạt Ma 14 đã khai kinh nhập đàn để tiến hành trao truyền lễ Quán đảnh.

Mấy hôm nay, Ngài liên tục nói chuyện tại Pháp hội, nơi công cộng, nơi Đại học, tiếp các chính khách và hành lễ tịnh hóa Thổ địa, Tăng thân, môi trường và hướng tâm cầu nguyện hòa bình mà lễ cầu nguyện liên kết chặt chẻ với Kalachakra. Trong ngày thứ ba 12/7, cũng đã có nghi lễ cầu nguyện của các quốc gia Phật giáo có mặt. Phần lớn các sư Nam ông thống nhất nghi lễ. Bắc tông như Tàu, Triều tiên, Nhật cũng thuần nhất, riêng Việt Nam không chuẩn bị  và chọn ban kinh sư chuyên môn, nên buổi tán tụng cầu nguyện vừa dài, vừa thiếu nhất quán vì người tụng âm Hán, kẻ đọc kinh nghĩa. Người nước ngoài họ không biết tiếng Việt, nên nghĩ đó là ban hợp xướng của Phật Giáo Việt Nam. Với sự nhạy bén của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Ngài hiểu đó là tinh thần chưa thống nhất .

7 ngày đầu chuẩn bị hoàn chỉnh mọi  nghi cách, có cả vũ điệu nhập đàn cung thỉnh chư Hộ Thần,  ngày thứ 13, trước khi đưa thính chúng vào Quán Đảnh, Ngài thuyết về quá trình thập địa Bồ Tát, sau đó, đi dần vào nghi lễ Quán Đảnh. Với lượng người tham dự 20 ngàn ngồi khắp ba tầng lầu và tầng trệch, thế mà cỏ kusa, nước tẩy tịnh cung cấp đều cho mọi thành phần tham dự. Nghi thức tuy phức tạp,  Người Âu châu, Âu Mỹ tỏ ra sùng kính tuyệt đối. Mỗi người nhận được 2 cây cỏ kusa, cây ngắn để dưới gối, cây dài để dọc dưới nệm, xác định điềm mộnh lành dữ sau khi thọ pháp. Hai vị đại diện Nam nữ lên thả nhánh cây vào mâm  để tùy hướng ngã mà biết một trong 4 cửa Mandala thuộc hành nào. Mật thừa là một tông kết hợp tánh tướng viên dung; hàm dưỡng cả lý sự giữa nhân thân, vũ trụ, và sinh lực. Nhưng, dù thế nào, Mật thừa đòi hỏi hành giả phải tuyệt đối phát triển lòng từ và đức bi đến mọi loài trong mọi kiếp cho đến khi  hành giả thành tựu. vì thế mà một thầy Geshe ở tu viện Tashi Kyil bên Tây Tạng bị  Trung Cộng cầm tù và xử tử , trước  lúc hành hình, thầy còn đọc lời cầu nguyện cho kẻ ác: nguyện đạo sư hộ niệm/ cho con gánh tất cả

                Ác nghiệp cùng khổ nạn/ của tất cả chúng sanh

                Nguyện hạnh phúc công đức/ tặng hết cho chúng sanh

               Được hạnh phúc an lạc.

Ngoài giới luật phải tinh chuyên, mật pháp phải hành trì mà tâm Bồ đề phải tỏa khắp, đó là yếu chỉ của mật thừa Tây Tạng. Để có khái niệm tổng quát về Kalachakra và lễ Quán đảnh, chúng ta thử tìm hiểu sau dây:

 

Khó mà định nghĩa đúng và đầy đủ ý nghĩa với từ Kalachakra, nhưng trong quá trình truyền hoặc thọ nhận Quán Đảnh, Thiền sinh phải trải qua nhiều công đoạn nghiêm túc. Kalachakra là một hệ thống Thiền quán cao nhất của pháp Mật thừa Kim Cang.

Trên lý thuyết, vì vô minh, chúng sanh trôi mãi trong giòng sinh tử. Mặc dù vậy, Phật tính hay gọii là ánh sáng tâm linh vẫn không bị mất. Nhờ thế mà các bậc minh sư từ căn bản đó, đã lập ra nhiều công đoạn để giúp hành giả trở về với căn nguyên ban đầu – nghĩa là thành Phật Giòng luân lưu miên viễn  đó thuật ngữ gọi là Tantra. Tantra hoạt động qua ba giai đoạn: Căn Bản – Con đường –Kết quả

 

Như trẻ sơ sinh khi chào đời, người nhập vào dòng pháp cũng thế, phải làm lễ Khai Tâm. Mục đích Khai Tâm là kích thích khả năng hoạt dụng của Phật tánh. Cũng giống như Pháp Quán Âm của Saint Mat, vị minh sư đầy đủ tiêu chuẩn đạo lực, phẩm hạnh để hóa giải nghiệp chướng cho giới tử  khi  thọ pháp. Lễ Khai tâm thực sự thành công là khi thầy truyền pháp và người nhận Pháp phải cùng cộng tác  một cách thành tâm. Đòi hỏi hành giả phải có kiến thức vững về pháp môn đang theo, và giữ giới đã thọ một cách nghiêm túc.

 

Lalachakra nói nôm na là Thời luân, nghĩa là ngoại cảnh, nội thân và thời gian quyện lấy lẫn nhau, gọi là Tam luân..Thời gian chi phối theo chu kỳ của vật chất nên có năm tháng ngày giờ, nội thân của sinh vật có sinh lão bệnh tử, kinh nguyệt; và sinh vật chịu tác động qua lại của ngoại cảnh và thời gian.Khi chúng sanh cứ mãi luân lưu trong sanh tử, chồng chất nghiệp lực từ quá khứ với hiện tại, tạo lực đẩy cho kiếp kế tục, cứ thế mà trôi lăn chìm đắm, không tự chủ, mà trong diễn dịch của Kalachakra gọi là gió nghiệp.

 

Theo truyền thống Mật thừa, Kalachakra đã có từ thời Andhra Pradesh, Nam Ấn., vua của  nước  Shambhala được truyền và lưu giữ. Vào thế kỷ thứ 10, hai vị tổ người Ấn được truyền , qua Tây Tạng, xuống giòng Sakya, Kagyu,và Gelug, chỉ có Gelug là nổi trội hơn hết. Cũng như các vị tiền nhiệm, đức Đạt Lai Lạt Ma 14 thường xuyên truyền lễ khai tâm mỗi khi có nhu cầu, và người ta tin rằng Ngài đương nhiệm là hậu thân của vua Shambhala thưở ấy.Một giới tử thọ pháp, cần từ bỏ nếp sống thế tục, phát Bồ đề tâm và thâm nhập lý Chân không. Lễ khai tâm  là giới Bồ Tát, giúp hành giả duy trì Bồ đề tâm. Sau khi thọ Tam quy và Bồ tát giới, giới tử bắt đầu được hướng dẫn nhập định để cảm nhận minh là vô số hóa thân Phật, Bồ tát nhập vào hệ thống Mạn Đà La của pháp thân Kalachakra. Kinh qua tịnh hóa nghiệp lực liên tục, đánh thức năng lực tiềm ẩn. Mandala hữu hình biểu trưng cho một cung điện hùng vĩ, gồm 722 vị, có hai vị chánh ngự tại trung điểm. Vị thầy truyền pháp hóa thành tất cà Bồ tát nầy.

Ngoài giới tướng đã thọ, đệ tử được thầy  Kalachakra dùng tâm lực  để cung thỉnh chư Phật vào khẩu, như qua tử cung mẹ, cảnh giới tâm thức cũng vậy, lúc ấy giới tử luôn tưởng nhớ đến chư Phật một cách miên mật để nhập tịnh quang tâm, trở thành đứa con tinh thần của thầy  Kalachakra, sự gắn kết giữa thầy trò như con và mẹ từ đó.. Sau khi thọ và nhập giới tánh, giới tử được thầy hướng dẫn chuyển các đại, đưa đến tịnh hóa Thân-Khẩu-Ý để lập chí quyết thành Phật. Những nghi thức tiếp theo thật rườm rà nhưng mang nhiều ý nghĩa.

Đồ hình Mandala có 4 loại hình Mandala: Mandala bằng cát, bằng gấm vẻ, bằng năng lực thiền định của Đạo sư, và bằng thân người. Mandala hình tròn  là biểu tượng vũ trụ; Mandala là cửa ngõ vào thọ pháp kalachakra, cũng là nghi cách cầu nguyện hòa bình thế giới. Giới tử nhập vào Mandala là nhập vào pháp giới chư Phật Kalachakra, đây là cung điện siêu hình, giới tử không thể vào bằng thân vật lý. Như bệnh nhân vào phòng giải phẩu phải khử trùng, giữ thân thể sạch sẽ, cũng vậy, giới tử giữ tâm thanh tịnh để đi vào Mandala. Tưởng tượng được tái sanh làm đứa con tinh thần của vị thầy Kalachakra giống như ngài. Căn bản là giới tử giữ  tâm chân không.

 

Trong mật pháp Kalachakra, tâm “Đại lạc bất động” được xem là tâm Phật, nhờ thu nhiếp mọi thành phần vật lý để chuyển thành thân vô sắc, thân nầy hoàn toàn bất nhị với tâm Phật.. Mật kinh của Kalachakra giải thích rõ ràng nên gọi là mật kinh hiển nghĩa. Các mật kinh khác trình bày ẩn nghĩa nên gọi là mật kinh ẩn nghĩa. Truyền pháp có hai ý nghĩa, một là Mật pháp quán đảnh ban cho quyền năng hành trì. Hai là mật pháp gia trì là truyền năng lực gia trì của đấng Bổn tôn pháp chủ vào thân ngữ ý của hành giả. Truyền pháp có hai dạng: thường và phi thường. Loại thường dùng Mandala bằng gấm thêu, loại phi thường là Mandala bằng cát màu. Pháp Quán đảnh có khả năng tịnh nghiệp chướng của giới tử tương ứng với từng địa Bồ tát. Các giai đoạn tu chứng trong Kalachakra không khác với hiển tông về hai bồ tư lương: phương tiện và trí tuệ, mật pháp cũng vậy, ngoài việc tích lũy hai bồ tư lương còn chú trọng đến khí mạch, khí, tinh khí bồ đề…đả thông các điểm trọng yếu của thân Kim Cang để  vận động các luồng khí và tâm vi tế., thu nhiếp thân vật lý chuyển thành thân vô sắc. Quá trình chuyển hiện nầy đòi hỏi dẹp bỏ trí chướng, phiền não chướng. Phần nầy giống với hiển tông, nhưng mật tông có phương pháp thực hiện khác bằng cách tịnh hóa bốn giọt tinh chất nằm ở 4 vị trí  trong thân thể. Giọt thứ nhất nằm ở luân xa trán, liên quan thời gian thức giấc; giọt thứ hai ở luân xa cổ, liên quan đến thời gian nằm mơ.Giọt thứ ba ở luân xa tim,liên quan đến thời gian chìm sâu vào giấc ngủ; Giọt thứ tư liên quan đến luân xa ở đan điền, liên quan đến niềm hỷ lạc lúc giao tình. Công dụng mỗi giọt tinh của mỗi luân xa khi đạt được quán chiếu thanh tịnh, hành giả sẽ thành tựu được thân Kim Cang  khi luân xa một tịnh hóa. Thành tựu ngữ kim Cang khi thanh tịnh được giọt tinh chất nơi luân xa cổ. Hành giả thành tựu được ý Kim cang khi thanh tịnh được giọt tinh chất nơi luân xa tim. Và thành phần thứ tư trong Kalachakra là trí giác bản lai đại lạc bất động tối thượng khi thanh tịnh được giọt tinh chất nơi luân xa bụng. Giọt tinh chất nầy thành tựu Trí giác bản lai kim cang. Thành tựu 4 giai đoạn là thành tựu được pháp tu Kalachakra. Mạndala Kalachakra có 4 cửa Đông Nam Tây Bắc tượng trưng cho 4 vị trí của cơ tạng. Khi nhập pháp quán đảnh nầy, hành giả được gieo chủng tử thành tựu trí giác bản lai của Phật trong tương lai.

Mandala Kalachakra có ba vòng tròn tượng trưng cho thân-khẩu-ý. Sở dĩ Đức Đạt Lai Lạt Ma thường truyền quán đảnh và được mọi người ưa chuộng,vì ngài được xem như hiện thân của đức Quán Thế Âm, do đó có nhiều ý nghĩa. Vả lại Ngài chấp trì truyền thừa mật pháp, giòng truyền thừa nầy không gián đoạn từ các đời Đạt Lai Lạt Ma.

Lễ quán đảnh thường giới hạn cho một số đệ tử đã tuyển chọn, nhưng đại lễ Kalachakra mọi người đều được tham dự lễ quán đảnh nầy. Tóm lại, hành giả  thọ pháp quản đảnh Kalachakra phải bước qua  nghi thức quy y Tam Bảo , thọ Bồ tát giới và những giới riêng của Mật tông, phải nhận lễ quán đảnh từ một bậc chân sư, sau đó bước vào nghi lễ uy phong và phức tạp vô cùng.

Không phải ai cũng có duyên với mật pháp Kim Cang Thừa, nhưng khi tương hợp với pháp môn nầy, hành giả càng ngày càng tiến sâu vào thiền hành một cách miên mật để tương lai chắc chắn tiên đến quả vị giác ngộ. Mật thừa là một trong các pháp tu của Phật giáo Phát triển ngày nay, nên được phổ quát hơn, giòng phái nầy đã thâm nhập vào xã hộu Âu châu và âu Mỹ hiện nay.

 

 

                                                                                               MINH MẪN

                                                                                                   12/7/2011

Thứ Bảy, 30 tháng 12, 2023

NHỮNG SỢI TÓC

 

Thời gian gần đây, chùa Ba Vàng được cộng đồng mạng chiếu cố khá  chặt chẽ, từ vụ giải vong nhiều tai tiếng cho đến cung thỉnh xá lợi tóc của đức Phật từ Myanmar về.

Phật giáo Bắc tông, khi du nhập vào Trung Hoa, suốt thời gian xã hội hóa, ít nhiều hòa chung văn hóa bản địa, trong đó có tín ngưỡng và tập quán đương thời.

Du nhập vào Việt Nam, có Phật giáo tín ngưỡng dân gian và Phật giáo xuất thế gian, có nghĩa Phật giáo thuần túy không bị pha tạp, chuyên tu giải thoát bằng Thiền định, nặng về hành trì hơn mang tính Tôn giáo.

Giải vong không có trong Phật giáo nguyên thủy, nhưng để cho quần chúng quen với tập tục cổ xưa gần với Phật giáo, Phật giáo Bắc tông phương tiện áp dụng ma chay cúng kiến của Thần giáo, cúng Thai nhi và nhiều hình thức khác, trong đó có cúng “giải oan”. Tuy kinh điển nguyên thủy không đề cập đến oan gia trái chủ, nhưng luật nhân quả trong cuộc sống không tránh khỏi ân oán với nhau, mang theo nghiệp thức giữa thế giới vô hình với thế giới hữu hình.

Dưới nhãn quan thế gian pháp vẫn chịu tác động của luật nhân quả, nhưng xuất thế gian pháp, chư Phật Bồ Tát, La Hán xem chúng là mộng, không thực. Chừng nào chứng đắc toàn giác, nghiệp thức không còn, gọi là Bạch tịnh thức thì nhân quả là giấc mộng. Vì thế, việc giải oan trở thành nghi thức trong Phật giáo Bắc tông (cầu siêu là một hình thức đơn giản), nhưng việc giải oan bạt độ chỉ xuất hiện trong các đàn chẩn tế, thông thường các chùa ít thực hiện ngoài việc cầu siêu.Những năm trước, khi Làng Mai về Việt Nam, Thiền sư T.Nhất Hạnh đã tổ chức cầu siêu bạt độ cho ba miền; giải oan là một phần ý nghĩa trong cầu siêu bạt độ.

Sợi tóc Xá lợi, có nguồn gốc từ thời Phật còn tại thế. Khi chùa Ba Vàng cung thỉnh Xá lợi tóc từ Myanmar về, rộ lên nhiều phản bác mang tính tiêu cực.

“Theo lịch sử ngôi chùa, công trình kiến trúc tôn giáo này ban đầu được người dân tộc Mon xây dựng cách đây 2.500 năm. Truyền thuyết kể rằng, hai anh em Tapussa và Bhalika đã gặp Đức Phật Thích ca Mâu ni vừa mới giác ngộ và đã cúng dường Ngài.

Đáp lại, Đức Phật đã tặng cho hai anh em 8 sợi tóc của Ngài để họ dâng lên Vua Yangon Okkalapa. Nhà vua ra lệnh xây chùa để cất giữ một số sợi tóc trong khi những sợi tóc khác được cất giữ tại chùa Shwedagon. Do có nhiều thánh tích của Đức Phật nên cả hai ngôi chùa đều trở thành trung tâm hành hương của các Phật tử.” Theo nguồn   Description: VOV.VN trên Google News

Thế thì nguồn gốc sợi tóc của Phật là có thật.Nhiều dư luận không nắm rõ nguồn gốc nên suy luận không đúng: - Phật hỏa thiêu làm gì còn tóc,Phật cạo đầu ai ở đó nhặt tóc để dành…Khi Phật ra khỏi hoàng thành vượt qua dòng sông Anoma, dùng kiếm cắt tóc, đưa áo và kiếm cho Sa Nặc đem về hoàng cung, như vậy Phật chỉ cắt tóc chứ không cạo tóc.Do công năng nội lực của Phật, tóc xoắn ốc trên đỉnh nhục kế ( một trong 32 tướng tốt) là hình tượng tôn thờ ngày nay cả Bắc và Nam tông Phật giáo.

Miền Tây Nam bộ, thỉnh thoảng xuất hiện vài ông Đạo đầu tóc đanh cứng vấn cao như tổ tò vò không có gì lạ

Có một truyền thuyết  mang tính xuyên tạc là khi Phật thiền định giữa trời nắng, ốc bưu bò lên che đầu đức Phật, sau khi ốc chết rơi xuống đếm được 108 con, từ đó xâu chuổi có 108 hạt ( chuyện xâu chuổi sẽ nói vào dịp khác). Trong giáo sử, Phật ở dưới gốc cây hoặc trong hương thất, làm gì ở ngoài nắng mà có ốc bưu che đầu. Ngay khi chưa chứng quả, ngài ngồi vẫn có rắn bảy đầu che nắng che mưa gần sông Ni Liên Thuyền, thì quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác cần gì đến ốc bưu! Nguồn tâm tiêu cực thời nào cũng có do đố kỵ mà ra.

