Thứ Năm, 10 tháng 9, 2026

Đức Đạt Lai Lạt Ma nói về sự hủy diệt của Phật giáo tại Ấn Độ


29/04/2011 03:05 (GMT+7)

Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng


Trong suốt thời gian từ năm 1000 đến 1200 khi người Tây tạng đã có những tu viện vĩ đại khắp nơi, họ vẫn tiếp tục du hành đến Ấn Độ để học hỏi những giáo pháp mới lạ. Các nhà sư Tây Tạng đã bỏ công để phiên dịch những tài liệu Phật giáo của Ấn Độ, nhưng khi Phật giáo phát triển hơn nữa tại Tây tạng thì còn có rất ít lý do để phải du hành qua xứ Ấn.

Những kinh điển quan trọng bậc nhất đều [đã được dịch qua] Tạng văn và có vô số những bậc đạo sư ở ngay tại Tây Tạng. Nhưng mọi thứ đã xảy ra như là một ngạc nhiên chấn động khi mà vào thế kỷ thứ mười ba, đạo quân xâm lăng của người Hồi giáo đã hủy diệt tu viện Atisha ở miền Đông Ấn. Người Hồi giáo thời đó thường có những cuộc hành quân trên dải đất nay là A-phú-hãn và Pakistan; họ gây chiến suốt dọc bình nguyên sông Hằng từ Tây sang Đông. Trong gần hai trăm năm họ cướp phá và thiêu đốt hàng trăm tu viện vì những pho tượng Phật đã làm cho những người Hồi [với tinh thần] bài trừ thánh tượng phải thất kinh. Cuối cùng họ đã dừng chân tại Vikramashila, tu viện vĩ đại cuối cùng còn sót lại.

Tại Vikramashika, người Hồi tàn sát các nhà sư. Các toà thư viện bị đốt cháy trong nhiều ngày. Những kẻ tấn công đã đập phá các pho tượng Phật và vàng bạc, châu ngọc trang hoàng những pho tượng này đều bị cướp đi. Các đạo quân này đã triệt hạ từng tu viện một thành bình địa, cho đến viên gạch cuối cùng của cái nền nhà cũng không còn, gồm khoảng một chục tu viện mà trước đây đã từng lừng lững trong sương mờ buổi sớm. Họ đào bứng hết lên và quăng bỏ tất cả xuống sông Hằng. Cuộc tàn phá đã được hoàn tất: không còn có thể xác định được vị trí của Vikramashika nữa.

Hình ảnh của sự hủy diệt của Phật giáo tại Ấn Độ -- sự mỉa mai khi Phật giáo đã bị hoại diệt ngay trên nơi đã sinh ra; điều này đã ám ảnh tôi (Thomas Laird) trong nhiều thập niên. Tôi thật nóng lòng để được thảo luận với Đức Đạt Lai Lạt Ma bằng cách nào Phật giáo đã bị hoại diệt ngay trên quê hương của giáo pháp ấy.

Phật giáo đã bị hủy diệt như thế naò?” Tôi (TL) hỏi: “Phải chăng chỉ vì những cuộc tấn công của người Hồi giáo?”.

“Không có gì xảy ra chỉ vì một nguyên do [duy nhất], Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời. Trước đây có một học giả , nay đã mất, đã gửi cho tôi một cuốn sách ông ta viết về quan điểm của ông với ba lý do khiến Phật giáo suy thoái tại Ấn”.

Thứ nhất, Đức Đạt Lai Lạt Ma tiếp tục, các thí chủ của các tu viện đã ngày càng tỏ vẻ nghiêng về các truyền thống phi Phật giáo. Thứ nhì, có những thế lực bên ngoài như Hồi giáo và các thế lực khác -- họ cố tình tiêu diệt Phật giáo. Thứ ba, chính các tu viện và các nhà sư đã trở nên giàu có và gom góp được nhiều vàng bạc dưới danh nghĩa của Mật Điển, [nhưng họ đã] sa đọa trong rượu chè và sắc dục. Những chuyện như thế này đã xảy ra. Cho nên dân chúng mất niềm tin, có người đâm oán ghét các nhà sư và không còn tin tưởng các nhà sư nữa. Do đó, tôi thấy là không chỉ có một mà là có nhiều nguyên do”.

Tôi rất ngạc nhiên khi nghe ngài qui tội cho người theo Phật giáo trong những biến cố như vậy, trong khi tôi vẫn luôn cho rằng người Hồi giáo phải chịu trách nhiệm. Tôi gặng hỏi: “Thực vậy sao? Ngài không trách người Hồi giáo ư?”.

“Tôi (ĐLLM) nghĩ rằng trong trường hợp của người Tây Tạng cũng như trường hợp của người Ấn, [ta thấy] có khuynh hướng đi tìm những nguyên nhân bên ngoài. Khuynh hướng nhìn vào những thế lực bên ngoài đã ăn sâu vào tâm trí con người và rất khó loại bỏ. Chúng ta chẳng thể làm đuợc gì nhiều đối với những người khác, đối với những thế lực bên ngoài. Nhưng chính chúng ta, nếu chúng ta không hành trì, không giữ gìn giới luật cho nghiêm ngặt thì tôn giáo của chúng ta sẽ trở thành đạo đức giả (hypocritical). Thật là như vậy. Do đó, đây chính là lịch sử đích thực của Phật giáo tại Ấn Độ và Tây Tạng”.

Tôi bàng hoàng khi thấy trong mọi trường hợp, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhìn nhận lỗi lầm nơi bản thân trước khi ngài tìm lỗi nơi người khác. Ngài nhận lỗi nơi Phật giáo trước khi tìm nơi những tôn giáo khác. Ngài đã nhận lỗi trước tiên nơi bản thân, quốc gia của ngài và tôn giáo của ngài. Khuynh hướng này đã uốn nắn cách ngài xét nhìn lịch sử, giống như [khuynh hướng] của chúng ta cũng uốn nắn cái nhìn của chúng ta. Theo sự hiểu biết của tôi, một hiểu biết thuần lý trí, thì đây là một trong những thệ nguyện của một bậc Bồ tát. Nhưng lắng nghe câu chuyện ngài trình bày rằng sự hủy diệt của Phật giáo trên xứ Ấn không ít thì nhiều là lỗi của những người Phật tử, điều này đã làm cho sự hiểu biết ấy thực sự sống dậy một cách đau buốt nhức nhối. Tôi biết rằng ngài đúng nhưng tôi chưa hề gặp ai thực sự làm gì với lý tưởng này ngoại trừ là chuyện mồm mép mà thôi.

Lẽ ra, tôi không nên ngạc nhiên khi cuộc nói chuyện với Đức Đạt Lai Lạt Ma về lịch sử Tây Tạng dẫn đến những điều tổng thể và bao quát hơn là chỉ nghiên cứu về một quốc gia, nhưng tôi vẫn đã ngạc nhiên. Càng nói chuyện với ngài, ngài càng làm cho tôi phải ngạc nhiên trong nhiều trường hợp mà tôi không có chuẩn bị trước. Thật không có gì mơ hồ về khả năng tâm linh của ngài. Đó là lời khuyên dạy thực tiễn.

Thomas Laird - Quảng Hiệt chuyển ngữ (Thư viện Hoa Sen

 

HOA NGHIÊM – CHÙA HỘI ĐẦU TIÊN Ở VIRGINIA




HOA NGHIÊM – CHÙA HỘI ĐẦU TIÊN Ở VIRGINIA 

Nằm trên đoạn đường ngắn mà Backlick Rd trước kia, bị cắt làm ba đoạn, chùa Hoa Nghiêm khiêm tốn nằm cạnh hội Thánh Tin Lành, nhà thờ Kito giáo và đối diện chùa Bangladesh. Đoạn đường hơn 500m bị giới hạn bởi hai đầu giao lộ, đã có bốn cơ sở tín ngưỡng tôn giáo đứng cạnh nhau thật hòa bình và thanh thản. 

Virginia là một bang nằm không xa Hoa Thịnh Đốn, phía Tây giáp Virginia Maryland - Bắc giáp Đặc khu Columbia ( Washington D.C). Phia Đông giáp vịnh Chesapeake và Đại Tây Dương; phía Nam tiếp Kentucky và Tây Virgina. Diện tích : 110.862km², dân số xấp xỉ 8 triệu, mật độ trung bình 69,03/người /km². Một bang được xem là mẹ đẻ của 8 đời Tổng Thống Hoa Kỳ. Đặc biệt gần đây chưa hề nhận những trận bão như các bang khác, có lúc bão đến giáp biên bang rồi lại đổi hướng. Virginia được xem là nơi có nhiều thành phần trí thức như Bác sĩ, Kỷ sư, giáo sư…người Việt lưu trú. 

Người Việt đi đâu cũng nhớ đến tổ tiên và tín ngưỡng, vì thế, thời gian đầu lập nghiệp tại Mỹ, rất nhiều người Phật tử đã nghĩ đến việc lập chùa. Tại Virginia, một nhóm các vị lớn tuổi đã vận động thành lập ngôi Hoa Nghiêm, sau thời gian dài đáp ứng nhiều thủ tục nhiêu khê của luật pháp Hoa Kỳ. Khởi kỳ thủy, các Phật tử luân phiên tu tập tại các tư gia, sau đó mua một ngôi nhà, mời một tu sĩ về ở, hỗ trợ cho thầy sinh hoạt, phát triển, nhưng không đủ duyên, các vị lại ra đi. Năm 1986, ba vị: Trần Phan Nhơn, Trần Phương Liên và Tôn Thất Lương mua ngôi nhà mới đường Backlick, Fort Belvoir là tiền thân của ngôi chùa Hoa Nghiêm, cơ sở Hội Phật Giáo Mỹ Châu ngày nay. Phật tử đến sinh hoạt ngày càng đông, vì thế Hội đã mua thêm ba ngôi nhà kế cận được diện tích 1 mẫu 35 rộng thoáng, có chỗ đậu xe theo quy định của nhà nước. Năm 2004, hội đệ đơn xin xây dựng ngôi chùa chính thức, mãi đến năm 2009 mới được chấp thuận. Kiểu dáng hài hòa giữa Đông và Tây. Phí tổn hoàn thành ngôi chùa, trang trí nội thất, phân bố nơi thờ Phật, ký linh và thỉnh tượng…đã lên 1.700.000 USD. Với số tiên ngoài dự tính, vì thế, các ông: Nguyễn Chánh Nông - Phạm văn Trường - Nguyên Sung – Dương văn Lộc và bác sĩ Trần Đoàn thay mặt hội đứng ra vay nợ nhà bank Sandy Spring 430.000 đô la, Phật tử cho mượn không lời là 200.000 đô. 


