Hiện nay chưa có thống kê đầy đủ về chùa, am, nói
đúng và chính xác hơn là nơi thờ tự của các tu sĩ Phật giáo Việt Nam tại Mỹ; bời
vì nếu gọi là chùa như quen gọi ở quê nhà, thì nơi đây phần lớn chưa có một tầm
vóc, kiểu dáng của những ngôi chùa mang màu sắc Á Đông, đó chỉ là những ngôi nhà
dân, họ mua lại để thờ và ở, quy tụ một
ít tín đồ đến lễ bái. Những vị Tăng ở lâu năm, có tín đồ đông, mua được đất hoặc
nhà lân cận để nới rộng khuôn viên, có chỗ đậu xe hơi vào ngày lễ lớn, từ đó tầm
vóc ngôi chùa mới hình thành. Cali, Los, Houston, San jose, Sacramento,
Virginia, Washington. DC…đều có chùa. Mỗi bang có luật riêng, trong đó nơi thờ
tự tôn giáo đòi hỏi có parking như Washington DC, yêu cầu có từ 5 mẫu, nhiều
cây xanh, và bảo đảm vệ sinh, an toàn cho người tới lui, thậm chí không được
làm nhà ăn, nhà bếp, nhà ở chung nơi thờ
phượng. Ở Cali có vài chùa tạo được khuôn viên rộng thoáng, chư Tăng ở những ngôi chùa như thế cũng đã lâu dài. Một
số nơi thờ phượng có ít tín đồ, không thể trả tiền cho ngân hàng, đều bị trưng
thu là chuyện thường ở Mỹ.
Sáng 23/7 đến thăm chùa H. N của thầy P. T, trong lúc vừa trò chuyện, vừa làm việc, vì chùa đang xây dựng, thầy cho biết
rất nhiều về sự rạn nứt trong cộng đồng tu sĩ. Tuy lượng số tu sĩ ở đây không
bao nhiêu, nhưng có quá nhiều giáo hội, ngay cả cái gọi là Giáo hội PGVNTN,
cũng chia làm nhiều mãnh. Vì thế, thầy dùng từ châm biếm nói đến hai chữ Giáo hội:
“Cáo Hội”. Thầy cho biết nhân cách của những vị nổi tiếng cũng quá nhiều tai tiếng.
Có vị góp 700 ngàn USD để xin được chức phó Thủ Tướng của Nguyễn Hữu Chánh, khi
tiền không còn để trả ngân hàng, dĩ nhiên chùa cũng theo mây khói, vào nhà
băng. HT C.T chùa L. H tại Garden Grove, một thành phố phía Bắc quận Cam, tiểu
bang Cali, (nơi đây dân số Việt Nam độ 36 ngàn người, chiếm khoản 22% dân số
thành phố) thuộc Giáo Hội Phật Giáo Liên Châu, cho biết, nhân lễ Phật Đản 2555,
khi đề cập đến tình hình biển Đông, một tu sĩ nói: “Thà nô lệ cho Tàu cho Nga
còn hơn cho Mỹ…” nghĩa là thầy ngao ngán tinh thần chính trị của Tăng sĩ ngày
nay tại hải ngoại. Một Pháp sư trưởng lão của một hệ phái tạo dựng nhiều Tịnh
xá, không có người trông nom, không có tiền tháng cho điện nước, nợ nhà băng, rồi
cũng của Thiên trả Địa.
Hầu hết chùa lớn chùa nhỏ chỉ có từ một đến hai vị
cư ngụ. Nếu tính kinh tế, phải bỏ ra hàng trăm ngàn, có khi cả triệu Mỹ kim từ
túi tín đồ để xây dựng cơ sở như thế, thuế má, chi phí mọi thứ có khi lên cả
ngàn USD hàng tháng, lúc nào đó không trả nỗi sẽ mất trắng cơ sở; cho dù thanh
toán sòng phẳng hàng tháng thì quả là quá phí phạm chỉ để cho một hai vị trú ngụ.
