Lễ cầu nguyện hòa bình thế giới của Đức Đạt Lai Lạt Ma
tổ chức tại
Những ngày trước, ngoài cuộc lễ trang nghiêm và chí
thành ra, Ngài luôn có buồi thuyết giảng cho quần chúng, đối với Ngài, thuyết
giảng quan trọng hơn lễ Quán đảnh Kalachakra. Qua những buổi giảng, Ngài hy
vọng thính chúng sẽ chuyển hóa nội tâm, tự thân có an ổn thì xã hội mới có hòa bình. Thời gian lưu lại
Hoa Kỳ, Ngài đã gặp quốc hội, chiều nay, lúc 2 giờ, được Tổng Thống Mỹ, Obama
tiếp đón. Đây là điểm mà Obama xác định thái độ dứt khoác với Tàu Cộng, các vị
tiền nhiệm đã e sợ Trung Quốc. Kể cũng
lạ, dù là bất cứ quốc gia nào có chủ quyền, đều có quyền quyết định tiếp đón
ngoại giao với bất cứ ai, huống nữa là Mỹ, một đất nước đứng đầu thế giới, chỉ
vì lời yêu cầu của Bắc kinh mà không dám tiếp Ngài, thảo nào có lần trước đây,
Tàu Cộng bảo Mỹ là con cọp giấy. Đã bao năm sau chiến tranh lạnh, Mỹ nhân
nhượng Bắc kinh cũng chỉ vì muốn Bắc kinh không còn khắn khít với Liên xô, sau
khi Liên Xô sụp đỗ, Mỹ nhân nhượng để mở rộng thị trường, nhưng không ngờ sự
nhân nhượng và giúp đỡ, Bắc kinh nhanh chóng vượt trội, biến thành con rồng
châu Á, mối đe dọa thường xuyên đối với
các nước trong khu vực và thách thức Mỹ trên phương diện ngoại giao, kinh tế và
chính trị, giờ đây còn lấn sân cả giao thông hàng hải. Tổng Thống Obama tiếp Đức Đạt Lai Lạt Ma với
tư cách cá nhân, một cá nhân có tầm vóc vĩ đại hơn cả một nguyên thủ lưu vong,
vì Ngài đã từ nhiệm lãnh đạo tinh thần chính phủ Tây Tạng, và chối bỏ cả vị thế
truyền thừa tín ngưỡng tôn giáo sau khi
siêu mãn. Vì thế Bắc kinh chống cuộc tiếp kiến Đức Đạt Lai Lạt ma là chuyện phi
lý; Các trang mạng của Trung quốc cũng đòi trừng trị Mỹ về mọi mặt, chứng tỏ
tính ngạo mạng, trịch thượng của một quốc gia còn dưới cơ đối thủ. Tàu cộng xen
vào quyền quyết định ngoại giao của một cường quốc như Mỹ, thì những quốc gia
khác đối với Tàu Cộng là trẻ con muốn bắt nạt lấn lướt lúc nào chả được.
Ngày mãn đàn, sau thời kinh chung kết, hồi hướng cho
nền hòa bình nhân loại, Ngài tiếp tục giảng pháp cho đại chúng.
Về ngoại giao, các đoàn thể tôn giáo và chính trị, đều
có người đến chúc mừng, trong đó một vị Hồng y
của Vatican, có Martin Luther King III, cháu nội Thánh Gandhi.
Về nhân cách của Đức Đạt Lai Lạt Ma, tướng mạo của gấu
và âm giọng của sư tử nói lên tính đặc thù của một chính vị vương. Ngài vẫn
chưa phai nhòa cách đi đứng của một tộc Tạng sống vùng cao nguyên và phong cách
bình dị của một nông dân. Tính bình đẳng thể hiện qua cách tiếp xúc với một
Tổng thống cũng như lúc trò chuyện với một người thường dân. Trong khi làm lễ,
một người quá ái mộ Ngài, họ tiến lên lễ đài để cúng dường Ngài chiếc mũ, dĩ
nhiên bị bảo vệ ngăn, Ngài vẫy tay bảo họ tiến đến, nhưng bảo vệ nhận chiếc mũ
trao lại Ngài, lật qua lật lại xem xét, Ngài đội lên đầu giữa tiếng vỗ tay hoan
nghinh của đại chúng, rồi trả lại cho thiện chủ. Thể hiện tính bình đẳng và
khiêm tốn trong mọi lúc mọi nơi. Từ trên Pháp tòa cao, Ngài nhoài người về phía
trước thật sát để choàng khăn cho các sư , các tình nguyện viên và những thành
phần đặc cử.
Trên lễ đài, bên trái từ ngoài nhìn vào, các Lạt Ma
kinh sư trưởng thượng trì tụng, Ngài Đạt Lai Lạt Ma ngồi giữa, phía tay mặt là
vị sư và vài ni cô Việt Nam. Chẳng hiểu
sự hiện diện của các tu sĩ Việt
Volunteer Việt
Giờ ăn trưa, một số người Tạng lớn tuổi tụ tập ngoài
sảnh đường hát nhày những vũ điệu đơn giản, nghèo tiết tấu của đời du mục trên
cao nguyên Hy Mã, để nhớ lại một thời thái bình độc lập thuở xa xưa. Một vài
người ngoại quốc cũng tham gia ủng hộ. Tuy nhiên, trong khi chờ đợi Đức Đạt Lai
Lạt Ma trở lại đạo tràng lúc Ngài đi gặp Tổng Thống Obama, nhóm nghệ sĩ Tây
Tạng đến với thính chúng vài màn đơn ca, vũ điệu trữ tình giống như hát đối của
Việt Nam, thể hiện nét lạc quan yêu đời mang tâm trạng hy vọng trở lại thời
bình an của tộc Tạng, nhạc cụ dân tộc khá đơn điệu. Kết thúc văn nghệ, nhóm
nghệ sĩ phất phới cờ Tây Tạng, cả pháp hội vang dậy tiếng hoan hô. Người nghe
không tìm thấy âm điêu ủy mị của kẻ lưu vong. Trang phục phụ nữ với chiếc áo
dài kín đáo và duyên dáng, nam giới trang phục cổ truyền luộm thuộm như thời du
mục. Nét mặt thuần túy châu Á, âm giọng pha tạp Mông cổ.