Đây là chùa hội, vì thế các Phật tử luân phiên đảm nhiệm các chức vụ như Ban quản trị - Ban chầp hành, hai năm một lần, để cai quản điều hành sinh hoạt, thanh toán công nợ, giải quyết pháp lý. Riêng cương vị Trụ trì, thầy có nhiệm vụ: Hướng dẫn đời sống tâm linh, cố vấn tâm linh và hạnh phúc gia đình, hoằng pháp, đặc trách nghi lễ tôn giáo, ma chay đám tiệc… 
Chùa cũng có đơn vị Gia Đình Phật Tử, sinh hoạt mỗi chủ nhật, ngoài chuyên môn, các em còn học viết và nói tiếng Việt. Hiện nay, thầy Kiến Khai đương vị trụ trì gần 20 năm mà trước đó thầy Phụng Sơn và thầy Tâm Phước cũng đã lưu trú. 


Chùa khánh thành ngày 2-3/4/2011 có sự tham dự của chính quyền bang, chư tôn túc các bang, các nghệ sĩ. Chương trình văn nghệ đậm tính văn hóa dân tộc. Một vài Phật tử từ các quốc gia khác cũng có mặt. Điều lạ , không những Phật tử đóng góp mà cả những người không phải Phật tử cũng chung tay góp mặt. Cô Thanh Trúc phóng viên và chị Phương Liên Công giáo là những người gây quỷ khá thành công cho chùa hội.Từ khi khánh thành đến nay, chùa luôn có những lớp giảng hàng tuần do chư Tăng nơi khác đảm nhiệm, như lớp Phật Pháp mỗi tối thứ năm; cứ 2,3 tháng có các khóa tu do thầy Tâm Thiện – Tâm Hiền – Thông Triết và các khách Tăng hướng dẫn. Điểm mà các chùa tư khác không hề có: nhiều pháp môn của các tông phái khác nhau đều có thể về Hoa Nghiêm lập Đạo tràng tu tập. Ngày 06/8/2011 cũng đã tổ chức Trai Đàn Chẩn Tế Bạt Độ do Ban kinh sư chùa Trúc Lâm, Atlanta đảm trách. Lễ hội Vu Lan trên dưới 600 người tham dự khá thành công. Càng ngày chùa Hoa Nghiêm càng khởi sắc, số người ra đi cũng có mà số người đến với chùa cũng không thiếu. 
Đặc biệt, chùa từng cung đón các danh Tăng thạc đức như Hòa Thượng Thích Thanh Từ, Đ.Đ Thích Nhật Từ, tháng 10 sẽ nghinh tiếp đoàn T.S Thích Nhất Hạnh; Các thầy trẻ có năng lực, có kiến thức và có nhân cách như thầy Tâm Thiện, thầy Đạo Quảng cũng từng lai đáo Hoa Nghiêm để sinh hoạt cùng Phật tử. 
Hiện nay, chùa có chiều ngang mà thiếu bề sâu, khó khăn cho việc đậu xe vào mỗi dịp lễ lớn. Nhất là ngôi chùa mang danh Hội Phật Giáo Mỹ châu vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, cần phải có một diện tích tương xứng để việc sinh hoạt thuận lợi hơn. Chùa hội còn phải đối đầu khó khăn về nợ ngân hàng như thế, huống nữa cá nhân một vị thầy đứng ra lập chùa chắc không tránh khỏi lo toan mọi điều. Có những vị bôn ba lập chùa, cũng có vị thích nhập chúng để chuyên tu học và hoằng pháp, có vị không thích trụ trì mà duyên đưa đẩy vẫn phải đảm trách, có vị lại không những thủ đắc một ngôi mà còn vài ngôi khác nhau để rồi luôn quanh quẩn việc cơm áo gạo tiền hàng tháng, không còn tâm trí tu tập. Thiết nghĩ, mỗi quận một ngôi chùa là đủ, không như ở Việt Nam tình trạng lạm phát đua nhau xây chùa, có những nơi trong Saigon, hai chùa đâu lưng nhau hoặc cách nhau không quá 50m; chùa mọc như thế trở thành dạng kinh doanh chứ không phải đáp ứng cho việc tu tập của quần chúng. Nhu cầu tín ngưỡng trong và ngoài nước giống nhau, ở hải ngoại chùa vẫn là cái gì thiêng liêng đối với những kẻ tha hương, chỉ nơi đó họ mới gửi gắm tấm lòng thương nhà nhớ quê. Có những người cách hàng chục cây số, đánh xe đến chùa vào mỗi cuối tuần như một thói quen, đến nơi, họ không vào dự lễ, không nghe thầy giảng mà cứ lòng vòng ngắm cảnh để thư giản tâm hồn sau một tuần vất vả, nhưng số như thế cũng không nhiều; ai cũng nhận mình Phật tử mà ít ai hiểu giáo lý nhà Phật. Vì thế, lập chùa đã khó mà khó nhất vẫn là giúp cho quần chúng hiểu được giáo lý Phật Đà để kiếp người còn lại có ý nghĩa hơn. Làm sao để những người đến chùa có cảm hứng thâm nhập giáo lý mà không chỉ là cảm tình viên. Gây quỹ, tổ chức lễ lộc không khó, nhưng khó là biến ngôi chùa từ bao công sức và tâm huyết của quý vị đã được hình thành, nó đạt được mục đích hóa giải tâm linh cho những ai đến chùa ( chưa nói chùa chủ động đem Đạo đến cho mọi người) hơn là chỉ sinh hoạt bề mặt nổi. Điều nầy đòi hỏi chùa phải có một chương trình chuyên tu và lớp giáo lý chuyên sâu hàng tuần để có cơ sở đi vào đời sống tâm linh hầu chuyển hóa những bức bách trong cuộc sống thường nhật. Hầu hết trong cũng như ngoài nước, sinh hoạt của chùa mặt nổi nhiều hơn chiều sâu, vì thế, quần chúng đến với chùa chỉ để tụng niệm nghi lễ, ngoài ra ít ai nắm vững giáo lý và pháp hành để tự chuyển hóa chính mình. Lúc về chiều, ai cũng muốn “mái chùa che chở hồn cô lữ”. Trên đất khách, phần lớn các tướng tá, cán bộ viên chức lưu vong, hoặc có vị xuất gia, hoặc có người làm một tín đồ thuần khiết. Cũng có vị tự nhận mình là Phật tử mà chẳng bao giờ hoặc ít khi đến chùa, chỉ gặp Tam bảo lúc lâm chung tang chế. 
Về phía các chùa, ai đến với chùa thì chùa tiếp, ngoài ra không chủ động tạo duyên để những tâm hồn có thiện cảm có dịp thâm nhập. Tính thụ động của chư Tăng từ lâu đã bỏ lỡ những cơ hội giúp cho nhiều người muốn đến với đạo. Ngay cả một Thiếu tướng không quân từng là Thủ Tướng chế độ miền Nam trước 1975, tự nhận mình là Phật tử, khi nằm xuống, cộng đồng Tăng sĩ trong và ngoài nước không hề có một lời phân ưu; mặc dù quá khứ họ làm gì, như thế nào, mình nên trân trọng một hương linh con Phật, một lời phân ưu đủ an ủi kẻ quá cố cũng như người còn sống, về tâm linh cũng như tâm lý đều lưỡng lợi. 

Như vậy, làm chùa không chỉ là nơi để quần chúng đến mà còn là cơ sở vận dụng mọi thời cơ để đến với quần chúng. Sự hy sinh của quý cư sĩ can đảm đứng ra vay nợ mà không vì quyền lợi cho riêng cá nhân nào, đó là tấm lòng cao cả khi tạo dựng một ngôi chùa, chẳng những thế, về lâu về dài, Ban quản trị tiếp tục đối đầu rất nhiều khó khăn về chi phí hàng tháng cũng như công nợ trường kỳ. Hội còn phải tổ chức các khóa tu, khóa giảng và lễ lộc hàng năm. Một chùa hội như thế có lợi cho vị trụ trì hoặc Tăng chúng lưu trú chỉ chuyên lo tu tập, mọi việc khác Ban quản trị phải lo. Nhưng mặt khác, hội tinh tế để chư Tăng không bị mặc cảm mính là ông từ giữ chùa. Đây không phải lần đầu chùa hội xuất hiện, tại Mỹ cũng có vài nơi, ở Việt Nam xa xưa cũng từng xuất hiện chùa hội, chùa làng. 
Chùa hội và chùa tư có cung cách khác nhau, nhưng cái chung vẫn là điểm để Phật tử gửi tâm hồn nương cỏi Phật; Hy vọng Hoa Nghiêm sẽ tích cực trong việc hoằng truyền giáo pháp đến rộng rãi cộng đồng Kiều bào, có như thế , không những uy tín càng tăng, mà hiệu quả của một ngôi chùa hiện hữu mới tương xứng với những tấm lòng khai sơn của quý Phật tử. 

MINH MẪN 
24/8/2011 

 

KALACHAKRA VÀ NGÀY SINH NHẬT


 

Pháp hội diễn ra tại Nation’s Capital  thuộc Thủ Đô Washington DC; một hội trường chứa khoảng 14 ngàn người,  bán ra 12 ngàn vé,  chư Tăng  Ni 800 vị và còn lại là khách mời.

Trước đó hai hôm, chư Tăng Tibet tự trang hoàng pháp hội, các công đoạn khác như thực phẩm suốt thời gian của lễ, cúng dường hoa trái, in bảng tên và những  văn bản, sách quảng cáo…đều do người Việt tại Washington hỗ trợ, vì cộng đồng Tibet tại Thủ đô rất ít.

Thông lệ sinh hoạt tại Mỹ, thường từ 9, 10 giờ sáng, nhưng buổi lễ đã diễn ra rất sớm, vì thế, 6g hội trường đã mở cửa, các khâu làm việc khá nhịp nhàng và an ninh cũng không đơn giản,  mà cũng không làm cho khách tham dự khó chịu. tất cả đều nhã nhặn lịch sự. Một số chư Tăng và  quan khách trú tại khách sạn, chùa hoặc tại nhà cư sĩ. Vùng ngoại ô vào thành phố thường kẹt xe, vì thế phần lớn người tham dự đều đáp Metro, đường ngầm xuyên phố thị và sông Potomac để đến Thủ Đô.

Hội trường là vòng tròn khép kín có nhiều cửa hướng ra các ngã đường khác nhau trong Thành phố. Ở hội trường gồm nhiều tầng lầu và nhiều màn hình rộng giúp cho khán giả cách xa lễ đài chính hơn 50m vẫn thấy rõ hoạt cảnh của Pháp hội. Trên lễ đài, từ rất sớm, Đức Đạt Lai Lạt Ma cùng chư Tăng Kinh sư Tibet đã làm lễ Tịnh thổ rất nghiêm trang, thành khẩn. Sau đó, một thời Pháp ngắn  do Đức Đạt Lai Lat Ma thuyết giảng mang nhiều ý nghĩa về tôn giáo, đạo đức chính trị và xã hội của con người. 10 đến 12g là lễ chúc mừng sinh nhật lần thứ 76 của Ngài. Trong buổi lễ có sự hiện diện của người cháu Thánh Gandhi và người con của  cố Mục sư  là Martin Luther king III, đều là những nhân vật đại biểu cho tinh thần đấu tranh bất bạo động và đều bị ám sát dưới bàn tay cực đoan bạo động. Trong phần chúc mừng Khánh tuế của Ngài trước khi các đoàn đại biểu đến mừng thượng thọ và lễ Ngài, đoàn đồng ấu với nhạc cụ truyền thống Tây Tạng trổi lên như gợi nhớ một vùng đất xa xăm trên cao nguyên Hy Mã xa xưa mà Ngài từng sanh trưởng nơi đó. Hơn chục em hát mừng, nhưng gương mặt vẫn không biểu lộ được nét hân hoan của tuổi trẻ đối diện với nhà lãnh đạo tinh thần đáng kính của họ, tương phản với người phụ nữ âu Mỹ chỉ huy hợp xướng tỏ ra năng động hưng phấn. Tuy ngắn gọn nhưng xúc động làm cho gương mặt hồn nhiên thánh thiện của Đức Đạt Lai Lạt Ma có nét trầm tư. Sau đó, gồm  nhiều quốc gia khác nhau, trong đó, đặc biệt làm cho mọi người thấm lệ  khi MC giới thiệu đoàn Việt Nam  và đoàn Tibet, tiếng vổ tay và tiếng la vang dội. Người ta nhìn thấy được nét ưu ái của Ngài khi người phụ nữ Việt Nam chắp tay phủ phục trước mặt. Cầm tay  đại biểu Việt Nam, Người nhìn thẳng như ban phúc lành và chia xẻ sự cảm thông. Chiếc khăn trắng choàng qua đầu ba phụ nữ Việt trong làn sóng vổ tay nhiệt liệt. Tín đồ Tibet trang phục truyền thống có lẽ đến từ Ấn độ, Ngài vui vẻ sờ lên chiếc kẹp mào gà trên tóc của họ, cả hội trường cười ồ thích thú. Vốn tính hài hước, Ngài luôn làm  khán giả nhộn nhã. Trong lúc nầy, các tín đồ của Ngài khắp nơi đổ về với nhiều sắc phục đặc thù, mang âm hưởng vùng cao nguyên và tiếng nói của một dân tộc lưu vong. Trong lúc  Ngài và đồng bào  của Ngài hiện diện trên đất nước tự do thì còn bao nhiêu Tăng sĩ và con dân của Ngài đang nằm trong lao ngục đói lạnh, chịu nhiều cực hình của địa ngục trần gian tại quê hương mình, vì vậy hàng năm đều có lễ  cầu nguyện hòa bình cho tinh cầu nầy đừng còn chiến tranh, thiên tai và khổ đau. Chư Tăng Tibet tuy đi đứng có vẻ tự tại nhưng tự thân các vị đã được thuần thục trong môi trường giáo dục tu viện khá nghiêm khắc. Ngày nay, Tibet đã được mọi người biết đến nhờ uy danh của Đức Đạt Lai Lạt Ma, pháp tu của Kim Cang Thừa cũng đã có chỗ đứng trong thế giới Âu Châu và Âu Mỹ.

Đến phần phát biểu của quan khách tham dự, không phải bằng ngôn ngữ ngoại giao mà với cả tấm lòng và sự tôn kính dành cho Ngài, cháu ba đời của Thánh Gandhi cũng như con Mục sư Martin Luther King ca ngợi Ngài và chia xẻ nỗi khó khăn của Tibet. Đặc biệt, có tiếng nói của một Giám Mục Anh giáo Desmond TUTU Nam Phi, một câu noi nổi tiếng về Kito giáo: “ khi họ đến họ có cuốn kinh Thánh, chúng tôi có đất đai, họ bảo chúng tôi nhắm mắt cầu nguyện, mở mắt ra, chúng tôi có cuốn kinh Thánh, họ có đất đai”hon 5p phát chiếu lời của Giám Mục, cả hội trường chia xẻ cảm thông niềm bất hạnh của kẻ bị trị. Vẫn giọng hài hước của Đức Đạt Lai Lat Ma, Ngài đáp từ trước những tấm lòng và sự ưu ái của các quan khách cũng như những Thiện nguyện viên tổ chức cho cuộc đại lễ cầu nguyện hòa bình và Mừng sinh nhật của Người. Ngài không quên nhắc nhở mọi người về mọi khía cạnh chính trị, văn hóa, kinh tế phải được xây dựng trên nền tảng đạo đức tâm linh.

Tất cả hội trường, không ai bảo ai, tự động đứng lên khi Ngài đến cũng như lúc đi, bằng cả tôn kính tự đáy lòng. Sau khi chấm dứt nghi lễ buổi sáng, từ 12.30 đến 1.30 dành cho bữa ăn trưa. Ngài cùng chư Tăng tiếp tục cầu nguyện, trong buổi lễ, nghi thức Kim Cang thừa , chư tôn đức tẩy tịnh thân tâm và thế giới rất ư chí thành. Những nghi lễ như thế, nếu là Việt Nam, Hòa Thượng chủ sám chỉ niêm hương chứng minh rồi lui về hậu liêu an nghỉ, riêng đây, Đức Đạt Lai Lạt Ma cùng với ban Kinh sư hành lễ suốt 11 ngày, mỗi ngày hai thời, kể cả giảng pháp mà không tỏ ra mỏi mệt với tuổi 76.

Phải chăng, tính giản dị, bình đẳng, hài hòa, tinh tế và hồn nhiên của Người đã chiếm lĩnh trái tim của đại bộ phận nhân loại trên hành tinh nầy ngoại trừ ma chướng?

Ngài có công lớn đem Phật giáo vào thế giới phương Tây, mang lai hòa hợp giữa các tôn giáo, trồng cây Bồ Đề ở vị trí tương xứng với nhân loại ngày nay. Một Tibet nhỏ bé, nghèo nàn nhưng có một nhân cách vĩ đại thể hiện qua một Đạt Lai Lạt Ma, mà lễ Kalachakra đã hoành tráng trong buổi khai mạc sang nay

 

                                                                               MINH MẪN

                                                                                  06/7/2011

 

 

KALACHAKRA VÀ LỄ QUÁN ĐẢNH

 

 

Ngày 13/7/2011. Đức Đạt Lai Lạt Ma 14 đã khai kinh nhập đàn để tiến hành trao truyền lễ Quán đảnh.

Mấy hôm nay, Ngài liên tục nói chuyện tại Pháp hội, nơi công cộng, nơi Đại học, tiếp các chính khách và hành lễ tịnh hóa Thổ địa, Tăng thân, môi trường và hướng tâm cầu nguyện hòa bình mà lễ cầu nguyện liên kết chặt chẻ với Kalachakra. Trong ngày thứ ba 12/7, cũng đã có nghi lễ cầu nguyện của các quốc gia Phật giáo có mặt. Phần lớn các sư Nam ông thống nhất nghi lễ. Bắc tông như Tàu, Triều tiên, Nhật cũng thuần nhất, riêng Việt Nam không chuẩn bị  và chọn ban kinh sư chuyên môn, nên buổi tán tụng cầu nguyện vừa dài, vừa thiếu nhất quán vì người tụng âm Hán, kẻ đọc kinh nghĩa. Người nước ngoài họ không biết tiếng Việt, nên nghĩ đó là ban hợp xướng của Phật Giáo Việt Nam. Với sự nhạy bén của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Ngài hiểu đó là tinh thần chưa thống nhất .

7 ngày đầu chuẩn bị hoàn chỉnh mọi  nghi cách, có cả vũ điệu nhập đàn cung thỉnh chư Hộ Thần,  ngày thứ 13, trước khi đưa thính chúng vào Quán Đảnh, Ngài thuyết về quá trình thập địa Bồ Tát, sau đó, đi dần vào nghi lễ Quán Đảnh. Với lượng người tham dự 20 ngàn ngồi khắp ba tầng lầu và tầng trệch, thế mà cỏ kusa, nước tẩy tịnh cung cấp đều cho mọi thành phần tham dự. Nghi thức tuy phức tạp,  Người Âu châu, Âu Mỹ tỏ ra sùng kính tuyệt đối. Mỗi người nhận được 2 cây cỏ kusa, cây ngắn để dưới gối, cây dài để dọc dưới nệm, xác định điềm mộnh lành dữ sau khi thọ pháp. Hai vị đại diện Nam nữ lên thả nhánh cây vào mâm  để tùy hướng ngã mà biết một trong 4 cửa Mandala thuộc hành nào. Mật thừa là một tông kết hợp tánh tướng viên dung; hàm dưỡng cả lý sự giữa nhân thân, vũ trụ, và sinh lực. Nhưng, dù thế nào, Mật thừa đòi hỏi hành giả phải tuyệt đối phát triển lòng từ và đức bi đến mọi loài trong mọi kiếp cho đến khi  hành giả thành tựu. vì thế mà một thầy Geshe ở tu viện Tashi Kyil bên Tây Tạng bị  Trung Cộng cầm tù và xử tử , trước  lúc hành hình, thầy còn đọc lời cầu nguyện cho kẻ ác: nguyện đạo sư hộ niệm/ cho con gánh tất cả

                Ác nghiệp cùng khổ nạn/ của tất cả chúng sanh

                Nguyện hạnh phúc công đức/ tặng hết cho chúng sanh

               Được hạnh phúc an lạc.

Ngoài giới luật phải tinh chuyên, mật pháp phải hành trì mà tâm Bồ đề phải tỏa khắp, đó là yếu chỉ của mật thừa Tây Tạng. Để có khái niệm tổng quát về Kalachakra và lễ Quán đảnh, chúng ta thử tìm hiểu sau dây:

 

Khó mà định nghĩa đúng và đầy đủ ý nghĩa với từ Kalachakra, nhưng trong quá trình truyền hoặc thọ nhận Quán Đảnh, Thiền sinh phải trải qua nhiều công đoạn nghiêm túc. Kalachakra là một hệ thống Thiền quán cao nhất của pháp Mật thừa Kim Cang.

Trên lý thuyết, vì vô minh, chúng sanh trôi mãi trong giòng sinh tử. Mặc dù vậy, Phật tính hay gọii là ánh sáng tâm linh vẫn không bị mất. Nhờ thế mà các bậc minh sư từ căn bản đó, đã lập ra nhiều công đoạn để giúp hành giả trở về với căn nguyên ban đầu – nghĩa là thành Phật Giòng luân lưu miên viễn  đó thuật ngữ gọi là Tantra. Tantra hoạt động qua ba giai đoạn: Căn Bản – Con đường –Kết quả

 

Như trẻ sơ sinh khi chào đời, người nhập vào dòng pháp cũng thế, phải làm lễ Khai Tâm. Mục đích Khai Tâm là kích thích khả năng hoạt dụng của Phật tánh. Cũng giống như Pháp Quán Âm của Saint Mat, vị minh sư đầy đủ tiêu chuẩn đạo lực, phẩm hạnh để hóa giải nghiệp chướng cho giới tử  khi  thọ pháp. Lễ Khai tâm thực sự thành công là khi thầy truyền pháp và người nhận Pháp phải cùng cộng tác  một cách thành tâm. Đòi hỏi hành giả phải có kiến thức vững về pháp môn đang theo, và giữ giới đã thọ một cách nghiêm túc.

 

Lalachakra nói nôm na là Thời luân, nghĩa là ngoại cảnh, nội thân và thời gian quyện lấy lẫn nhau, gọi là Tam luân..Thời gian chi phối theo chu kỳ của vật chất nên có năm tháng ngày giờ, nội thân của sinh vật có sinh lão bệnh tử, kinh nguyệt; và sinh vật chịu tác động qua lại của ngoại cảnh và thời gian.Khi chúng sanh cứ mãi luân lưu trong sanh tử, chồng chất nghiệp lực từ quá khứ với hiện tại, tạo lực đẩy cho kiếp kế tục, cứ thế mà trôi lăn chìm đắm, không tự chủ, mà trong diễn dịch của Kalachakra gọi là gió nghiệp.

 

Theo truyền thống Mật thừa, Kalachakra đã có từ thời Andhra Pradesh, Nam Ấn., vua của  nước  Shambhala được truyền và lưu giữ. Vào thế kỷ thứ 10, hai vị tổ người Ấn được truyền , qua Tây Tạng, xuống giòng Sakya, Kagyu,và Gelug, chỉ có Gelug là nổi trội hơn hết. Cũng như các vị tiền nhiệm, đức Đạt Lai Lạt Ma 14 thường xuyên truyền lễ khai tâm mỗi khi có nhu cầu, và người ta tin rằng Ngài đương nhiệm là hậu thân của vua Shambhala thưở ấy.Một giới tử thọ pháp, cần từ bỏ nếp sống thế tục, phát Bồ đề tâm và thâm nhập lý Chân không. Lễ khai tâm  là giới Bồ Tát, giúp hành giả duy trì Bồ đề tâm. Sau khi thọ Tam quy và Bồ tát giới, giới tử bắt đầu được hướng dẫn nhập định để cảm nhận minh là vô số hóa thân Phật, Bồ tát nhập vào hệ thống Mạn Đà La của pháp thân Kalachakra. Kinh qua tịnh hóa nghiệp lực liên tục, đánh thức năng lực tiềm ẩn. Mandala hữu hình biểu trưng cho một cung điện hùng vĩ, gồm 722 vị, có hai vị chánh ngự tại trung điểm. Vị thầy truyền pháp hóa thành tất cà Bồ tát nầy.

Ngoài giới tướng đã thọ, đệ tử được thầy  Kalachakra dùng tâm lực  để cung thỉnh chư Phật vào khẩu, như qua tử cung mẹ, cảnh giới tâm thức cũng vậy, lúc ấy giới tử luôn tưởng nhớ đến chư Phật một cách miên mật để nhập tịnh quang tâm, trở thành đứa con tinh thần của thầy  Kalachakra, sự gắn kết giữa thầy trò như con và mẹ từ đó.. Sau khi thọ và nhập giới tánh, giới tử được thầy hướng dẫn chuyển các đại, đưa đến tịnh hóa Thân-Khẩu-Ý để lập chí quyết thành Phật. Những nghi thức tiếp theo thật rườm rà nhưng mang nhiều ý nghĩa.

Đồ hình Mandala có 4 loại hình Mandala: Mandala bằng cát, bằng gấm vẻ, bằng năng lực thiền định của Đạo sư, và bằng thân người. Mandala hình tròn  là biểu tượng vũ trụ; Mandala là cửa ngõ vào thọ pháp kalachakra, cũng là nghi cách cầu nguyện hòa bình thế giới. Giới tử nhập vào Mandala là nhập vào pháp giới chư Phật Kalachakra, đây là cung điện siêu hình, giới tử không thể vào bằng thân vật lý. Như bệnh nhân vào phòng giải phẩu phải khử trùng, giữ thân thể sạch sẽ, cũng vậy, giới tử giữ tâm thanh tịnh để đi vào Mandala. Tưởng tượng được tái sanh làm đứa con tinh thần của vị thầy Kalachakra giống như ngài. Căn bản là giới tử giữ  tâm chân không.

 

Trong mật pháp Kalachakra, tâm “Đại lạc bất động” được xem là tâm Phật, nhờ thu nhiếp mọi thành phần vật lý để chuyển thành thân vô sắc, thân nầy hoàn toàn bất nhị với tâm Phật.. Mật kinh của Kalachakra giải thích rõ ràng nên gọi là mật kinh hiển nghĩa. Các mật kinh khác trình bày ẩn nghĩa nên gọi là mật kinh ẩn nghĩa. Truyền pháp có hai ý nghĩa, một là Mật pháp quán đảnh ban cho quyền năng hành trì. Hai là mật pháp gia trì là truyền năng lực gia trì của đấng Bổn tôn pháp chủ vào thân ngữ ý của hành giả. Truyền pháp có hai dạng: thường và phi thường. Loại thường dùng Mandala bằng gấm thêu, loại phi thường là Mandala bằng cát màu. Pháp Quán đảnh có khả năng tịnh nghiệp chướng của giới tử tương ứng với từng địa Bồ tát. Các giai đoạn tu chứng trong Kalachakra không khác với hiển tông về hai bồ tư lương: phương tiện và trí tuệ, mật pháp cũng vậy, ngoài việc tích lũy hai bồ tư lương còn chú trọng đến khí mạch, khí, tinh khí bồ đề…đả thông các điểm trọng yếu của thân Kim Cang để  vận động các luồng khí và tâm vi tế., thu nhiếp thân vật lý chuyển thành thân vô sắc. Quá trình chuyển hiện nầy đòi hỏi dẹp bỏ trí chướng, phiền não chướng. Phần nầy giống với hiển tông, nhưng mật tông có phương pháp thực hiện khác bằng cách tịnh hóa bốn giọt tinh chất nằm ở 4 vị trí  trong thân thể. Giọt thứ nhất nằm ở luân xa trán, liên quan thời gian thức giấc; giọt thứ hai ở luân xa cổ, liên quan đến thời gian nằm mơ.Giọt thứ ba ở luân xa tim,liên quan đến thời gian chìm sâu vào giấc ngủ; Giọt thứ tư liên quan đến luân xa ở đan điền, liên quan đến niềm hỷ lạc lúc giao tình. Công dụng mỗi giọt tinh của mỗi luân xa khi đạt được quán chiếu thanh tịnh, hành giả sẽ thành tựu được thân Kim Cang  khi luân xa một tịnh hóa. Thành tựu ngữ kim Cang khi thanh tịnh được giọt tinh chất nơi luân xa cổ. Hành giả thành tựu được ý Kim cang khi thanh tịnh được giọt tinh chất nơi luân xa tim. Và thành phần thứ tư trong Kalachakra là trí giác bản lai đại lạc bất động tối thượng khi thanh tịnh được giọt tinh chất nơi luân xa bụng. Giọt tinh chất nầy thành tựu Trí giác bản lai kim cang. Thành tựu 4 giai đoạn là thành tựu được pháp tu Kalachakra. Mạndala Kalachakra có 4 cửa Đông Nam Tây Bắc tượng trưng cho 4 vị trí của cơ tạng. Khi nhập pháp quán đảnh nầy, hành giả được gieo chủng tử thành tựu trí giác bản lai của Phật trong tương lai.

Mandala Kalachakra có ba vòng tròn tượng trưng cho thân-khẩu-ý. Sở dĩ Đức Đạt Lai Lạt Ma thường truyền quán đảnh và được mọi người ưa chuộng,vì ngài được xem như hiện thân của đức Quán Thế Âm, do đó có nhiều ý nghĩa. Vả lại Ngài chấp trì truyền thừa mật pháp, giòng truyền thừa nầy không gián đoạn từ các đời Đạt Lai Lạt Ma.

Lễ quán đảnh thường giới hạn cho một số đệ tử đã tuyển chọn, nhưng đại lễ Kalachakra mọi người đều được tham dự lễ quán đảnh nầy. Tóm lại, hành giả  thọ pháp quản đảnh Kalachakra phải bước qua  nghi thức quy y Tam Bảo , thọ Bồ tát giới và những giới riêng của Mật tông, phải nhận lễ quán đảnh từ một bậc chân sư, sau đó bước vào nghi lễ uy phong và phức tạp vô cùng.

Không phải ai cũng có duyên với mật pháp Kim Cang Thừa, nhưng khi tương hợp với pháp môn nầy, hành giả càng ngày càng tiến sâu vào thiền hành một cách miên mật để tương lai chắc chắn tiên đến quả vị giác ngộ. Mật thừa là một trong các pháp tu của Phật giáo Phát triển ngày nay, nên được phổ quát hơn, giòng phái nầy đã thâm nhập vào xã hộu Âu châu và âu Mỹ hiện nay.