Quần chúng cuối tuần mới đến chùa một lần, có nơi cũng chẳng ai vãng lai nếu
nơi đó có nhiều tai tiếng và bị chụp mũ. Do sợ chụp mũ mà có vị phải chống Cộng
hăng tiết để minh chứng mình không là Cộng
sản. Chống cộng trở thành cái vỏ bọc thời
trang để có thu nhập. Thật ra quý thầy không ai muốn dây dưa vào chính trị, mục
đích chính là có thu nhập dồi dào.
Một số vị du học từ Ấn Độ, bay qua Mỹ rồi ở luôn, một
số từ Việt Nam đi du lịch, thăm viếng…cũng không chịu về lại. Họ tá túc tạm thời ngôi
chùa quen, thời gian ngắn tung cánh chim tìm về tổ mới, có một ít tín đồ hỗ trợ
mua nhà làm chùa. Khi đã có cơ sở, dĩ nhiên phải vay tiền ngân hàng để mua, họ
vất vả để kiếm tiền thanh toán mọi chi phí nợ nần, không có thì giờ để học và
tìm hiểu văn hóa sở tại. Một số có trình
độ tại Việt Nam, qua Mỹ họ tiếp tục học hành
để có bằng cấp, có kiến thức góp phần hoằng pháp cho tuổi trẻ tại Mỹ thì chưa tới
vài vị. Phần lón không ai có chí học hỏi, qua Mỹ như là điều kiện để an phận và
hưởng thụ. Tín vụ ma chay như một sở trường,
họ đáp ứng cho thế hệ lớn tuổi. Thế hệ nầy qua thời gian dần dà rơi rụng trong
vài mươi năm nữa. Tiếp đến thế hệ sanh từ Việt Nam, lớn lên từ Mỹ, được đào tạo
văn hóa Mỹ, còn lưu lại một ít tín ngưỡng của cha mẹ ông bà, họ đến chùa như
thói quen đề làm vui lòng người lớn; việc nghi lễ đối với thế hệ nầy không cần
thiết, tìm hiểu giáo lý cũng không là một nhu cầu. Nếu có, họ cần nghe chư Tăng
giảng dạy theo mô thức khoa học hơn là đức tin. Đến thế hệ thứ ba sanh tại Mỹ,
lớn lên tại Mỹ, được giáo dục tại Mỹ, trở
thành Mỹ rặc, họ chỉ khác màu da; Họ không biết tiếng Việt, chính vì thế họ cảm
thấy lạt lẽo khi đến chùa mà chỉ nghe tiếng
nói thuần Việt của các sư. Trình độ, ngôn ngữ của các sư không thích hợp với thế
hệ trẻ như thế. Trong khi đó, chưa có một chú tiểu nào xuất gia tại Mỹ, có
nghĩa là lớp kế thừa thuần Mỹ chưa có dấu hiệu xuất hiện, tre sẽ già mà măng
chưa mọc. Chư Tăng được bảo lãnh qua cũng tiếp tục công việc ma chay đám cúng
chứ không có khả năng ngoại ngữ để truyền đạt giáo lý trên đất nước Âu Mỹ. Sở
dĩ Đức Đạt Lai Lạt Ma và Thiền sư Nhất Hạnh thành công là vì truyền đạt giáo lý
bằng ngôn ngữ sở tại.
Với số lượng hàng ngàn ngôi chùa trên khắp nước Mỹ
bao nhiêu tốn kém chỉ để phục vụ lớp già và sắp già, khi thế hệ nầy không còn
thì chùa tồn tại như một chứng tích lỗi thời? Chưa nói đến số người lớn tuổi
không còn tự phục vụ, tự lái xe đến chùa, con cái bận công ăn việc làm bù đầu,
mức thu nhập của chùa cũng vơi dần, ngoài việc lưu hủ cốt và thờ vong; Bấy giờ
chùa chỉ là nơi ký gủi người quá cố, phục
vụ cho kẻ chết chứ không còn là cơ sở hoằng truyền chánh pháp. Trong khi đó, tại
Việt Nam, hệ phái Tin Lành truyền bá ồ ạt, chỉ cần một đêm tới sáng là cả một
vùng theo Tin Lành, nhất là vùng cao và thôn quê, họ không cần xây dựng nhà thờ,
nhà nguyện; hội Thánh là trong tâm mỗi tín đồ, họ tụ tập luân phiên mỗi nhà tín
hữu để cầu nguyện và phụng sự. Thay vì móc túi tín đồ xây dựng cơ sở thờ tự, họ
chu cấp cho tín hữu cuộc sống. Họ nhiệt tâm trong việc ma chay mà không hề nêu
giá làm tiền khi tang gia bối rối.Tại
sao Tin Lành thành công trong việc truyền bá tín ngưỡng? Họ không câu nệ hình
thức, không cơ sở, không chức sắc, không hưởng thụ và luôn có đức hy sinh, chịu
khó. Họ không cần xin xăm bói quẻ xử dụng vàng mã để làm phương tiện hướng dẫn
quần chúng có khi những phương tiện đó làm mê hoặc quần chúng như một số chùa.
Ngược lại, chùa càng phát triển càng làm mất niềm tin quần chúng vì nhân cách của
chư Tăng. Tại hải ngoại, có những tín đồ ngoan đạo, cũng phải dán vào cửa văn
phòng làm việc của mình tấm hình của vị
phạm giới với dòng chữ MA TĂNG, có những người quá bất mãn, họ lẳng lặng đầu
thú với ngoại giáo như một lối thoát của niềm tin và sự thất vọng. Với số lượng
cơ sở vật chất của Phật giáo Việt Nam tại xứ người, không phục vụ cho xã hội âu
Mỹ về Đạo lý trí tuệ mà chỉ là chứng tích tỵ nạn và nơi an dưỡng hưởng thụ cho
những ai không có chí cầu tiến, dĩ nhiên, nhàn cư vi bất thiện, từ đó tệ nạn
phát sanh…và, sư Việt sống với cộng đồng người Việt như người Hoa ở Chợ Lớn, Việt
Nam cũng vậy, mỗi ngày mỗi thu hẹp sinh hoạt khi những thế hệ kế tiếp thuần là
Mỹ hóa. Các chùa Tàu ở Mỹ hậu bán thế kỷ 20 đến thập niên đầu kỷ nguyên 21 bị
thu hẹp thế nào thì chùa Việt Nam rồi
đây cũng cùng chung số phận. Hiện nay, cộng đồng cư dân Việt Nam , Triều Tiên,
Tàu là một trong số gốc chấu Á quy tụ nhiều tại Cali, Texas, San jose, được xem là Sài gòn nhỏ.
Các sư Việt chưa có lối thoát cho tương lai, cứ nghĩ nơi nào có người Việt là
chùa có thể tồn tại. Nếu chiết tính kỷ, 36 ngàn người Việt hiện nay ở Cali,
chia đều cho Tin Lành , Vatican, Phật
giáo, chưa nói đến các giáo phái khác, thì tín đồ Đạo Phật cũng chỉ 12 ngàn.
Trong số 12 ngàn chia làm ba, một là tuổi trẻ, hai là tuổi trung niên và ba là
tuổi già thì tuổi già chỉ còn bốn ngàn người cộng thêm phân nửa tuổi trung niên
có tâm đạo cũng chỉ được sáu ngàn người
đến chùa. Tuổi trẻ ở Mỹ thích đi chùa là chuyện hiếm hoi. Số bốn ngàn cho tuổi
già, một ít không tự lái xe đi chùa được, phải nhờ con cháu. Suốt tuần cày mệt
mỏi, con cháu cần nghỉ ngơi, làm vệ sinh nhà cửa và đi chợ mua thực phẩm cho suốt
một tuần. Như thế số người chia đều cho hàng
trăm ngôi chùa không phải là lớn, tiền của vật chất đổ vào việc xây dựng cơ sở
đồ sộ như thế để làm gì khi mà tâm linh, sự tu tập và niềm khát vọng về giáo lý của quần chúng bị bỏ trống; chính
vì quần chúng và chư Tăng không được trang bị nội lực mà chỉ chạy theo nhu cầu
vật chất, liệu Phật giáo có bị biến dạng thành một loại doanh nghiệp mới? nếu
chư Tăng không đủ khả năng trang bị cho mình một kiến thức thời đại để hội nhập
xã hội văn minh, tự mình đào thải mình, an phận với ngôi chùa được thu nhập lợi tức từ việc thờ linh, lưu cốt, xã hội âu Mỹ sẽ hiểu Phật giáo là gì, chưa nói đến quần chúng
Mỹ đang có một tôn giáo truyền thống, họ sẽ xem thường các sư và hình ảnh đức
Phật xa lạ. Giới trí âu Mỹ thức hiểu về Đạo Phật qua tư tưởng triết học và thiền
học, họ cũng không thể đến với chùa và các sư Việt Nam để lễ lạy cúng kiến.
Tổ chức Gia Đình Phật Tử, tuy là một đoàn thể trẻ của
con em người Việt, nhưng chúng cũng không mấy hứng thú với sự diễn dịch giáo lý
mang tính huyền thoại và giáo án có từ
60 năm qua không được cập nhật, làm sao hấp dẫn các em bằng những thú
vui cám dỗ của thời đại @? Ngày nay, cuộc sống xây dựng trên vật chất, nhưng vật
chất không giúp xã hội hạnh phúc thật sự, vì thế tội phạm phát sanh. Đạo Phật
xuất hiện mục đích giúp con người sống có hạnh phúc chứ không thể tạo thêm sự bất
mãn thất vọng cho xã hội. Nếu chư Tăng chưa đủ khả năng chuyển hóa tâm linh cho
quần chúng, ít ra cũng phải góp phần an ủi cho cộng đồng người Việt có một chỗ
nương tựa tinh thần. Chùa lớn đất rộng tại
sao chúng ta không lập nhà dưỡng lão cho các cụ, vừa gần chùa nghe kinh, vừa có
tình người và con cháu viếng thăm tiện hơn đưa vào nhà dưỡng lão? Các cụ sẽ
không còn cảm thấy cô đơn lạc lỏng giữa bốn vách tường và người xa lạ không
cùng ngôn ngữ. Mở lớp dạy Việt ngữ, tổ chức các show bảo tồn văn hóa dân tộc và nhiều việc lợi ích cho cộng đồng
hơn là an hưởng một cách thụ động.
Chư Tăng sống có mục đích công ích thì quần chúng sẽ
không xa rời đạo Phật; chư Tăng và quần
chúng đều hướng vào tâm linh và công ích xã hội thì tình thương sẽ phát triển,
lòng đố kỵ chống báng nhau, chụp mũ nhau sẽ không còn; Phật giáo Việt Nam tại xứ
người sẽ có bộ mặt tươi nhuận hơn, đi vào lòng xã hội dễ hơn và sự tồn tại của
chùa Việt Nam mới có ý nghĩa hơn.
Chưa phải muộn để chư Tăng Việt Nam và các ngôi chùa
Việt Nam trên đất Mỹ dọn cho mình con đường hội nhập và tồn tại. Các vị tiền
nhiệm như cố Hòa Thượng Thiên Ân, Thiền sư Nhất Hạnh đã mở đường, chúng ta chỉ
tiếp nối và khai phóng cho quang đảng, đừng để bị bít lối mà mang tội với chư
Phật chư Tổ.
Có lẽ quần chúng Phật tử Việt kiều cũng chỉ mong ước
có thế thôi, chư Tăng sẽ không còn nhìn nhau bằng sự ngờ vực, hố ngăn cách tự
nó được lấp kín. Hy vọng chùa Việt sẽ là
cơ sở tín ngưỡng tâm linh và công ích xã hội nhiều ý nghĩa dưới mắt người dân Mỹ
hiện nay.
MINH MẪN
23/7/2011