MC trân trọng tri ân các mạnh thường quân, chính phủ
bang, cộng đồng Việt
Mạn Đà La thực hiện rất công phu theo một tiêu chuẩn
nhất định; Đức Đạt Lai Lạt Ma làm lễ kết đàn gần 20 phút, giải đàn Mạn Đà La, số
cát màu gom lại, một ít phân phối cho các Lạt Ma, số còn lại đích thân Ngài và
ban kinh sư y mão tề chính, mang ra sông Potomac chú nguyện, rải.
Qua những sinh hoạt trên thế giới và uy tín của Đức
Đạt Lai Lạt Ma, mọi người thấy rằng họ giữ được nề nếp và sự đoàn kết thuần
nhất làm rạng rỡ nền văn hóa Phật giáo hòa lẫn tín ngưỡng du mục, mặc dù họ mất
nước. Họ có một tổ chức khoa học và giáo dục tu viện khá nghiêm minh, vì thế
tôn ti trật tự đã giúp họ tồn tại trước vũ lực. Trên vùng đất Hoa Thịnh Đốn, số
lượng người Tạng và các sư Tạng rất ít, cũng như Lào, Thái, Nhật, Ấn…tuy chùa
không nhiều, nhưng cái nào xứng tầm vóc
cái đó. Việt Nam quá nhiều chùa, mỗi chùa một vị sư, nhất Tăng nhất tự như sứ
quân chiếm lĩnh một vùng, vì thế không thể
an cư ba tháng mỗi năm theo truyền thống, đã làm hao mòn thực lực Phật
giáo cả về vật chất lẫn tinh thần, nội lực lẫn uy tín; Chẳng lạ gì những Phật
tử Việt Nam chọn Phật giáo Mật thừa làm điểm tựa thay vi như một số người đã
ngã sang ngoại đạo như bà phu nhân Trung tướng Ng.N.L thất vọng vì quá tin tưởng,
tận tình hỗ trợ các sư Việt Nam thiếu
nhân cách. Một phần cũng do lỗi quần chúng không phân bệt đâu là bậc chân tu. Có
vị bằng cấp đầy người, vợ đàn con đống, làm chùa, bán chùa ở Virginia, như trao
đổi hàng hóa nếu nơi đó không có thu nhập, thế mà vẫn có người tin và theo.
Cộng đồng người
Việt cũng như Phật Giáo Việt Nam tại Mỹ, không ai phục tùng ai, chính vì thế
sinh ra vô số tổ chức, vài ba người cũng làm thành một tổ chức, một giáo hội,
họ chụp mũ lẫn nhau; một ông thầy vài ba tín đồ cũng lập lên ngôi chùa, chùa
không ra chùa, nhà không ra nhà, Ở Washington DC, có nơi chỉ một sư và một nữ
tín đồ tu riêng. Quần chúng tín đồ Phật giáo quá cần tín ngưỡng, nơi xứ lạ,
ngoài ngày giờ lao động vất vả, họ chỉ biết tìm đến tôn giáo như một lối thoát
có ý nghĩa cho cuộc sống. Một số Phật tử tại gia, họ có pháp hành và hiểu một
ít giáo lý, họ tu tại nhà và it khi đến chùa. Một số trí thức xuất thân từ Gia
Đình Phật Tử trước 1975, họ gắn liền với Phật giáo, luôn ưu tư cho tiền đồ Phật
giáo, họ cũng ít đi chùa vì chưa tìm ra một vị tu sĩ thân giáo khẩu giáo song hành. “Y pháp bất y nhân” là lối nói để lừa gạt
quần chúng hiện nay, nghĩa là tín đồ cứ nhắm mắt để họ phạm giới thoải mái,
miễn sao họ nói pháp lưu loát; nếu thế thì mở máy ra nghe tốt hơn, vì cái máy
vừa nói pháp vừa không sa đọa. Thời nào cũng có
vong thân như thế, nhưng sự băng hoại của giới tu sĩ Phật giáo ngày nay
đến mức báo động mà quần chúng không còn phân biệt sư thật sư giả là đâu. Tại
Mông cổ và Trung quốc hiện nay cũng thế, một số
mạo nhận Lạt Ma , Ronpoche Tây
Tạng để lạm dụng đức tin quần chúng, những thành phần như thế, chúng ta thừa
biết chúng xuất xứ từ đâu. Nhưng ở Ấn và Dharamsala chưa xẩy ra như thế, vì Tây
Tạng có một hệ thống tu viện và giáo dục thuần nhất. Nhờ sự thuần nhất như thế,
cộng đồng Tây Tạng họ tổ chức hàng năm
các cuộc cầu nguyện hòa bình và truyền quán đảnh mang tầm quốc tế ở các quốc
gia khác nhau rất thành công do tính đoàn kết nhất quán của họ, họ chỉ biết Đức
Đạt Lai Lạt Ma là đấng duy nhất đáng tôn sùng. Việt
Qua đại lễ Kalachakra của Cộng đồng Phật giáo Tây
Tạng, liệu Phật giáo Việt
MINHMẪN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét