Thứ Năm, 10 tháng 9, 2026

TƯƠNG LAI CHÙA VIỆT Ở MỸ.

 

 Như các chùa của Tàu có mặt tại Mỹ trước đây, rất sớm, khi phong trào hồ hởi có thể lên đến vài ngàn ngôi  mọc trên các tiểu bang Mỹ, rồi lần lượt rơi rụng chỉ còn vài chục. Duy nhất ngôi chùa Tây Lai Phật Quang Sơn của Hòa Thượng Tinh Vân ở Glenmark Dr. CA sừng sửng tọa lạc trên đồi cao là có tầm vóc và vị thế tồn tại lâu dài.

Hiện nay chưa có thống kê đầy đủ về chùa, am, nói đúng và chính xác hơn là nơi thờ tự của các tu sĩ Phật giáo Việt Nam tại Mỹ; bời vì nếu gọi là chùa như quen gọi ở quê nhà, thì nơi đây phần lớn chưa có một tầm vóc, kiểu dáng của những ngôi chùa mang màu sắc Á Đông, đó chỉ là những ngôi nhà dân, họ mua lại để thờ  và ở, quy tụ một ít tín đồ đến lễ bái. Những vị Tăng ở lâu năm, có tín đồ đông, mua được đất hoặc nhà lân cận để nới rộng khuôn viên, có chỗ đậu xe hơi vào ngày lễ lớn, từ đó tầm vóc ngôi chùa mới hình thành. Cali, Los, Houston, San jose, Sacramento, Virginia, Washington. DC…đều có chùa. Mỗi bang có luật riêng, trong đó nơi thờ tự tôn giáo đòi hỏi có parking như Washington DC, yêu cầu có từ 5 mẫu, nhiều cây xanh, và bảo đảm vệ sinh, an toàn cho người tới lui, thậm chí không được làm nhà ăn, nhà bếp, nhà ở  chung nơi thờ phượng. Ở Cali có vài chùa tạo được khuôn viên rộng thoáng, chư Tăng  ở những ngôi chùa như thế cũng đã lâu dài. Một số nơi thờ phượng có ít tín đồ, không thể trả tiền cho ngân hàng, đều bị trưng thu là chuyện thường ở Mỹ.

Sáng 23/7 đến thăm chùa H. N của thầy  P. T, trong lúc vừa trò chuyện, vừa  làm việc, vì chùa đang xây dựng, thầy cho biết rất nhiều về sự rạn nứt trong cộng đồng tu sĩ. Tuy lượng số tu sĩ ở đây không bao nhiêu, nhưng có quá nhiều giáo hội, ngay cả cái gọi là Giáo hội PGVNTN, cũng chia làm nhiều mãnh. Vì thế, thầy dùng từ châm biếm nói đến hai chữ Giáo hội: “Cáo Hội”. Thầy cho biết nhân cách của những vị nổi tiếng cũng quá nhiều tai tiếng. Có vị góp 700 ngàn USD để xin được chức phó Thủ Tướng của Nguyễn Hữu Chánh, khi tiền không còn để trả ngân hàng, dĩ nhiên chùa cũng theo mây khói, vào nhà băng. HT C.T chùa L. H tại Garden Grove, một thành phố phía Bắc quận Cam, tiểu bang Cali, (nơi đây dân số Việt Nam độ 36 ngàn người, chiếm khoản 22% dân số thành phố) thuộc Giáo Hội Phật Giáo Liên Châu, cho biết, nhân lễ Phật Đản 2555, khi đề cập đến tình hình biển Đông, một tu sĩ nói: “Thà nô lệ cho Tàu cho Nga còn hơn cho Mỹ…” nghĩa là thầy ngao ngán tinh thần chính trị của Tăng sĩ ngày nay tại hải ngoại. Một Pháp sư trưởng lão của một hệ phái tạo dựng nhiều Tịnh xá, không có người trông nom, không có tiền tháng cho điện nước, nợ nhà băng, rồi cũng của Thiên trả Địa.

Hầu hết chùa lớn chùa nhỏ chỉ có từ một đến hai vị cư ngụ. Nếu tính kinh tế, phải bỏ ra hàng trăm ngàn, có khi cả triệu Mỹ kim từ túi tín đồ để xây dựng cơ sở như thế, thuế má, chi phí mọi thứ có khi lên cả ngàn USD hàng tháng, lúc nào đó không trả nỗi sẽ mất trắng cơ sở; cho dù thanh toán sòng phẳng hàng tháng thì quả là quá phí phạm chỉ để cho một hai vị trú ngụ. Quần chúng cuối tuần mới đến chùa một lần, có nơi cũng chẳng ai vãng lai nếu nơi đó có nhiều tai tiếng và bị chụp mũ. Do sợ chụp mũ mà có vị phải chống Cộng hăng tiết để minh chứng  mình không là Cộng sản. Chống cộng trở thành cái  vỏ bọc thời trang để có thu nhập. Thật ra quý thầy không ai muốn dây dưa vào chính trị, mục đích chính là có thu nhập dồi dào.

Một số vị du học từ Ấn Độ, bay qua Mỹ rồi ở luôn, một số từ Việt Nam đi du lịch, thăm viếng…cũng  không chịu về lại. Họ tá túc tạm thời ngôi chùa quen, thời gian ngắn tung cánh chim tìm về tổ mới, có một ít tín đồ hỗ trợ mua nhà làm chùa. Khi đã có cơ sở, dĩ nhiên phải vay tiền ngân hàng để mua, họ vất vả để kiếm tiền thanh toán mọi chi phí nợ nần, không có thì giờ để học và tìm hiểu văn hóa sở tại. Một số  có trình độ  tại Việt Nam, qua Mỹ họ tiếp tục học hành để có bằng cấp, có kiến thức góp phần hoằng pháp cho tuổi trẻ tại Mỹ thì chưa tới vài vị. Phần lón không ai có chí học hỏi, qua Mỹ như là điều kiện để an phận và hưởng thụ.  Tín vụ ma chay như một sở trường, họ đáp ứng cho thế hệ lớn tuổi. Thế hệ nầy qua thời gian dần dà rơi rụng trong vài mươi năm nữa. Tiếp đến thế hệ sanh từ Việt Nam, lớn lên từ Mỹ, được đào tạo văn hóa Mỹ, còn lưu lại một ít tín ngưỡng của cha mẹ ông bà, họ đến chùa như thói quen đề làm vui lòng người lớn; việc nghi lễ đối với thế hệ nầy không cần thiết, tìm hiểu giáo lý cũng không là một nhu cầu. Nếu có, họ cần nghe chư Tăng giảng dạy theo mô thức khoa học hơn là đức tin. Đến thế hệ thứ ba sanh tại Mỹ, lớn lên tại Mỹ, được giáo dục tại Mỹ,  trở thành Mỹ rặc, họ chỉ khác màu da; Họ không biết tiếng Việt, chính vì thế họ cảm thấy lạt lẽo khi đến chùa mà chỉ nghe  tiếng nói thuần Việt của các sư. Trình độ, ngôn ngữ của các sư không thích hợp với thế hệ trẻ như thế. Trong khi đó, chưa có một chú tiểu nào xuất gia tại Mỹ, có nghĩa là lớp kế thừa thuần Mỹ chưa có dấu hiệu xuất hiện, tre sẽ già mà măng chưa mọc. Chư Tăng được bảo lãnh qua cũng tiếp tục công việc ma chay đám cúng chứ không có khả năng ngoại ngữ để truyền đạt giáo lý trên đất nước Âu Mỹ. Sở dĩ Đức Đạt Lai Lạt Ma và Thiền sư Nhất Hạnh thành công là vì truyền đạt giáo lý bằng ngôn ngữ sở tại.

Với số lượng hàng ngàn ngôi chùa trên khắp nước Mỹ bao nhiêu tốn kém chỉ để phục vụ lớp già và sắp già, khi thế hệ nầy không còn thì chùa tồn tại như một chứng tích lỗi thời? Chưa nói đến số người lớn tuổi không còn tự phục vụ, tự lái xe đến chùa, con cái bận công ăn việc làm bù đầu, mức thu nhập của chùa cũng vơi dần, ngoài việc lưu hủ cốt và thờ vong; Bấy giờ chùa chỉ là nơi ký gủi  người quá cố, phục vụ cho kẻ chết chứ không còn là cơ sở hoằng truyền chánh pháp. Trong khi đó, tại Việt Nam, hệ phái Tin Lành truyền bá ồ ạt, chỉ cần một đêm tới sáng là cả một vùng theo Tin Lành, nhất là vùng cao và thôn quê, họ không cần xây dựng nhà thờ, nhà nguyện; hội Thánh là trong tâm mỗi tín đồ, họ tụ tập luân phiên mỗi nhà tín hữu để cầu nguyện và phụng sự. Thay vì móc túi tín đồ xây dựng cơ sở thờ tự, họ chu cấp cho tín hữu cuộc sống. Họ nhiệt tâm trong việc ma chay mà không hề nêu giá  làm tiền khi tang gia bối rối.Tại sao Tin Lành thành công trong việc truyền bá tín ngưỡng? Họ không câu nệ hình thức, không cơ sở, không chức sắc, không hưởng thụ và luôn có đức hy sinh, chịu khó. Họ không cần xin xăm bói quẻ xử dụng vàng mã để làm phương tiện hướng dẫn quần chúng có khi những phương tiện đó làm mê hoặc quần chúng như một số chùa. Ngược lại, chùa càng phát triển càng làm mất niềm tin quần chúng vì nhân cách của chư Tăng. Tại hải ngoại, có những tín đồ ngoan đạo, cũng phải dán vào cửa văn phòng làm việc của mình tấm hình của  vị phạm giới với dòng chữ MA TĂNG, có những người quá bất mãn, họ lẳng lặng đầu thú với ngoại giáo như một lối thoát của niềm tin và sự thất vọng. Với số lượng cơ sở vật chất của Phật giáo Việt Nam tại xứ người, không phục vụ cho xã hội âu Mỹ về Đạo lý trí tuệ mà chỉ là chứng tích tỵ nạn và nơi an dưỡng hưởng thụ cho những ai không có chí cầu tiến, dĩ nhiên, nhàn cư vi bất thiện, từ đó tệ nạn phát sanh…và, sư Việt sống với cộng đồng người Việt như người Hoa ở Chợ Lớn, Việt Nam cũng vậy, mỗi ngày mỗi thu hẹp sinh hoạt khi những thế hệ kế tiếp thuần là Mỹ hóa. Các chùa Tàu ở Mỹ hậu bán thế kỷ 20 đến thập niên đầu kỷ nguyên 21 bị thu hẹp thế nào thì chùa Việt Nam  rồi đây cũng cùng chung số phận. Hiện nay, cộng đồng cư dân Việt Nam , Triều Tiên, Tàu là một trong số gốc chấu Á quy tụ nhiều tại  Cali, Texas, San jose, được xem là Sài gòn nhỏ. Các sư Việt chưa có lối thoát cho tương lai, cứ nghĩ nơi nào có người Việt là chùa có thể tồn tại. Nếu chiết tính kỷ, 36 ngàn người Việt hiện nay ở Cali, chia đều  cho Tin Lành , Vatican, Phật giáo, chưa nói đến các giáo phái khác, thì tín đồ Đạo Phật cũng chỉ 12 ngàn. Trong số 12 ngàn chia làm ba, một là tuổi trẻ, hai là tuổi trung niên và ba là tuổi già thì tuổi già chỉ còn bốn ngàn người cộng thêm phân nửa tuổi trung niên có tâm đạo  cũng chỉ được sáu ngàn người đến chùa. Tuổi trẻ ở Mỹ thích đi chùa là chuyện hiếm hoi. Số bốn ngàn cho tuổi già, một ít không tự lái xe đi chùa được, phải nhờ con cháu. Suốt tuần cày mệt mỏi, con cháu cần nghỉ ngơi, làm vệ sinh nhà cửa và đi chợ mua thực phẩm cho suốt một tuần. Như thế số người  chia đều cho hàng trăm ngôi chùa không phải là lớn, tiền của vật chất đổ vào việc xây dựng cơ sở đồ sộ như thế để làm gì khi mà tâm linh, sự tu tập và niềm khát vọng  về giáo lý của quần chúng bị bỏ trống; chính vì quần chúng và chư Tăng không được trang bị nội lực mà chỉ chạy theo nhu cầu vật chất, liệu Phật giáo có bị biến dạng thành một loại doanh nghiệp mới? nếu chư Tăng không đủ khả năng trang bị cho mình một kiến thức thời đại để hội nhập xã hội văn minh, tự mình đào thải mình, an phận với ngôi chùa  được thu nhập lợi tức từ  việc thờ linh, lưu cốt, xã hội âu Mỹ sẽ  hiểu Phật giáo là gì, chưa nói đến quần chúng Mỹ đang có một tôn giáo truyền thống, họ sẽ xem thường các sư và hình ảnh đức Phật xa lạ. Giới trí âu Mỹ thức hiểu về Đạo Phật qua tư tưởng triết học và thiền học, họ cũng không thể đến với chùa và các sư Việt Nam để lễ lạy cúng kiến.

Tổ chức Gia Đình Phật Tử, tuy là một đoàn thể trẻ của con em người Việt, nhưng chúng cũng không mấy hứng thú với sự diễn dịch giáo lý mang tính huyền thoại và giáo án có từ  60 năm qua không được cập nhật, làm sao hấp dẫn các em bằng những thú vui cám dỗ của thời đại @? Ngày nay, cuộc sống xây dựng trên vật chất, nhưng vật chất không giúp xã hội hạnh phúc thật sự, vì thế tội phạm phát sanh. Đạo Phật xuất hiện mục đích giúp con người sống có hạnh phúc chứ không thể tạo thêm sự bất mãn thất vọng cho xã hội. Nếu chư Tăng chưa đủ khả năng chuyển hóa tâm linh cho quần chúng, ít ra cũng phải góp phần an ủi cho cộng đồng người Việt có một chỗ nương tựa tinh thần. Chùa lớn đất rộng  tại sao chúng ta không lập nhà dưỡng lão cho các cụ, vừa gần chùa nghe kinh, vừa có tình người và con cháu viếng thăm tiện hơn đưa vào nhà dưỡng lão? Các cụ sẽ không còn cảm thấy cô đơn lạc lỏng giữa bốn vách tường và người xa lạ không cùng ngôn ngữ. Mở lớp dạy Việt ngữ, tổ chức các show bảo tồn văn hóa  dân tộc và nhiều việc lợi ích cho cộng đồng hơn là an hưởng một cách thụ động.

Chư Tăng sống có mục đích công ích thì quần chúng sẽ không xa rời đạo  Phật; chư Tăng và quần chúng đều hướng vào tâm linh và công ích xã hội thì tình thương sẽ phát triển, lòng đố kỵ chống báng nhau, chụp mũ nhau sẽ không còn; Phật giáo Việt Nam tại xứ người sẽ có bộ mặt tươi nhuận hơn, đi vào lòng xã hội dễ hơn và sự tồn tại của chùa Việt Nam mới có ý nghĩa hơn.

Chưa phải muộn để chư Tăng Việt Nam và các ngôi chùa Việt Nam trên đất Mỹ dọn cho mình con đường hội nhập và tồn tại. Các vị tiền nhiệm như cố Hòa Thượng Thiên Ân, Thiền sư Nhất Hạnh đã mở đường, chúng ta chỉ tiếp nối và khai phóng cho quang đảng, đừng để bị bít lối mà mang tội với chư Phật chư Tổ.

Có lẽ quần chúng Phật tử Việt kiều cũng chỉ mong ước có thế thôi, chư Tăng sẽ không còn nhìn nhau bằng sự ngờ vực, hố ngăn cách tự nó được  lấp kín. Hy vọng chùa Việt sẽ là cơ sở tín ngưỡng tâm linh và công ích xã hội nhiều ý nghĩa dưới mắt người dân Mỹ hiện nay.

 

                                                                          MINH MẪN

                                                                             23/7/2011

PHẬT TỬ VIỆT KIỀU VỚI SỰ ƯỚC VỌNG.

  

Mùa hè nước Mỹ nóng không thua ở Việt Nam; vùng Hoa Thịnh Đốn đã như thế thì các bang gần sa mạc sẽ như lò bánh mì thôi. Nhưng ít ai phải chịu cái nóng như thế, vì trong nhà , máy lạnh 24/24, bước ra ngoài là lên xe cũng có máy điều hòa. Cộng đồng kiều bào không nóng bởi khí hậu nhưng nóng bởi nghiệp vận đất nước và vận mệnh Phật giáo.

 

Tin tức hàng giờ về tình hình biển Đông, về cuộc sống của ngư dân bị đe dọa, về tính ngạo mạng của Trung Quốc, về tính nhu mỳ tinh tế của  lãnh đạo Việt Nam, về xáo trộn  vô đạo đức của xã hội…Cộng đồng Việt Kiều tuy sống trên xứ hòa bình, nhưng luôn nóng lòng hướng về quê mẹ. Bên cạnh đó, sinh hoạt tín ngưỡng  trên đất khách cũng làm bức xúc không nhỏ cho số phận của một tôn giáo truyền thống VIỆT NAM  đang lan tỏa trên đất cờ Hoa.   

Truyền thống tín ngưỡng ăn sâu vào máu huyết của người con Việt.Từ thưở khai hoang miền Nam, quần chúng đi đến đâu, tự động lập chùa đến đó. Tuy miền Nam Việt Nam trên 300 năm tuổi, đã có trên 15 ngàn ngôi chùa. Miền cao nguyên đất đỏ thưở nhà Ngô di dân lập ấp, đa phần người miền Trung tay lấm chân bùn, cũng tạo dựng những ngôi Tam Bảo thô sơ để thờ phượng mặc dù chưa có tu sĩ; họ tự chăm sóc và cùng nhau tu tập. Như thế cũng không lấy làm lạ khi những người dân,  lập cư trên đất âu Mỹ, họ góp công tích của để xây dựng cơ sở thờ tự. Có những nơi chưa đáp ứng đủ điều kiện theo luật pháp Hoa Kỳ, họ tạm thời mua nhà dân để làm nơi thờ phượng.Có những chùa như Từ Liên, Atlanta, tuy diện tích 5 mẫu, xây dựng chưa có đủ khoảnh đất đậu nhiều  xe hơi khi có lễ lộc, cũng chưa được sinh hoạt công cộng.  Điều nổi bật số di dân người Việt theo đạo Phật, không những giới bình dân, mà ngay cả giới trí thức được đào tạo từ nền giáo dục của Mỹ  như Bác sĩ, kỷ sư, chuyên gia…và một số sĩ quan thời Việt Nam Cọng Hòa, không xuất gia thì cũng là những tín đồ tại gia ngoan đạo. Những thành phần nầy tuổi ngoài 60, một khi họ hướng về  Phật, họ gạt bỏ mọi tị hiềm chính trị, mọi bon chen thế gian để sống cuộc đời mẫu mực của một Phật tử tại gia. Có những em sinh viên, thanh niên du học, họ cũng tìm đến chùa cách xa hàng trăm km vào ngày nghỉ hoặc cuối tuần. Họ tự tìm học giáo lý qua website, băng dĩa và sách vở. Những thời khóa tu tập và các buổi giảng do các tu sĩ được thỉnh mời từ các bang xa xôi, họ tham gia nhiệt tình. Trên đất nước rộng mênh mông, người ở gần chùa cũng phải 15km, thường thì rất xa. Có những Phật tử bên Canada hoặc Úc, cũng bay qua tham dự các khóa tu do các danh Tăng hướng dẫn. Thường thì họ tham dự để nhìn đời sống thanh tịnh của Tăng sĩ, học hỏi thân giáo hơn là kiến thức Phật học. Tâm lý chung của các Kiều bào – xa quê hương, sau những ngày giờ chật vật với công việc, trống vắng lúc con cái không sống chung với cha mẹ khi đã tự lập, họ quá mệt mỏi với mọi sự quá khích, và những mất mát đau thương trong quá khứ như giấc mộng kinh hoàng, họ học thuộc bài học ngàn đời về sự vô thường của kiếp sống, họ quay về chùa như quay lại với niềm tin  tiên tổ mong có điểm tựa và an ủi tâm linh, vì thế Tam Bảo là mỏ neo níu kéo họ giữa cuộc sống thực dụng của xã hội mà họ cảm nhận thiếu tình liên đới ruột thịt.

Số tu sĩ hiện diện chưa đáp ứng đủ với  sự mong mỏi của quần chúng, và  số lượng Tăng sĩ trên xứ người cũng thiếu nhất quán trên tinh thần Lục Hòa của đạo Phật. Nhiều khuynh hướng khác nhau do tác động thời cuộc, dẫn đến nhiều tổ chức Giáo hội khác nhau ra đời, vì thế Tăng đoàn Phật giáo hải ngoại trở thành những mãnh vỡ phản ảnh những bộ mặt dị dạng của Phật giáo Việt Nam. Trong khi các giáo đường Kito vắng bóng màu cờ chế độ cũ theo lịnh Vatican thì một số chùa Việt Nam vẫn còn bị áp lực một biểu tượng quá khứ đó đè nặng trong sinh hoạt cộng đồng. Quần chúng quá ngán ngẫm, chính vì thế họ trân quý sự tu tập và thuần túy tín ngưỡng tâm linh như một gia bảo của đời mình.

Một số tu sĩ trẻ bị cuốn hút bởi vật chất, một số ít danh Tăng hấp dẫn khá đông quần chúng bởi nhiều thủ thuật khác nhau do khéo che đậy được những vi tế trong Danh-lợi-tình. Có những vị hướng dẫn giáo lý chưa đủ nghĩa để tương thích với căn cơ thính chúng, cũng có vị đem cả lý số dịch học, địa sinh học của Trung Quốc vào dạy song hành với việc tu tập. Dĩ nhiên đó  chỉ kích thich tính tò mò  của đại chúng chứ không thể tương thích với giáo lý giải thoát của đạo Phật, Phong thủy, bói toán là  thế gian pháp làm sao giúp quần chúng cần tu học xuất thế gian pháp? Chẳng những thế còn có thể làm chướng ngại việc tu tập. Những khóa tu học nơi giảng đường phải mướn từ các trường học hoặc các điểm công cộng, vì các chùa không đủ chỗ, và vị giảng sư như thế không phải cư dân địa phương mà họ đến từ các bang xa xôi khác, họ có đạo tràng, có máy móc quay phim, bán băng dĩa đi theo phục vụ như một dịch vụ doanh nghiệp. Có giảng sư xuất thân từ tông phái Đài Loan hoặc được tu học bởi các chân sư Tàu, khi giảng cho người Việt, mặc dù họ là người Việt, họ vẫn buộc thính chúng tụng đọc tiếng Tàu như họ, trong khi trên màn hình có cả âm Tàu, tiếng Anh và tiếng Việt. Một số hãnh diện thích thú khi tụng đọc tiếng nước ngoài, một số vị cao tuổi họ chỉ quen với kinh chữ Việt. có người không thích như thế. Trong thời khóa tu có cả hướng dẫn thao tác thể dục lấy từ trang mạng. Có người nói đùa – đến để nghe pháp tu học chứ đâu phải để tập thể dục, các khóa huấn luyện thể dục  ngoài đời còn chuyên  nghiệp và đầy đủ hơn thế, cần gì phải đến đây. Nếu học phong thủy địa lý thì tìm thầy chuyên môn mà học, chuyên nghiệp hơn kiểu qua loa không đâu vào đâu như vậy. Dạy tu học Phật mà xen tạp đủ loại pháp thế gian như cơm chiên thập cẩm như thế chiếm hết thời gian, làm giảm mục đích chính việc tu tập. Tìm những vị giảng chuyên sâu vào giáo lý quả là rất hiếm. Những vị chân tu thật học quá ít trong khi quần chúng tín đồ khát khao giáo pháp. Kinh tế thị trường và tiếp thị len sâu vào Phật giáo qua ngõ hoằng pháp. Chính vì thế, cộng đồng kiều bào mong có một tổ chức thống nhất  Phật giáo để việc tu học không bị pha tạp. Việc nầy không bao giờ có, kể cả thời cực thịnh của Phật giáo, vẫn chưa có một sinh hoạt và tu học thống nhất. Phật tử trong nước ngao ngán tu sĩ thế nào thì ở hải ngoại, phần lớn tu sĩ cũng tạo sự thất vọng trước khát vọng của họ như thế ấy. Một ước  vọng duy nhất của quần chúng hải ngoại là cần một tu sĩ chân chính, không bị vật dục cám dỗ, có thể không cần một Tăng sĩ có kiến thức uyên bác, không nhất thiết phải một kinh sư giỏi nghi lễ, cũng không hẳn phải là một tu sĩ giảng hay có sức ru ngủ; hình ảnh một bậc chân tu không nặng tiền của, không sống xa hoa, không tiền hô hậu ủng, không tư hữu quả là không tưởng đối với họ. Nói thế không có nghĩa là không có những bậc chân tu, vì họ chưa đủ duyên gặp thôi. Một số quần chúng thích âm thinh sắc tướng, chư Tăng đủ để đáp ứng, thích giảng sư hoa hòe hoa sói nói đùa mua vui mà không đi sâu vào giáo lý, cũng không thiếu. Muốn một giảng sư uyên bác kiến thức lại càng không khó. Những hình thái như thế, tín đồ hiểu đạo và chuyên hành trì công phu họ không cần thiết. Nhu cầu của họ cần một Tăng tướng nơi thân giáo chứ không chỉ ở khẩu giáo. Rất may trên đất khách chưa xuất hiện dạng thầy cúng với giá cả  không thương lượng. Trong xã hội Việt Nam, kinh tế thị trường có thể du di- thuận mua vừa bán, cò kè bớt một thêm hai, nhưng ma chay theo Ngọ thì không có vấn đề kèo nèo thêm bớt.

Quần chúng cũng xót xa khi thấy các sư Việt Nam sống xa hoa chung quanh quần chúng còn nghèo đói. Người không làm ra của cải mà hưởng thụ trên những của cải sang trọng. Trong khi đó, trách nhiệm hoằng truyền cho tín đồ đói pháp nơi vùng xa, vùng sâu lại không hề quan tâm, chuyện đó nhường cho ngoại giáo thực hiện. Chùa đua nhau phát triển như loại hình kinh doanh thời đại, đó không phải là tín hiệu một Phật giáo hưng thịnh, bởi lẽ tư chất của tu sĩ đang thiếu một nội lực cần thiết. Nếu một tu sĩ không có nội lực mà chỉ phát triển ngoại hình , tu sĩ sẽ là một trong những giai cấp thượng tầng của xã hội mà lịch sử tôn giáo thế giới đã từng kinh qua, như Bà La Môn từng là giai cấp giáo sĩ liên kết chặt chẻ với giới cầm quyền.

Quần chúng tín đồ tuy than vãn mà vẫn cứ nhắm mắt cung phụng những vị mà họ có cảm tình. Than trách  giai cấp tu sĩ mà lỗi phần lớn chính phát sanh từ tín đồ mù quáng. Những thập niên 1930 khi cư sĩ đứng ra nổ lực chấn  hưng Phật giáo để rồi sản sanh hàng loạt Tăng tài cung ứng cho giáo hội sau khi đất nước chia hai. Chính những Tăng tài đó đã đưa Phật giáo thoát khỏi ách nạn thời đại 1963. Sau 1975, các bậc cao đức lần lượt về với quá khứ, để lại một khoản trống quá lớn cho Phật giáo Việt Nam, Khi các trường Phật học được phục hồi, học viện Phật giáo đã cung ứng cho Giáo hội một số rất ít những Tăng Tài giữa hàng ngàn Tăng ni sinh tốt nghiệp và hàng trăm tu sĩ xuất dương du học với một mớ bằng cấp cao ngất. Có lẽ lúc nầy cư sĩ phải tiếp tục gánh lấy trách nhiệm cùng với chư Tăng chấn hưng đạo Phật. Tín đồ không chỉ là người hộ pháp cung ứng vật chất cho Tam bảo, tín đồ vẫn là thành viên của Tăng già trong tứ chúng của đạo Phật, vì thế, Phật giáo hưng suy, tín đồ có một phần trách nhiệm. Việc cung ứng vật chất quyết định việc nên hư của các tu sĩ trẻ. Một tu sĩ  vào đời được quần chúng cung phụng sùng bái như Thánh sống, họ sống trên của cải không do mồ hôi công sức họ làm ra thì tuổi non trẻ đó chưa biết trân quý tấm lòng của quần chúng và tương lai của một Phật giáo, vì họ chưa ý thức được trách nhiệm vô hình của một sứ giả Như Lai. Những tín đồ tại gia, trong nước cũng như ngoài nước, bản thân không dám tiêu xài, vợ chồng con cái cũng dè xẻng từng đồng để cúng dường chư Tăng; có người ở khu nhà ổ chuột, lao động chân tay, thế mà việc tiêu xài của một số  Tăng sĩ, từ vật dụng nhỏ như cell phone, thuốc lá đến bất động sản, đều là những loại cao cấp trong xã hội. Một hành khất không dám ngữa tay xin tiền một tu sĩ ngồi trên xe đời mới lúc ngừng lại ngã tư. Vậy Tăng sĩ ngày nay là thành phần nào trong xã hội? Hình ảnh một thanh niên ăn chơi sa đọa, hưởng thụ phung phí trong một gia đình rách nát, nói lên tinh thần vô trách nhiệm với gia phong, một Tăng sĩ cũng thế, do gia đình dung dưỡng quá mức thì tín đồ cũng quá mức cung phụng mà không cần biết tu sĩ đó xử dụng đồng tiền vào việc gì cho Tam bảo.

Tệ nạn phần lớn ở đất Mỹ, tu sĩ nặng tâm vì tiền, vì thế bằng mọi cách phải có tiền, muốn thế, phải lập chùa, một khi có chùa là có bao nhiêu nhu cầu và áp lực khác về sinh hoạt xã hội và nghĩa vụ thuế má. Cái vòng lẩn quấn cuốn hút biến tu sĩ  thành nhữung nhà sáng tạo kinh doanh không vốn. Thế là thủ thuật hoằng pháp, gây quỷ dưới mọi hìuh thức, khai thác tâm lý quần chúng một cách tinh vi mà ít ai biết. Giới trí thức  Phật giáo luôn quan tâm đến  nghiệp vận tôn giáo mình trên quê hương cũng như nơi đất khách. Họ vẫn ngồi lại mỗi khi có dịp, nỗi ưu tư được nêu ra nhưng chưa bao giờ có đáp án khả dĩ, vì muốn thanh lọc, canh tân trong giới Tăng sĩ, cần phải có một vị đủ uy đức; Tại Âu Mỹ, mỗi vị thượng thủ đều cát cứ một tổ chức, một giáo hội với những danh xưng khác nhau, không ai phục tùng ai. Trong nước, tuy có hệ thống Giáo hội duy nhất, những chức sắc càng cao thì uy tín càng thấp bởi thân giáo bất cập với ngôn hành. Tăng ni và quần chúng cũng thiếu niềm tin. Chính vì thế, phương cách canh tân nội tình Phật giáo của 1930 không thể áp dụng trong thời đại vật chất quyết định xã hội ngày nay. Cho dù kinh tế đại chúng của xã hội tư bản hay kinh tế thị trường dịnh hướng theo xã hội chủ nghĩa cũng đều là cơn lốc cuốn hút mọi người con Phật chưa biết dừng lại. Tinh thần “Tri túc” của Phật giáo, các tu sĩ ngày nay chưa biết đâu là đủ thì “Tam thường bất túc” của một hành giả khó mà thực hiện.

Phát triển xã hội, phát triển tôn giáo…y cứ trên vật chất, lấy kinh tế làm thước đo thì việc chấn chỉnh Tăng thân cũng phải từ phương tiện vật chất song song với kế hoạch giáo dục. Nội tình giáo hội áp dụng giáo chế đối với tu sĩ thì hàng ngũ cư sĩ cũng phải biết điều tiết hợp lý trong việc cúng dường, bởi lẽ mọi sự cúng dường không phải đều là hợp lý khi mà người xử dụng đồng tiền không đem lại hiệu quả cho Tam bảo và giúp tu sĩ có một nhân cách xứng đáng. Xã hội Cọng sản xa xưa quản lý bao tử quần chúng để điều hành đất nước thì việc quản lý kinh tế chặt chẻ trong việc cung ứng cho tu sĩ cũng giúp cho họ biết xử dụng đồng tiền mồ hôi nước mắt của tín đồ, một cách hợp lý. Nội quy Làng Mai áp dụng cho tăng thân cũng như các cộng đồng tu viện chân chánh của Phật giáo trong một số quốc gia đều hạn chế việc tư hữu, điều nầy giúp cho hành giả  không vướng bận vật chất, chuyên tâm vào việc tu tập hiệu quả hơn. Luật Phật cũng không cho tu sĩ chất chứa tiền của ngoài “tam y nhất bát”. Khi có tư hữu là lòng tham phát sanh, từ đó bản ngã cũng tồn tại, cho dù vi tế. Một tu sĩ thuộc hàng đại gia thì việc tiếp xúc với quần chúng cũng khó mà bình đẳng, kẻ nghèo khốn khó mà được thầy lắng nghe. Ngay cả một tổ chức nghiêm túc như Kito giáo Vatican, một vị thụ phong Linh mục đều có lời khấn về đức “ nghèo khó” thế mà các  Linh mục Triều ở các giáo xứ “khó mà nghèo”, vậy một tổ chức lỏng lẽo như Phật giáo cũng không thể đòi hỏi tu sĩ  tri túc nếu bản thân vị đó không tự giác. Tuy nhiên, cũng không thiếu nhiều bậc chuyên tu ẩn thân nơi rừng sâu núi thẳm và một số ở thị thành, vẫn giữ được đời sống thanh bần.

Tín đồ là người hộ trì Phật pháp, phải cung dưỡng Tăng ni, nhưng cung dưỡng thế nào để tu sĩ không hư hỏng, biết rằng bản chất hư nên cũng do nhân thân của tu sĩ, nhưng ngoại lực cũng góp phần quan trọng. Nếu ngoại hộ không tạo duyên thì cái nhân xấu cũng khó phát triển. Cái ưu tư cho tiền đồ Phật pháp ngày nay của phần lớn giới Trí thức Phật tử không chỉ than vãn với nhau mà phải gúp cho quần chúng bình dân có ý thức về việc hộ trì Tam bảo, trong đó vật chất là nền tảng phát triển mà cũng là nên tảng để hư hoại Phật pháp. Tại sao  chư Tăng không nhập chúng mà mỗi thầy phải lập một ngôi chùa riêng biệt? Tiền của bá tánh bị phân tán mỏng như thế thay vì có thể đào tạo một tu sĩ  hoàn chỉnh cả mặt kiến thức lẫn đạo đức hầu củng cố nội lức cho  tiền đồ Phật giáo! Quyết định chỉnh đốn Phật giáo Việt Nam  trong cũng như ngoài nước, cư sĩ có một ý thức đóng góp rất quan trọng. Đó là lối thoát hiện nay.

                                                                 MINH MAN

 

                                                                            

                                                     

PHẬT GIÁO VIỆT NAM VÀ TUỔI TRẺ ÂU MỸ

 

Hiện nay, người Việt ở hải ngoại đã qua ba thế hệ, họ sớm hòa nhập với xã hội công nghiệp, nhất là tuổi trẻ thuộc thế hệ thứ ba. Vấn đề tôn giáo đối với thế hệ nầy gần giống như cư dân bản địa, còn chút gì chăng là do tính huyết thống của ông bà cha mẹ lưu truyền.

 

Năm 1975 và tiếp theo những năm sau đó, hàng loạt người bỏ nước ra đi với những phương tiện , hình thức và lý do khác nhau. Dù hòa nhập với xã hội mới, thế hệ đầu tiên vẫn không tránh khỏi khó khăn về ngôn ngữ, tập quán; chính vì thế mà trong lòng luôn hướng về quê hương, nơi còn những thân bằng quyền thuộc sống trong nghèo khó. Trên đất khách tha phương, họ cật lực lao động để ổn định cuộc sống và có dư để giúp ruột thịt quê nhà. Những năm sau đó họ đóng góp công tác từ thiện cho đồng bào các vùng sâu vùng xa thiếu tiện nghi vật chất; chính vì thế mà giếng đóng, cầu đường, học bổng, trường lớp vùng sâu vùng xa được  họ dang tay thực hiện.  Ngoài số ít có căn bản học vị và năng lực chuyên môn, đã thành đạt trên đất khách, đa phần còn lại là những người lớn tuổi, lao động phổ thông, chính vì thế mà mức thu nhập ngoài tầm kiểm soát không phải đóng thuế. Những người con theo họ từ Việt Nam hoặc ra đời tại Âu Mỹ, được tiếp cận văn hóa và nếp sinh hoạt xứ người, tuổi trẻ ấy dễ tiếp thu và nhanh chóng hòa nhập; tuy nhiên vẫn còn 50% bảo lưu truyền thống quê hương ông bà, vì thế giữ được nếp sông cổ truyền. Thế hệ thứ ba được ra đời, hoàn toàn sinh ra, lớn lên trên đất người, cha mẹ họ đã có 50% chịu ảnh hưởng tập quán sinh hoạt và giáo dục văn hóa bản địa, vì thế, lớp trẻ kế thừa hoàn toàn 90% được báo động là sẽ mất gốc Việt Nam, ít nói được tiếng Việt. Thế hệ trẻ ít có điều kiện sinh hoạt chung với ông bà cha mẹ. Các thành viên trong gia đình ít đoàn tụ với nhau trong mâm cơm hàng ngày, vì công việc đòi hỏi họ thường xuyên ít gặp nhau. Tuy nhiên, thế hệ trẻ nầy dễ thành đạt do được thừa hưởng tính thông minh và sự cần cù của một Việt tộc khi được giáo dục đào tạo theo một chương trình văn minh tiến bộ của Âu Mỹ. Chính vì thế, không ít trẻ trở thành ngôi sao trên nhiều lãnh vực như toán học, khoa học, y học…

 

Khi con cháu thành đạt làm đẹp mặt gia phong, ông bà đó, cha mẹ đó tạ ơn Trời Phật bằng cách đi chùa để cầu nguyện. Ngoài ra, những thế hệ thứ nhất và thứ hai, dù chưa có cháu con thành đạt, họ cũng có nhu cầu về tìn ngưỡng sau những ngày làm việc, để  bớt trống vắng và nhớ quê. Họ gặp nhau cuối tuần dưới mái chùa để tìm thấy chút an ủi với đồng hương. Có nhiều chùa do Phật tử đóng góp xây dựng rồi thỉnh thầy về trụ trì. Với diện tích quá rộng lớn của nước Mỹ, dân số Việt kiều sống rãi rác khắp nơi, tu sĩ không đủ đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, vì vậy có những cuộc bảo lãnh từ Việt Nam qua hoặc các quốc gia khác vào. Cũng không hiếm những tu sĩ đi với diện thăm viếng, diễn giảng rồi ở lại luôn. Những trường hợp nầy, chùa trở thành nơi nương náu ban đầu để những tu sĩ trẻ tràn đầy ham muốn mọc cánh tung bay khi được một số Phật tử quý mến, yểm trợ có một cơ ngơi riêng biệt. Từ đây phát sanh lắm tệ nạn lạm dụng và chạy theo nguồn lợi của nếp sống thực dụng. Đó là trường hợp cá lẻ, phần lớn các tu sĩ trẻ tiếp thu văn hóa mới, có tầm nhìn và cách sống cởi mở hơn, vì thế tâm huyết hoằng pháp cho  quần chúng người Việt có định hướng mà không còn bị áp lực chính kiến như quý thầy trước kia vào những năm trước. Tuy áp lực chính trị do một số phẩn uất, nhưng hầu hết các tu sĩ  Phật giáo trẻ hiện nay trên đất Mỹ có khuynh hướng tu tập nghiêm túc hơn và chí nguyện hoằng truyền Phật Pháp tốt hơn.