Trở lại vấn đề Xá lợi tóc, ai bảo đó là loại cỏ pilli, chả lẽ trên 2500 năm được xem là quốc bảo, Myanmar lừa dối các nhà khoa học được sao? Do trình độ hiểu biết hạn chế về khoa học và Phật giáo, nên suy luận, lạc dẫn quần chúng theo hướng tiêu cực. chẳng những thế chính quyền Quảng Ninh do cộng đồng mạng tác động muốn vào cuộc, để làm gì trước những tâm linh huyền bí? Trước đây chính quyền cũng vào cuộc khi những tai tiếng rộ nở tại Ba Vàng, rồi chẳng khai thác được gì, đâu lại vào đấy.Cũng đừng có những ngôn từ xúc phạm đức Phật như một vài comment trên cộng đồng mạng, các Thánh nhân không xúc phạm đến chúng ta.

Không phải dư luận báo chí tất cả đều đúng. Quần chúng luôn tin cộng đồng mạng,căn cứ một chiều sẽ bị lạc dẫn đưa đến hiểu sai, sanh tâm phẩn nộ, bài xích đúng với mưu đồ của những ai ganh ăn ghét ở. Kinh nghiệm cho ta thấy những gì mắt thấy tai nghe chưa chắc là đúng.

Mùa nông nghiệp thất thu xưa kia tại Trung Hoa, thầy trò đức Khổng Tử được dân cho ít gạo, đệ tử nấu cơm, Khổng Tử nằm trên võng từ xa nhìn thấy đệ tử mở nắp vung bốc cơm cho vào miệng, ngài than – đói quá mới thấy được tấm lòng của đệ tử như thế nào; lúc cơm lên mâm, người đệ tử không ăn, nhường cho thầy và các huynh đệ, nói: lúc nảy cơm sôi bị màng nhện rơi vào, con hớt phần trên, không dám bỏ sợ tội, nên con phải ăn.Khổng Tử tự trách – sao mình vội phán xét, thấy vậy mà không phải vậy!

Trong cuộc sống giác quan hay bị đánh lừa bởi vọng tưởng, nhìn bề ngoài vội đánh giá chưa chắc đã đúng nếu không tìm hiểu thực chất của vấn đề. Hiện tượng và bản chất là hai mặt của một sự kiện, nhìn hiện tượng để phán đoán, đánh giá khó mà chính xác. Tâm hồ nghi, tâm đố kỵ thường ít xít cho nhiều làm quan trọng hóa vấn đề đưa quần chúng vào đường  lầm tưởng.

Khởi đầu chùa Ba Vàng được quan tâm do nội bộ Phật giáo hiềm khích lẫn nhau, lấy việc giải oan chiêu mộ bá tánh quá đông, cách nhận tiền công khai giữa rừng tín đồ là hình ảnh thiếu tế nhị để có cớ đối thủ bài xích.Tiền bá tánh cúng là do hỷ tâm, quan trọng là đồng tiền được sử dụng như thế nào.Từ những đố kỵ vụn vặt đưa đến tàn hại lẫn nhau. Youtuber thường câu view, hoặc do ai đó khích động biến thành một cao trào mỗi khi Ba Vàng diễn ra sự kiện.

Chùa Ba Vàng luôn tạo ra những sự kiện bị tai tiếng, có lẽ thầy Thích Trúc Thái Minh  nghĩ rằng việc làm công khai trong sáng tại sao phải che dấu, đó là sơ suất cho những tầm nhìn soi móc. Thiết nghĩ, những sinh hoạt thuộc phạm vi Tôn giáo, muốn phán xét cần phải hiểu rõ giáo lý, giáo điều của Tôn giáo mới đánh giá, nhìn sự việc mới chính xác.

Cuộc sống cần bao dung, giúp nhau xây đựng tốt hơn, đó là tình người, là nhân cách sống, vì không ai là hoàn hảo. Thánh kinh Thiên Chúa từng dạy – “các ngươi đừng đoán xét ai,để mình khỏi bị đoán xét”( Ma thi ơ 7:1). Lục tổ Huệ Năng đã nói : “hãy nhìn lỗi mình, đừng thấy lỗi người”.

MINH MẪN

30/12/2023

 

 

 

Thứ Ba, 25 tháng 7, 2023

PHẢN HỒI VIỆC QUẢN LY THÙNG CÔNG ĐỨC


Gần đây, sau thông tư số 4 của bộ Tài chánh về việc quản lý thùng công đức, mặc dù đang làm công tác quản lý các cơ sở di tích lịch sử, thế nhưng,vẫn rộ lên những lo âu chưa nên có với các am tự viện. Thêm vào đó, một vài trang mạng đưa lên những sự việc liên quan đến chùa Ba Vàng, gây xôn xao dư luận.

TT Thích Chúc Thái Minh chùa Ba Vàng xác nhận không có đoàn kiểm  tra nào đến chùa kiểm kê, và chùa cũng không tránh né việc kiểm kê theo luật định. Nguồn tin thiếu ý thức như vậy, nhà nước cần xử lý để tránh xáo trộn xã hội.

Trở lại vấn đề thông tư số 4 của Bộ Tài chánh: chương I quy dịnh chung, mục số 3. Thông tư này không điều chỉnh:

a)     Quản lý, thu chi tiền công đức, tài trợ  đối với cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo chưa được: chủ tịch UBND cấp tỉnh, Bộ trưởng bộ Văn hóa,thể thao và du lịch, hoặc Thủ tướng chính phủ cấp bằng xếp hạng di tích hoặc UBND cấp tỉnh đưa vào danh mục kiểm kê di tích của địa phương theo quy định của  Luật Di sản văn hóa.

b)    b) Quản lý, thu tiền công đức, tài trợ cho hoạt động Tôn giáo của tổ chức Tôn giáo, tổ chức Tôn giáo trực thuộc.

Tóm lại, 4 chương 18  điều chưa có điều khoản nào trực tiếp quản lý thùng công đức các chùa không thuộc di tích lịch sử. Có thể đây là bước đầu sau khi áp dụng thành công thông tư số 4.

Thử đặt vấn đề, nếu các chùa, cơ sở tôn giáo đặt dưới quyền kiểm soát của Bộ tài chánh như kiểm soát tài chánh, kinh tế thì sự việc sẽ như thế nào?

Một khi các trụ trì chỉ là ông từ giữ chùa ăn lương nhà nước, thế cũng tiện vì trụ trì khỏi phải trách nhiệm; nhưng chùa hư xuống cấp, liệu nhà nước tu sửa kịp thời hay phải đợi qua bao nhiêu ban bệ như một số di tích lịch sử đã phải chờ đến khi hư sập đổ nát ?.

Bao nhiêu chi phí cho cuộc sống hàng ngày nếu chùa có đông nhân khẩu, điện nước và bao việc phát sinh ai phải giải quyết.

Liệu quản lý thùng công đức được không, khi trụ trì nhận thù lao bên ngoài, ma chay đám tiệc từ gia chủ. Hoặc tín đồ cúng riêng cho chư Tăng mà không qua thùng công đức?

Ngoài phản ứng của chư Tăng trước việc quản lý thùng công đức, tín đồ sẽ phản ứng như thế nào khi họ gửi gắm đức tin vào chùa?

Sẽ còn bao nhiêu phức tạp phát sinh nếu bộ tài chánh chỉ nghĩ đến nguồn lợi trước mắt mà các cơ sở tín ngưỡng dân gian như núi Bà Đen Tây Ninh, chùa bà Châu đốc…đem lại.

Chùa là cơ sở tín ngưỡng không chỉ đáp ứng nhu cầu tâm linh cho quần chúng, mà còn là nơi tu tập cho những bậc có tâm xuất trần.Tạo hoang mang cho bậc chân tu sẽ có hậu quả khó lường.

Gần đây có những tu sĩ trẻ thiếu nhân cách, đã phô trương sự giàu có do bá tánh cúng dường Tam bảo,  làm khó chịu cho xã hội, đưa đến sự chú tâm của nhà nước. Nhưng đó chỉ là con sâu làm rầu nồi canh, không phải tuyệt đại đa số đều như thế. Những bậc chân tu rất cẩn trọng khi sử dụng đồng tiền của bá tánh, vì nhân quả không chừa một ai. Đạo Phật là đạo Nhân quả, kẻ lạm dụng của thường trụ không tránh khỏi nghiệp quả. Chỉ có người không tin nhân quả mới lạm quyền thùng công đức.

Giả dụ, nhà nước không trực tiếp quản lý thùng công đức, lập tam đầu chế gọi là ban quản trị, để dòm ngó lẫn nhau, có nghĩa không tin vào thầy trụ trì, vậy  xem nhà chùa phải chăng là một cơ sở kinh doanh?

Cơ sở kinh doanh do nhà nước quản lý đều thua lỗ, chả lẽ lập Ban quản trị nhà chùa có lời chăng?

Tóm lại, dù dưới hình thức nào thế tục xen vào Tam bảo đều không thể, trên hai ngàn năm có mặt trên đất nước này, nếu Phật giáo xảy ra như vậy, quả thật, biến Phật giáo thành thế tục đáng ghi vào sách kỷ lục thế giới.

Một văn  bản của Bộ tài chánh đưa ra thật tối nghĩa, rườm rà gây nhiều ngộ nhận.

MINH MẪN                                                                                                              24/7/2023

 

 

 

 

 

Thứ Tư, 19 tháng 4, 2023

https://www.phattuvietnam.net/tp-hcm-tt-ts-thich-chan-quang-thuyet-giang-tai-chua-hoa-khanh/


KHÔNG THỂ HIỂU NỖI.

Đọc bài giảng kiểu này, không thể hiểu nỗi nếu đúng là lời Phật dạy!

Lần lượt xin trích đoạn:

Ts T.Chân Quang thuyết giảng tại chùa Hòa Khánh. TP HCM NGÀY 05/4/23 thuyết giảng đề tài  “NHỮNG ĐIỀU HIỂN NHIÊN” .

...“Thêm nữa, ngoài việc tích cực làm từ thiện quý thầy ở đây ai cũng có lý tưởng tu hành” thế thì các chùa khác không có lý tưởng tu hành sao?

...” Trong khi nhiều chùa khác hoạt động không hiệu quả, quanh năm ít người tới tu học. Trước thực trạng này, Thượng toạ đặt câu hỏi tại sao nhiều người ngoài kia không chịu tu, còn quý Phật tử lại tinh tấn tu?  Vậy chỉ có Phật tử chùa Hòa Khánh và đạo tràng của Phật Quang mới chịu tu và tinh tấn???còn bao nhiêu phật tử tại gia họ vẫn thầm lặng tu tập không cần khua chiến gõ mõ thì sao?

... Sau rất nhiều câu trả lời khác nhau, Người khẳng định lại, chúng ta chịu tu bởi chúng ta tin vào đạo lý Phật dạy sẽ giúp ta vượt lên khỏi khổ đau của luân hồi, tái sinh, đạt được những điều cao thượng. Những người ngoài kia không tin điều đó bởi nghĩ rằng có làm thì có ăn nên họ cố gắng xoay sở trong cuộc sống để hưởng thụ, nhiều khi gây nghiệp, cứ mãi lăn trôi trong luân hồi, chết rồi không biết đi đâu.  Chỉ có phật tử ngồi nghe gỉảng ở đây mới tin lời Phật dạy, các chùa khác và những người lương thiện không tin hay sao?

... Thực sự, 95% chúng sinh sau khi chết sẽ đọa làm ma đói vì chúng ta cứ nghĩ giá trị của cuộc sống là ăn ngon mặc đẹp nên lúc sống đã tận dụng mọi cái phước để tranh thủ hưởng thụ. Hết phước, sau khi chết nếu không đọa địa ngục, súc sinh thì cũng sẽ làm ma đói vất vưởng. Người sống mà hết phước thì bệnh tật, đói khổ bủa vây…  Trời ơi! Đức Thế Tôn bậc trí tuệ như thế chưa bao giờ xác quyết 95% chúng sanh sau khi chết làm ma đói mà phàm Tăng giỏi hơn đức Thế Tôn. Hù dọa chúng sanh như thế để mọi người sợ mà tu hay họ sẽ hủy báng giáo lý đạo phật??? Thay vì hướng dẫn mọi người vào nẽo thiện lại hù dọa. Đạo Phật trong tam tạng giáo điển không có một câu kinh nào như thế. Ái ngữ luôn là “vô úy thí” thể hiện lòng từ của một vị tu hành theo đạo Phật. Người giàu sang do phước quá khứ, nếu hưởng phước mà vẫn biết tạo thêm phước thì sao đọa?. Dù không tạo phước mà không tạo tội chắc gì đọa làm quỷ đói? Nếu giàu có do phức sanh mà không được thụ hưởng thì tạo phước làm gì? Chả lẽ tất cả người đời đều phải sống như người xuất gia kham khổ? Chắc gì người xuất gia không hưởng thụ sự giàu sang? Người sống mà hết phước thì bệnh tật, đói khổ bủa vây…Người giàu có là người đang hưởng phước mà vẫn bệnh tật chứ đâu đợi hết phước?

...”  khai mở tâm linh giác ngộ, rời bỏ thân phận phàm phu tầm thường, trở thành bậc Thánh, có thể thoát khỏi luân hồi sinh tử.” Chữ Thánh hiểu theo dân gian, các bậc siêu phàm như Lão, Khổng.. đều được gọi là Thánh. Đức Phật dưới mắt thời Khổng Nho gọi là đại Thánh. Nhưng trong Phật giáo, Thánh đã diệt 10 kiết sử gồm hạ phần: (thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục và sân)  thượng phần kiết sử (hữu ái, vô hữu ái, mạn, trạo cử và vô minh), trong cõi sắc giới và vô sắc giới. Trãi qua nền tảng Giới-Định-Huệ để tiến đến các giai đoạn: 1. Thánh quả Dự lưu-Tu đà hoàn.Quả vị này gọi là “thất lai” Kinh tạng Nikāya định nghĩa như sau: “Ở đây Tỷ-kheo đoạn dứt ba kiết sử, thành bậc Dự lưu, không đọa ác thú, chắc chắn đạt quả Bồ-đề.” Đoạn dứt ba kiết sử đầu là Thân kiến, nghi và giới cấm thủ. Quả vị này còn 7 lần sanh tử nữa mới chứng Thánh quả thực thụ.Thánh của quả vị này được gọi là Thánh quả Dự lưu, tức là mới bắt đầu bước vào dòng Thánh.Tuy còn 7 lần sanh tử nhưng chắc chắn là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc đạt đến Chánh giác.

2. Thánh quả Nhất lai - Tư đà hoàn là quả vị thứ hai trong tứ Thánh quả. Phải trở lại sanh tử một lần nữa mới đạt đến vô sanh.Quả vị này ngoài ba phần kiết sử trên còn phải đoạn Dục và Sân.

4. Thánh quả A La Hán. Quả vị thứ ba là A Na Hàm và A La Hán thoát khỏi sanh tử luân hồi.

Thánh có hai loại, Thánh hạnh và Thánh quả, một người chưa đạt Thánh quả nhưng công hạnh của một vị Thánh trong đời thường được thể hiện trọn vẹn gọi là Thánh hạnh.Như vậy Thánh theo lối giảng trên đây...”  khai mở tâm linh giác ngộ, rời bỏ thân phận phàm phu tầm thường, trở thành bậc Thánh, có thể thoát khỏi luân hồi sinh tử.” Mà không giảng cho quần chúng đoạn trừ thập kiết sử để khai mở tâm linh giác ngộ thì đâu dễ rời bỏ thân phận phàm phu? Nhất là Tam độc Tham-sân-si.Quá trình tiến đến khai mở tâm linh giác ngộ rời bỏ thân phận phàm phu tầm thường để trở thành bậc thánh đâu  chỉ nghe giảng mà chứng đắc được.      ( nghe cho vui thôi)

Trên đây là bốn quả vị Thánh, theo Phật giáo Bắc truyền còn phải hành Bồ tát hạnh mới đến Phật quả. 1. Hoan hỉ địa, 2. Ly cấu địa, 3. Phát Quang địa (Minh địa), 4. Diệm huệ địa (Diệm địa), 5. Nan thắng địa (Cực nan thắng địa), 6. Hiện tiền địa, 7. Viễn hành địa, 8. Bất động địa, 9. Thiện huệ địa, 10. Pháp vân địa.Quá trình tu tập không chỉ một một giờ, một kiếp nếu không có căn lành nhiều đời. Ngay cả ăn chay và bỏ rượu đã là khó đối với nhiều người, ngay cả phật tử Bắc tông, nói chi đến những giới nhỏ nhặt.

Theo Phật Giáo Hòa Hảo – “học Phật tu nhân” đã là khó, họ sống rất đạo đức, xả thân hành thiện, không mong làm Thánh, sát thực tế với xã hội ngày nay. Kinh điển nhà Phật dạy nhân thừa, giúp chúng sanh sống căn bản của con người hợp với căn cơ và hoàn cảnh của họ, làm Thánh chỉ dành cho những bậc xuất trần. Mỗi căn cơ có một sự hướng dẫn phù hợp với giáo lý đó. Sống trong xã hội bon chen kinh tế mà giảng chuyện trên mây, nghe cho vui ra về đâu cũng vào đó, có lợi gì cho bản thân ngoài chuyện mê tín?

Giáo lý thích hợp căn cơ thính chúng gọi là khế cơ. Giảng tâm lý xa rời giáo lý là “ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết”.Một giảng sư lấy giáo lý làm tiêu chuẩn, tâm lý xã hội để minh họa mới không sai Phật pháp.Giảng cho quần chúng cần giảng nhân thừa, đừng đề cập quả vị trên mây thiếu thực tế.

Từ lâu không muốn nghe những bài giảng tự kỳ xuất ý như vậy, nhưng do nhiều người yêu cầu,hiểu thế nào cho đúng giáo lý đạo Phật, đành phải nêu lên những sai lầm không đáng có với giáo lý Phật giáo, phải chăng đó đúng với chủ đề: ‘”NHỮNG ĐIỀU HIỂN NHIÊN” của bài giảng.

Đọc bài giảng kiểu này, không thể hiểu nỗi nếu đúng là lời Phật dạy!

