Thứ Hai, 21 tháng 9, 2020

Mangala Sutta

 


Kinh Mangala Sutta là bản kinh số 5 trong Tiểu bộ thuộc phần Tiểu tụng, được phổ biến trong các quốc gia Phật giáo Nam truyền. Tại Việt Nam được TT Bửu Chánh giảng tại chùa Xá Lọi, HT Huyền Diệu và một vài giảng sư Bắc tông thuyết giảng chung chung.

Mangala có nghĩa la “hạnh phúc” – “Phúc đức” -  “ Điềm lành” – “Phước lành”. Hay nói một cách bao quát hơn, rộng nghĩa hơn  Mangala là những nguyên tắc tạo cho con người thực hành đưa đến một đời sống an lạc, hạnh phúc, lợi mình, lợi người; một nền tảng xây dựng xã hội an lành, đạo đức. Một đạo đức nhân thân đưa đến thành công trong đời sống. Vì thế, không phải là bản kinh chỉ để tụng đọc mà là để hành trì.

Đây là bài kinh quan trọng đến độ, một chú tiểu vào chùa tại Miến điện, đầu tiên được dạy bản kinh này; thậm chí một số sư thuộc lòng, xem đó là bản kinh gối đầu giường và là bản đồ dẫn đạo suốt lộ trình tu tập.

                                                           ***

1. Không gần kẻ ngu si,
Thân cận người hiền trí,
Cúng dường bậc xứng đáng,
Là phước đức lớn nhất

Nơi đây, chỉ dẫn chứng giá trị của bản kinh qua 38 pháp hành được đức Thế Tôn giảng dạy cho chư Thiên lúc đêm về.

Chữ “ngu”, cũng có nghĩa là xấu ác,là phần đầu tiên đức Thế tôn dạy cho chư Thiên, nó khác với cái “ngu” mà thế thường hay sử dụng. Ngu không chỉ là sự dốt nát vấn đề nào đó, không hiểu điều người khác nói, không phân biệt đúng sai... Chữ ngu như thế không đủ ngôn ngữ diễn đạt, người ta chỉ nói là “ngu như bò”, thật ra bò không hẳn đã ngu, nó biết đường đi lối về sau một ngày cày ruộng, nó biết phân biệt chủ và người lạ; biết giành tình cảm cho con; biết lo sợ khóc lóc khi đưa vào lò mổ.

Chữ “ngu” trong Phật giáo có nghĩa si mê, tăm tối, sa đọa, sống theo bản năng tham dục,luyến ái…Không biết mà tham đắm đã đành, biết là sai quấy mà vẫn phạm cũng gọi là ngu.Hầu hết trong chúng ta, ít nhiều đều phạm phải cái ngu của vô minh Tham-sân-si.Tại sao Phật dạy không nên thân cận, gần gủi, giao du với kẻ ngu? Mà phải thân cận với người hiền trí?.Thế thường bảo – gần mực thì đen, gần đèn thì sáng – đó là cách nói ám chỉ người không đủ bản lãnh tự chủ. Theo tinh thần Phật giáo Bắc truyền, hạnh Bồ tát, phải lăn xả vào đời để độ chúng sanh tội lỗi; không phân biệt kẻ sang người hèn, kẻ tốt người xấu; nếu chọn tốt thì ai sẽ chơi với kẻ xấu? kẻ xấu bị loại ra khỏi cuộc chơi thì muôn đời họ vẫn là kẻ xấu, không có cơ hội học hỏi người tốt để trở thành người tốt?Tuy nhiên, nếu người không đủ bản lãnh tự chủ mà thân cận, giao du với kể tăm tối ngu si, không độ được người ta, ngược lại bị kẻ xấu lôi cuốn vào con đường tội lỗi.Đó là lý do Phật dạy không gần kẻ ngu mà phải thân cận người hiền trí.Tập khí kiết sử ai cũng có, hoặc hiển lộ hoặc tiềm ẩn; người biết tu tập thì các tập khí xấu ác được chế ngự, nếu thân cận kẻ xấu ác thì lâu ngày các hạt giống xấu ác sẽ sống dậy. Ngoại cảnh là vậy, nội tâm có hai bản chất – xấu và tốt, nếu luôn thân cận hạt giống xấu thi biến thành kẻ xấu; “không gần kẻ ngu si”  là không sống với bản chất bất thiện, luôn thể hiện bản tánh hiền trí, có nghĩa luôn thân cận người thánh thiện có trí tuệ.Hạt giống tốt huân tập lâu ngày, cuộc sống thánh thiện trở nên người hiền trí

Xa tránh kẻ ngu si xấu ác, thân cận người hiền trí để học hỏi điều hay,cũng chưa đủ nếu không khởi tâm cúng dường, tôn kính; mà phải cúng dường, tôn kính  bậc xứng đáng; nghĩa là khi hạt giống si mê ám chướng tham dục xa lìa, hiển lộ hạt giống thánh thiện, thì việc cúng dường hạt giống tuệ giác ( bậc xứng đáng) đồng nghĩa với “năng lễ, sở lễ tánh không tịch”, không còn chấp ngã vô ngã, đó là điềm lành tối thượng thứ nhất Phật dạy.