 

 

                                                                                               MINH MẪN

                                                                                                   12/7/2011

NGÀY CUỐI KALACHAKRA TẠI HOA KỲ


 

Lễ cầu nguyện hòa bình thế giới của Đức Đạt Lai Lạt Ma tổ chức tại Washington DC đã chấm dứt sau 11 ngày. Đây là cuộc lễ kéo dài nhiều ngày nhất và quan trọng nhất, vì, ngoài lễ cầu hòa bình, còn kèm chúc mừng sinh nhật và truyền quán đảnh đặc biệt.

 

Những ngày trước, ngoài cuộc lễ trang nghiêm và chí thành ra, Ngài luôn có buồi thuyết giảng cho quần chúng, đối với Ngài, thuyết giảng quan trọng hơn lễ Quán đảnh Kalachakra. Qua những buổi giảng, Ngài hy vọng thính chúng sẽ chuyển hóa nội tâm, tự thân có an ổn  thì xã hội mới có hòa bình. Thời gian lưu lại Hoa Kỳ, Ngài đã gặp quốc hội, chiều nay, lúc 2 giờ, được Tổng Thống Mỹ, Obama tiếp đón. Đây là điểm mà Obama xác định thái độ dứt khoác với Tàu Cộng, các vị tiền nhiệm  đã e sợ Trung Quốc. Kể cũng lạ, dù là bất cứ quốc gia nào có chủ quyền, đều có quyền quyết định tiếp đón ngoại giao với bất cứ ai, huống nữa là Mỹ, một đất nước đứng đầu thế giới, chỉ vì lời yêu cầu của Bắc kinh mà không dám tiếp Ngài, thảo nào có lần trước đây, Tàu Cộng bảo Mỹ là con cọp giấy. Đã bao năm sau chiến tranh lạnh, Mỹ nhân nhượng Bắc kinh cũng chỉ vì muốn Bắc kinh không còn khắn khít với Liên xô, sau khi Liên Xô sụp đỗ, Mỹ nhân nhượng để mở rộng thị trường, nhưng không ngờ sự nhân nhượng và giúp đỡ, Bắc kinh nhanh chóng vượt trội, biến thành con rồng châu Á, mối đe dọa  thường xuyên đối với các nước trong khu vực và thách thức Mỹ trên phương diện ngoại giao, kinh tế và chính trị, giờ đây còn lấn sân cả giao thông hàng hải.  Tổng Thống Obama tiếp Đức Đạt Lai Lạt Ma với tư cách cá nhân, một cá nhân có tầm vóc vĩ đại hơn cả một nguyên thủ lưu vong, vì Ngài đã từ nhiệm lãnh đạo tinh thần chính phủ Tây Tạng, và chối bỏ cả vị thế truyền thừa tín ngưỡng tôn  giáo sau khi siêu mãn. Vì thế Bắc kinh chống cuộc tiếp kiến Đức Đạt Lai Lạt ma là chuyện phi lý; Các trang mạng của Trung quốc cũng đòi trừng trị Mỹ về mọi mặt, chứng tỏ tính ngạo mạng, trịch thượng của một quốc gia còn dưới cơ đối thủ. Tàu cộng xen vào quyền quyết định ngoại giao của một cường quốc như Mỹ, thì những quốc gia khác đối với Tàu Cộng là trẻ con muốn bắt nạt lấn lướt lúc nào chả được.

Ngày mãn đàn, sau thời kinh chung kết, hồi hướng cho nền hòa bình nhân loại, Ngài tiếp tục giảng pháp cho đại chúng.

Về ngoại giao, các đoàn thể tôn giáo và chính trị, đều có người đến chúc mừng, trong đó một vị Hồng y  của Vatican, có Martin Luther King III, cháu nội Thánh Gandhi. Nhật, Nam Triều Tiên, và một số văn nhân trí thức,, nghệ sĩ, diễn viên…cũng cử đại diện đến tham dự. Washington DC tuy là một bang của Mỹ, nhưng là thủ phủ Hoa Kỳ, tổ chức Kalachakra tại đó mang tầm quốc tế. Về mặt tổng thể, khá chu tất và thành công tốt đẹp, ngoại trừ khâu làm thẻ và lúc phát thẻ, nếu không có cộng đồng Phật tử Việt Nam hỗ trợ, chắc chắn họ sẽ gặp nhiều lúng túng. Theo báo cáo của ban tổ chức, chi phí hết 4 triệu USD, thu nhập 5.9 triệu, số thặng dư chia làm nhiều phần để ủng hộ Tsunami Nhật,  cư dân homeless tại Washington DC, cộng đồng Tây Tạng Canada, Châu Phi…Họ đã công khai tài chánh ngay ngày cuối.

Về nhân cách của Đức Đạt Lai Lạt Ma, tướng mạo của gấu và âm giọng của sư tử nói lên tính đặc thù của một chính vị vương. Ngài vẫn chưa phai nhòa cách đi đứng của một tộc Tạng sống vùng cao nguyên và phong cách bình dị của một nông dân. Tính bình đẳng thể hiện qua cách tiếp xúc với một Tổng thống cũng như lúc trò chuyện với một người thường dân. Trong khi làm lễ, một người quá ái mộ Ngài, họ tiến lên lễ đài để cúng dường Ngài chiếc mũ, dĩ nhiên bị bảo vệ ngăn, Ngài vẫy tay bảo họ tiến đến, nhưng bảo vệ nhận chiếc mũ trao lại Ngài, lật qua lật lại xem xét, Ngài đội lên đầu giữa tiếng vỗ tay hoan nghinh của đại chúng, rồi trả lại cho thiện chủ. Thể hiện tính bình đẳng và khiêm tốn trong mọi lúc mọi nơi. Từ trên Pháp tòa cao, Ngài nhoài người về phía trước thật sát để choàng khăn cho các sư , các tình nguyện viên và những thành phần đặc cử.

 

Trên lễ đài, bên trái từ ngoài nhìn vào, các Lạt Ma kinh sư trưởng thượng trì tụng, Ngài Đạt Lai Lạt Ma ngồi giữa, phía tay mặt là vị sư  và vài ni cô Việt Nam. Chẳng hiểu sự hiện diện của các tu sĩ Việt Nam  trên lễ đài là do ban tổ chức mời hay họ tự động chen lên. Nếu ban tổ chức sắp xếp thì chỉ dành riêng cho đoàn Phật giáo người Việt thôi sao? Đạo tràng do chư Tăng Tây Tạng hành lễ theo nghi Mật thừa Kim Cang tạng thì Tăng Ni Việt Nam lên ngồi đó để làm gì? Phật giáo Việt Nam tại Mỹ không có ai đủ tầm vóc đạo đức và tuổi tác để đại diện lên dự lễ, những vị vô danh tiểu tốt lên lễ đài ngồi như pho tượng phổng làm giảm uy tín của một đại lễ? Phải chăng nhân sự người Việt trong ban tổ chức không thỉnh các thượng thủ Tăng già tại Mỹ hoặc tại Washington DC ? Điều làm cho những ai hiểu giáo luật Phật giáo Bắc truyền đều ngỡ ngàng : Trong Pháp hội, duy nhất Đức Đạt Lai Lạt Ma đắp y 25 điều, các Lạt Ma  khác đắp y 5 hoặc 7 điều. nhưng một tu sĩ Việt Nam hơn 40 tuổi đời đã thượng lên chiếc y 25 điều ngang bằng với vị Pháp chủ ở Đạo tràng và ngồi  trên lễ đài, nói lên tính cao ngạo hiếu danh của một tu sĩ chưa đủ tưổi hạ mà đòi ngang bằng với Đức Đạt Lai Lạt Ma!!! Vấn đề luộm thuộm trong nghi lễ Việt Nam cũng thế. Thầy Nguyên Tánh bảo không tán, thầy Minh Châu lại đòi tán, các cô ni kẻ tụng nghĩa, người tụng âm, vì thế thầy Giác Thiện tuy học nghi lễ từ thầy Lệ Trang ở Việt Nam, cũng ngần ngại quyết định, bởi cả nể chư Tăng trên đất khách, ai đó dùng chữ :” quý thầy ở VN qua đây dành..” là không đúng. Người dùng chữ nầy ở phần nhận xét trong trang “ Phật Tử Việt Nam. Net” chắc chắn không phải là Phật tử trong hay ngoài nước, chỉ có đương sự  trong nội tình lúc bấy giờ mới rõ sự lủng củng. Phật tử Việt Nam quá ngao ngán các sư thiếu phẩm hạnh ở mọi lúc mọi nơi.

Volunteer Việt Nam, Mỹ, Tàu rất ư nhiệt tình. Ở Mỹ, việc xin nghỉ việc để làm công quả dài ngày như thế, rất khó, thế mà nhiều anh chị và cả gia đình đều thường trực có mặt trong những ngày qua tại Pháp hội. Suốt 11 ngày cung ứng gần ngàn xuất ăn trưa cho chư Tăng ni, tình nguyện viên và nhân viên bảo vệ, kể cả hoa quả trên lễ đài, chẳng những thế, còn phong bì cho toàn bộ tu sĩ khi mãn đàn. Những ngày cuối, số lượng người tham dự gia tăng đáng kể, 20 ngàn người, chưa kể trẻ con, thế mà chưa ai than phiền, lớn tiếng va chạm, trẻ con cũng vui vẻ thích thú. Mọi người tự động đứng lên mỗi khi thấy Ngài xuất hiện hoặc ra về. Ngài cười nói hồn nhiên phủ tràn năng lượng từ ái.

Giờ ăn trưa, một số người Tạng lớn tuổi tụ tập ngoài sảnh đường hát nhày những vũ điệu đơn giản, nghèo tiết tấu của đời du mục trên cao nguyên Hy Mã, để nhớ lại một thời thái bình độc lập thuở xa xưa. Một vài người ngoại quốc cũng tham gia ủng hộ. Tuy nhiên, trong khi chờ đợi Đức Đạt Lai Lạt Ma trở lại đạo tràng lúc Ngài đi gặp Tổng Thống Obama, nhóm nghệ sĩ Tây Tạng đến với thính chúng vài màn đơn ca, vũ điệu trữ tình giống như hát đối của Việt Nam, thể hiện nét lạc quan yêu đời mang tâm trạng hy vọng trở lại thời bình an của tộc Tạng, nhạc cụ dân tộc khá đơn điệu. Kết thúc văn nghệ, nhóm nghệ sĩ phất phới cờ Tây Tạng, cả pháp hội vang dậy tiếng hoan hô. Người nghe không tìm thấy âm điêu ủy mị của kẻ lưu vong. Trang phục phụ nữ với chiếc áo dài kín đáo và duyên dáng, nam giới trang phục cổ truyền luộm thuộm như thời du mục. Nét mặt thuần túy châu Á, âm giọng pha tạp Mông cổ.