 

MINH MẪN

19/4/2023


Thứ Tư, 21 tháng 12, 2022

* VIỆC THỨ TƯ CỦA ĐẠI THIÊN (4)




"Dư sở dụ, vô tri,
Do dự, tha linh nhập,
Ðạo nhân thanh cố khởi,
Thị danh chân Phật giáo".
Nghĩa là Vị A-la-hán còn phải được người khác chỉ điểm mới biết mình là A-la-hán, theo quan điểm của Đại Thiên. Tại sao?
***
Thế tục, một sinh viên ắt hẳn phải biết mình đang là sinh viên, khác với học sinh cấp ba hay thực tập sinh trong các chuyên ngành khác. Mình đang là sinh viên mà không biết mình là sinh viên thì mình đã có vấn đề về tự tri.
Riêng đối với vấn đề tâm linh, có những trường hợp phải được thọ ký, có những trường hợp xác quyết, ấn chứng… nhất là trong các mẫu Thiền ngữ, hành giả đối đáp hoặc trình chứng bài kệ để thầy xác định trình độ khả đắc, ấn chứng cho đệ tử. Ta lần lượt xét từng vấn đề ở mỗi góc độ khác nhau.
Trong bài toán có nhiều cách giải khác nhau, do nhiều cách giải mà một học sinh có thể ngờ ngợ về khả năng chính xác bài toán được giải, chưa biết chắc đúng sai, do đó, cần có sự xác quyết của thầy giáo. Trường hợp một học sinh biết chắc bài toán mình giải là đúng, không nằm ngoài khả năng của mình, và một học sinh còn ngờ ngợ bài toán giải của mình cũng là điều tất yếu không cần phải thắc mắc, vả lại, theo Hòa Thượng Thích Trí Quảng giảng: 
“Đức Phật thọ ký cho Xá Lợi Phất thành Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai. Bấy giờ, Xá Lợi Phất mới trình bày với Đức Phật rằng trước kia Ngài đã ấn chứng cho tất cả đệ tử là A La Hán, nhưng Xá Lợi Phất còn cảm thấy hoài nghi.
Nay, trong hội Pháp Hoa, Xá Lợi Phất mới nhận biết được sự thật rằng Đức Phật ấn chứng cho họ là A La Hán đồng với Đức Phật, thì chỉ là danh tự La Hán mà thôi và đồng với Đức Phật là đồng nghĩa giải thoát, không đồng phước đức trí tuệ. 

Thật vậy, Đức Phật đã trải qua vô số kiếp hành Bồ Tát đạo cho đến khi thành tựu quả vị Phật, Ngài luôn mang nguồn vui và cứu khổ chúng sinh, cho nên họ đã thọ ơn Phật, nay gặp lại mới kính ngưỡng, phát tâm tu theo Đức Phật. Nói cách khác, Đức Phật khẳng định việc hành Bồ Tát đạo, tức phải tu tạo phước đức và trí tuệ cho đến viên mãn là điều cần thiết nhất để thành tựu quả vị Phật. Còn các A La Hán chỉ hướng đến giải thoát cho riêng bản thân, không quan tâm đến việc cứu khổ độ sinh. Với tâm ly trần, cách biệt chúng sinh như vậy, khó cảm hóa được người và không thể tạo công đức, nên không thể thành Phật.
Đức Phật dạy rằng Xá Lợi Phất đã đi qua đoạn đường thứ nhất, có tư cách thánh thiện của A La Hán rồi, nên tiếp tục đoạn đường thứ hai, hành Bồ Tát hạnh viên mãn. Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát không phải là ba con đường khác nhau dẫn đến ba điểm riêng biệt. Nhưng phải đắc A La Hán vị, nghĩa là thân tâm thanh tịnh, diệt sạch kiết sử bên trong, hoàn toàn tốt lành, mới có khả năng hành Bồ Tát đạo, vào đời cảm hóa người, mới thành tựu quả vị Phật. Vì những người không có khả năng tiếp thu nghĩa lý sâu xa của pháp phương tiện, không hiểu được yếu nghĩa “khai Tam thừa hiển Nhất thừa”, Đức Phật phải nói thêm thí dụ cho dễ hiểu.
(HT Thích Trí Quảng) 
Như vậy, nếu có “tha linh nhập” như Đại Thiên chủ trương thì đó chỉ là - Đức Phật ấn chứng cho họ là A La Hán đồng với Đức Phật, thì chỉ là danh tự La Hán mà thôi.
***
Vô tri, do dự, tha linh nhập là chủ trương của Đông Sơn Trú Bộ, và Tây Sơn trú bộ chấp nhận ý của Đại Thiên - Tha linh nhập (do người khác xác nhận, đây là cách trả lời của Đại Thiên khi bị đệ tử chất vấn), theo Đại Thiên - bất cứ vị A La Hán nào, khi chứng quả, cũng phải do người khác (như Phật chẳng hạn) thức tỉnh, ấn chứng mới có thể ngộ nhập Thánh đạo một cách chân chính. Cũng giống một số trường phái tâm linh khác, một đệ tử được thể nghiệm là khi minh sư truyền tâm ấn, đó là trạng thái “tha linh nhập”, nghĩa là được người khác tác động, truyền năng lượng, hoặc do một bậc thầy chứng đắc hỗ trợ, xác quyết… có lẽ, Đại Thiên ảnh hưởng ngoại thuyết trước khi gia nhập Tăng đoàn, hạt giống tha lực còn tồn tại trong tưởng thức nên hiểu “tha linh nhập” như một sự hỗ trợ,  xác quyết cho sự đắc pháp, đắc quả vị A La Hán. Nhưng qua ba bài trước, kinh tạng đã xác định đặc tính của bậc A La Hán không như thế.
Trạng thái vi tế của Bạch tạng thức khi thập kiết sử được sạch sẽ, nơi ấy, không thể gọi là vô thức, cũng không gọi là ý thức, cái vi tế thức đó, là nền tảng A Lại Ya của Duy Thức tông. Cũng gọi là “Tế tâm” Chỉ cho tâm thức nhỏ nhiệm. Thượng tọa bộ chủ trương từ vô thủy đến nay, tâm thức này vẫn giữ trạng thái đồng nhất, liên tục không gián đoạn. Còn Kinh lượng bộ thì gọi nó là “Nhất vị uẩn”. Phổ thông cho rằng tâm thức này là chủ thể luân hồi của con người,
Lại như “Căn bản thức” của Căn bản Đại chúng bộ, “Cùng sinh tử uẩn” của Hóa địa bộ, “Quả báo thức” của Chính lượng bộ”, “Hữu phần thức” của Thượng tọa bộ... đều là chỉ cho Tế ý thức. Ngoài ra, các phái như: Thí dụ giả, Phân biệt luận sư cho rằng trong định Vô tâm có “Tế tâm tương tục bất diệt”. Chủ trương này cũng giống như thuyết “Tế ý thức”.
[X. luận Đại tì bà sa Q.152; luận Thành duy thức Q.3, Thành duy thức luận thuật kí Q.4, phần đầu; Dị bộ tông luân luận sớ thuật kí] (Phật Quang đại từ điển); thế thì tự chứng giải thoát đã rõ ràng như trắng và đen, sao cần phải có sự xác quyết từ tha lực mà gọi là “tha linh nhập”.
***
Những pháp hành trong Thiền môn Trung Hoa, còn gọi là Thiền phái Bắc tông, câu đối đáp giữa thầy trò, giữa thủ tọa và vị tham vấn đều là phương tiện để thầy đánh giá trạng thái kiến tánh của người tham vấn. Tuy nhiên, với hình thức như thế chưa chắc lối nghịch thoại đó xác quyết được trình độ kiến tánh của hành giả tham vấn. Đôi khi đối thoại lập dị cũng tạo sự hiểu lầm nếu vị thủ tọa hay thiền sư không quán chiếu thấy được trình độ tâm thức của đối tượng. Trong sát na đối đáp đến tuyệt kỷ cùng đường, chỉ là giai đoạn bế tắt của ý thức (như bị treo máy) trong chốc lát. Hành giả nắm được mấu chốt đó để duy trì “kiến tánh “đi đến cùng thì có khả năng hoát nhiên đại ngộ. Bằng ngược lại, vọng tưởng tiếp tục trỗi dậy, cho dù là vọng tưởng về chứng đắc, về khởi ý kiến tánh cũng đều lạc vào tưởng thức.
Tham công án hay thoại đầu cũng thế, hành giả tập trung vào công án như nung chảy ý thức, tuy không tìm cách lý giải công án, nhưng nhiệt lượng và ý thức xoáy vào công án như con chuột đục sâu vào sừng trâu, chỉ còn lối thoát duy nhất là đợi cho sừng trâu bị thủng mới thoát ra được, bằng không, sẽ chết tức tưởi. Cũng có những hành giả bị khủng hoảng bất thường khi ý thức tập trung cao độ mà không có lối thoát, đành ngã quỵ ngay thiền đường. Trường hợp pháp hành và hành giả này không cần sự hỗ trợ của “tha linh nhập” như ngũ sự của Đại Thiên đề ra.