 

Phật giáo du nhập vào đất Mỹ thông qua giới trí thức và các Thiền sư vào thế kỷ XX. Riêng  người Việt đầu tiên có HT Thích Thiên Ân là người đem Phật giáo vào giới trí thức Âu Mỹ. Ngài thành lập ngôi chùa Việt Nam rất sớm vào năm 1970 tại California. Mặc dù Đài Loan, Triều Tiên đều có mặt tại Mỹ trước lâu, họ có trên ngàn ngôi chùa, nhưng không mấy hiệu quả trong việc hoằng pháp, vì vậy chỉ còn hơn vài trăm tự viện hiện nay, vì thế sinh hoạt không ảnh hưởng rộng đến xã hội. Đến khi Thiền sư T. Nhất Hạnh thành lập Làng Mai, tầm sinh hoạt của Tăng Thân bắt đầu lan tỏa khắp châu Mỹ, và nhất là đợt di dân tị nạn của người Việt, nhu cầu tôn giáo và tín ngưỡng đòi hỏi hệ thống sinh hoạt thiền môn để giải quyết khát khao tín ngưỡng của những kẻ xa quê, đồng thời ma chay cho người quá cố theo tập tục cổ truyền cũng trở nên bức thiết. Chính điều nầy cần các sư tụng niệm  hơn là giảng dạy và tu tập.

Một khi các tu sĩ trẻ thành lập cơ sở thờ tự riêng, phải đối diện với bao khó khăn chứ không dễ dàng như quê nhà họ tưởng. Phần lớn họ mua nhà để thờ phượng như một tư gia. Ít có chùa xử dụng chuông trống như ở Việt Nam, vì bị hạn chế bởi luật pháp bảo vệ yêu cầu của cư dân bản địa, những chùa như  Trúc Lâm ở Atlanta, Georgia, xa cách nhà dân nên có thể xử dụng  chuông trống. Tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, chùa Hoa Nghiêm ở VIRGINIA, đường Backlick. Fort Belvoir phải mất 5 năm xin phép xây dựng chính thức là một ngôi chùa. Do các Phật tử trí thức đứng ra thành lập. Một chùa hội như thế mà còn phải đối mặt với pháp lý và công nợ thì cá nhân một tu sĩ phải xoay xở để đóng thuế và bao nhiêu loại khoản phí khác, quả là một khó khăn, như vậy thì giờ đâu để tu học hoặc thăng tiến kiến thức học vị! Ngay cả nhà thờ là cơ sở tín ngưỡng cổ truyền bản địa, còn phải đóng cửa và chuyển nhượng vì không có tín đồ, không có thu nhập để đóng thuế. Các tu sĩ đến Mỹ, một là trụ trì, hai là theo đuổi việc học, ba là diễn giảng, tu tập và nghiên cứu. Trụ trì gặp phải nhiêu khê như đã nói, việc hỷ cúng từ quần chúng có hạn vì mức sinh hoạt bản xứ quá cao, thu nhập phổ thông vừa đủ sau khi trừ bao nhiêu khoản phí như thuế má, bảo hiểm, tiết kiệm… Vả lại, với số tiền vài ngàn cúng cho chùa tại Mỹ, chả thấm vào đâu, cũng với số tiền đó đem về Việt Nam giá trị sẽ lớn gấp bội, vì thế họ dồn về V.N để cúng và là từ thiện. Các vị lớn tuổi mất sức lao động, tiền do con cháu chu cấp hạn chế. Tuổi còn đi làm, có thể tìm thêm việc phụ thì phải đóng thuế thu nhập. Cuối tuần họ đến chùa như một lối thoát ức chế tâm lý và nhu cầu tín ngưỡng. Các tu sĩ phải thông thạo khoa nghi để có thu nhập và gần gủi cộng đồng. Các chùa hội lập ra, mong có quần chúng tu tập đông, vừa giải quyết công nợ vay ngân hàng, vừa giúp cho quần chúng có nơi tu học, vì thế đòi hỏi các giảng sư có trình độ tương thích với bản xứ để thu hút tuổi trẻ, làm mới cách hoằng pháp mà tuổi trẻ hiện nay không cần đến kinh điển, chỉ cần học hiểu được giáo lý. Những tu sĩ đáp ứng được đòi hỏi như thế quả là rất hiếm. Các tu sĩ biết ngoại ngữ nói chuyện với tuổi trẻ, sống với tuổi trẻ, phải là những tu sĩ trẻ, điều nầy, phần lớn tu sĩ Việt Nam hiện nay thiếu trình độ. Có những tu sĩ từ Việt Nam qua do sự thỉnh cầu, cũng chỉ là những tu sĩ quen cách diễn đạt trên bục giảng hơn là cách hòa nhập thân thiện bình đẳng của tuổi trẻ âu Mỹ. Những tu sĩ tốt nghiệp thế học, có thể đảm đương hoằng pháp theo phong cách mới, quả là hiếm hoi, chưa đủ 10 đầu ngón tay. Hiện nay cũng chỉ vài ba tu sĩ tuy không còn trẻ, cũng đủ khả năng thu hút một số  lớp trung niên và người cao tuổi qua cách diễn đạt khôi hài, đúng hơn là trò giải trí chứ không thể xem là giáo dục chuyên sâu vào giáo lý hoặc hướng dẫn tu tập, một nhu cầu chính đáng của quần chúng tha hương hiện nay. Thỉnh thoảng một vài chùa có khóa tu, tạm đủ và đúng để tín đồ xem đó là pháp môn khả hữu mà sau khi ra về, họ còn có thể thực hiện trong cuộc sống thường nhật. Quần chúng mục đích giải thoát tâm linh chứ không phải trở thành cảm tình viên của tôn giáo hay chỉ là người thuần phục cung dưỡng. Như vậy, số tu sĩ đáp ứng nghi thức ma chay đã chưa thể phát triển Phật giáo trên đất nước tiến bộ như âu Mỹ, số tu sĩ đủ năng lực chuyển hóa quần chúng và giới trẻ đang thiếu trầm trọng, những tu sĩ chuyên tu và thực hành có hiệu quả để quần chúng nương tựa cũng đang là vấn đề chưa đáp ứng đủ hiện nay. Số vị chuyên tu, ít nằm trong lớp tu sĩ trẻ, phần nhiều là bậc lão thành đã kinh qua trường đời, chinh vì thế mà tâm họ thuần thành và chân chính, họ không tham cầu danh lợi, địa vị, họ không muốn sở hữu chùa chiền, họ ẩn mình để chuẩn bị hành trang cho cuộc sống kiếp sau; thời gian còn lại trên cỏi đời đối với họ rất quý mà thời trai trẻ họ đã phí phạm vô lý. Những bậc chuyên tu như thế, về mặt sinh hoạt, quả thật họ không giúp được gì cho cộng đồng người Việt, nhưng rất khả dụng cho từ trường tâm linh. Chính những nguyên nhân nầy, chùa mọc rất nhiều làm cho kinh tế và tài chánh của quần chúng phân tán mỏng, tỷ lệ nghịch với hiệu quả hoằng pháp, để rồi cộng đồng Phật tử không còn biết nương và tin vào ai trong khi mỗi tu sĩ cát cứ một lãnh địa khi mà ảnh hưởng chính trị bị áp đặt, và không thiếu những lãnh địa đó không ăn nên làm ra, họ lại bán như bán căn nhà bình thường, họ bỏ luôn tôn tượng, pháp khí cho kẻ mua nhà muốn vứt đâu thì vứt. Chưa nói đến áp lực chính trị phải hô hào ủng hộ chống đối để có đất sống. Cộng đồng Phật giáo Việt Nam trên đất Mỹ hiện nay như chợ trời bày đủ loại mặt hàng, quần chúng bất lực nhắm mắt chọn lựa giữa hàng chục tổ chức đoàn thể giáo hội...mặc dù có trên 600 ngôi chùa Việt  khắp nước Mỹ.

 

Tóm lại, tuổi trẻ Việt Nam tại Âu Mỹ, tuy thành đạt trong xã hội, nhưng truyền thống tín ngưỡng tâm linh vẫn là điều ràng buộc theo huyết thống; sinh hoạt các chùa chưa đủ sức thuyết phục, các tu sĩ chưa thu hút được chúng qua giáo lý cao siêu. Phải mất nhiều năm nữa, lớp tu sĩ trẻ hấp thụ văn hóa và ngôn ngữ, tập quán bản địa mới giúp phát triển Phật giáo Việt Nam trên đất âu Mỹ, và đáp ứng thỏa mãn nhu cầu tâm linh của giới trẻ Việt Nam đang được cha mẹ ông bà cố duy trì truyền thống tộc Việt. Quý thầy Việt Nam trên đất Mỹ phải đối diện quá nhiều khó khăn, vừa áp lực chính trị, vừa áp lực kinh tế, vừa áp lực học vấn, vừa đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng tâm linh và khoa nghi tôn giáo cho quần chúng trong khi phải đáp ứng những điều kiện khắc khe của luật pháp Hoa Kỳ  về hội đoàn có lợi nhuận mà không xem tôn giáo là một mãng tách biệt như ở Việt Nam; Thế nhưng, quý thầy và quần chúng Phật tử vẫn luôn dành sự quan tâm cho đồng bào  trong nước để chia xẻ một phần vật chất có được sau những năm tháng vất vả trên xứ người. Nhìn những vật dụng của quý thầy ở Mỹ, trong đó  có cell phone, mới thấy giản dị so với các tu sĩ trong nước rất nhiều. Có những tu sĩ phải tìm việc làm để tự sống. Có đến mới thấy, hiểu, cảm thông cái khó của họ; những người còn sống trên quê hương, cứ nghĩ ai ở Mỹ cũng sung sướng giáu sang! Vật dụng chư Tăng còn như thế thì Phật tử tín đồ cũng không khá hơn

                                                                                     MINH MẪN

                                                                                        19/6/2011

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2026

NỖI ĐAU LÒNG CHA

 



Tôi nhìn đồng hồ, gần 9 giờ tối mà vẫn chưa thấy con về, tuy đói, vẫn đợi con về cùng ăn cho vui; tôi tiếp tục công việc trên máy tính, tuy mệt mỏi vừa chở hàng về, vẫn cố gắng làm thêm vài việc cho các thân hữu nhờ viết.

Như mọi hôm, chuyến hàng từ Sài Gòn về, vẫn là kinh sách do cửa hàng gần cổng chùa Hoằng Pháp thuê chở. Tuy không có hàng thường xuyên, vẫn phải giữ mối để kiếm thêm đồng nào đỡ đồng đó lo cho con ăn học. Ngoài ra, thỉnh thoảng viết bài đăng báo; nhuận văn cho những bài giảng của một danh sư để hàng tháng được nhận sự trợ giúp từ phương xa.Tuy nhiên, sự trợ cấp nầy đã ngưng mấy tháng, do một tà sư hám lợi tuyên bố: hắn ta là thiếu úy công an, tôi là đại úy, gặp nhau tại Hà Nội năm 1985, tôi giải ngũ, nó vẫn tiếp tục làm! Mục đích phán bừa là để lấy lòng anh em đang giúp ông ta hàng tháng. Tuy vậy, tôi vẫn thản nhiên làm tiếp công việc tự nguyện chuyển văn nói thành văn viết, và tranh thủ tìm thêm vài việc thích hợp với khả năng, sức khỏe và tuổi tác.
*
* *
Từ ngày đầu hòa bình, cũng như đa số bị lùa vào tại cải tạo, sĩ quan, viên chức chế độ cũ, tư sản…mỗi người được kết cho một cái tội trong chế độ “ngụy”, từ lúc bị bắt cho đến ngày ra trại, suốt 10 năm, tôi là người tù mà không hề biết tội, vì tôi không liên hệ dính dấp gì đến chế độ cũ, cũng không là tội phạm hình sự hay hoạt động chính trị, nhưng là thành phần của Phật giáo cũ, trợ lý cho một Chức sắc Giáo Hội Phật giáo cũ. 1987 ra tù, không ai dám chứa chấp, kể cả cha mẹ, sợ liên lụy; tôi đành lập gia thất với một phụ nữ mồ côi; ngả rẽ cuộc đời cũng bắt đầu từ đó.
Không vốn liếng, không nghề nghiệp, không bằng cấp, kể cả không giấy tờ tùy thân; mỗi khuya 3giờ, tôi mượn chiếc xe đạp chở 50 ký bánh dầu về tận Nhà Bè bỏ cho nhà chùa làm nước tương,vừa đủ tiền ăn cơm trưa. Có những lúc nhà chùa o ép, không mua, tôi đành vội vả chở về trả lại cho bộng dầu và hoàn xe cho thợ đi làm sớm; dĩ nhiên ngày hôm đó phải nhịn đói; người mà tôi sống chung, cũng làm công nhân cho một bộng ép dầu, lương cô ta cũng vừa đủ nuôi miệng mình.

Một hôm đi ngang qua chỗ bơm quẹt gas, đứng nhìn trộm 15 phút, về nhà mượn tiền mua lon gas và đồ phụ tùng không quá 500 đồng thời 1990, thế là nghề bơm quẹt gas đã giúp tôi sống ổn định suốt 20 năm; không những thế, còn giúp cho một số thanh niên vô công rỗi nghề và các em nghĩa vụ quân sự mãn hạn, có công ăn việc làm; bơm quẹt gas biến thành phong trào dễ hái ra tiền; các em bơm gas dạo có thể kiếm mỗi ngày một vài trăm.

Năm năm sau ngày sống với nhau, đứa con trai duy nhất chào đời, thêm một cuộc sống là thêm một gánh nặng trên vai; Tôi bày đủ nghề để cô ta ở nhà làm kinh tế, không nghề nào cô ta làm được. Nhà ngay trước trường trung học cấp 2, bán bánh mì, bán nước mía, banh bàn…đều phải dẹp tiệm, trong khi đó, những người ở xa đến bán, đắc như tôm tươi. Năm đầu tiên làm gas, mỗi tối đạp xe qua quận tư, cách 30 km, chở bình gas 25 ký về sạc; cửa hàng gas quen, họ cho mượn vỏ bình và cho thiếu gối đầu; dần dần có vốn, năm năm sau mở cửa tiệm bán gas đun bếp; Khi cuộc sống vững, cũng là lúc tôi dành thời gian viết lách về Phật giáo.
- Sao con học về muộn thế?
- Hôm nay thi thử tốt nghiệp cấp ba ạ!

Trên mâm cơm có rau luộc và đậu kho, có lẽ con mệt nên ăn không nhiều, tôi phải mua thuốc bổ và truyền đạm thêm. Sức trai vừa lớn lại ăn chay trường, không ăn đậu hũ, không chịu uống sữa, do tính kén ăn mà gầy hốc hác, thường ngất xỉu trong trường.Mẹ không biết nấu ăn, cứ rau luộc, hoặc bỏ tí bột nêm vào làm canh; Nồi cơm nấu một lần ăn suốt ngày; cơm không bao giờ xới, cứ xén như xén đất. Thằng bé đi học về, bưng chén cơm nguội với lá cải bắp sống chấm nước tương, nhìn mà nhót ruột.Một bà bạn thấy thế, bảo:cơm ăn lúc nào nấu lúc đó cho nóng, sao cứ phải ăn cơm nguội! cô ta đáp: Nó thích ăn vậy.Thằng con cải lại, mẹ cho sao ăn vậy chứ ai muốn ăn cơm nguội đóng cục thế nầy. bởi vậy ba ít khi ăn cơm nhà! Người làm mẹ lớn tiếng: mầy nói tiếng nữa tô mì nầy vô mặt mầy liền. Nghe kể lại mà lòng tôi buồn rũ rượi. Không bao giờ cô ta biết phục thiện nhận lỗi, cứ lấy hung dữ ra đối với với chồng con, chính vì thế mà từ lâu nay tôi không hề nói chuyện. bổn phận lo cơm áo gạo tiền rồi cứ lang thang khắp nơi.

Những ngày tôi có ở nhà, sáng sớm ra chợ mua thức ăn về tự tay nấu cho con, hoặc ra tiệm cơm chay mua ít thức ăn, có khi nhóm Thiện nguyện Khiếm Thị nấu hộ cho.Có lúc tôi đi vắng mấy hôm, con phải lang thang kiếm ăn, mượn tiền ra ăn tiệm. Chẳng hiểu một người làm mẹ vụng về mọi việc, đến độ có thằng con chăm ngoan mà vẫn không lo cho nó một miếng ăn vừa miệng để có sức vào Đại học.

Cửa hàng gas mỗi ngày một ế ẩm, vắng khách, vì cô ta xem TV suốt ngày, khách gọi không nghe, khách lớn tiếng thì bị cô ta mắng mỏ. Thái độ khiếm nhã làm cho khách hàng bất mãn, lại thêm giấy phép kinh doanh bị thu hồi, hàng tháng cứ phải đóng thuế, vì vậy tôi quyết định nghĩ bán gas để cô ta có thời giờ giải trí phim ảnh! Buồn gia cảnh, tôi buông thả tất cả, càng ngày tôi càng say mê lao vào công tác văn hóa, báo chí Phật giáo, và từ thiện xã hội.
- Ba à, sáng nay bạn con nói : áo mày sao không giặt, dính phân chim vậy?
Cứ vài hôm cô ta giặt đồ một lần, nhưng phân chim vẫn còn. Áo ngâm thuốc tẩy và xà bông cho đến ngày xả phơi, nhúng nước phơi lên chứ không vò chà. Quần màu thì khỏi xà phòng, xả nước phơi thôi.có khi ngâm thuốc tẩy nên áo quần màu cứ bị loan lỗ như da beo. Mấy năm nay, chim Bồ câu từ đâu cứ lũ lượt kéo về ở. Mặc dù không có chuồng trại, chúng chui vào bất cứ nơi đâu để trú qua đêm, lại thêm một gánh nặng phần ăn cho lũ chim, không đành cho chúng nhịn, không bán, không cho, phải cung cấp mỗi ngày vài ký gạo; Tuy nhiên, gạo cơm thỉnh thoảng quý thầy bố thí đủ sống qua ngày. Riêng chi phí cho con năm cuối cấp ba là một sự lo âu canh cánh trong lòng.
- Ba à, cục pin điện thoại con bị phù rồi
- Do con sạc quá độ
- Ba thấy con có thì giờ đâu, suốt ngày đi học, tối sạc ngủ quên đến sáng. Tại ba hà tiện không dám mua điện thoại xịn, cứ xài đồ cũ phải vậy thôi. Bạn con ba nó mua cái Iphone mười sáu triệu, đi xe Honda Nhật… có bao giờ hỏng đâu. Xài đồ dỏm tiền sửa cũng vô đó!
- Con thấy ba có tiền không mà đòi hỏi, lo cho con ăn và học đã thấm mệt. Con có biết ba phải làm thuê chở mướn để có tiền cho con xài, tiền cá nhân của con mỗi tuần 150 ngàn; tiền học thêm mỗi môn từ 500 ngàn đến 2 triệu rưỡi, luyện vào Đại học. Con không biết cái khổ của ba, có bao giờ ba nói cho con biết những công việc của ba làm để con có điều kiện ăn học với bạn bè?
– vừa giải thích cho con mà trong lòng buồn tê tái. Còn nhỏ dại, con chỉ biết đòi hỏi mà không thấy cái vất vả của người cha từ lúc có mặt con trên cỏi đời!có bao giờ nó yêu sách với mẹ đâu, vì biết mẹ không bao giờ đáp ứng.
*
* *

Tôi bị thất học từ bé, không có điều kiện đến trường. Khi Bồ Đề Cầu muối mở, tôi xin miễn học phí được ba tháng, sau đó không có tiền phải nghỉ.Vào thập niên 1966, mỗi sáng tôi chạy bộ từ Phú Nhuận xuống chợ Ông Lãnh để học. Nhà chùa cho ở mà không lo cơm, phải tự túc. Mỗi ngày mua một ổ bánh mì lớn để ăn trưa và chiều. Sáng nhịn đói đi học. Dạy kèm trẻ em trong xóm Nguyễn Hùynh Đức chỉ đủ ăn bánh mì. Áo quần mặc thừa của quý thầy bỏ ra. Quần dài quá phải lấy giây thun túm ống lại. Xa cha mẹ từ lúc lên tám, do cung cách cư xử khắc nghiệt nên tôi thoát ly vào Nam. Thời chiến, tuy cuộc sống miền Nam dồi dào, nhưng tình hình chính trị và xã hội luôn biến động; Phật giáo cứ tranh đấu xuống đường liên tục; Việc ăn học nhà chùa không lo được. Ai có điều kiện thì tiến thân, không có thân nhân phải chịu thua thiệt. Tôi tự tìm sách học hỏi khi không đến được lớp. Vả lại trong tuổi động viên, một thanh niên không dễ sống yên bình để ăn học. Do những bất hạnh, thiếu thốn từ bé, giờ đây, tôi không thể để cho con thất học và thua kém bè bạn. Ngày con vừa lên ba, cha con đèo nhau trên chiếc xe cà tàng về Thành phố, con thèm ăn mọi thứ mà không dám đòi hỏi, nghe xe cứu thương hú còi, con lém lỉnh nói: Ba, cái còi xe nó kêu dưa hấu, dưa hấu đó ba. Vừa tức cười, vừa xót xa cho sự thèm thuồng của con. Trong túi lúc bấy giờ chỉ đủ tiền vá vỏ xe khi bị thủng. Cuộc đời đói khát, khổ đau đã nhiều, quyết không để con phải khổ như mình, tôi tận lực làm việc, ngày bơm gas quẹt, tối chạy thêm xe ôm.

Nỗi buồn không phải vất vả vì kinh tế mà cô vợ quá vụng về mọi mặt. mỗi lần góp ý xây dựng là một lần cô ta phản ứng dữ tợn. Khách hàng than: tôi đến mua gas chứ có xin không đâu mà chị ăn nói sổ sàng như thế!.
Có những buổi trưa chở gas cho khách, tôi không về nhà, chui xuống gầm cầu với ổ bánh mì nằm suốt đến chiều tối mới về,. tránh cái không khí ngột ngạt mà hai người là hai thái cực.Lúc tôi đầu tắt mặt tối kiếm tiền cho con mỗi ngày một lớn, cũng là lúc cô ta ham mê phim ảnh sau khi bỏ được thú vui tứ sắc và tiểu thuyết, đến độ con bỏ học, chơi game mà cô ta chẳng hề quan tâm, vì thế những năm sau đó việc học sa sút thấy rõ; Bao nhiêu công sức bỏ ra, dãi dầu mưa nắng để cho con hư hỏng sao khỏi đau lòng. Một bên là bà vợ quá tệ hại, một bên là con đang lớn chìm vào trò chơi đầy quyến rũ, mãi lo chật vật kiếm sống, thời giờ đâu theo dỏi việc học của con! tôi phải làm gì cho gia đình như thế? Mất căn bản từ lớp mười,vì thế giữa năm lớp 12 phải cố gắng cho con học thêm với những giáo sư giàu kinh nghiệm. Hàng ngày tôi phải ăn cơm cháy đen, cô ta không canh được lửa, nếu không cháy thì ăn cơm sống, cô ta không ăn cơm cháy, tôi không nỡ để con ăn, cũng không đành đem đổ. Cứ mỗi lần vo gạo xong, cô ta thò ngón tay vào canh mực nước, thế mà vẫn không xong. Tôi bèn xài nồi cơm điện do cô em kết nghĩa tặng; cơm cháy từ đây vĩnh viễn chia tay với tôi; thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ cơm cháy đã ăn trên 10 năm. Những miếng cơm cháy vàng ngậy dòn rụm trong trại tù do anh em nhà bếp nấu sao mà thơm ngon đến thế, một phần có lẽ đói vì chuẩn ăn không đủ no cho lao động nặng, một phần ngoài cơm tù, tôi không được chu cấp như những anh em có thân nhân thăm nuôi hàng tháng; lúc đó tôi là người tù mồ côi.Tổng cộng trong tù và ngoài đời, tôi phải ăn cơm cháy suốt 20 năm.

Tôi che căn phòng ngoài mái hiên làm chỗ trú qua đêm. Ngày ngày gửi thân ngoài phố chợ với lon cơm và chai nước. Tuy căn nhà rộng rãi, nhưng là nhà thờ cha mẹ để lại cho cô ta, tôi xin tạm trú vỉa hè để làm tròn bổn phận người cha bất đắc dĩ! Từ lúc con lọt lòng đến khi được 10 tuổi, đều ngủ chung với ba. Những đêm trái gió trở trời con bệnh, đau khóc, tôi phải thức suốt đêm, dù ban ngày phải ngồi vỉa hè từ sáng tới tối. Con bệnh la khóc, cô ta cũng không biết dỗ, không biết lo tìm thuốc men. Khi con lớn, cái phòng bề ngang bằng sải tay, bề dài hơn 2 tầm như thế, không thể ngủ chung, bèn để con vào nhà trong. Kể cũng lạ, khi còn ở trong tù, người chật như nêm, phải nằm nghiêng trở đầu xen kẻ nhau, thế mà cũng ngủ được! Tôi đi sớm về tối với cái phòng riêng biệt, làm việc thoải mái hơn, cảm thấy tự do hơn, bắt đầu cũng tập cho con tự lo những chuyện lặt vặt cá nhân.

- Ba ơi, con muốn thi vào Đại học Ngân hàng, ba lo nỗi không?
- Miễn sao con học được cứ học, ba lo tới đâu hay tới đó
- Một năm mấy chục triệu ba à!
- Thì con cứ lo học, việc đó là nhiệm vụ của ba. –
nói là thế, nhưng trong lòng mãi băn khoăn. Trong nhà không có gì đáng giá để bán. Không thể nhờ vả xin xỏ; tuổi tác không cho phép bươn chải, bon chen như thuở trước. kinh tế xã hội ngày càng khó khăn. Chung quanh ai cũng khổ, đủ ăn là may. Những con đại gia phóng tiền qua cửa sổ vì họ không biết để đâu cho hết, con nhà nghèo tom góp bạc cắc suốt đời không đầy ống heo; xã hội nào cũng thế; những quốc gia thịnh vượng, học sinh được miễn phí, có chính sách ưu đãi, hỗ trợ học sinh, sinh viên nghèo.
*
* *
Cô em kết nghĩa thường hỏi: anh làm việc chùa có lương không? –đã là việc chùa là do mình tự nguyện, lương bổng gì! Cô ta vặn vẹo: cuộc sống gia đình không lo, cứ lo việc chùa rồi ai nuôi gia đình?Anh có sự cố, ai gánh vác? Đã 10 năm tù đói khổ vẫn chưa sợ?Làm được việc thì người hưởng, bị tù tội một mình chịu, khổ vợ con, sao anh không nghĩ!!! Làm sao cô em hiểu được tình cảnh gia đình để mình quyết định buông xuôi tất cả. Nỗi buồn ngấm ngầm dễ làm sa sút tinh thần, nhưng tôi đã chọn pháp sự để giải khuây và hướng dẫn nhóm khiếm thị trong việc từ thiện cũng như tu tập để làm niềm vui có ý nghĩa.