MC trân trọng tri ân các mạnh thường quân, chính phủ bang, cộng đồng Việt Nam và những danh nhân tham dự để cho buổi lễ hoàn thành tốt đẹp.

Mạn Đà La thực hiện rất công phu theo một tiêu chuẩn nhất định; Đức Đạt Lai Lạt Ma làm lễ kết đàn gần 20 phút, giải đàn Mạn Đà La, số cát màu gom lại, một ít phân phối cho các Lạt Ma, số còn lại đích thân Ngài và ban kinh sư y mão tề chính, mang ra sông Potomac chú nguyện, rải.

Qua những sinh hoạt trên thế giới và uy tín của Đức Đạt Lai Lạt Ma, mọi người thấy rằng họ giữ được nề nếp và sự đoàn kết thuần nhất làm rạng rỡ nền văn hóa Phật giáo hòa lẫn tín ngưỡng du mục, mặc dù họ mất nước. Họ có một tổ chức khoa học và giáo dục tu viện khá nghiêm minh, vì thế tôn ti trật tự đã giúp họ tồn tại trước vũ lực. Trên vùng đất Hoa Thịnh Đốn, số lượng người Tạng và các sư Tạng rất ít, cũng như Lào, Thái, Nhật, Ấn…tuy chùa không nhiều, nhưng cái nào  xứng tầm vóc cái đó. Việt Nam quá nhiều chùa, mỗi chùa một vị sư, nhất Tăng nhất tự như sứ quân chiếm lĩnh một vùng, vì thế không thể  an cư ba tháng mỗi năm theo truyền thống, đã làm hao mòn thực lực Phật giáo cả về vật chất lẫn tinh thần, nội lực lẫn uy tín; Chẳng lạ gì những Phật tử Việt Nam chọn Phật giáo Mật thừa làm điểm tựa thay vi như một số người đã ngã sang ngoại đạo như bà phu nhân Trung tướng Ng.N.L thất vọng vì quá tin tưởng, tận tình hỗ trợ  các sư Việt Nam thiếu nhân cách. Một phần cũng do lỗi quần chúng không phân bệt đâu là bậc chân tu. Có vị bằng cấp đầy người, vợ đàn con đống, làm chùa, bán chùa ở Virginia, như trao đổi hàng hóa nếu nơi đó không có thu nhập, thế mà vẫn có người tin và theo.

 Cộng đồng người Việt cũng như Phật Giáo Việt Nam tại Mỹ, không ai phục tùng ai, chính vì thế sinh ra vô số tổ chức, vài ba người cũng làm thành một tổ chức, một giáo hội, họ chụp mũ lẫn nhau; một ông thầy vài ba tín đồ cũng lập lên ngôi chùa, chùa không ra chùa, nhà không ra nhà, Ở Washington DC, có nơi chỉ một sư và một nữ tín đồ tu riêng. Quần chúng tín đồ Phật giáo quá cần tín ngưỡng, nơi xứ lạ, ngoài ngày giờ lao động vất vả, họ chỉ biết tìm đến tôn giáo như một lối thoát có ý nghĩa cho cuộc sống. Một số Phật tử tại gia, họ có pháp hành và hiểu một ít giáo lý, họ tu tại nhà và it khi đến chùa. Một số trí thức xuất thân từ Gia Đình Phật Tử trước 1975, họ gắn liền với Phật giáo, luôn ưu tư cho tiền đồ Phật giáo, họ cũng ít đi chùa vì chưa tìm ra một vị tu sĩ  thân giáo khẩu giáo song hành.  “Y pháp bất y nhân” là lối nói để lừa gạt quần chúng hiện nay, nghĩa là tín đồ cứ nhắm mắt để họ phạm giới thoải mái, miễn sao họ nói pháp lưu loát; nếu thế thì mở máy ra nghe tốt hơn, vì cái máy vừa nói pháp vừa không sa đọa. Thời nào cũng có  vong thân như thế, nhưng sự băng hoại của giới tu sĩ Phật giáo ngày nay đến mức báo động mà quần chúng không còn phân biệt sư thật sư giả là đâu. Tại Mông cổ và Trung quốc hiện nay cũng thế, một số  mạo nhận Lạt Ma , Ronpoche   Tây Tạng để lạm dụng đức tin quần chúng, những thành phần như thế, chúng ta thừa biết chúng xuất xứ từ đâu. Nhưng ở Ấn và Dharamsala chưa xẩy ra như thế, vì Tây Tạng có một hệ thống tu viện và giáo dục thuần nhất. Nhờ sự thuần nhất như thế, cộng đồng Tây Tạng họ tổ chức  hàng năm các cuộc cầu nguyện hòa bình và truyền quán đảnh mang tầm quốc tế ở các quốc gia khác nhau rất thành công do tính đoàn kết nhất quán của họ, họ chỉ biết Đức Đạt Lai Lạt Ma là đấng duy nhất đáng tôn sùng. Việt Nam, mỗi tu sĩ là một Thượng đế của một nhóm tín đồ, vì thế có tình trạng đệ tử riêng, thầy riêng, chùa riêng, giáo hội riêng…

Qua đại lễ Kalachakra của Cộng đồng Phật giáo Tây Tạng, liệu Phật giáo Việt Nam có rút tỉa được bài học nào từ sự đoàn kết và tính trong sáng của các Tăng sĩ  Tây Tạng như thế?

 

 

 

MINHMẪN   

                                                                                                16/7/2011  

 

NGƯỜI VÀ TA

 

Ngày 4/7, ngày lễ Độc lập của Hoa kỳ. lần thứ 235 năm.

Dưới quyền cai trị của vua George đệ tam. Anh bóc lột sưu thuế quá cao, 13 tiểu bang đương thời là những đại tư sản địa chủ, vì thế họ nổi dậy đòi độc lập.

(13 tiểu bang đầu tiên của Hoa kỳ: Connecticut, New Hampshire, New York, New Jersey, Massachusetts, Pennsylvania, Delaware , Virginia, North Carolina, South Carolina, Georgia, Rhode Island, Maryland).

 Qua nhiều cuộc tranh đấu gay go, 1774, các đại biểu của 13 tiểu bang bấy giờ họp tại Philadelphia, được gọi là Quốc Hội Lục địa. Do tướng George Washington  thống lãnh binh đội chống lại Anh quốc; 13 bang  nầy trở thành 13 bang đầu tiên khi Mỹ độc lập với nước Anh. Nhưng mãi đến 1776, ngày 4/7 ký bản tuyên ngôn độc lập đến tháng 8 mới ra đời, tuy nhiên họ vẫn chọn ngày 4/7 là ngày độc lập quốc gia. ( tuyên ngôn  Độc lập do Thomas Jefferson soạn thào cũng là vi Tổng Thống thứ ba của Mỹ). Việc hình thành một quốc gia  rộng lớn gồm nhiều chủng tộc và trình độ khác nhau, chỉ trong vài thế kỷ, trở thành một quốc gia hùng cường, đứng đầu thế giới, là cả một vấn đề không đơn giản. Tuy Hoa Kỳ cũng từng xẩy ra nội chiến Bắc Nam, do Tổng Thống  Abraham Lincoln đề xuất bãi bỏ chế độ nô lệ, nhưng tinh thần quân tử của tướng lãnh hai miền, Lee và Grant đã bắt tay nhau xóa bỏ hận thù để xây dựng đất nước. (Họ chưa hiểu gì về tinh thần quân tử của Khổng học như Việt Nam, thế mà cung cách xử sự giữa kẻ chiến thắng và người bại trận lại là trang sử đẹp đáng hãnh diện cho một đất nước cờ Hoa.). Từ giữa thế kỷ 19 đau thương đó, cho  họ bài học lịch sử, chưa đầy một thế kỷ, họ vươn lên như một sức mạnh vũ bảo giữa một tinh cầu đang nhiều biến động lúc bấy giờ. Ngày nay, dân số  295.734 tiệu, diện tích 9.629.091 km2, với một tinh thần dân chủ và chính sách đúng đắn đã đưa đất nước vào vị thế hàng đầu trên hành tinh về mọi mặt. Cho dù có những lúc  gọi là khủng hoảng kinh tế, thất nghiêp gia tăng, mức thu nhập của người dân vẫn cao ngất ngưởng. Người dân bản xứ hay những người nhập cư, di trú đều hãnh diện là một công dân Mỹ. ( dĩ nhiên là cỏi ta bà  thì không thể đòi hỏi mọi sự toàn thiện). Chính vì thế, ngày độc lập hàng năm, không những chính phủ tổ chức mà ngay cả các hội đoàn đều hưởng ứng rầm rộ với hiều sắc thái của mỗi địa phương. Trong đó, một số người Việt cũng hồ hởi tham gia.

Đêm pháo hoa tại Hoa Thịnh Đốn, hàng vạn người có mặt rất sớm để dành chỗ. Bên bờ sông Potomac, cách ngọn tháp bút chì non 1km, anh chị câu lạc bộ nhiếp ảnh Việt Nam cũng chiếm cứ một vùng trên trăm người và người Mỹ các sắc tộc cũng có mặt như một ngày hội. 9giờ 15 tối pháo hoa mới bắt đầu, thế mà 5g sáng đã có người đến chiếm chỗ vừa làm cuộc picnic, vừa có nơi đậu xe và chọn khu vực ưu thế để chụp những tấm ảnh đẹp nhất.

Sáng ngày 4/7, đoàn diễu hành rầm rộ, trong đó một số người Việt cũng làm xe hoa tháp tùng. Có thể họ hưởng ứng như một công dân Mỹ vì đất nước đã cưu mang họ, có thể  đó là dịp để thể hiện sự hoài vọng một thời quá khứ; một số khác họ lặng lẽ đau buồn làm thân lạc loài nơi đất khách, vui gì khi dân tộc mình chỉ là chốt thí trên bàn cờ chính trị thế giới, vì vậy họ muốn quên quá khứ. Cái gọi là đồng minh thì là đồng minh của chủ nghĩa thực dụng, đó là lẽ đương nhiên của bất cứ quốc gia nào cũng vì quyền lợi của đất nước minh. Một số trẻ em sinh trưởng và thành đạt trên đất Mỹ, họ không còn biết quê hương của ông bà cha mẹ mình là đâu, vì cuộc sống và được sự giáo dục của âu Mỹ, dĩ nhiên họ đã là người Mỹ; có những trẻ trên 18 tuổi mà nói tiếng Việt lơ lớ như người nước ngoài, vậy thì lịch sử của dân tộc họ cũng không thể am tường. Vì thế họ chưa đủ hiểu biết của một thế hệ kế thừa để xây dựng đất nước khi so sánh tính khác biệt : tinh thần mã thượng  và tính hận thù giữa hai dân tộc. Một Tổng Thống tranh cử có thể nêu xấu đời tư của nhau, nhưng khi một vi đắc cử thì vị kia đánh điện thư chúc mừng và hợp tác làm việc. Kẻ giàu và người nghèo đều có nhà - xe và việc làm như nhau, chỉ khác nhau là chất lượng của tiện nghi vật chất, đúng là một xã hội chủ nghĩa không Cộng sản. Thậm chí những kẻ không nhà, chính phủ có chính sách an sinh xã hội rất tốt, họ tài trợ, đài thọ cuộc sống cho những người đó. Những ngày tuyết lạnh, họ đi khắp thành phố để mang kẻ vô gia cư về trú ấm trong nhà dành sẵn. Người thất nghiệp và về hưu, có chính sách hỗ trợ đãi ngộ. Cơ sở vật chất vô cùng hoành tráng. Trục lộ giao thông chằng chịt và mở rộng hàng ngày, vì mỗi năm có hàng triệu xe hơi cho tuổi trẻ đủ 16, thế nhưng tệ nạn ách tắc vẫn xẩy ra  như cơm bữa.  Nhìn chung, đất Mỹ là một thiên đường sống cho những người dân trong các xã hội đói nghèo. Nhưng, tiện nghi vật chất không đem lại hạnh phúc nếu người dân không tìm được suối nguồn tâm linh để cân bằng với đời sống vật chất quá tiện nghi.

Ta có hơn 4.000 năm văn hiến nhưng chưa có một kỳ tích về cơ sở vật chất đáng nói và chưa có một tinh thần thượng võ cao đẹp như một quốc gia non trẻ không đầy 300 năm lập quốc. Dân tộc nào cũng có lòng yêu nước, một dân tộc tạp chủng như Hoa kỳ mà người dân còn biết bảo vệ quốc gia với tinh thần thoáng đạt và độ lượng, thì Việt Nam ta, ảnh hưởng Tam giáo sâu nặng, hà cớ lòng hận thù dai dẳng để xã hội không có cơ hội đoàn kết gắn bó, chính vì thế mà đất nước luôn bị ngoại thuộc. Chúng ta thông minh can đảm nhưng không ngồi lại với nhau, vì mỗi người đều có cái ngã quá lớn. Chúng ta không chịu lắng nghe vì ai cũng bảo vệ cái biết  của mình. Ai cũng ngờ vực lẫn nhau vì mình chưa tin chính mình. Tệ nạn tràn ngập vì đạo đức tôn giáo bị lạm dụng. Cuộc sống bất an vì chính mình chưa được an. Bao giờ đất nước chúng ta được an bình thịnh vượng? Vũ khí không hẳn là sức mạnh của một dân tộc. Bhutan là một đất nước nhỏ hẹp, dân số trên 600 ngàn, thế mà không bị đe dọa bởi ngoại bang. Tinh thần quần chúng đoàn kết nhờ một tôn giáo duy nhất là đạo Phật. Quá tin vào sức mạnh quân sự, khí tài thì luôn sống trong cạnh tranh, lo sợ khống chế lẫn nhau, vì thiếu tinh thần tự tin và đoàn kết quần chúng mà chất keo kết dính vẫn là tâm linh tín ngưỡng.

Phật giáo là một tôn giáo chiếm đa số trong nước, từng là chỗ dựa tinh thần cho dân tộc; trong quá  khứ, Phật giáo từng thể hiện bổn phận đối với dân tộc, trách nhiệm hiện nay của Phật giáo là gì để gọi là đồng hành cùng dân tộc khi nghiệp vận đất nước như chỉ mành treo chuông? Người Phật tử trong cũng như ngoài nước đặt trọn niềm tin nơi đức Phật, họ nhiệt tình tinh tấn tu tập, nhưng người lãnh đạo tinh thần cho quần chúng là ai hiện nay???

Nhìn lại tinh thần hồ hởi của đại bộ phận công dân Hoa kỳ nhân ngày độc lập và họ hãnh diện một tuyên ngôn Độc lập- nhân quyền của  Thomas Jefferson với lá cờ mà  Francis Hopkinson đã đem đến một quốc gia phồn thịnh, văn minh, tự do đứng dầu thế giới hiện nay, là điều chính đáng vì các nhà lãnh đạo của họ sáng suốt, đưa đất nước thoát khỏi sự khống chế của Anh Quốc.

Người Việt tá túc trên đất người làm sao khỏi đau buồn khi mình không sinh ra từ đó, phải vui cái vui của người nhưng buồn cái buồn riêng của một thân phận tha phương. Dẫu quê hương mình có rách nát thì tiếng chuông chùa kết nối tình làng nghĩa xóm vẫn là nguồn an ủi cho tuổi già mà trên xứ sở thực dụng, họ phải đối mặt với viện dưỡng lão và nỗi cô đơn. Nhìn người rồi ngẫm lại ta vẫn còn nhiều băng khoăn trăn trở. \

Ôi, một quê hương Việt Nam luôn bị đọa đày, chinh chiến từ thời lập quốc đến nay; luôn là một gia tài rách nát và chia rẽ.

                                                                               MINH MẪN

                                                                                 04/7/2011

PHẬT GIÁO VIỆT NAM VÀ TUỔI TRẺ ÂU MỸ


 Hiện nay, người Việt ở hải ngoại đã qua ba thế hệ, họ sớm hòa nhập với xã hội công nghiệp, nhất là tuổi trẻ thuộc thế hệ thứ ba. Vấn đề tôn giáo đối với thế hệ nầy gần giống như cư dân bản địa, còn chút gì chăng là do tính huyết thống của ông bà cha mẹ lưu truyền.

 

Năm 1975 và tiếp theo những năm sau đó, hàng loạt người bỏ nước ra đi với những phương tiện , hình thức và lý do khác nhau. Dù hòa nhập với xã hội mới, thế hệ đầu tiên vẫn không tránh khỏi khó khăn về ngôn ngữ, tập quán; chính vì thế mà trong lòng luôn hướng về quê hương, nơi còn những thân bằng quyền thuộc sống trong nghèo khó. Trên đất khách tha phương, họ cật lực lao động để ổn định cuộc sống và có dư để giúp ruột thịt quê nhà. Những năm sau đó họ đóng góp công tác từ thiện cho đồng bào các vùng sâu vùng xa thiếu tiện nghi vật chất; chính vì thế mà giếng đóng, cầu đường, học bổng, trường lớp vùng sâu vùng xa được  họ dang tay thực hiện.  Ngoài số ít có căn bản học vị và năng lực chuyên môn, đã thành đạt trên đất khách, đa phần còn lại là những người lớn tuổi, lao động phổ thông, chính vì thế mà mức thu nhập ngoài tầm kiểm soát không phải đóng thuế. Những người con theo họ từ Việt Nam hoặc ra đời tại Âu Mỹ, được tiếp cận văn hóa và nếp sinh hoạt xứ người, tuổi trẻ ấy dễ tiếp thu và nhanh chóng hòa nhập; tuy nhiên vẫn còn 50% bảo lưu truyền thống quê hương ông bà, vì thế giữ được nếp sông cổ truyền. Thế hệ thứ ba được ra đời, hoàn toàn sinh ra, lớn lên trên đất người, cha mẹ họ đã có 50% chịu ảnh hưởng tập quán sinh hoạt và giáo dục văn hóa bản địa, vì thế, lớp trẻ kế thừa hoàn toàn 90% được báo động là sẽ mất gốc Việt Nam, ít nói được tiếng Việt. Thế hệ trẻ ít có điều kiện sinh hoạt chung với ông bà cha mẹ. Các thành viên trong gia đình ít đoàn tụ với nhau trong mâm cơm hàng ngày, vì công việc đòi hỏi họ thường xuyên ít gặp nhau. Tuy nhiên, thế hệ trẻ nầy dễ thành đạt do được thừa hưởng tính thông minh và sự cần cù của một Việt tộc khi được giáo dục đào tạo theo một chương trình văn minh tiến bộ của Âu Mỹ. Chính vì thế, không ít trẻ trở thành ngôi sao trên nhiều lãnh vực như toán học, khoa học, y học…

 

Khi con cháu thành đạt làm đẹp mặt gia phong, ông bà đó, cha mẹ đó tạ ơn Trời Phật bằng cách đi chùa để cầu nguyện. Ngoài ra, những thế hệ thứ nhất và thứ hai, dù chưa có cháu con thành đạt, họ cũng có nhu cầu về tìn ngưỡng sau những ngày làm việc, để  bớt trống vắng và nhớ quê. Họ gặp nhau cuối tuần dưới mái chùa để tìm thấy chút an ủi với đồng hương. Có nhiều chùa do Phật tử đóng góp xây dựng rồi thỉnh thầy về trụ trì. Với diện tích quá rộng lớn của nước Mỹ, dân số Việt kiều sống rãi rác khắp nơi, tu sĩ không đủ đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, vì vậy có những cuộc bảo lãnh từ Việt Nam qua hoặc các quốc gia khác vào. Cũng không hiếm những tu sĩ đi với diện thăm viếng, diễn giảng rồi ở lại luôn. Những trường hợp nầy, chùa trở thành nơi nương náu ban đầu để những tu sĩ trẻ tràn đầy ham muốn mọc cánh tung bay khi được một số Phật tử quý mến, yểm trợ có một cơ ngơi riêng biệt. Từ đây phát sanh lắm tệ nạn lạm dụng và chạy theo nguồn lợi của nếp sống thực dụng. Đó là trường hợp cá lẻ, phần lớn các tu sĩ trẻ tiếp thu văn hóa mới, có tầm nhìn và cách sống cởi mở hơn, vì thế tâm huyết hoằng pháp cho  quần chúng người Việt có định hướng mà không còn bị áp lực chính kiến như quý thầy trước kia vào những năm trước. Tuy áp lực chính trị do một số phẩn uất, nhưng hầu hết các tu sĩ  Phật giáo trẻ hiện nay trên đất Mỹ có khuynh hướng tu tập nghiêm túc hơn và chí nguyện hoằng truyền Phật Pháp tốt hơn.