 

2. Ở trú xứ thích hợp,
Quá khứ tạo nhân lành,
Hướng tâm theo lẽ chánh,
Là điềm lành tối thượng

Trong luật Tỳ kheo quy định -   nơi chốn,chỗ ở, là nơi không có nguy hiểm, nơi không bị bít lối. Nếu tỳ kheo, nơi ở có nguy hiểm, nơi bị bít lối , phạm tăng già bà thi sa.Với tu sĩ đã như vậy thì cư sĩ cũng phải chọn cho mình chỗ ở thích hợp về an ninh, sức khỏe, thuận tiện việc đi lại làm ăn; tiện nghi tối thiểu, không khí trong lành tối thiểu, gần cơ sở giáo dục và thực phẩm không độc hại.Y tế, thực phẩm, không khí, nước uống là những tiêu chuẩn ắt có và đủ tạo một cuộc sống thích hợp cho việc tiến hóa tâm linh.. Chỗ ở loạn lạc, trộm cướp hay toàn thành phần bất hảo thì làm sao an lạc được.Một chỗ ở thuận tiện, kế sinh nhai thuần thiện cần phải có.…Hàng ngàn năm trước, tuy thoát khỏi sự chi phối những luật lệ thông thường thế tục, Đức Phật vì chúng sanh cũng phải hướng dẫn đồ chúng sống đúng nguyên tắc an sinh xã hội. Trung Hoa cũng có một nguyên lý địa chính, thổ nhưỡng tương thích với gia chủ tọa lạc trên vùng đất tương sinh,vượng địa, gọi là địa lý thuộc Dịch học.Thầy địa lý xem phương hướng tương thích với tuổi tác, cung mệnh của gia chủ để đoán định cát hung theo hướng tương sinh, đắc địa thu nạp sinh khí mới vượng phát, tránh tai nạn bệnh tật…

Nguyên tắc là vậy, còn tùy thuộc phước báu cá nhân của gia chủ mà kết quả gia giảm nặng nhẹ khác nhau. Địa lý còn bị chi phối vùng đất, khu vực, chợ phố khó mà chọn đúng hướng hạp với tuổi tác. Như vậy, theo lời dạy của đức Phật có thông thoáng hơn, không lệ thuộc tuổi tác, địa lý, chỉ yêu cầu nơi ở thích hợp với tâm trạng đem lại an lành, vui vẻ, không bị nhiều chướng ngại là tốt.

Việc chọn được chỗ ở thích hợp, còn tùy thuộc vào phước nghiệp quá khứ gieo tạo nhân lành Trong Kinh Pháp Hoa có nói: Có những nhân thấy rất nhỏ, nhưng chính những nhân đó đưa chúng ta tới kết quả rất lớn. Có một người đi vào trong tháp hay trong miếu tự nhiên thốt ra: nam mô A Di Đà Phật, chỉ cần nói một câu nhưng chính nhờ hạt giống nhỏ xíu ấy mà sau này người đó thành Phật (Nhất sinh nam mô Phật, da dĩ thành Phật đạo). Mình đã từng phát khởi được tâm niệm lành, đã từng nói được lời lành và đã từng làm được điều lành thì tất cả những điều lành trở thành vốn liếng của mình. Sau này mình thành công được là nhờ vốn liếng đó. Mình đã tạo tác những nhân lành trong quá khứ và trong giây phút hiện tại mình có thể làm thêm. Đức Phật dạy rằng, đừng trì hoãn để làm một việc tốt. Hãy làm ngay. Bởi vì chúng ta chẳng biết khi nào chúng ta sẽ chết. Đừng nói rằng ngày mai tôi sẽ làm việc tốt. Hãy làm một việc gì đó tốt đẹp ngay bây giờ. Chúng ta có quá nhiều điều tốt đẹp để làm. Những gì tốt đẹp nhất mà ta có thể làm lại không cần một thời gian đặc biệt nào, và thậm chí không tiêu tốn tiền bạc của chúng ta.

Tăng thân Làng Mai từng tâm niệm:

Các Đức Thế Tôn thường trú trên đời, xin thương xót con.
Nếu con đã từng bố thí, dù chỉ là một nắm cơm.
Nếu con đã từng từng cứu độ chúng sanh, dù chỉ là vài con sâu con kiến.
Nếu con đã từng nói lời dễ thương, dù chỉ một vài câu làm cho người bớt khổ.

