Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2015
Thứ Tư, 5 tháng 8, 2015
ẢNH ĐẸP
Trong những lần đi lặn biển, lúc hụp đầu xuống mặt nước đã đem tới cho Matty Smith cảm giác vô cùng phấn khích, anh chia sẻ đó vừa là cảm giác háo hức sắp được khám phá một thế giới mới lạ bên dưới mặt nước, mặt khác lại không biết là mình sẽ chạm trán với những sinh vật gì bên dưới. Chính vì vậy, Matty quyết định thực hiện một bộ ảnh lấy bối cảnh nửa trên mặt nước, nửa dưới nước để chia sẻ với mọi người. Các bạn có thể xem thêm những bức ảnh cùng thể loại rất lạ lùng ở đây.
Một con sứa được ghi lại dưới ống kính của Matty Smith, phần nổi bên trên nhìn có vẻ đơn giản nhưng nửa dưới của nó lại phát sáng màu xanh dương rất ảo diệu. Ảnh chụp ở vịnh Bushrangers, Australia.Con cá sấu châu Mỹ, Matty đặt tên cho bức ảnh là "Kẻ sát thủ hay cười". Ảnh chụp ở quần đảo Jardines de la Reina của Cuba.Nhìn ở trên chỉ thấy những dãy đá vô hồn, nhưng dưới nước lại là cả một hệ sinh thái đa dạng nhiều màu sắc.Tương tự ở bức ảnh này cũng vậy, rất nhiều san hô và các loài hải quỳ. Ảnh chụp ở mũi Bass Point, Australia.Góc nhìn khác của con sứa màu xanh.Nhiều con khác cũng lênh đênh mặt nước buổi hoàng hôn.Một đàn cá.Chỉ khoảng 1 mét dưới mặt nước là hệ sinh thái đa dạng, những "bông hoa" màu đỏ mà bạn thấy là loài hải quỳ.Cá sấu châu Mỹ ở một khu rừng ngập mặn, Cuba.Gặp gỡ cá mập lụa (silky shark).Con sứa này nhìn cứ như một sinh vật ngoài trái đất.Con cá chình, ảnh chụp ở công viên Botanical Gardens, Sydney.Rất nhiều san hô và chúng có hình dạng như những cây nấm, xa xa là đất liền với hàng dừa xanh ngát.Bầy cá màu trắng đen.
NHỮNG HIỂU LẦM VỀ ĐẠO PHẬT
Minh Đức Triều Tâm Ảnh
Đạo Phật ngày càng suy đồi, tha hoá, “mạt pháp”, nguyên nhân thì nhiều, nhưng đôi khi vì trong giới tu sĩ và cư sĩ không trang bị đủ kiến thức của giáo pháp như thực - tức là giáo pháp cội rễ - mà chỉ chạy theo cành, nhánh, ngọn lắm hoa và nhiều trái. Từ đấy, khó phân biệt đâu là đạo Phật chơn chánh, đâu là đạo Phật đã bị biến chất, chạy theo thị hiếu dung thường của thế gian. Đôi nơi đạo Phật còn bị trộn lẫn với tín ngưỡng duy linh và cả tín ngưỡng nhân gian nữa... Nhiều lắm, không kể xiết đâu.
Với cái nhìn “chủ quan” của một tu sĩ Theravāda, tôi xin mạo muội liệt kê ra đây những hiểu lầm tai hại và rất phổ biến của Phật giáo trong và ngoài nước để chư vị thức giả cùng thấy rõ như thực:
1- Tôn giáo: Đạo Phật có những sinh hoạt về tôn giáo nhưng đạo Phật không phải là tôn giáo, vì đạo Phật không có một vị thượng đế tối cao hoá sinh muôn loài và có quyền ban thưởng, phạt ác.
2- Tín ngưỡng: Đạo Phật có những sinh hoạt tín ngưỡng nhưng đạo Phật không phải là tín ngưỡng để mọi người đến van vái, cầu xin những ước mơ dung tục của đời thường.
3- Triết học: Đạo Phật có một hệ thống tư tưởng được rút ra từ Kinh, Luật và Abhidhamma, được gọi là “như thực, như thị thuyết” chứ không phải là một bộ môn triết học “chia” rồi “chẻ”, “phán” rồi “đoán” như của Tây phương.
4- Triết luận: Đạo Phật có tuệ giác để thấy rõ Cái Thực chứ không sử dụng lý trí phân tích, lý luận. Còn triết, còn luận là vì chưa thấy rõ Cái Thực. Đạo Phật là đạo như chơn, như thực. Kinh giáo của đức Phật luôn đi từ cái thực cụ thể để hướng dẫn mọi người tu tập, nó không có triết, có luận đâu. Ngay “thiền” mà còn “luận”(thiền luận) là đã đánh mất thiền rồi.
5- Từ thiện xã hội: Đạo Phật có những sinh hoạt từ thiện xã hội nhưng không coi từ thiện xã hội là tất cả, để hy sinh cuộc đời đầu tròn, áo vuông một cách uổng phí. Đạo Phật còn có những sinh hoạt cao cả hơn: Đó là giáo dục, văn hoá, nghệ thuật, tu tập thiền định và thiền tuệ nữa. Từ thiện xã hội thì ai cũng làm được, thậm chí người ta còn làm tốt hơn cả Phật giáo, ví dụ như Bill Gates. Còn giáo dục, văn hoá, nghệ thuật của đạo Phật là nền tảng Mỹ Học viết hoa (nội hàm các giá trị nhân văn, nhân bản) mà không một tôn giáo, môt chủ nghĩa, một học thuyết nào trên thế gian có thể so sánh được. Và đây mới là sự phụng hiến cao đẹp của đạo Phật cho thế gian. Còn nữa, nếu không có tu tập thiền định và thiền tuệ thì mọi hình thái sinh hoạt của đạo Phật, xem ra không phải là của đạo Phật đâu!
6- Cực lạc, cực hạnh phúc: Đạo Phật có nói đến hỷ, lạc trong các tầng thiền; có nói đến hạnh phúc siêu thế khi ly thoát tham sân, khổ lạc (dukkha), phiền não của thế gian - chứ không có một nơi chốn cực lạc, cực hạnh phúc được phóng đại như thế.
7- 8 vạn 4 ngàn pháp môn: Đạo Phật có nói đến 8 vạn 4 ngàn pháp uẩn (dhammakhandha) chứ không nói đến 8 van 4 ngàn pháp môn (dhammadvāra). Uẩn (khandha) ngoài nghĩa che lấp, che mờ và nghĩa chồng lên, chồng chất, còn có nghĩa là nhóm, liên kết, tập hợp ví như Giới uẩn (nhóm giới), Định uẩn (nhóm định), Tuệ uẩn (nhóm tuệ). Do từ uẩn (khandha) lại dịch lệch ra môn - cửa (dvāra), pháp môn nên ai cũng tưởng là có 8 vạn 4 ngàn pháp môn, tu theo pháp môn nào cũng được! Ai là người có thể đếm đủ 8 vạn, 4 ngàn cửa pháp này? Còn nữa, xin lưu ý, 8 vạn 4 ngàn chỉ là con số tượng trưng, có nghĩa là nhiều lắm, đếm không kể xiết theo truyền thống tôn giáo và tín ngưỡng Ấn Độ cổ thời. Ví dụ 84 ngàn lỗ chân lông, 84 ngàn vi trùng trong một bát nước, 84 ngàn phiền não, 84 ngàn cách tu...
8- Xin xăm, bói quẻ, cầu sao, giải hạn, xem ngày giờ tốt xấu: Những hình thức này không phải của đạo Phật. Trong kinh tụng Pāli có đoạn: “Sunakkhataṃ sumaṅgalaṃ supabhātaṃ suhuṭṭhitaṃ, sukhno ca suyiṭṭaṃ brahmacārisu. Padakkhinaṃ kāyakammaṃ vācākammaṃ padakkhinaṃ padakkhinaṃ manokammaṃ paṇidhī te padakkhinā...”
Có nghĩa là: Giờ nào (chúng ta) thực hành thân, khẩu, ý trong sạch; giờ đó được gọi là vận mệnh tốt, là giờ tốt, là khắc tốt, là canh tốt... Ngày đó gọi là có nghiệp thân phát đạt, nghiệp khẩu phát đạt, nghiệp ý phát đạt. Và nguyện vọng theo đó được gọi là nguyện vọng phát đạt. Người tạo nghiệp thân, nghiệp khẩu, nghiệp ý phát đạt như thế rồi sẽ được những lợi ích phát đạt (chữ phát đạt có thể có thêm nghĩa nhiêu ích).
9- Định mệnh: Đạo Phật có nói đến nghiệp, đến nhân quả nghiệp báo chứ không hề nói đến định mệnh. Theo đó, gây nhân xấu ác thì gặt quả đau khổ, gây nhân lành tốt thì gặt quả an vui - chứ không phải “cái tơ cái tóc cũng do trời định” như định mệnh thuyết của Khổng Nho hoặc định mệnh 4 giai cấp của Bà-la-môn giáo.
10- Siêu độ, siêu thoát: Không có bài kinh nào, không có uy lực của bất kỳ ông sư, ông thầy nào có thể tụng kinh siêu độ, siêu thoát cho hương linh, vong linh, chân linh cả. Thời Phật tại thế, nếu có đến nơi người mất, chư tăng chỉ đọc những bài kệ vô thường, khổ và vô ngã để thức tỉnh người sống; và hiện nay các nước Phật giáo Theravāda còn duy trì. Có thể có hai trường hợp:
- Nếu vừa chết lâm sàng thì thần thức người chết vẫn còn. Vậy có thể đọc kinh, mở băng kinh, chuông mõ, hương trầm... để “thần thức người chết” hướng về điều lành... để thần thức tự tạo “cận tử nghiệp” tốt cho mình.
- Nếu thần thức đã lìa khỏi thân rồi – thì họ đã tái sanh vào cõi khác rồi, ngay tức khắc. Khi ấy thì gia đình làm phước để chư tăng tụng kinh hồi hướng phước ấy cho người đã mất.
Cả hai trường hợp trên đều không hề mang ý nghĩa siêu độ, siêu thoát mà chỉ có ý nghĩa gia hộ, gia niệm, gia lực mà thôi. Tu dựa vào tha lực cũng tương tự như vậy, nhưng cuối cùng cũng phải tự lực: “Tự mình thắp đuốc mà đi, tự mình là hòn đảo của chính mình”.
Chư thiên chỉ có khả năng hoan hỷ phước và báo truyền thông tin ấy cho người quá vãng mà thôi. Họ không có uy lực ban phước lành cho ai cả.
11- Huyền bí, bí mật: Giáo pháp của đức Phật không có cái gì được gọi là huyền bí, bí mật cả. Đức Phật luôn tuyên bố là “Như Lai thuyết pháp với bàn tay mở ra”; có nghĩa là ngài không có pháp nào bí mật để giấu kín cả!
12- Tâm linh: Ngày nay, người ta tràn lan lễ hội, tràn lan mọi loại điện thờ với những hình thức mê tín, dị đoan, sa đoạ văn hoá... mà ở đâu cũng rêu rao các giá trị tâm linh. Đạo Phật không hề có các kiểu tâm linh như vậy. Thuật ngữ tâm linh này được du nhập từ Trung Quốc. Và rất tiếc, tôi không hề tìm ra nguồn Phật học Pāli hay Sanskrit có từ nào tương thích với chữ “linh” này cả!
13- Niết-bàn: Nhiều người tưởng lầm Niết-bàn là ở một cõi nào đó, một nơi chốn nào đó; thậm chí là ở một thế giới ở ngoài thế gian này. Người nào tìm kiếm Niết-bàn kiểu ấy, thuật ngữ thiền tông có cụm từ “lông rùa, sừng thỏ” như ngài Huệ Năng đã nói rõ: “Phật pháp tại thế gian. Bất lý thế gian giác. Ly thế mịch bồ-đề. Cáp như tầm thố giác”. Thố giác là sừng thỏ. Và giác ngộ cũng vậy, chính ở trong khổ đau, phiền não mới giác ngộ bài học được.
14- Bỏ khổ, tìm lạc: Tu Phật không phải là bỏ khổ, tìm lạc. Xin lưu ý cho: Khổ và Lạc chính là căn bản của phiền não!
15- Tu để được cái gì! Có nhiều người nghĩ rằng, tu là để được cái gì đó. Xin thưa, được cái gì là sở đắc. Ai sở đắc? Chính là bản ngã sở đắc. Đạo Phật là vô ngã. Hãy xin đọc lại Bát-nhã tâm kinh.
16- Tu là sửa: Nếu tu là sửa thì mình đã từ “cái ta này” biến thành “cái ta khác”. Nếu tu là không sửa thì cứ để nguyên trạng tham sân si như vậy hay sao? Xin thưa, sửa hay không sửa đều trật. Đạo Phật quan trọng ở Cái Thấy! Có Cái Thấy mới nói đến giác ngộ và giải thoát. Không có Cái Thấy này thì tu kiểu gì cũng trệch hướng hoặc rơi vào phước báu nhân thiên.
17- Vía: Đạo Phật không có vía nào cả. Vía, hồn, phách là quan niệm của nhân gian. Ví dụ, ba hồn bảy vía. Ví dụ, nam thất, nữ cửu – nam bảy vía, nữ chín vía. Nếu là nam thất, nữ cửu thì nó trùng với nam 7 khiếu, nữ 9 khiếu. Vía là phần hồn. Không có cái hồn, cái linh hồn tự tồn tại nếu không có chỗ nương gá. Vía không độc lập được. Như danh - phần tâm, sắc - phần thân – luôn nương tựa vào nhau. Chỉ có năng lực thiền định mới tạm thời tách lìa danh ra khỏi sắc, như Cõi trời Vô tưởng của tứ thiền. Tuy nhiên, cõi trời Vô tưởng hữu tình này không phải là không có danh tâm mà chúng ở dạng tiềm miên. Còn các Cõi trời Vô sắc thì sắc không phải là không có, chúng cũng ở dạng tiềm miên. Thật đáng phàn nàn, Phật và Bồ-tát đều có “vía” cả! Và cũng thật là “đau khổ” khi trong lễ an vị Phật, người ta còn hô “Thần nhập tượng” nữa chứ!
18- Bồ-tát: Bồ-tát là âm của chữ Bodhisatta: Chúng sanh có trí tuệ. Vậy, chúng ta tạm thời bỏ quên “khái niệm Bồ-tát” quen thuộc trong kinh điển mà trở về với nghĩa gốc là “chúng sanh có trí tuệ”. Và như vậy, sẽ có hạng chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Thanh Văn; chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Độc Giác; chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Chánh Đẳng Giác. Ngoài 3 loại chúng sanh có trí tuệ trên – không có loại chúng sanh có trí tuệ nào khác.
19- Phật: Phật là âm của chữ Buddha, nghĩa là người Giác ngộ. Vậy chúng ta nên tạm thời bỏ quên “khái niệm Phật” từ lâu đã mọc rễ trong tâm thức mà trở về nghĩa gốc là bậc Giác ngộ. Vậy, có người Giác ngộ do nghe pháp từ bậc Chánh Đẳng Giác, được gọi là Thanh Văn Giác. Có người Giác ngộ do tự mình tu tập vào thời không có đức Chánh Đẳng Giác, được gọi là Độc Giác. Có vị Giác ngộ do trọn vẹn 30 ba-la-mật, trọn vẹn minh và hạnh nên gọi là Chánh Đẳng Giác.
Không có vị Giác ngộ (Phật) nào ngoài 3 loại Giác ngộ trên.
20- Thể nhập: Tu là không thể nhập vào cái gì cả. Thể nhập là bỏ cái ngã này để nhập vào cái ngã khác. Cãi ngã khác ấy có thể là dòng sông, có thể là ngọn núi, có thể là một cội cây, có thể là một thần linh, thượng đế. Cái cụm từ “thể nhập pháp giới” rất dễ bị hiểu lầm. Khi đi, chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái đi; khi nói, chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái nói; khi ăn, chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái ăn – thì đấy mới đúng nghĩa “thể nhập pháp giới”, ngay giây khắc ấy, mọi tham sân, phiền não không có chỗ để phan duyên, sanh khởi.
Ngoạ Tùng Am, Sơ Xuân 2015
Minh Đức Triều Tâm Ảnh
Thứ Ba, 4 tháng 8, 2015
* TỪ THIỆN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ (4)
* PHÓNG
SINH - BỐ THÍ - IN KINH…
Cũng như những
công tác từ thiện khác, Phóng sinh là một trong những động thái từ thiện khởi
phát bởi "tâm từ". Tại Việt Nam, trước 1975, việc phóng sinh vẫn có
nhưng chưa trở thành phong trào phổ biến, những năm về sau, khi cuộc sống tương
đối thoải mái, việc sinh hoạt tín ngưỡng trở thành lối thoát bức bách của nhu cầu
tâm linh, nhiều hình thái sinh hoạt tín ngưỡng và từ thiện bắt đầu rộ nở đa dạng,
trong đó phóng sinh được nhiều người thực hiện một cách máy móc.
Không những
trong Nam
mà ngoài Bắc cũng thường xuyên tổ chức phóng sanh, từ cá nhân cho đến tập thể.
Một phụ nữ sáng sớm đi chợ mang về một túi ốc len, đem xuống con kinh trước
chùa thuộc vùng Bắc Giang, thả xuống một cách thuần thục như đã từng làm thường
xuyên mỗi tháng. Hội Bông Sen có mặt từ Đà Nẵng trở vào thường xuyên phóng sinh
vào mồng một và rằm.
Được biết, hoạt động phóng sinh đã đi vào thường lệ trong sinh hoạt
của nhóm An Tựu ở ba thành phố Hà Nội, Đà Nẵng và TP.HCM. Như thường lệ, cứ đến
ngày rằm, mồng 1 hàng tháng, nhóm sẽ cử người xuất quỹ mua các con vật dễ thích
nghi với môi trường nhất như cá, ốc, lươn,… Hoạt động này được duy trì suốt hơn
4 năm qua (kể từ đầu năm 2011) với số lượng người tham gia lên đến 150 người.
Con số này có thể tăng gấp nhiều lần vào những ngày lễ lớn như lễ Phật Đản.
Phước báu phóng
sinh như kinh đã dạy: Trong kinh Hoa
nghiêm, phẩm Phổ Hiền
hạnh nguyện dạy rằng: “Chúng
sinh thương yêu nhất là sinh mạng, chư Phật thương yêu nhất là chúng sinh. Cứu
được thân mạng chúng sinh thì thành tựu được tâm nguyện của chư Phật
Luận Đại Trí độ dạy rằng: “Trong tất cả các tội
ác, tội sát sinh là nặng nhất. Trong tất cả các công đức, không giết hại là
công đức lớn nhất.”
Kinh Chánh pháp niệm có dạy: “Tạo một ngôi chùa chẳng bằng
cứu một sinh mạng.” Công đức phóng sinh to lớn đến như thế!
Trong kinh Phạm võng, Bồ Tát Giới sám văn có dạy: “Phật tử không được tự mình
giết hại, dạy người giết hại, dùng phương tiện giết hại, tán thành việc giết
hại, hoặc thấy người khác giết hại mà vui mừng tán thành. Tất cả các loài có sự
sống, có sinh mạng, đều không được giết hại. Bồ Tát phải luôn phát khởi, gìn
giữ tâm từ bi, hiếu thuận, dùng phương tiện mà cứu mạng, bảo vệ cho tất cả
chúng sinh. Người thích sát sinh thì làm ngược với bốn tâm vô lượng: từ, bi, hỷ, xả. Như vậy là
phạm vào tội ba-la-di của hàng Bồ Tát.”
Trong kinh Phật
có dạy rằng, nếu không giết hại, làm việc phóng sinh thì được quả báo tuổi thọ
dài lâu; giữ giới không giết hại thì giải trừ được mọi oán thù, nuôi dưỡng được
tâm từ bi, làm nảy nở hạt giống Bồ-đề.
Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng: "Nếu ác nghiệp này có hình tướng
thì cho đến cùng tận hư không cũng không dung chứa hết."
Kinh Dược Sư Lưu Ly Bổn Nguyện Công Đức dạy rằng: "Cứu thả các
sinh mạng được tiêu trừ bệnh tật, thoát khỏi các tai nạn." Người phóng
sinh tu phước, cứu giúp muôn loài thoát khỏi khổ ách thì bản thân không gặp các
tai nạn.
Trong kinh Phật diệt độ hậu quan liệm táng
tống có dạy rằng: “Nên
giữ theo tâm từ, ban trải ân huệ đến muôn loài, xem thân mạng muôn loài chúng
sinh như thân mạng của chính mình. Mở rộng lòng từ bi, dùng thân mình mà giúp
an ổn cho muôn loài, tức là mở con đường hạnh phúc cho chúng sinh. Bảo hộ thân
mạng muôn loài, thấm nhuần đến cả cỏ cây, khiến cho muôn loài đều không phải
dứt tuyệt.”
Quả báu
phúc đức phóng sanh đem lại 10 điều mà chư Tổ đã đúc kết:
1. Không có
nạn đao binh, tránh được tai họa chiến tranh tàn sát.
2. Sống lâu, mạnh khỏe, ít bệnh tật.
3. Tránh được thiên tai, dịch họa, không gặp các tai nạn.
4. Con cháu đông đúc, đời đời xương thạnh, nối dõi không ngừng.
5. Chỗ mong cầu được toại nguyện.
6. Công việc làm ăn phát triển, hưng thạnh, gặp nhiều thuận lợi.
7. Hợp lòng trời, thuận tánh Phật, loài vật cảm ơn, chư Phật hoan hỷ.
8. Giải trừ oán hận, các điều ác tiêu diệt, không lo buồn, sầu não.
9. Vui hưởng an lành, quanh năm đều được an ổn.
10. Tái sinh về cõi trời, hưởng phước vô cùng. Nếu có tu Tịnh độ thì được vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc.
2. Sống lâu, mạnh khỏe, ít bệnh tật.
3. Tránh được thiên tai, dịch họa, không gặp các tai nạn.
4. Con cháu đông đúc, đời đời xương thạnh, nối dõi không ngừng.
5. Chỗ mong cầu được toại nguyện.
6. Công việc làm ăn phát triển, hưng thạnh, gặp nhiều thuận lợi.
7. Hợp lòng trời, thuận tánh Phật, loài vật cảm ơn, chư Phật hoan hỷ.
8. Giải trừ oán hận, các điều ác tiêu diệt, không lo buồn, sầu não.
9. Vui hưởng an lành, quanh năm đều được an ổn.
10. Tái sinh về cõi trời, hưởng phước vô cùng. Nếu có tu Tịnh độ thì được vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc.
Chư Tổ cũng
từng dạy:
Muôn loài chúng sinh cùng với ta trong luân hồi từ vô thủy đến nay đều đã từng là anh em, thân quyến. Vì thế, ngày nay thực hiện việc phóng sinh cũng giống như cứu vớt người thân của mình.
Muôn loài chúng sinh cùng với ta trong luân hồi từ vô thủy đến nay đều đã từng là anh em, thân quyến. Vì thế, ngày nay thực hiện việc phóng sinh cũng giống như cứu vớt người thân của mình.
Muôn loài chúng sinh cùng với ta trong luân hồi
quá khứ đều đã từng là oan gia cừu địch. Vì thế, ngày nay thực hiện việc phóng
sinh là cơ hội có thể hóa giải oán thù, chấm dứt sự oan oan tương báo.
Như thế,
phóng sinh là một trong nhiều phước báu quan trọng của Phật tử tại gia lẫn xuất
gia. Tuy nhiên, ngoài ý nghĩa phóng sinh là tha mạng sống của một sinh vật, đối
với người tu, việc phóng sinh còn mang một ý nguyện độ tận. Bồ Tát Địa Tạng từng
bảo: chừng nào chúng sanh trong địa ngục không còn, Ngài mới thành Phật; đó là
chúng sanh tánh, phóng chúng sanh tánh là từ bỏ cái tôi vọng niệm ô trược của
nghiệp thức để trở lại chơn như tánh, Phật tánh, một khi hành giả buông thả chủng
tánh chúng sanh ô trược là Pháp thân hiển lộ, đó là công đức phóng sanh của các
hành giả.
Trở lại
hành trạng phóng sanh hiện nay, từ chỗ tâm thiện biến thành việc làm bất thiện
mà nhiều ý kiến kết án việc phóng sanh. Thật vậy, chim thú đã trở thành đối tượng
và là nạn nhân cho những kẻ sống trên mạng sống. Cầu nhiều thì cung nhiều. Những
cuộc phóng sanh có định kỳ, có tổ chức tất phải có nơi cung cấp cố định, cái
vòng lẫn quẩn làm phước rước vào cái tạo tội hiện nay, tại Thành phố lớn đều có
hiện tượng giam cầm bắt nhốt một cách tàn tệ để có tiền mà cứ nghĩ cung cấp cho
việc làm từ thiện. Đành rằng xưa kia không có phóng sanh ồ ạt thì việc bắt nhốt
giam cầm cũng không tránh khỏi, nhưng việc giam cầm bắt nhốt được bảo dưỡng no
đủ để bán thịt. Số lượng giam cầm bắt nhốt cũng không nhiều, ngày nay cần số lượng
thật nhiều vào những ngày sóc vọng thì việc đói no đau khổ của sinh vật không cần
quan tâm, việc phóng sanh làm phước trở thành hành hạ chim lồng cá chậu một
cách bình thường. Kỹ thuật săn bắt ngày nay cũng tinh vi hơn, một cái máy phát
tầng số siêu âm tương thích mỗi loài, tự động chim muông bay đến đậu ngay trên
cây có gắn nhựa, cứ thế mà người bắt chim thoải mái bóc gỡ bỏ vào lồng. Kẻ mua
đi bán lại thì có thủ thuật khác, cắt cánh, bỏ đói, cho uống nước đường nước
thuốc để chim không bay xa được. Chim chết trong lồng hay ra khỏi lồng rồi chết
là chuyện người bán lẫn người mua không cần quan tâm. Không những chim mà ngay
cá cũng thế, người thả cứ thả, kẻ giăng lưới chích điện thì cứ chích điện giăng
lưới. Từ thiện trở thành cái vòng lẫn quẩn, thiện và ác cách nhau kẽ tóc đường
tơ. Có người bảo, thả là việc của mình, bắt lại là việc của họ, thiện và ác
luôn là cặp đôi trong cõi đời. Có người lại khuyên không nên phóng sanh tiếp
tay cho kẻ ác sinh sống thoải mái. Cũng có kẻ nói - thà ác với thú mà tạo cuộc
sống cho con người vẫn hơn...
Tất cả là ý
kiến không toàn vẹn, nếu bảo thả là việc của mình, bắt là việc của họ nghĩa là
mặc cho họ làm ác, gián tiếp tạo ác nghiệp cho họ? Nhưng chả lẽ vì cái ác của họ
mà mình từ bỏ hành thiện? Nếu nói thà ác với thú mà tạo cuộc sống cho con người
chẳng khác nào xúi dục họ sát sanh thì còn ý nghĩa gì việc phóng sanh làm phước?
Dĩ nhiên không vì việc làm ác của kẻ khác mà mình khước từ công hạnh hành thiện.
Chỉ dừng lại hai trạng thái phóng sanh và giam nhốt chúng sanh để trở thành chiếc
vòng lẩn quẩn bế tắt, lúng túng cho những tấm lòng từ thiện và khách quan bất
mãn trước hiện tượng mâu thuẫn đó. Ngoài người thả và kẻ bắt nhốt, còn có những
yếu tố khác tác động hoặc cởi mở hoặc cột trói sự bế tắt trên.
Thứ nhất là
ý thức đạo đức, nếu kẻ bắt nhốt có lương tri, hiểu nổi đau khổ của con vật thì
việc bắt nhốt cũng sẽ có cách giải quyết nhân đạo hơn. Ví dụ không nhốt quá nhiều,
không bỏ đói, không cắt cánh, không cho uống nước đường, điều nầy khó mà đòi hỏi
tính tự giác của người bán... Người thả không đặt hàng trước, gặp đâu thả đó,
không nhất thiết phải đủ số lượng theo chỉ tiêu, làm việc thiện mà có chỉ tiêu
trở thành bị ràng buộc mất ý nghĩa, đưa đến mất phước, không nhất thiết phải nhờ
chùa chú nguyện và không cần dùng hành động phóng sinh để trao đổi phước báu mong
cầu. Không mua chim trong lồng nhốt quá nhiều, không mua chim ốm đói, giao kèo
với người bán khi thả chim không bay và mất sức sẽ không trả tiền... Có những
điều kiện ràng buộc nghiêm khắc thì người bán chim sẽ không vì lợi nhuận mà tạo
sự đau khổ cho chim hoặc cá…
Đó là những
giải pháp tạm thời chứ không thể vì sự khổ đau chết chóc của cầm thú mà không
phóng sinh. Không thể bắt nhà chùa đuổi những người bán ra khỏi cổng chùa.
Ngoài phạm vi chùa thì tình trạng buôn bán như thế cũng vẫn xẩy ra, không giúp
gì được sự đau khổ cho loài cầm thú đang bị nhốt được tốt hơn. Nếu có thể, nhà
chùa nên giải thích và khuyên kẻ bán không nhốt quá nhiều, không dùng những thủ
đoạn làm đau khổ sinh thú. Ngoài ra mình không có quyền cấm đoán người bán hoặc
khuyên không được phóng sinh.
Nhờ thế mà các chủ thầu chim chóc sẽ không thu gom để cung ứng với số
lượng đòi hỏi. Một yếu tố khách quan khác là do trình độ nhận thức của xã hội,
giáo dục đạo đức mà các nước tiến bộ họ không bao giờ hành hạ súc vật. Tây Ban
Nha, thị trấn Trigueros del Valle (tỉnh Castilla y León) là quốc gia có truyền thống đấu bò, thế mà đã
có đạo luật dành cho cư dân cầm thú, phải chăng đây là ý thức nhân đạo đối với
gia súc? Một xã hội có nền giáo dục tốt, đạo đức xã hội cao thì ý thức của người
dân cũng được nâng cấp. Chuyện lạm dụng lòng tốt của kẻ khác để mưu lợi không
phải là chuyện lạ hiện nay trong xã hội ta. Đây là chuyện nhức nhối khiến công
việc từ thiện khó xử. Tuy khó xử nhưng không vì thế mà lòng từ thiện bị chối
bỏ.
Cũng có trường hợp hàng tháng góp tiền phóng sinh định kỳ, nhưng hàng
ngày lại vào nhà hàng chỉ định những con thú đang nhốt để nhà hàng làm tiệc
nhậu với bè bạn, đây có là sự công bằng giữa phước và tội???
BỐ THÍ cũng thế, bố thí là
trạng thái chia sẻ cho nhau, nhưng kẻ thiếu lương tâm, lợi dụng sự bố thí để
mưu lợi. Một gia cảnh đói nghèo, thỉnh thoảng được đoàn từ thiện đến cứu trợ,
sau đó đem hàng cứu trợ bán để lấy tiền cờ bạc. Người bố thí qua lời giới thiệu
mà không xác minh việc nghèo đói thật sự do đâu; bố thí thể hiện lòng từ nhưng
thiếu trí tuệ thường bị lạm dụng. Người tàn tật được nhà hảo tâm tặng chiếc xe
lăn, vài hôm sau lại thấy họ vẫn lê lếch dưới đất đi bán vé số, chiếc xe được
bán lại với giá rẻ mạt mà nhà hảo tâm đã tần tiện chi tiêu trong gia đình để
mua tặng kẻ tật nguyền. Một học sinh nghèo học giỏi, được mạnh thường quân trợ
cấp học bổng, bị mẹ lấy tiền cờ bạc để con đi lượm bọc nilong... Tóm lại, hạnh
từ bi của người con Phật thể hiện qua nhiều công hạnh luôn bị lạm dụng.

Bố thí có ba hình thức: Tài thí-pháp
thí-vô úy thí. Dùng tiền của vật chất để bố thí chỉ là giải pháp chữa cháy tạm
thời nếu không kèm theo lời khuyên răn giải thích về nhân quả nghiệp báo để bản
thân họ cải thiện ý tưởng và hành vi tốt hơn. Ngoài nhu cầu vật chất, hiện nay
rất nhiều nơi sang băng dĩa kinh sách ấn tống đến từng gia đình hoặc pháp thí
miễn phí nơi các bàn ăn trong quán, tiệm cơm chay. Đây là kế hoạch tốt, nhưng
chưa chuẩn, vì có nhiều băng giảng không mang nội dung giáo lý nhà Phật, thậm
chí đi ngược lại Phật giáo mà Ban văn Hóa và Ban Hoằng Pháp không thể nào kiểm
duyệt hết. Cũng không thiếu băng dĩa mang tính mê tín hù dọa đức tin. Quần
chúng chưa hiểu sâu giáo lý nên bị những lối giảng ru ngủ tâm lý cho đó là hay,
ùn ùn xin theo quy y. Một số kinh như "bạch y thần chú" phổ biến tràn
lan mấy ai xem, chi phí tốn kém mà không đạt kết quả giáo dục đạo đức. Bỏ thì
sợ tội, để thì không biết làm gì... Hiện nay phong trào in và ấn tống kinh
"đại thừa" những bộ lớn rất đắc tiền, từng có nhiều vị mặc đồ tu sĩ
xin các nhà Phật tử hảo tâm nhiều bộ kinh như thế để chuyển về vùng sâu vùng xa
như miền Trung miền Bắc. Thật ra những địa chỉ họ xin gửi về, không có hoặc có
mà không ai đứng ra nhận. Kẻ giả danh đứng xin, đem bán lại các nhà phát hành
kinh sách với giá rẻ, không bán được thì họ cân ký bán giấy vụn... Pháp thí có
quá nhiều dạng, dù dạng nào cũng cần có trí huệ phân biệt đúng sai, đừng tiếp
tay cho kẻ lạm dụng. Vô úy thí không chỉ an ủi, trấn an người đang đau khổ mà
còn dùng pháp ngữ phân tích khổ đau, lo sợ đang gặp phải. Người có tâm chia sẻ,
có hạnh lắng nghe cần hiểu giáo lý để giúp người đang khủng hoảng tinh thần
hiểu đúng Phật lý. Đành rằng tất cả tùy thuộc vào nhân quả, nhưng không thể
giải thích nhân quả một cách máy móc, ví dụ người A bị B phụ bạc do kiếp trước
A phụ bạc B, thế thì kiếp trước do B phụ bạc A, cứ giải thích lòng vòng như thế
thì nguyên nhân đầu tiên ở đâu? nó còn nhiều yếu tố của nhân và duyên nữa.