- Ba, tới kỳ đóng tiền học thêm môn toán 2 triệu rưỡi cho 8 buổi rồi. Ba cho con xin 50 đi hớt tóc và đổ xăng. Buổi trưa nắng hóc người, thằng nhỏ tóc tai luộm thuộm vào phòng ngồi bệt xuống với vẻ mặt xanh xao. Tôi buồn bã đáp: Sao con xài tiền như nước vậy, một trăm rưỡi một tuần mà xài không đủ sao, mới 5 ngày đã hết rồi?Ba đâu phải máy in tiền.chiều nay phải chạy vay mượn đóng tiền học thêm cho con…
Cơm nhà con không có gì để ăn sau một ngày học hành vất vả, thường đói, đến trường mua những chiếc bánh khoai mì nướng để lót dạ, phải vài chục ngàn đồng mới đủ no. chính vì thế mà tiền cho bao nhiêu cũng chẳng đủ.
Chẳng hiểu vì buồn cho con xài không tiết kiệm hay buồn cho tương lai đen tối của con; hay buồn một người đàn bà quá vụng mọi mặt, nỗi buồn vu vơ, thỉnh thoảng xuất hiện. Mỗi lần thực phẩm chùa cho là một lần thêm buồn trĩu nặng. Hôm cận tết, chở gói quà từ Vĩnh Nghiêm về giữa giòng người tấp nập mà như lạc vào cỏi mông lung. Năm cùng tháng tận, mọi người hối hả tay quà tay bánh về chuẩn bị đón ông bà,mình lang thang phố phường cũng gói quà kèm nỗi cô đơn khôn tả, quà đem về mà không khí gia đình như cơm nguội xáo nước lạnh! Những kẻ không nhà nằm lê lếch hè phố có buồn Xuân khi nhìn xã hội tấp nập bôn ba?

Năm đầu tiên trong đời bị tù, tiếng pháo giao thừa rộn rã kèm nhạc bản “ Xuân Này Con Không Về” vẳng từ thôn xa mà lòng tê tái. Các bạn tù nhìn những phần quà tết, ngậm ngùi xót thương vợ con thiếu thốn, mình không có thân nhân thăm viếng lại xót xa kiếp lạc loài cô độc, bơ vơ. Đêm mơ ngày mộng chờ đợi tự do, những tưởng vài tháng, ai ngờ năm này tháng nọ chôn thân nơi rừng sâu khí độc, thân tàn tạ đen đúa như bộ xương biết đi. Sau 10 năm tù, cầm giấy ra trại như người vô cảm, chẳng buồn cũng không vui, biết về đâu, biết đi đâu! Chạng vạng tối đến Thành phố, bố mẹ cho ăn bữa cơm rồi tự kiếm chỗ trọ qua đêm; không ai dám chứa người vừa ra tù vào năm 1987, sợ liên lụy; Vợ chồng Ánh trong con hẽm nhỏ Bình Thạnh, tuy chật chội nhưng tấm lòng rộng lượng, cho tôi tạm trú qua những ngày chờ đợi đủ khả năng hòa nhập với xã hội mà 10 năm cách ly; có những đêm, trên tầng ba một ngôi chùa Phú Nhuận, đêm nghe tiếng xào xạc chân đi bên dưới con hẽm, rồi ngừng lại, cứ thế mà hồn vía lên mây vì sợ công an đến xét.
Có bố mẹ mà chưa từng là con trẻ có tình thương; có vợ con mà như chưa biết mùi hạnh phúc; sống trong đất nước mà cảm chừng mình là dân lậu vẫn chưa có hộ khẩu, chứng minh; Biết ăn nói mà không một bằng cấp; là một tín đồ mà không thuộc giáo hội nào, làm pháp sự mà không chùa nào để công tác; Cả cuộc đời cứ như lơ lửng giữa tầng không; Người bạn nói đùa: Tâm vô sở trụ vì thân vô trụ sở.
Có lẽ sống để trả nợ hơn là tạo nợ trong cuộc sống; Những món ngon hợp khẩu vị con, đành nhịn cho con ăn; những gì con thích, cố gắng cho con thỏa mãn theo khả năng lo liệu.
- Con ăn cơm chưa? Một trưa hè nóng bỏng, về nhà lúc 12 giờ, nó mãi mê trên màn game, không quay đầu lại, đáp: -dạ chưa, có gì đâu mà ăn! Tôi ngạc nhiên hỏi:–nồi đồ kho còn, rau cà khuya nay ba mua dể sẳn sao không nấu?
Tôi nói, nhưng vẫn liếc nhìn thái độ của mẹ nó đang nằm trên ghế dán mắt vào màn hình TV; bà bệnh tiểu đường mà không hề kiêng cử, thân thể ngày càng gầy còm hốc hác trông thật xót xa, nhưng vẫn tính gàn bướng bất trị, khó hòa hợp trong không khí gia đình. Tôi xuống bếp hâm nồi chuối kho, sốt cà chua thay canh. –Con lớn rồi, phải biết tự lo, ba chạy kiếm tiền thì con phải biết lo bản thân, nếu ba không về thì trưa nay nhịn ăn?con sắp vào đại học chứ đâu nhỏ dại; ba vất vả ngoài đường, nóng nực thế nầy về nhà phải chui đầu vào bếp nữa sao! Con chẳng biết thương người cha già suốt đời chỉ biết hy sinh mà không hề hưởng thụ…
*
* *
Bầy bồ câu tìm bóng mát trú ẩn, mái tole nhà kho mục nát đổ gục như người lính chết trận chúi người về phía trước. Trong nhà bắt đầu thấm nước dột mưa. Hơn ba mươi năm trước ngôi nhà như hoang phế, tôi xây dựng lại tươm tất hơn, nhưng từ ngày đau buồn về người đàn bà không thể định nghĩa về công dung ngôn hạnh, trách nhiệm với gia đình và cung cách giao tế, tôi bỏ mặc để lo cho con ăn học. ba con người như ba bóng ma lầm lũi trong ngôi nhà lớn, không ai nói với ai lời nào; con học ngày ba buổi mãi đến hơn 9 giờ tối mới về, có lúc nó mệt hay ăn vặt ngoài đường, không ăn cơm nhà, tôi cũng nhịn luôn mà làm việc, đến khi mòn mỏi, chìm vào giấc ngủ, chờ một ngày mới để thâu ngắn kiếp người. Thằng con vẫn vô tư ăn học, vui chơi; người mẹ vẫn đam mê phim ảnh; người cha mãi miết ngoài đường, làm xã hội, làm từ thiện, làm văn hóa nếu không giam mình suốt ngày trong bốn bức vách hẹp với bàn vi tính. Nỗi đau ngấm ngầm như hình với bóng kéo dài kiếp người hơn 60 năm qua, liệu sau nầy, con thành nhân, có hiểu được thân phận người cha chưa từng một ngày được hạnh phúc từ lúc chào đời đến khi nhắm mắt, và bây giờ, tất cả chỉ vì con!

MINH MẪN
20/5/2010

 

XUÂN TRÊN ĐỈNH SẦU



Sáng mồng một Tết năm Đinh Sửu, tôi về thành phố sớm hơn mọi năm, bởi lẽ, chỉ một mình lang thang trên chiếc xe gắn máy, chưa tới 8 giờ, thay vì mọi năm, phải 10 giờ mới có mặt tại các chùa.
Suốt 15 năm, lúc nào tôi đi chùa vào những ngày Tết đều có Trí, và hơn 10 năm, cha con luôn gắn liền như hình với bóng, kể cả cái phòng bề ngang hơn một thước, cha con cũng ngũ chung, đến khi nó lớn quá, phải cho ngũ riêng trong căn phòng rộng trên gác, trong nhà.
Năm lên lớp 6 và 7, nó rất giỏi toán, thông minh và chăm chỉ! một mầm non đầy hứa hẹn, nhưng khi qua lớp 8, bạn bè rũ chơi điện tử, bắt đầu trốn học thường xuyên, học bạ đứng vào áp chót lớp, mất căn bản, phải mời thầy về dạy kèm, tuy một tháng học thêm, nó đã tiếp thu nhanh và có khả năng theo kịp bạn , kết quả cuối năm, vẫn là học sinh giỏi, lên thẳng lớp 9A1; nhưng cũng vì bạn, nó lại xin xuống 9A2 để học chung với thằng bạn nối khố học kém, nhưng giỏi game.
Năm lớp 9 không dám trốn học, nhưng bỏ giờ học thêm đến phòng máy tính; từ 6g sáng đến 10g đêm, chỉ thấy mặt vào giờ cơm, có lúc không ăn cơm nhà. Nó nói với mẹ nó là đi học. Không sao kiểm soát được, thỉnh thoảng lớp dạy kèm điện về nhà hỏi thăm, mới biết nó trốn giờ;
Thời gian đầu còn gay gắt, đánh đe dọa, nhưng không kết quả, để mẹ nó xuống nước nhỏ khuyên nhủ, vẫn không xong; suốt mấy tháng không nói tới, để xem nó tự giác sửa đổi chăng, ngược lại, càng ngày càng lậm; những ngày giáp tết, vừa chạy ga, vừa dọn dẹp nhà cửa, người lớn mệt bở hơi tai, không ai ở nhà nghe điện thoại của khách hàng gọi; 11 giờ đêm còn phải chở ga thì nó lại ở phòng vi tính chơi đến khuya, trèo rào vào nhà, 29 Tết, 6g sáng lại có mặt tại tụ điểm gameonlines, lấy cớ lúc tối gửi xe đạp tại đó. Quá giận, đánh nó mấy bạt tai, tôi vừa xách xe đi làm thì nó đập bể kiếng cửa phòng tôi. Một hành động vô cùng mất dạy không thể chấp nhận đựơc; tôi quyết định bỏ nhà ra đi. Mẹ nó năn nỉ khóc lóc, vì sợ mất sĩ diện, tôi đồng ý ở lại để che đậy một gia đình hạnh phúc giả tạo mà hơn 10 năm nay đã đổ vỡ, với điều kiện, tôi không còn trách nhiệm dạy dỗ và nuôi dưỡng nữa, vì 20 năm quá khổ và 15 năm hy sinh mọi thứ để lo cho con ăn học.Tôi tự làm và sống riêng!
Ngày nó mới sinh, hàng ngày ngồi vỉa hè bơm quẹt ga, nhìn những đứa bé chập chửng biết đi, lòng ao ước con mình mau lớn như thế; Tuy vất vả vì sinh kế, nhưng vẫn thức suốt đêm khi con bệnh hoạn. Có những lúc nó ho không dứt cơn, không tiền đi bác sĩ, phải chở con đi khắp nơi tìm thầy tìm thuốc Nam; được 3 tuổi, ghẻ lở đầy mình, tôi phải nấu nước lá hằng ngày tắm rửa cho nó. Tuy không tiền, thấy con thòm thèm hàng rong, cũng phải bóp bụng cho con thỏa miệng, càng lớn, học hành, chi phí càng tốn, mẹ nó vụng về mua bán, tôi phải gia tăng kiếm tiền để cung ứng phí khoản yêu cầu, thời gian phơi nắng dầm mưa ngoài đường nhiều hơn ở nhà, thêm nổi phiền muợn tạo cho mình khuôn mặt nhiều khắc khổ lạnh lùng. Tuổi ấu thơ mình đã bất hạnh, thiếu thốn, giờ đây không để cho con phải chịu thiệt thòi với chúng bạn, tôi phải làm bất cứ việc gì mà không vì sĩ diện, miễn không phạm pháp và sái lương tâm; Những lúc đau lòng nhìn mãnh giấy trắng phung phí của con xé bỏ, mà lúc bé, tôi phải nhặt của bạn bè để đóng tập; áo quần, giày dép, mọi thứ nó đều xài không thương tiếc, nhìn thấy vậy, lòng tôi đau buốt, vì đồng tiền làm ra phải đổi bằng nước mắt, mồ hôi và sự nhẫn nhục với xã hội. Mạng sống lắm khi như chỉ mành treo chuông, vì suốt ngày ngoài đường, tai nạn luôn đe dọa. Cái vô tư của con, cái đam mê cuộc chơi, học hành xuống cấp của nó là những nhát dao đâm vào con tim người cha suốt đời hy sinh vì con, một người mẹ vô tâm không cần biết con mình nên hư, làm sao có những cảm xúc đau buồn trách nhiệm như vậy.
Cái đau cho một người vợ ngu muội, nổi buồn cho một đứa con hư hỏng, caí cô đơn của một kẻ tứ cố vô thân, và cuộc sống quá bầm dập trong xã hội loài người, tôi không biết mình phải làm gì với kiếp người của mình hiện nay!
Con hư, một phần do người mẹ chiều con quá vô lý; muốn gì sắm đó; chợ búa chi phí mỗi ngày ngoài trăm, trong khi thu nhập chỉ vài chục ngàn. Mỗi ngày một thâm thủng, nợ nần; Tiền cho con ăn sáng bằng 4 ngày tiền ăn chay của tôi, tiền tiêu vặt cho con, tôi có thể giúp người khốn khó qua ngày. Lắm khi chạy ga ngoài nắng, cổ khô bỏng, thèm uống ly nước mía, cũng phải nhịn khát về nhà uống nước lã, đi đường đói bụng, tô hủ tíu 4 ngàn cũng không ăn, tiền để dành lo chi phí cho gia đình hằng bữa. Gặp cơn mưa bất chợt, thà chịu ướt về nhà thay đồ chứ không mua thêm chiếc áo dọc đường; Thà nằm ngũ đất chứ không tốn tiền mua nệm, để có dư, dành cho con được đầy đủ. Hình như suốt đời tôi chưa lo cho mình cái gì để gọi là sung túc.
Tôi chấp nhận bửa ăn quá đạm bạc, đơn giản đến độ người ngoài nhìn vào bửa cơm tôi họ cũng phải lắc đầu, sáng rau luộc, chiều luộc rau… nhưng làm sao mong muốn hơn được khi người vợ quá vụng về gia chánh. Tôi chấp nhận tất cả mọi thiệt thòi để cho con nên người, nhưng giờ đây tôi hiểu ra phải chấp nhận mọi thiệt thòi kể cả thiệt thòi niềm hy vọng cuối cùng ở đứa con mà suốt đời tôi chăm bón nuôi dưỡng, không những thiệt thòi vì niềm hy vọng đứa con học hành tiến bộ bị đổ vỡ, mà thiệt thòi to lớn khi thấy đứa con ngổ nghịch đập bể kiếng phòng của cha nó như là đập vào mặt cha nó vậy. Tất cả hy vọng đều sụp đổ, một tâm trạng buồn chơi vơi như kẻ mất trọng lực giưã thế giới mênh mông đen tối. Con là nợ, chồng vợ là oan gia, cửa nhà là nghiệp báo, đúng vậy; Tôi vẫn còn một điểm tựa, đó là Phật Pháp, con đường tâm linh cho riêng mình.
Sáng nay, tôi lầm lũi chạy xe giữa phố thị vui Xuân, tôi biết mình đang cô đơn, không còn đứa con non dại như những năm trước; không còn đứa con hủ hỉ giữa phố chợ SG mà cái gì cũng lạ mắt đối với nó; Lúc lên 5, tôi chở về SG, nó thấy bán dưa hấu, muốn ăn, nó không dám xin, bèn lấy cớ nói: Ba, chiếc xe nó kêu dưa hấu, dưa hấu…vừa buồn cười vừa thương con, nhưng đành cho nó nhịn, vì trong túi có đủ tiền phòng ngừa bể bánh xe mà thôi.
Các thầy đều hỏi: Sao không chở Trí đi, một câu hỏi quan tâm nhưng vô tình là nhát dao đâm vào tình cảm tôi, một đau thương không nói nên lời, vì đó là nghiệp lực của riêng tôi! Nó đã chọn thế giới cho riêng nó, đành vậy thôi, ngoài dự tính đầu tư của tôi suốt 15 năm qua, giờ là một khoảng đen kinh khiếp; tôi phải khóc hay phải cười cho một cuộc chơi trong kiếp sống?


M.M
tối mồng mộ Tết Đinh Hợi
17/02/07

THÁNG NGÀY LANG BẠT

 

Ba hôm nay, trời rả rích mưa, gió lất phất lạnh, từng sợi nước nghiêng nghiêng giữa khung trời mờ đục. Ai từng sống ở miền Trung nước Việt mới cảm nhận được cái thấm thía buồn tận xương. Mùa Đông  nhận chìm cảnh vật miền Trung trong cơn rét, trong mưa phùn, trong con nước ngập ngụa cánh đồng. Ở Mỹ không có những ấn tượng như thế, nhưng lữ khách vẫn man man nỗi nhớ quê nhà.

 

Cô Trang ( Tâm Nghiêm), Bé lớn, Bé nhỏ và Y đã làm chuyến đi qua các bang Philadelphia, New Yersey, New York..đưa lữ khách vào vùng ấn tượng. Bắt đầu khởi hành từ 17 giờ chủ nhật, đến Eden hơn nửa tiếng, hẹn gặp nhau ở quán chay Thanh Vân. Anh Trường, người mà được quần chúng Phật tử ở Virginia quý mến bởi tính bộc trực, năng động, nhiệt tình, đang là hội phó hội Quản trị chùa Hoa Nghiêm, đưa lữ khách đến giới thiệu nhiều bạn bè, đã kết nối ngày giờ cho chuyến đi xuyên bang ở Mỹ. Người khởi xướng chuyến đi nầy là Lệ Trí, nhưng sức khỏe của cọng bún không cho phép L.T tham gia cuộc hành trình. Nhân ngày lễ Lao Động, là dịp hướng dẫn lữ khách tham quan. Cái lề mề chậm chạp của phụ nữa lắm khi cũng cần thiết, chình vì thế, mãi đến 22 giờ mới rời khỏi nhà để trực chỉ Phila.Thành phố lên đèn làm rực rỡ downtown kiều diễm. Đường vào Thành phố với những dãy nhà khiêm tốn cổ kính, ảm đạm, trầm lắng thì vài phút sau, xuất hiện các tòa cao ốc lấp lánh vạn ánh đèn sao trên nền trời trong vắt. Cho dù  khu phố cổ hay khu phố hiện đại cũng mang âm hưởng  kiến trúc Kito giáo, Independence  và  Geogia khai thai từ Hy Lạp.

Đánh xe một vòng để “cởi ngựa xem hoa”, Trang lái xe chạy theo Police để tìm hotel qua đêm. Một phòng hai giường cho một đêm ngã lưng chẳng có chi sang trọng, thế mà cũng phải 200 đô. Ai cũng mệt mỏi, Hồng Y vừa vào phòng, chưa kịp thay đồ đã chiếm một góc nệm, phủ kín chăn đi tìm cõi lạ! Sau khi no đầy một giấc, cô ta lên giọng như người chủ động sắp xếp: “bên nầy Bé lớn, Bé nhỏ và H.Y một giường, còn bên kia là thầy và chị Trang nằm xoay đầu mà ngủ”

Ôi lạy Phật, câu phán vừa dứt, lữ khách như bềnh bồng trên mây. Thật bối rối chẳng biết đâu mà gỡ. Tuy mệt mõi và thèm ngủ, cũng phải đợi ai đó sắp xếp sao cho hợp lý. Trang kéo tấm chăn và mền xuống trải một góc cho Bé lớn và Trang, dĩ nhiên cái giường mênh mông trắng toát kia để dành lữ khách. Lạy Phật, cứ ngỡ thiếu giường nằm, thế mà vẫn thừa. Lữ khách chọn một góc để tĩnh tọa từ 2 giờ khuya đến 6 giờ sáng. Một bưổi sáng nắng ấm mang hơi mát từ biền vào, đánh thức mọi người, lại có một phen cười ầm chế nhạo :” ngủ ngồi”. Ở Việt Nam từng ngủ vỉa hè, khi qua Mỹ cũng hai lần ở vỉa hè mà không được ngủ. Một hôm thầy Trụ trì đi vắng, giao khóa chùa nhưng không có khóa phòng, sau khi được vài vị mời đi chơi, về không vào phòng được, cứ thế mà suốt đêm đi lên chùa, xuống nhà Tăng cách nhau độ 30m như đi tuần thời  chiến. loạn.

 

Qua con đường feeway từ Phila để vào New York cũng phải mất 3giờ lái xe. Trục lộ giao thông ở Mỹ như màng nhện, xe chạy như mắc cửi, tốc độ không dưới 80 miles, tương đương 120m/h. Người ở Mỹ mấy chục năm vẫn không thể biết hết đường đi lối lại. Chiếc máy định vị léo nhéo dẫn đường, trên màn hình nhỏ, mũi tên xê dịch theo từng cung đường quanh co. Tiếng nhắc nhở đều đều như ma xó ngồi bên cạnh. Đi đâu cũng do máy hướng dẫn, con người thời đại tân tiến lệ thuộc vào sự chỉ đạo và công năng của máy móc, vì thế cuộc sống xã hội công nghiệp biến con người thành cổ máy sinh hoạt đều đều, vội vã và lập lại. Đổ xăng,  đi shopping, book vé, tìm hiểu mọi vấn đề đều do máy móc giúp đỡ.

 

Đường hầm chui qua sông đủ cho hai làn xe chạy cùng chiều, bên kia cũng có đường hầm cho luồng xe ra khỏi phố, kết nối giữa New jersey và New York, dài gần 3km với một hệ thống thông hơi hiện đại, được mang tên  Tunnel Holand do kỷ sư Hòa Lan thực hiện công trình. New York cũng có đường hầm Lincoln. Không lâu sau, một thành phố với những cao ốc tòa tháp chọc trời xuất hiện như thách thức không gian. Gửi xe vào public parking, đoàn người đi bộ qua phố Tàu, khu phố sầm uất nhộn nhịp cứ như ngày hội. Phong cách sinh hoạt nơi đây khác hẳn với Hoa Thịnh Đốn. Người và xe chen chúc, không ai nhường ai. Trong Thành phố mà cứ như ngoài xa lộ, xe chạy bạt mạng, vì thế, xe Taxi nào cũng làm đai vịn cho khách. Họ có thể bắn nhau chỉ vì xe trước cản trở xe sau, New York là thành phố duy nhất ở Mỹ  phân nữa dân số không có xe riêng, phần lớn đi xe công cộng. New York có hệ thống tàu điện ngầm nổi tiếng. Xe Taxi vàng gồm hơn 13 ngàn chiếc của tư nhân, chiếm phần lớn, ngoài ra một số xe  chạy khách không có bảng hiệu, hoạt động nhộn nhịp, đã giải quyêt việc đi lại trong Thành phố. Cáp treo ở Manhattan. Có cả xe cyclo, xe ngựa và xe đạp. Tàu điện ngầm…việc giao thông đa dạng đã giúp sinh hoạt cư dân New York trôi chảy nhịp nhàng. Thế nhưng, sự sinh hoạt vẫn chưa thể hiện nét văn hóa từ tốn, trầm lắng, lịch sự như Washington DC. Hoa Thịnh Đốn không có nhà chọc trời biểu lộ nét cao ngạo, nhưng chung quanh nhà dân là những vườn cây, thảm cỏ và sau lưng là rừng xanh phủ bóng.

 

Một nhà hàng nổi tiếng của Tàu, khách đến sau phải chờ hàng chục người  từ nửa tiếng trở lên mới có thể vào, sau khi họ nhận thẻ hẹn giờ. Mười năm về trước, phố Tàu  thường xảy ra tranh chấp đẩm máu giữa một số băng đảng Tàu và Ý và cũng chỉ ở Phố Tàu là nhơ bẩn như hầu hết phố Tàu  khắp nơi trên thế giới.  Sinh hoạt tại New York, người người vội vã, đi đứng, ăn nói…đều nhanh vội, vì thế, xe chạy trong Thành phố cũng không chậm hơn được.

Trời nhá nhem, đường phố lên đèn, trung tâm thương mại, truyền thông, giải trí phần lớn tập trung tại New York đã làm cho New York trở thành miền đất hứa trên xứ cờ Hoa. Giá sinh hoạt đắt đỏ, thế nhưng vẫn rất ít người muốn rời xa Nữu Ước. Ngọn gió chiều từ bến cảng xoa dịu không khi oi nồng trong ngày để dọn đường cho bầu trời đêm nhiều cám dỗ, một thành phố sống về đêm. Mỗi bang có một phong cách sinh hoạt và giải trí  khác nhau. Chẳng hạn tại Cali tuy Thành phố rộng lớn của Mỹ, vẫn có nhịp sống và khí hậu mang dáng dấp châu Á. Mùa hè, có những sinh hoạt lành mạnh cho học sinh; có khu  Festival để các nghệ sĩ và nghệ nhân biểu lộ tài năng. Cư sĩ Nguyên Giác đã đưa lữ khách đến Laguna Beach, (hàng năm, ba tháng hè đều mở cửa) để xem hội họa của những nữ họa già nua say mê trên giá vẽ. Các gian hàng trưng bày sản phẩm mỹ nghệ thủy tinh, đất sét…Cũng có nơi, ca sĩ nổi tiếng độc diễn lộ thiên để phục vụ quần chúng một cách say sưa. San Francisco lại mang âm hưởng của núi rừng Tây nguyên Việt Nam quanh năm lạnh lẽo, dệt cảnh thơ mộng với mây phủ đỉnh cầu Cổng Vàng. Ngược lại một Texas hâm hấp nóng không thua miền Trung nước Việt, vào mùa Hè gió Hạ Lào mang hơi lửa lùa sang  Quảng Bình Quảng trị. Phần nhiều cư dân tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn, ra đường an mặc đơn giản, phụ nữ có khi mặc quần short áo thun dắt chó nghêu ngao giữa phố. Lắm người chạy bộ, cởi xe đạp đều đeo earphone nghe nhạc hoặc không thiếu phụ nữ béo phì từ mắt cá trở lên như cái bồn xăng, thế mà tay vẫn cầm lon coca tay cầm gói French Fries ngoàm ngoằm liên tu. Thực phẩm Hoa Kỳ quá nhiều dinh dưỡng, chất béo và ngọt luôn được xử dụng. Thủ Đô không có khu Casino, không có tụ điểm đen đỏ hay dạng kinh doanh sát phạt, nhưng vẫn tồn tại khu vực Mỹ đen nhiều phức tạp. Hoa kỳ quá rộng, múi giờ từng vùng khác nhau, Washington DC sau Việt Nam 13 tiếng, Cali chậm hơn DC 3 giờ thì Texas cách Việt Nam đúng 12 tiếng…Hoa Thịnh Đốn phủ xanh bởi rừng cây bạt ngàn thì Cali được mọc đầy  nhà cửa dưới cái nắng chói chang…

 

Suốt ba tháng được anh em book vé đi viếng khắp nơi. Anh HQ và BND sắp xếp đi Cali, từ đó được biết cư sĩ N.G, cs T.D, cs Mật Nghiêm và thăm viếng nhiều chùa, đến Sacramento, San Francisco. Chị T.T và chùa Quang Đức bao vé về Houston mới được biết Louisiana, New Orleans, biết chùa Việt Nam của HT Nguyên Hạnh. Anh  em Phật tử  tại Virginia như anh Long thường đưa đi DC để tham quan tòa Bạch Ốc, nhà Quốc Hội, tượng đài chiến tranh Nam Triều Tiên, Việt Nam và đệ nhị thế chiến…Tham dự  buổi tối pháo hoa dịp Quốc Khành Hoa Kỳ…Những Phật tử tâm huyết  giao lưu tại nhà anh Thu, anh Kh, lắng nghe được tâm nguyện của họ về sinh hoạt Phật giáo tại Mỹ, những canh cánh lo âu của họ trước những phong cách bán Tăng bán Tục của vài vị đã đánh mất niềm tin quần chúng. Anh Quỳnh anh Tâm và nhiều anh chi em đã tạo những tiện nghi cho chuyến về Việt Nam không thể quên. Bs Trần Đoàn, hội trưởng chùa Hoa Nghiêm chủ tịch hội Phật Giáo Bắc Mỹ, người tạo nhịp cầu cho lữ khách qua Mỹ, hai ông bà cũng lo quà cáp cho chuyến đi về; một độc giả B.N tận mãi Houston cũng quan tâm về chi phí  trong thời gian lữ khách lưu lại Mỹ.…còn nhiều và còn rất nhiều những tấm lòng.