Trong thời Phật hiện tiền, rất nhiều hành giả chỉ nghe một lời pháp cũng đã chứng Thánh quả mà không cần phải “tha linh nhập”. Và biết bao vị Thanh Văn, Duyên Giác, Độc Giác do quán 12 nhân duyên, tu tứ đế, hay quán vô thường mà chứng đắc và tự biết mình chứng đắc. Vì vậy,”tha linh nhập” theo Đại Thiên là sự chỉ bảo, xác quyết; nhưng trong thế giới tâm linh, rất nhiều trường phái, thấp nhất như ma quỷ, “tha linh nhập” được hiểu là ám ảnh, ám nhập, Tứ phủ, đồng bóng, thần nhập ám chỉ cho “tha linh nhập” có nghĩa từ một lực lượng siêu hình nhập vào, tác động vào đối tượng mà chính đối tượng không thể tự chủ. Một số trường phái tại Ấn Độ, vị minh sư dùng lực lượng siêu nhiên truyền đạt vào tâm thức đệ tử cầu pháp, “tha linh nhập” nầy được hiểu là truyền tâm ấn. Dĩ nhiên người cầu pháp thể nghiệm được một trạng thái nào đó để chứng tỏ đã được câu thông thay cho chữ xác quyết.Trong thời đại văn minh Ai Cập, từng xuất hiện những guru, người đương thời gọi là pháp sư, đã dùng lực lượng tâm linh thủ đắc để truyền năng lượng tâm thức cho đệ tử cầu pháp, hoặc sai khiến phần âm theo chỉ đạo của họ. Một số tà sư pháp thuật cũng dùng năng lực tâm linh sai khiến lực lượng vô hình ám nhập vào đối tượng để khai khẩu những gì cần biết… Việt Nam hiện nay cũng có những thầy pháp khai khẩu con bệnh bằng triệu lịnh cho dòng năng lượng cõi âm nhập xác ứng khẩu, đó cũng là dạng “tha linh nhập”.
Tóm lại, “tha linh nhập” tùy trường hợp, tùy góc độ mà hiểu, vì tha là kẻ khác, lực bên ngoài tác động vào tâm thức một đương sự, một hành giả ảnh hưởng tính Thần khải hơn là tự giác, tự ngộ theo tinh thần của đức Phật. Đại Thiên sử dụng thủ thuật này để biện minh cho những quả vị tứ thánh ấn chứng cho đệ tử khi mà đệ tử biết mình chưa có chứng đắc. Ta hãy đọc một đoạn sau đây:
Sau đó, Đại Thiên vì muốn các đệ tử vui vẻ, không còn nghi ngờ, liền tùy theo từng người mà thọ ký cho chúng chứng từ quả thứ nhất cho đến quả thứ 4.
Bấy giờ, các vị đệ tử cúi đầu bạch rằng: Các vị A La Hán, (khi chứng quả) tự mình biết mình đã chứng, tại sao chúng con đã chứng quả, nhưng tự mình không hề hay biết?
Đại Thiên bèn trả lời rằng, các vị A La Hán vẫn còn có trạng thái ‘vô tri’, các ông không nên có sự hoài nghi với tôi. Vì trạng thái ‘vô tri’ có hai loại: Một là ‘nhiễm ô vô tri’, loại nhiễm ô này, vị A La Hán không còn nữa; Hai là ‘Bất nhiễm ô vô tri, loại vô tri này, vị A La Hán vẫn còn. Do vậy, các ông không thể tự mình biết được.
Bấy giờ các đệ tử lại thưa rằng, chúng con từng được nghe các vị thánh đã đoạn trừ nghi hoặc, nhưng tại sao chúng con đối với pháp Tứ đế vẫn còn có sự nghi hoặc?
Đại Thiên trả lời, Các vị A La Hán vẫn còn sự nghi hoặc. Vì sự nghi hoặc có hai loại: Một là thuộc về ‘tùy miên tánh nghi’ tất nhiên A La Hán đã đoạn trừ; Hai là thuộc loại ‘xứ phi xứ nghi’ ở địa vị A La Hán vẫn chưa đoạn. Các vị Độc Giác, đối với loại nghi này vẫn chưa đoạn, huống gì các ông là những bậc Thanh Văn, đối với các Đế không còn sự nghi ngờ sao? Về sau, những đệ tử của ông, đọc các kinh, trong đó ghi rằng, vị A La Hán có tuệ nhãn, tự mình giải thoát, tự mình chứng biết. Do đó, thưa với Đại Thiên rằng, Nếu chúng con là những bậc A La Hán, chúng con tự mình chứng biết. Tại sao phải nhờ đến sự thọ ký của thầy mà chúng con hoàn toàn không hề hay biết tự mình chứng đắc?
Qua đoạn văn ngụy biện cho thấy Đại Thiên là con người lợi khẩu, biện luận tuy trôi chảy những vẫn không tránh khỏi những mắc mứu mà ngay cả đệ tử cũng khó chấp nhận hà huống phái Hữu Bộ kết tội là ác kiến không ngoa. Mà đã là ác kiến là mầm mống phá hoại phật pháp.

***
“Tha linh nhập” là một trong ngũ sự hay còn gọi là ác kiến của Đại Thiên, được Đông Sơn trú bộ, Tây Sơn trú bộ chấp nhận, mà Đông Sơn Trú Bộ và Tây Sơn Trú Bộ đều là những bộ phái xuất hiện ở đời sau. Cứ theo luận Dị Bộ Tông Luân của Thế Hữu chép, thì sau Phật nhập diệt đúng hai trăm năm, trong Đại chúng bộ có Đại thiên ở núi Chế đa, tranh luận với chư tăng Đại chúng bộ về năm việc (Ngũ sự), dẫn đến xích mích mà chia thành Chế Đa Sơn Bộ, Tây Sơn Trụ Bộ và Bắc Sơn Trụ Bộ (tương đương với Đông Sơn Trụ Bộ trong Đảo Sử). Về vấn đề này, trong Chú Thích Luận Sự 2-1 đến 5, Phật Âm bảo Dư-sở-dụ là chủ trương của Đông Sơn Trụ Bộ và Tây Sơn Trụ Bộ, vô tri, do dự, tha linh nhập là chủ trương của Đông Sơn Trụ Bộ. (Phật Quang đtđ).
Cả năm điều của Đại Thiên được ghi chép trong Luận Bả-sa– Vị A-la-Hán còn xuất tinh.
– Vị A-la-hán còn vô tri.
– Vị A-la-hán còn hoài nghi.
– Vị A-la-hán còn được người khác chỉ điểm mới biết mình là A-la-hán.
– Đạo xuất hiện nhờ tiếng khổ.
Trong khi Đại Thiên sử dụng thế trí biện luận để tự bào chữa cho quả vị A La Hán của mình thì ngược lại, các thiền sư Trung Hoa lại sử dụng thủ pháp hướng nội để kiến tánh, mỗi trường phái có một thủ pháp truyền đạt, hoặc công án, hoặc thoại đầu, hoặc la hét đánh đập… để đẩy hành giả vào chỗ tuyệt đường cùng lộ mà hoát nhiên ngộ tánh. Ta xem một đoạn khai thị của Thiền sư đối với đệ tử như sau:

…bọn người như thế đều là tạo tác. Người hiện nay đang nghe pháp này làm sao muốn tu nó, chứng nó, trang nghiêm nó. Nó vốn chẳng phải vật để cho tu, chẳng phải vật để trang nghiêm được. Nếu bảo nó trang nghiêm ông được, thì tất cả vật đều được trang nghiêm. Sơn tăng nói hướng ngoại chẳng có pháp, học nhân không lãnh hội được bèn cho là hướng trong, rồi liền dựa vách ngồi trạm nhiên chẳng động ; chấp lấy cái này là Phật Pháp của Tổ môn, thực là sai lầm lớn. Nếu ngươi chấp lấy cảnh thanh tịnh, bất động là đúng. Vậy tức là ngươi nhận cái vô minh làm chúa tể. Người xưa nói chỗ hầm sâu đen tối mịt mù thật đáng ghê sợ là lý này vậy. Nếu ngươi nhận cái động là phải, thì tất cả cỏ cây cũng đều biết động, cũng nên gọi là đạo chăng ? Thực ra kẻ động là phong đại, bất động là địa đại. Ðộng với bất động chẳng có tự tánh. Nếu ngươi hướng vào chỗ động mà nắm bắt nó thì nó hướng vào chỗ bất động đứng. Nếu ngươi hướng vào chỗ bất động bắt nó thì nó lại hướng nơi chỗ động đứng. Ví như con cá ẩn trong suối nhảy ngược dòng.
Các Ðại-đức! Động với bất động là hai thứ cảnh, còn Đạo nhân vô y thì động cũng dùng, bất động cũng dùng mình chẳng có thủy chung, nếu tâm của ngươi niệm niệm thôi nghĩ chẳng được thì leo lên cây vô minh, đi vào tứ sinh lục đạo mang lông đội sừng. Nếu ngươi thôi nghĩ được, tức là thanh tịnh Pháp thân. Nếu ngươi một niệm chẳng sanh thì leo lên cây Bồ Ðề, vận thần thông trong tam giới, biến hóa thân tự tại.
Có một bọn mù trọc đầu ăn cơm no rồi ngồi thiền quán hạnh, chụp bắt niệm lậu không cho sanh khởi, tránh ồn ào, cầu tĩnh lặng; ấy là pháp ngoại đạo. Tổ sư nói: Nếu ngươi trụ tâm khán tịnh, cử tâm ngoại chiếu, nhiếp tâm nội trừng (trong lặng), ngưng tâm nhập định đều là pháp ngoại đạo…( tập 47, Ðại Tạng Kinh)
***
Khoảng một trăm năm sau khi đức Phật nhập diệt, tức năm 283 trước Tây lịch trở đi, Giáo đoàn Phật giáo chia thành hai bộ phái là Đại chúng bộ cách tân và Thượng tọa bộ bảo thủ. Cứ theo tư liệu của Phật giáo Bắc truyền ghi chép, thì nguyên nhân đưa đến sự phân hóa là do Đại thiên đề xướng thuyết mới về năm việc; còn cứ theo các tư liệu của Phật giáo Nam truyền, như Đảo sử Đại vương thông sử ghi chép, thì nguyên nhân là do các tỉ khưu thuộc chủng tộc Bạt kì nêu lên thuyết mới về mười việc mà đưa đến chia rẽ. Đại thiên là tỉ khưu xuất thân từ nước Ma thâu la tuyên dương Phật giáo tại thành Hoa thị, Đại thiên đề xướng thuyết mới về năm việc tại chùa Kê Viên, bị phái Trưởng lão bảo thủ lên án là vọng ngữ. Tăng đoàn do đó mà chia làm hai phái. Cái gọi là năm việc mới tức là:
1. Dư sở dụ (người khác làm bẩn quần áo), A La Hán vẫn không chống chế được sự cám dỗ của Thiên ma mà tình cờ có hiện tượng mộng di. 2. Vô tri (vô minh), A La Hán còn có Bất nhiễm ô vô tri. 3. Do dự (ngờ), bậc Thánh chứng quả thứ tư, đối với Phật pháp vẫn còn có chỗ ngờ vực, chứ chưa hoàn toàn triệt ngộ. 4. Tha linh nhập (do người khác độ), bất cứ vị A La Hán nào, khi chứng quả, cũng phải do người khác (như Phật chẳng hạn) thức tỉnh, ấn chứng mới có thể ngộ nhập Thánh đạo một cách chân chính. 5. Đạo nhân thanh cố khởi (Thánh đạo nhờ lời nói mà hiển bày), người tu hành nếu tu tập Thánh đạo xuất thế thì phải chí thành xướng niệm tiếng Khổ thay; mới có thể khiến Thánh đạo hiện khởi.
Còn phía các tỉ khưu Bạt kì đề xướng mười việc… Khi thuyết mới về mười việc trên đây được đề xướng rồi, tỉ khưu Da xá được sự tán trợ của Trưởng lão Li bà đa, bèn triệu tập đại hội tại thành Tì xá li, nhất trí quyết nghị thuyết mới này là bất hợp pháp, bởi thế gọi là Thập sự phi pháp,............. Đại hội lần này, đồng thời, cũng là Đại hội kết tập Luật điển, có bảy trăm vị tỉ khưu tham dự, cho nên gọi là Thất bách kết tập,............ Còn cái gọi là thuyết Đại thiên ngũ sự, thì có thể là một vị Đại thiên, trùng tên nào đó ở đời sau đã từ Đại chúng bộ chia thành một phái độc lập, rồi phụ họa và mở rộng tư tưởng của Đại thiên mà thành thuyết Ngũ sự, vì thế, khi bàn về nguyên nhân đưa đến sự chia rẽ trong căn bản Phật giáo, thì thuyết Thập sự phi pháp có vẻ hợp lí hơn. (Phật Giáo Giáo Lí. Và Phật Quang đtđ)
***
“Tha linh nhập”, Đại Thiên sử dụng để cưởng lý cho đệ tử khỏi thắc mắc, đã trở thành chủ trương trong 5 việc mà Đại chúng bộ cho đó là hợp lý và cũng từ đó mà thầy T.Hạnh Bình thần tượng Đại Thiên đến độ thầy Hạnh Bình viết:
“lẽ ra ông (tức Đại Thiên) phải là người được mọi người tôn sùng và hết lời ca tụng sự nghiệp cải cách Phật giáo của ông mới đúng” (NĐCĐT, tr.134).
Hay “… dám nghĩ dám làm của Đại Thiên đáng được cho ngày nay chúng ta học tập và ngưỡng vọng” (NĐCĐT, tr.146).

Nếu thầy Hạnh Bình tán dương ca ngợi Đại Thiên như thế thì, kinh Pháp Cú lại bảo:
164. “Kẻ ngu si miệt thị,
Giáo pháp bậc La Hán,
Bậc Thánh, bậc chánh mạng.
Chính do ác kiến này,
Như quả loại cây lau
Mang quả tự hoại diệt.” (phẩm Tự Ngã)
Hoặc:
397. “Ðoạn hết các kiết sử,
Không còn gì lo sợ
Không đắm trước buộc ràng
Ta gọi Bà-la-môn (phẩm Bà La Môn)
***Top of Form

Tóm lại, “Tha linh nhập” là lối ngụy biện che đậy bản chất tự mạo nhận quả vị A La Hán, muốn cho đệ tử an tâm, Đại Thiên lại thọ ký cho mỗi người một quả vị Thánh từ Tu Đà Hoàn cho đến A La Hán, tuy nhiên, đệ tử cũng chưa tin tưởng lời ấn chứng của Đại Thiên nên luôn chất vấn thắc mắc.

“Tha linh nhập” không  được Thượng tọa bộ chấp nhận vì  nó không có trong kinh tạng nguyên thủy cũng như trái với tinh thần giáo lý mà Hữu bộ đang hành trì.

Nguyên nhân nào Đại Thiên đưa ra 5 việc? Nguyên nhân nào Đại thiên gia nhập giáo đoàn đức Phật, và nguyên nhân nào Đại chúng bộ chấp nhận ngũ sự của Đại Thiên và nguyên nhân nào Thượng tọa bộ cũng như Hữu bộ chống lại Đại Thiên mà Tạng văn bảo Đại Thiên là ác ma Bạt Đà La. Bài thứ năm sẽ kết thúc tìm hiểu ngũ sự của Đại Thiên.

MINH MẪN
25/3/2018

Thứ Bảy, 19 tháng 2, 2022

DƯ ÂM (2)

 

Dịch bệnh trở lại, từ Nam chí Bắc mỗi ngày một tăng, nhưng áp lực không còn đè nặng trong xã hội như đợt bùng phát năm 2021.

Kinh nghiệm với bạn Virus không mời mà đến, lần này khó mà bắt nạt được ai.Bệnh nhẹ tự chữa ở nhà như dạng cảm cúm nặng, khó thở thì có bệnh viện tiếp cứu. Chính vì thế mà cứ tụ tập ăn chơi thoải mái; lễ hội cứ tự nhiên chen lấn cầu tài; đôi khi khẩu trang nhét vào túi cứ như thong dong giữa chốn không người.

Tuy nhiên, các Tôn giáo vẫn giữ đúng mực quy định. Hầu như Tôn giáo lớn, một số giòng tu như Kito giáo đều có nhà an dưỡng, bệnh viện chăm sóc cho tu sĩ. Phật giáo Đài Loan cũng có bệnh viện cho cả người ngoài.Chỉ riêng Phật giaó Việt Nam đến nay chưa có một bệnh viện đúng nghĩa. Một vài chùa có nhà dưỡng lão, nhà trẻ, có phòng thuốc Đông-Tây y khám chữa miễn phí.

Trên dưới 10 năm  lại đây, tin mừng cho Tăng ni khi được HT T Quảng Hiển có kế hoạch xây dựng bệnh viện trong cuộc đất của Đại Tòng Lâm.

Từ ngày HT kế thừa trưởng BTS PG Tỉnh BR-VT, Đại Tòng Lâm được xây dựng bề thế; một số đất được vận động, bồi thường dân cư hoàn lại cho chùa. Sau thời gian chỉnh đốn, Đại Tòng Lâm hiện tai được 100 mẫu. Năm 1958, cố Hòa thượng phó Tăng Thống GHPGVNTN Thích Thiện Hòa, được chính phủ nhà Ngô chuyển nhượng 200 mẫu từ ngoài lộ vào sâu trong rừng; Trong chiến tranh cũng như lúc hòa bình, một số đất bị dân cư chiếm dụng. Theo dự kiến sẽ thành lập Phật học viện như từng thành lập tại Sài gòn các Phật học viện : Ấn Quáng, Từ Nghiêm, Huệ Nghiêm,Giác Sanh, Già Lam, Giác Ngộ, Dược sư…nơi đây sẽ là một Đại Tòng Lâm quy tụ hang ngàn Tăng ni về tu học.

Song song việc xây dựng với tầm vóc quy mô hiện nay, trường Phật học vẫn duy trì, thêm kế hoạch xây dựng một bệnh viện 500 giường. Do công việc dàn trãi quá rộng, Tuổi tác và sức khỏe của HT Quảng Hiển có hạn, thiếu nhân sự phụ trợ đủ tầm vóc, vì thế, việc điều hành Phật sự Giáo hội cũng như kiến thiết bị dậm chân tại chỗ; đôi khi lúng túng không rõ ràng.

                                                                ***.

Gần đây, vụ đại hội bổ sung nhân sự thị xã Phú Mỹ đã xảy ra bất hòa nội tình. Không những thế, những đại hội PG tỉnh trước đây cũng không thuận buồm xui gió, HT Trưởng ban phải bôn ba cầu cứu Trung ương văn phòng 2 và những vị có uy tín. Điều này nói lên uy tín, khả năng điều hành của vị đầu ngành,cầm cân nảy mực như thế nào.