Tóm lại, làm từ thiện từ
việc bố thí, phóng sanh, ấn tống... đều đòi hỏi người thực hiện từ thiện cần có
sự hiểu biết sáng suốt để không tạo cơ hội cho kẻ khác lạm dụng, không tạo cơ
hội cho kẻ khác phạm tội hoặc kẻ được mình giúp sẽ bị đau khổ thêm. Sự cân nhắc,
không làm theo quán tính, tập tục sẽ tránh nhiều rủi ro cho mình và cho người.
Sự hiểu biết, nhận xét, thái độ đem đến để giúp kẻ khác và ngôn từ khi giúp kẻ
khác cũng góp phần quan trọng không ít. Kẻ nhận được sự giúp hoặc sinh vật được
giúp mà lòng cay đắng đau buồn nhục nhã thì việc từ thiện như thế đồng nghĩa
với tạo tội. Theo tinh thần nhà Phật: KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH - KHÔNG LÀM KHỔ NGƯỜI - KHÔNG LÀM KHỔ CHÚNG
SANH ĐÓ LÀ HẠNH TỐI THƯỢNG.
MINH MẪN
04/8/2015
(tạm kết thúc )
Thứ Hai, 3 tháng 8, 2015
Thiền Ngôn với những hình ảnh đẹp

- Vô ngã có nghĩa là tất cả pháp đều không phải là ta hay của ta. Ta và của ta chỉ là ý niệm thôi chứ không có thật. Vì dù không có ý niệm "ta" gán vào thì pháp vẫn vận hành. Trong mỗi cá nhân có những yếu tố hợp lại mà thành như thân vật lý (physical body), cảm giác (sensation), tri giác (perception), phản ứng tâm lý (mental action and reaction), tâm thức (mind, consciousness), chúng tương quan với nhau mà tạo thành quá trình sự sống (living process), trong đó không có gì là ta và của ta cả.
Viên Minh

- Dù có tôn giáo hay không tôn giáo, dù kiến tánh hay chưa kiến tánh thì luật nhân quả vẫn là sự vận hành chung cho muôn loài vạn vật không trừ một ai. Người làm đúng là đúng, người làm sai là sai, người làm tốt là tốt, người làm xấu là xấu, luật nhân quả không dành riêng cho người nào cả. Còn việc đúng sai tốt xấu thì cứ để luật nhân quả cân nhắc phán xét, chúng ta không nên dựa vào hiểu biết về nhân quả hạn hẹp của mình để đánh giá hành động của người khác.
Viên Minh

- Tin vui cho tất cả mọi người: có thể tự giải phóng mình khỏi sự hành hạ của tâm trí. Cách đơn giản nhất như sau: Hãy bắt đầu nghe tiếng nói trong đầu mình như bạn vẫn thường có thể nghe. Hãy đặc biệt chú ý tới bất kỳ hình mẫu ý nghĩ lặp lại nào, những thứ âm thanh này có lẽ đã lặp đi lặp lại trong đầu nhiều năm rồi. Quá trình như vậy chính là chứng kiến người suy nghĩ.
- Không gian và thời gian chung cuộc là ảo tưởng của tâm trí. Chúng chứa cốt lõi chân lý là hai thuộc tính bản chất của cái Một: vô hạn và vĩnh hang.
Eckhart Tolle
Eckhart Tolle
Hãy nhớ rằng không phải chúng ta đang cố gắng Ðể Trở Thành một ông thánh hay một cao nhân nào cả. Chúng ta cũng không nổ lực Ðể Tống Khứ một ác pháp nào hết. Hãy sống hồn nhiên và thoải mái. Cảnh giới nội tâm của chúng ta Là Như Vậy. Nó có thể là bất tịnh hay trong sáng và đó là một cặp hành trạng đối đãi nhau của ý thức. Thấy rõ Chúng như là Chúng, thấy rõ Chúng luôn vô thường, vô ngã thì đó chính là trí tuệ vậy. Trong khi đó, bằng một ý thức ngã chấp, chúng ta cố gắng mong mỏi "Tôi sẽ phát triển những gì thanh tịnh, tống khứ những gì không thanh tịnh " thì lập tức cái không thanh tịnh sẽ xuất hiện và kềm hãm chúng ta. Chúng ta lại vấp vào khối đá thất vọng trên đường đi của mình, thế là tiếp tục đau khổ. Hãy cẩn trọng với hai tháng cấm túc này. Vô minh luôn sẵn sàng khiến cho chúng ta tự chuốc lấy những khổ lụy. Sumedho

Ai trải qua sự thật về khổ thì người ấy thấy ra bản chất vô thường, khổ, vô ngã trên cõi thế gian, nhờ chấp nhận sự thật này mà người ấy thanh tịnh trong sáng, và ai thanh tịnh trong sáng thì giác ngộ giải thoát, thấy rõ thực tánh chân đế và Niết-bàn.
-Thấy pháp và chia sẻ pháp với những người hữu duyên hình như là sứ mạng rất tự nhiên và đương nhiên của bất kỳ ai nhận ra lẽ sống trong nguyên lý "tùy duyên thuận pháp, vô ngã vị tha". Thấy pháp thì một mặt chịu ơn sâu của Tánh Biết, mặt khác lại mang nghĩa nặng của Đất Trời - khó mà có thể đáp đền.
Viên Minh
Viên Minh

Trong một nội tâm đầy chánh niệm, tất cả hạnh phúc và khổ đau đều đồng giá trị. Không có gì khác biệt giữa hai thực tại này hết. Cái nào cũng là Ðang Là, xuất hiện rồi biến mất. Hạnh phúc vẫn là Hạnh phúc, Ðau khổ cũng cứ là Ðau khổ. Chúng là cái Chúng Là. Chúng vô ngã và chỉ có vậy. Chúng ta đừng để mình phải đau khổ vì chúng. Chỉ việc đón nhận, nhìn mặt và hiểu biết chúng. Tất cả cái gì có mặt đều phải có lúc biến mất. Tất cả đều vô ngã!
Sumedho
Sumedho

- Trong thực tánh chân đế không có khái niệm toàn hảo và bất toàn. Nhưng khi có sự mong mỏi đạt đếnmột lý tưởng toàn hảo thì mới có khái niệm bất toàn đối nghịch với ý niệm toàn hảo mà sinh ra chấp thủ nhị nguyên. Khi nói câu này thầy chỉ muốn nhắc rang nếu muốn cầu toàn trong ảo vọng một cách nhị nguyên như vậy thì tốt hơn là nên trở về nhận ra tính bất nhị ngay trong thế giới vô thường, bất toại và vô ngã này. Giác ngộ chính là thấy ra mọi hiện tượng thế gian đều không hoàn hảo như lý tưởng cầu toàn, do đó buông xuống cái ta ảo tưởng lăng xăng tạo tác để cầu toàn, mới giác ngộ ra thực tánh chân đế như nó đang là vượt ngoài khái niệm toàn hảo và bất toàn.
Viên Minh

Về bản chất, vô trí là nơi phát sinh mọi sự sáng tạo. Đa số những người có bằng cấp cao lại ít sáng tạo không phải vì họ không biết cách suy nghĩ, mà vì họ không biết cách dừng suy nghĩ.
- Tâm của người hành thiền thì không chạy đây đó. Nó nằm yên tại một chỗ. Khi tốt và xấu, hạnh phúc và đau khổ đến, người hành thiền chỉ đơn thuần nhận biết mà không để chúng thấm ướt tâm. Nói cách khác người hành thiền không dính mắc vào cái gì cả.
Tánh biết thấy pháp là việc tự nhiên nên nó không cần dụng ý dụng công, chỉ có "người muốn biết" mới có dụng ý và phải dụng công. "Người muốn biết" chính là cái ta ảo tưởng, khi nó xen vào tánh biết thì cái biết trở nên chủ quan và trì trệ, khó thấy được pháp như nó đang là.
- Một cách rất đơn giản để tránh xa tâm trí là đưa sự tập trung chú ý của bạn hướng vào thân thể. Cảm giác về thân thể bên trong của bạn là vô hình dạng, vô giới hạn và không dò được.
Eckhart Tolle

- Tâm của người hành thiền thì không chạy đây đó. Nó nằm yên tại một chỗ. Khi tốt và xấu, hạnh phúc và đau khổ đến, người hành thiền chỉ đơn thuần nhận biết mà không để chúng thấm ướt tâm. Nói cách khác người hành thiền không dính mắc vào cái gì cả.
- Đừng cố gắng trở thành cái gì. Đừng nhẩy vào bất cứ chuyện gì. Cũng đừng là một thiền sinh. Đừng mong giác ngộ. Lúc ngồi thì hãy ngồi. Khi đi thì hãy đi. Chẳng nắm giữ gì mà cũng không chống đối gì cả... Hãy để mọi sự tự nhiên.
Ajahn Chah

Tánh biết thấy pháp là việc tự nhiên nên nó không cần dụng ý dụng công, chỉ có "người muốn biết" mới có dụng ý và phải dụng công. "Người muốn biết" chính là cái ta ảo tưởng, khi nó xen vào tánh biết thì cái biết trở nên chủ quan và trì trệ, khó thấy được pháp như nó đang là.
Cứ để tâm tự nhiên mà thấy thì tánh biết tự biết điều chỉnh cái thấy cho thích nghi với mọi đối tượng của nó. Đừng cố gắng nhìn, nghe... để nắm bắt điều gì vì lúc đó khái niệm đã xen vào, mà khái niệm đi trước thì cái thấy bị trì trệ và không còn trung thực được nữa nên cái thấy không thể đồng nhất với pháp trên tính chất chỉ có duy nhất tại đây và bây giờ (thời, vị và tính) của nó. Tự nhiên, vô tâm (không trước ý) và giản dị là bí quyết mà cũng là phẩm chất của tánh biết đối với vạn pháp.
Viên Minh
Viên Minh

- Bạn “đạt tới” chứng ngộ (cứu giúp) bằng việc bạn nhận ra rằng bạn đã ở đó rồi. Bạn tìm thấy Thượng Đế vào khoảnh khắc bạn nhận ra rằng bạn không cần tìm kiếm Thượng Đế. Bạn không thể làm được điều này trong tương lai. Bạn làm nó Bây giờ hoặc không bao giờ làm được điều đó.
Eckhart Tolle
Eckhart Tolle

- Khi tâm an tịnh tức là nó đang ở trong điều kiện bình thường. Khi tâm di động thì tư tưởng hình thành. Hạnh phúc hay đau khổ là một phần của tâm hoạt động này. Bất an và tham ái cũng được hình thành như thế. Nếu bạn không hiểu rõ chuyển động này, bạn sẽ săn đuổi đàng sau tư tưởng hình thành mãi, và trở thành nạn nhân của nó.
Ajahn Chah
Ajahn Chah
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)