 

Bao nhiêu buồn vui lẫn lộn trong cộng đồng Phật tử, nhưng rồi một vài Tăng trẻ có học cũng tạo được niếm tin cho họ; Những trí thức Phật tử cũng cố gắng xiển dương Phật Pháp trong khả năng hạn chế. Một Đạt Lai Lạt Ma, một sư ông Nhất Hạnh cũng nhen nhóm được đức tin từng vùng trong cư dân bản xứ. Phật giáo vẫn còn tràn đầy sức sống trên đất nước Hoa Kỳ do chư Tăng của các quốc gia khác ngoài Việt Nam. Chư Tăng Lào, Myanmar, Bangladesh, Hàn quốc, Đài Loan, Tây Tạng…đã tạo được niềm tin cho tín đồ qua cách sống Tăng đoàn hòa hợp và giới luật tinh nghiêm, vì những vị đó không giữ tiền riêng, không có chùa riêng. Một cách nhìn chung, quần chúng Phật tử Việt Nam vẫn còn những niềm tin kiên cố với Phật giáo. Mặc dù cuộc sống khó nhọc, họ vẫn nghĩ về quê hương với những gia cảnh rách nát, những trẻ thơ vô tội và  những cụ lão cô đơn. Tuy họ thất vọng một số chùa nhưng vẫn nhiệt tâm cúng dường khi hữu sự. Có những cụ bà từ Cali  qua Virginia mất 5 giờ bay, cũng chỉ để làm bánh bán kiếm tiền cúng dường các sư Khất sĩ, chạy vạy mượn tiền để chùa khỏi bị nhà bank kéo vì thiếu nợ thì ,trong khi đó sư trụ trì lại đi tìm đất để mua bán kinh doanh.

Buồn vui trên xứ người luôn là động lực để họ đến với Đạo. Hy vọng một số tu sĩ thiếu phẩm hạnh đừng tạo thêm hố ngăn cách giữa họ với Đạo. Tại DC, một vài nhóm anh em Phật tử lập thành Đạo tràng  tu tập tại gia khi  mà đến  chùa trở thành một phiền não đối với họ. Trong và ngoài nước hiện nay, cư sĩ tu hành rất tinh chuyên.

                                                                         *

                                                                       *   *

Trên đường về, Bé lớn đã thay tay lái cho Tâm Nghiêm chạy suốt đêm, tuy 26 tuổi mà khôn ngoan đáo để. Với giọng Quảng Trị vùng Lao Bảo, nhiều âm  khó nghe, thế mà vẫn tía lia hồn nhiên. Từ lúc đi đến khi về , trên xe ngập tràn tiếng cười. H.Y lai ngây thơ đến độ :” Thành Phật sớm quá cũng khổ cho chúng tôi” những câu ngây ngô của H.Y làm cho Trang và Bé lớn  nổ dòn sặc sụa giữa đêm mưa trơn trượt. Bé nhỏ con của Trang thì lặng lẽ, nghiêm nghị, nói toàn tiếng Mỹ, mẹ nói tiếng Việt nó cố gắng lắm cũng chi nói bập bẹ vài tiếng xen một tràng tiếng bản xứ, cứ như người Thượng nói tiếng Việt. Ba giờ sáng đến chùa Phật Quang của thầy Kiến Như, ngôi chùa cải biên từ nhà Chúa. Ngôi nhà thờ thuộc loại cổ nằm trong danh bạ di tích, nhường lại cho nhà chùa. Rồi trời vẫn mưa, dạ khách vẫn đi trên con đường vây bủa giữa màn đêm. Chưa bao giờ vùng Virginia có cơn mưa dầm như thế, đến nỗi một số vùng ngập lụt, động đất, mưa dầm đến với Virginia như chưa bao giờ có mặt lữ khách đến với cộng đồng Phật giáo hải ngoại như cơn bảo ngầm.

Mưa rồi cũng sẽ nhường cho chân trời nắng ấm, những uẩn khúc trong lòng Phật tử cũng sẽ nhường lại cho niềm tin chính đáng khi cộng đồng Phật giáo hải ngoại có những bậc chân sư.

Ngày cuối chia tay để trở về nửa vòng trái đất bên kia đại dương, thì bầu trời ráo tạnh như chưa bao giờ trũng nước, tia nắng chiều chói chang, lữ khách vẫn được mời cơm khách. Ttừ chùa đến Eden  non một tiếng, Eden nhộn nhịp như những vùng có đông người Việt. Trên chiếc bàn bốn người ngoài góc sân, Mai lớn lẫn Mai Lệ Trí cùng xuất hiện. Mai lớn chỉ vừa biết nhau ba ngày, Mai nhỏ đã quen ba tháng, tất cả do anh Trường kết nối “vòng tay lớn” . Bốn người trao đổi về đạo lý nhà Phật, bốn người mang bốn tâm trạng khác nhau của mỗi gia cảnh, cũng như cả triệu kiều bào  sống tha hương, đều lúng túng giữa Đạo và Đời, đều nặng lòng với sinh hoạt tín ngưỡng chưa có lối thoát mà một vài vị giảng dạy mâu thuẩn nhau. Trên những gương mặt ấy, vẫn còn rạng ánh sáng tâm linh như bầu trời Virginia chưa từng phủ lạnh mưa dầm. Cuối chân trời không một gợn mây.

 

                                                                                        MINH MAN

                                                                                         09 / 9 / 2011

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2026

PHẬT PHÁP VÔ BIÊN

 


Trên các trang mạng, thi thoảng được nghe nhiều bài giảng của quý thầy, của phật tử, diễn đạt một góc nhỏ về giáo lý, tuy chưa sâu sắc nhưng vẫn thể hiện được đức tin và tấm lòng đối với Phật pháp.

Phật pháp vô biên thì giáo pháp cũng đa hệ do căn cơ đa dạng của sanh chúng cần đáp ứng.Ngay cả thuốc trị cùng bệnh mà có nhiều loại khác nhau để thích hợp cơ địa khác nhau của bệnh  nhân.Xuất hiện nhiều Tôn giáo cũng vì lý do đó, theo phân loại của nhà Phật, hệ thống đạo giáo trong thế gian hiện nay không ngoài ngũ thừa, tức “Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ tát thừa” đó là nấc thang tiến hóa của nhân loại. Tùy căn cơ mà chọn một tín ngưỡng để nâng cấp tâm linh.

Tùy duyên, tùy trình độ thì không thể xem những ai khác mình là đi sai đường. Trong phạm vi Phật giáo cũng vậy. Gần ba ngàn năm về trước, nhân loại đang thời đại thoát thai từ nguyên thủy, tinh thần còn đơn sơ do xã hội chưa phát triển phức tạp.Nhân loại đối diện với bao phức tạp của thiên nhiên, sanh tâm lo sợ nên phát sanh tín ngưỡng thần quyền. Tuy nhiên, vẫn có những căn cơ tiến hóa, biết chọn cách sống, luyện tập để hòa hợp với thiên nhiên, trong đó có Yoga; Bên Trung Hoa lúc bấy giờ cũng xuất hiện Đạo gia Lão Trang chủ trương Thiên-Nhân hợp nhất, quan niệm con người là tiểu vũ trụ, tương ứng với đại vũ trụ, nên phát triển pháp hành về “Tiểu châu thiên và đại châu thiên” sau thời gian luyện tập đã xuất hiện “thánh thai” triển hiện trí tuệ và thần thông của Tiên giới. Mạnh Tử và Khổng Tử từng bảo: “thuận thiên giả tồn nghịch thiên giả vong”.Ấn độ giáo quan niệm con người là Atma (Tiểu ngã) còn Đại ngã là Brahman, Tiểu ngã là một phần của Đại ngã.

Đó là nét đạo đức xã hội của Khổng khưu, và tiến hóa tâm linh của Lão Trang giúp Trung Hoa an định một thời.Tín ngưỡng nhân gian cũng không phức tạp như xã hội Ấn độ thời ấy. Thế thì Đức Phật xuất hiện trong một xã hội đa thần phức tạp,  để giúp quần chúng thoát khỏi đức tin và giai cấp đè nặng căn cơ người dân, Đức Phật phương tiện thuyết giáo và đưa ra những pháp hành thích ứng với trình độ đương thời; Ngài không triển khai sâu rộng hơn không có nghĩa Ngài không thấu đạt mọi sự, như người chữa trị vết thương mà không cần biết ai đã tạo vết thương cho bệnh nhân.

Khi trình độ con người tiến hóa thì sẽ xuất hiện nhiều phức tạp, đưa cuộc sống xã hội đa dạng, nhiều uẩn khúc vượt ngoài tầm kiểm soát, từ đó tập nhiễm cũng đa dạng đưa đến sa đọa, xa dần chân tính. Bệnh tật phát sanh đa dạng thì y học cũng sáng chế nhiều y dược đối trị.Về giáo dục xã hội cũng có những giáo khoa tương thích giúp cho lớp trẻ khỏi sa vào tội phạm. Chúng ta cũng không ngạc nhiên khi xuất hiện nhiều hiện tượng tín ngưỡng tạp nhạp, Tôn giáo Thần quyền, tốt cũng có, mơ hồ mê muội cũng có.

Sau Phật nhiều thế kỷ, Phật giáo truyền bá về phương Bắc, chịu ảnh hưởng Tôn giáo bản địa để cùng phát triển, tuy nhiên không vì thế đánh mất bản sắc thoát ly “tam giới” của nhà Phật đề ra.Tây Tạng ảnh hưởng đạo Bon,Trung Hoa ảnh hưởng đạo đức xã hội của Khổng giáo và Tiên Thiên của Lão giáo, thêm màu sẵc tín ngưỡng nhân gian đưa đạo Phật Trung Hoa và Việt Nam qua nhiều hình thức đa dạng đi xa bản gốc, đó là đạo Phật nhập thế để hòa đồng tồn tại. Một bộ phận khác, các bậc chân tu thoát khỏi hình thức Tôn giáo, ẩn cư nơi hang sâu núi thẳm. Những Tổ đức vừa duy trì giềng mối giải thoát, vừa triển khai giáo lý Đại thừa (ngày nay gọi là giáo lý phát triển tránh đối nghịch với giáo lý Tiểu thừa) cho thích nghi với trình độ tiến hóa thời đại, không có nghĩa giáo lý Phát triển sai lệch giáo lý nguyên thủy. Một cây sanh nhiều nhánh sum suê  vẫn là từ một cây, thể hiện sức sống mãnh liệt của thân cây. Nếu duy trì tính nguyên thủy thì Phật giáo không thể thâm nhập vào các xã hội trên thế giới ngày nay.Tuy Tam tạng kinh điển quy mô do chư Tổ triển khai cũng không ra khỏi “Tam pháp ấn” của giáo lý nhà Phật.

Một trái cây tùy mỗi vùng, mỗi dân tộc gọi khác nhau, nó vẫn là trái cây đó, có thể do thổ nhưỡng  khác nhau mà hương vị khác nhau. Bác sĩ đa khoa hay bác sĩ chuyên khoa đều là bác sĩ, nhưng không thể bảo bác sĩ chuyên khoa đều là bác sĩ đa khoa. Cũng thế mười phương chư Phật đồng một bản thể do hạnh nguyện khác nhau mà có danh hiệu khác nhau.Nếu bảo niệm hồng danh mười phương chư Phật là bao gồm niệm hạnh nguyện của một vị Phật là không thể. Nếu đánh tráo khái niệm để xóa danh một vị Phật thì cần gì có một Đức Di Đà vô Lượng thọ vô lượng Quang, một Dược sư Lưu Ly quang Như Lai, một Địa Tạng vương Bồ tát???…Nếu phủ nhận chư Phật mười phương, hay bảo Phật Di Đà không có thật chẳng khác nào  ông bà tổ tiên không có thật dưới con mắt của con trẻ.Cho dù ngoài đức Phật Thích Ca không có Phật nào khác, những vị thay Phật giáo hóa chúng sanh không có giá trị sao?

Tôn giáo, giáo lý, pháp hành đều là phương tiện giúp chúng ta hướng thiện và hướng thượng, tất cả những gì hiện hữu kể cả tín ngưỡng và Tôn giáo đều không thể xem là tuyệt đối, thế thì không nên xem những gì khác với niềm tin của mình là sai trái

Người tu Phật cần nhận định rõ thể tánh và thể tướng khác nhau, tuy đồng một bản thể , danh tướng do hạnh nguyện giúp chúng ta nương vào để thăng hoa, hiểu như vậy mới tránh khỏi tính cực đoan cố chấp do kiến thủ, chấp thủ mà hành giả cần phải loại bỏ khi tin vào con đường Phật đạo.

 

MINH MẪN

  02/9/26