Không phải vô cớ nhà nước quy định tuổi hưu cho cán bộ trong các ngành. Vì tuổi tác ảnh hưởng sức khỏe, khả năng làm việc.Việc tu tập không nhất thiết tuổi tác, nhưng điều hành một tổ chức cần sự sáng suốt, uy tín để tổ chức ngày càng phát triển.Người ta thường chuẩn hóa mỗi quý để xem mức phát triển, hai quý tức 6 tháng nhìn lại kết quả của đoạn đường đi qua; Tổng kết hàng năm, đại hội nữa nhiệm kỳ. Xét thấy người đứng đầu thiếu khả năng phát triển tổ chức, ngay cả bóng đá, cần phải thay người.

Qua nhiều nhiệm kỳ, phải công nhận sự đóng góp của HT trưởng ban cho cơ sở Đại Tòng Lâm đi vào sách kỷ lục, ngược lai việc phát triển Phật giáo  đến các địa phương chưa sáng nét. Nếu địa bàn Tỉnh không có Thiền phái Trúc Lâm và một số bậc chân tu như HT Quảng Hạnh và những vị ẩn cư…thì Tăng ni trẻ sẽ không biết nương vào uy đức đâu mà duy trì mạng mạch. Vốn khả năng có hạn, được việc này phải thất việc nọ, chúng ta không thể đòi hỏi HT chu toàn mọi mặt; Riêng tự thân, HT cũng biết lượng sức, không nên ôm đồm kê vai gánh vác mọi việc, hãy biết sử dụng nhân tài. Thiết nghĩ trên ba ngàn Tăng ni Bà Rịa Vũng Tàu lẽ nào thiếu những ngôi sao sáng?

Tự thân vị lành đạo có uy tín, biết trọng dụng Tăng tài, chắc chắn PG tỉnh nhà sẽ đi đầu cả nước. Tuy đất không được màu mỡ như các khu trù mật được nhà Ngô di dân lập ấp cho đồng bào di cư, nhưng Bà Rịa Vũng Tàu được xem là đất lành chim đậu cho tu sĩ các Tôn giáo. Có gió biển, cái núi xanh, thiên thời địa lợi như thế thì chỉ còn nhân hòa là yếu tố then chốt để phát triển Phật sự.

Vì sao Phật giáo Bà Rịa Vũng Tàu thiếu yếu tố “nhân hòa”?

Nhìn qua đại hội PG thị xã Phú Mỹ cho thấy thành viên BTS PG tỉnh chia ra ba phe rõ nét. Phe thiểu số ủng hộ nhân sự BTS PG Phú Mỹ nhiệm kỳ mới, phe đa số chống vì cho rằng lợi ích nhóm (gia  đình trị), thiếu dân chủ và bỏ qua ba giai đoạn một cách nóng vội do v/p 2 Trung ương đề ra.Phần còn lại đa số an thân thủ phận, không muốn dây dưa đụng chạm. Có điều, khi  đoàn Trung ương Giáo hội gồm TT Đức Thiện, TT Thanh Phong, TT Huệ Thống đến thăm và trao một ngàn phần quà trị Covid cho chính quyền tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu thì cũng từ BTS PG Phú Mỹ đưa tin: Sau Đại hội, gần đây, bà Trần Thị Kim Phụng – Phó Giám Đốc

Công An Tỉnh BRVT cũng đã đến VP Ban Trị Sự PG Tx Phú Mỹ tại Tổ đình Đại Tòng Lâm chúc mừng Thượng Tọa Thích Nguyên Thái vừa được tấn phong Thượng Tọa, vừađược Đại hội suy cử Trưởng Ban Trị sự GHPGVN Thị xã Phú Mỹ.

Vậy mà nhóm chống phá lại cho rằng Ban Trị Sự PG Thị xã Phú

Mỹ tổ chức Đại hội là BẤT HỢP PHÁP.

Có một nguồn tin quý TT trung ương về thăm và xác nhận danh sách nhân sự của BTS PG Phú Mỹ.Theo nguyên tắc  thì TW không bao giờ xen vào công việc  nội bộ nhân sự cấp huyện thị. Đâu là sự thật? chỉ có nội bộ mới hiểu.

                                                         ***

Tuy việc nhân sự PG thị xã Phú Mỹ đã rồi.nhưng dư luận âm ỉ chưa dứt,, liệu sóng gió còn tiếp tục cho Đại Hội PG cấp tỉnh chăng?. Nếu xét đến Đại hội cấp tỉnh là nói đến nhân sự lãnh đạo đầu ngành.Thực ra việc chống đối nhân sự PG thị xã Phú Mỹ nhiệm kỳ 2021-2026, thầy Nguyên Thái chỉ là tấm bia đỡ đạn. Muốn thay đổi cơ cấu thì không thể chấp nhận thành viên làm nền tảng cho thượng tầng kiến trúc. Phải chăng đó chỉ là chiến lược ?

Theo dư luận hiện nay, sở dĩ Tăng ni trong tỉnh không đồng thuận HT Trưởng Ban trị sự Tỉnh có nhiều nguyên nhân, trong đó có uy tín cá nhân về tình cảm lẫn tiền bạc thiếu trong sáng.Bao che, nâng đỡ phên dậu làm hậu thuẩn che chắn…

Những người trước đây chung tay với HT Quảng HIển thì nay tỏ ra hối hận vì sai lầm một thời gian quá dài. Ngược lại kẻ chống ra mặt, kể cả cư sĩ, nay lại bênh vực nhiệt tình vì một lý do nào đó, cứ thế mà những đợt sóng ngầm tung ra các tư liệu bôi bác, chụp mũ lẫn nhau.

Trở lại vấn đề bênh viện 500 giường, có người hiểu chuyện nên thắc mắc : “hồ sơ xin vay vốn an sinh xã hội hỗ trợ bv Đại Tòng Lâm của thầy QH. với vốn đầu tư 61.620 tỷ (tương đường 1,8 tỷ dollas Mỹ) do thầy Quảng Hiển là Chủ đầu tư uỷ nhiệm cho thầy Nhuận Nghĩa (thế danh Trần Ngọc Hơn) đại diện. BV này thầy QH luôn nói là bv của Ban Trị sự, nhưng thực chất là do CTy TNHH Vạn Phật Quang Đại Tòng Lâm của thầy QH lập ra và đặt để thầy Nhuận Nghĩa làm Giám đốc Cty. Đất của các chùa hiến để lập bệnh viện và kêu gọi bá tánh ủng hộ tài chánh, đồng thời thầy Qh đã cho nhiều người theo học nghiệp vụ y tế với trường Cao đẳng Nguyễn Tất Thành qua buổi ký kết hợp tác từ năm 2011, nhưng đã gần 10 năm rồi chẳng xây bệnh viện theo tâm nguyện của mọi người mà xây một Niệm Phật đường kiên cố trên đất bv này.”

Theo nguồn tin không chính thức cho biết thời gian vừa qua do dịch bệnh nên công trình chựng lại, vậy số tiền trên đây đang sử dụng vào việc gì? Những ai từng đóng góp có đặt vấn đề số tiền quyên góp và công trình đắp chiếu sẽ đi về đâu?

                                                            ***

Chuyện Phật giáo Bà Rịa Vũng Tàu còn kéo dài thì uy tín và Phật sự của Giáo hội tỉnh vẫn còn trì trệ. Muốn giải quyết dứt điểm, v/p 2 TW giáo hội cần có tầm nhìn chính trực, trung thực để gỡ rối. Nhân sự vẫn là căn bản. Cũng như các tỉnh miền Tây và miền Đông, GH đã công cử thành viên TW về điều hành, canh cải, bám sát nhân sự để tuyển chọn giao phó, thế thì, một tỉnh vành đai Sài gòn đã nhiều chục năm tai tiếng, lý do nào HT trưởng Bna Tăng sự, Hội đồng trị sự phía Nam không nắm rõ???

Trước năm 1975, GHPGVNTN vỏn vẹn 9 năm điều hành Phật sự trong thời binh loạn, vừa đào tạo Tăng tài, vừa tranh thủ hòa bình cho dân tộc, chưa bao giờ có sự rạn nứt từ các hạ tầng. Tu sĩ chưa bao giờ tai tiếng và uy tín chung chưa bao giờ xuống cấp như hiện nay. Phật giáo các tỉnh phía Nam luôn là vấn đề nhức nhối cho Tăng tín đồ. Hiện tượng tha hóa, tham quyền cố vị, suy thoái đạo đức do đâu nảy sinh?

Cơ thể phát triển không bình thường luôn chứa nhiều bệnh hoạn, cũng thế, Phật giáo như trăm hoa đua nở về kiến trúc, vật chất tất nhiện nội hàm sẽ bị bào mòn trống vắng. Hướng ngoại nhiều thì hướng nội được là bao! Các trường Phật học khắp nơi chỉ cung cấp kiến thức mà thiếu hướng dẫn chuyên tu thì kiến thức dễ lệch hướng. Thực tế Đời và Đạo cho thấy, nhiều người trang bị học hàm học vị mà không hành trì, thường hành động và phát ngôn thiếu chuẩn mực đạo đức.

Hy vọng Giáo hội TW nói chung, cần có phương hướng chấn chỉnh nhân sự để Phật giáo thật sự là điểm tựa niềm tin cho quần chúng. Nếu Làng Mai và Thiền phái Trúc Lâm liên kết phát triển vững mạnh thì trở thành cột sống cho ngôi nhà PGVN hiện nay.

 

MINH MẪN                                                                                                                20/02/2022