 

Phật giáo du nhập vào đất Mỹ thông qua giới trí thức và các Thiền sư vào thế kỷ XX. Riêng  người Việt đầu tiên có HT Thích Thiên Ân là người đem Phật giáo vào giới trí thức Âu Mỹ. Ngài thành lập ngôi chùa Việt Nam rất sớm vào năm 1970 tại California. Mặc dù Đài Loan, Triều Tiên đều có mặt tại Mỹ trước lâu, họ có trên ngàn ngôi chùa, nhưng không mấy hiệu quả trong việc hoằng pháp, vì vậy chỉ còn hơn vài trăm tự viện hiện nay, vì thế sinh hoạt không ảnh hưởng rộng đến xã hội. Đến khi Thiền sư T. Nhất Hạnh thành lập Làng Mai, tầm sinh hoạt của Tăng Thân bắt đầu lan tỏa khắp châu Mỹ, và nhất là đợt di dân tị nạn của người Việt, nhu cầu tôn giáo và tín ngưỡng đòi hỏi hệ thống sinh hoạt thiền môn để giải quyết khát khao tín ngưỡng của những kẻ xa quê, đồng thời ma chay cho người quá cố theo tập tục cổ truyền cũng trở nên bức thiết. Chính điều nầy cần các sư tụng niệm  hơn là giảng dạy và tu tập.

Một khi các tu sĩ trẻ thành lập cơ sở thờ tự riêng, phải đối diện với bao khó khăn chứ không dễ dàng như quê nhà họ tưởng. Phần lớn họ mua nhà để thờ phượng như một tư gia. Ít có chùa xử dụng chuông trống như ở Việt Nam, vì bị hạn chế bởi luật pháp bảo vệ yêu cầu của cư dân bản địa, những chùa như  Trúc Lâm ở Atlanta, Georgia, xa cách nhà dân nên có thể xử dụng  chuông trống. Tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, chùa Hoa Nghiêm ở VIRGINIA, đường Backlick. Fort Belvoir phải mất 5 năm xin phép xây dựng chính thức là một ngôi chùa. Do các Phật tử trí thức đứng ra thành lập. Một chùa hội như thế mà còn phải đối mặt với pháp lý và công nợ thì cá nhân một tu sĩ phải xoay xở để đóng thuế và bao nhiêu loại khoản phí khác, quả là một khó khăn, như vậy thì giờ đâu để tu học hoặc thăng tiến kiến thức học vị! Ngay cả nhà thờ là cơ sở tín ngưỡng cổ truyền bản địa, còn phải đóng cửa và chuyển nhượng vì không có tín đồ, không có thu nhập để đóng thuế. Các tu sĩ đến Mỹ, một là trụ trì, hai là theo đuổi việc học, ba là diễn giảng, tu tập và nghiên cứu. Trụ trì gặp phải nhiêu khê như đã nói, việc hỷ cúng từ quần chúng có hạn vì mức sinh hoạt bản xứ quá cao, thu nhập phổ thông vừa đủ sau khi trừ bao nhiêu khoản phí như thuế má, bảo hiểm, tiết kiệm… Vả lại, với số tiền vài ngàn cúng cho chùa tại Mỹ, chả thấm vào đâu, cũng với số tiền đó đem về Việt Nam giá trị sẽ lớn gấp bội, vì thế họ dồn về V.N để cúng và là từ thiện. Các vị lớn tuổi mất sức lao động, tiền do con cháu chu cấp hạn chế. Tuổi còn đi làm, có thể tìm thêm việc phụ thì phải đóng thuế thu nhập. Cuối tuần họ đến chùa như một lối thoát ức chế tâm lý và nhu cầu tín ngưỡng. Các tu sĩ phải thông thạo khoa nghi để có thu nhập và gần gủi cộng đồng. Các chùa hội lập ra, mong có quần chúng tu tập đông, vừa giải quyết công nợ vay ngân hàng, vừa giúp cho quần chúng có nơi tu học, vì thế đòi hỏi các giảng sư có trình độ tương thích với bản xứ để thu hút tuổi trẻ, làm mới cách hoằng pháp mà tuổi trẻ hiện nay không cần đến kinh điển, chỉ cần học hiểu được giáo lý. Những tu sĩ đáp ứng được đòi hỏi như thế quả là rất hiếm. Các tu sĩ biết ngoại ngữ nói chuyện với tuổi trẻ, sống với tuổi trẻ, phải là những tu sĩ trẻ, điều nầy, phần lớn tu sĩ Việt Nam hiện nay thiếu trình độ. Có những tu sĩ từ Việt Nam qua do sự thỉnh cầu, cũng chỉ là những tu sĩ quen cách diễn đạt trên bục giảng hơn là cách hòa nhập thân thiện bình đẳng của tuổi trẻ âu Mỹ. Những tu sĩ tốt nghiệp thế học, có thể đảm đương hoằng pháp theo phong cách mới, quả là hiếm hoi, chưa đủ 10 đầu ngón tay. Hiện nay cũng chỉ vài ba tu sĩ tuy không còn trẻ, cũng đủ khả năng thu hút một số  lớp trung niên và người cao tuổi qua cách diễn đạt khôi hài, đúng hơn là trò giải trí chứ không thể xem là giáo dục chuyên sâu vào giáo lý hoặc hướng dẫn tu tập, một nhu cầu chính đáng của quần chúng tha hương hiện nay. Thỉnh thoảng một vài chùa có khóa tu, tạm đủ và đúng để tín đồ xem đó là pháp môn khả hữu mà sau khi ra về, họ còn có thể thực hiện trong cuộc sống thường nhật. Quần chúng mục đích giải thoát tâm linh chứ không phải trở thành cảm tình viên của tôn giáo hay chỉ là người thuần phục cung dưỡng. Như vậy, số tu sĩ đáp ứng nghi thức ma chay đã chưa thể phát triển Phật giáo trên đất nước tiến bộ như âu Mỹ, số tu sĩ đủ năng lực chuyển hóa quần chúng và giới trẻ đang thiếu trầm trọng, những tu sĩ chuyên tu và thực hành có hiệu quả để quần chúng nương tựa cũng đang là vấn đề chưa đáp ứng đủ hiện nay. Số vị chuyên tu, ít nằm trong lớp tu sĩ trẻ, phần nhiều là bậc lão thành đã kinh qua trường đời, chinh vì thế mà tâm họ thuần thành và chân chính, họ không tham cầu danh lợi, địa vị, họ không muốn sở hữu chùa chiền, họ ẩn mình để chuẩn bị hành trang cho cuộc sống kiếp sau; thời gian còn lại trên cỏi đời đối với họ rất quý mà thời trai trẻ họ đã phí phạm vô lý. Những bậc chuyên tu như thế, về mặt sinh hoạt, quả thật họ không giúp được gì cho cộng đồng người Việt, nhưng rất khả dụng cho từ trường tâm linh. Chính những nguyên nhân nầy, chùa mọc rất nhiều làm cho kinh tế và tài chánh của quần chúng phân tán mỏng, tỷ lệ nghịch với hiệu quả hoằng pháp, để rồi cộng đồng Phật tử không còn biết nương và tin vào ai trong khi mỗi tu sĩ cát cứ một lãnh địa khi mà ảnh hưởng chính trị bị áp đặt, và không thiếu những lãnh địa đó không ăn nên làm ra, họ lại bán như bán căn nhà bình thường, họ bỏ luôn tôn tượng, pháp khí cho kẻ mua nhà muốn vứt đâu thì vứt. Chưa nói đến áp lực chính trị phải hô hào ủng hộ chống đối để có đất sống. Cộng đồng Phật giáo Việt Nam trên đất Mỹ hiện nay như chợ trời bày đủ loại mặt hàng, quần chúng bất lực nhắm mắt chọn lựa giữa hàng chục tổ chức đoàn thể giáo hội...mặc dù có trên 600 ngôi chùa Việt  khắp nước Mỹ.

 

Tóm lại, tuổi trẻ Việt Nam tại Âu Mỹ, tuy thành đạt trong xã hội, nhưng truyền thống tín ngưỡng tâm linh vẫn là điều ràng buộc theo huyết thống; sinh hoạt các chùa chưa đủ sức thuyết phục, các tu sĩ chưa thu hút được chúng qua giáo lý cao siêu. Phải mất nhiều năm nữa, lớp tu sĩ trẻ hấp thụ văn hóa và ngôn ngữ, tập quán bản địa mới giúp phát triển Phật giáo Việt Nam trên đất âu Mỹ, và đáp ứng thỏa mãn nhu cầu tâm linh của giới trẻ Việt Nam đang được cha mẹ ông bà cố duy trì truyền thống tộc Việt. Quý thầy Việt Nam trên đất Mỹ phải đối diện quá nhiều khó khăn, vừa áp lực chính trị, vừa áp lực kinh tế, vừa áp lực học vấn, vừa đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng tâm linh và khoa nghi tôn giáo cho quần chúng trong khi phải đáp ứng những điều kiện khắc khe của luật pháp Hoa Kỳ  về hội đoàn có lợi nhuận mà không xem tôn giáo là một mãng tách biệt như ở Việt Nam; Thế nhưng, quý thầy và quần chúng Phật tử vẫn luôn dành sự quan tâm cho đồng bào  trong nước để chia xẻ một phần vật chất có được sau những năm tháng vất vả trên xứ người. Nhìn những vật dụng của quý thầy ở Mỹ, trong đó  có cell phone, mới thấy giản dị so với các tu sĩ trong nước rất nhiều. Có những tu sĩ phải tìm việc làm để tự sống. Có đến mới thấy, hiểu, cảm thông cái khó của họ; những người còn sống trên quê hương, cứ nghĩ ai ở Mỹ cũng sung sướng giáu sang! Vật dụng chư Tăng còn như thế thì Phật tử tín đồ cũng không khá hơn

                                                                                     MINH MẪN

                                                                                        19/6/2011