Quá khứ từng tạo nhân lành nên hiện tại gặp quả tốt đi vào chánh đạo dễ dàng.Đó là điềm lành tối thượng.Nếu không tạo nhân lành quá khứ, ngay cả hiện tại thì làm sao có quả tốt cho ta hưởng. Chư Tổ từng nói – “dục tri tiền thế nhân, kim sanh thọ giả thị, dục tri lai thé quả, kim sanh tác giả thị. muốn biết cái nhân kiếp trước, hãy xem cái thọ nhận hiện tại, muốn biết quả kiếp sau, hãy xem việc làm hiện nay.

 

3. Học nhiều, nghề nghiệp giỏi,
Giới luật biết tu tập,
Có những lời khéo nói,
Là điềm lành tối thượng

Việc hướng dẫn cho mỗi thành phần, mỗi trình độ khác nhau, Đức Thế Tôn tùy căn cơ, tùy thời điểm, đưa ra những pháp hành khác nhau. Cũng thế, chư Thiên là dạng chúng sanh trọn đời hưởng phước; chúng sanh cỏi Ta bà, phần lớn cũng thích hưởng phước, nhưng không biết cách tạo phước, nếu có tạo phước thì đôi khi không tránh khỏi tạo tội.Do vậy những người giàu sang phú quý, quyền lực khó mà thoát khỏi sự chi phối của nhân quả vô thường.vẫn chịu tác động của khổ đau, không hưởng phước trọn vẹn suốt đời như chư Thiên.Ai đủ duyên đến với Tôn giáo,nhất là đạo Phật, được hướng dẫn cách sống tạo nhân để đến một cảnh giới có nhiều phước báu.Trong sáu cõi mà chúng sanh mãi trôi lăn, gọi là lục đạo luân hồi, chỉ có chư Thiên hưởng phước dồi dào, không biết khổ là gì, sướng quá khó tu, không nghĩ đến tu, đến khí phước mãn, hiện ngũ tướng suy, lúc đó chư Thiên chuẩn bị trở lại cõi thấp hơn để rèn luyện tu tập tạo phước,hoặc trả quả mà hạt giống nghiệp nhân ẩn sâu trong tiềm thức chưa có cơ hội trổ phát.Cõi người do phước tội lẫn lộn nên sung sướng khổ đau luôn thay nhau xuất hiện; người sướng nhiều khổ ít, kẻ sướng ít khổ nhiều. Sướng quá cũng khó tu, khổ quá càng khó tu, ngoại trừ có sẵn hạt giống  đạo đức, mới đến với Đạo để tiếp tục học hỏi, tránh ác làm lành.

Do căn cơ của chư Thiên cũng như một số người trong cõi Nam Diêm phù Đề muốn hành thiện tạo phúc, đức Phật hướng dẫn cách sống theo chánh mạn và chánh nghiệp. Nghề nghiệp là phương tiện sống; mỗi thời đại phát sanh thêm những nghề mới. Năm mươi năm trước, thế hệ ông bà không biết vi tính là gì. Nhiều kỷ nghệ khoa học càng ngày càng phát triển, chỉ cần không quan tâm theo dõi đã trở thành lỗi thời lạc hậu. Ngày nay một vài vị chưa biết cách sử dụng computer, máy điện thoại cảm ứng…Để thích ứng với đời sống xã hội, Đức Phật khuyến khích học nhiều nghề và nghề nghiệp thật giỏi. Ngày xưa ông cha quan niệm – nhất nghệ tinh, nhất thân vinh – với xã hội đa dạng ngày nay, ngoài nghề chính, cần có thêm nghề tay trái, nguồn thu nhập mới đủ nuôi sống gia đình. Một Bác sĩ chuyên khoa cũng phải tìm hiểu học hỏi thêm các ngành khác trong y học. Gần ba ngàn năm trước, Đức Phật đã thấy giá trị nhu cầu cần phải học nhiều và nghề nghiệp thật giỏi; “

Kiến thức đa văn dễ đưa đến cống cao ngã mạn, để hỗ trợ cho việc tiến thân trong sự nghiệp, cần có đạo hạnh để nhân cách được hoàn chỉnh.Đạo hạnh thông qua giới luật. Về phương diên kỷ luật, dĩ nhiên dù sống cá nhân hay môi trường tập thể cũng cần có kỷ luật. Hãy nghe sư Nam Tông nói về kỷ luật của một nhà sư: Chúng tôi có giới luật về cách sống, sinh hoạt. Kể cả cách mặc y cũng là một giới luật. Đức Phật dạy chúng tôi cách đi đứng. Cách bước đi. Không bước đi những bước ngắn. Điều đó trông không ổn, không trang nghiêm. Cũng không bước những bước thật dài. Điều đó trông cũng không ổn. Bạn mất sự cân bằng. Bước đi không quá ngắn, không quá dài. Không bước đi trên những ngón chân. Không bước đi bằng gót chân. Liệu trông có ổn không, khi một ai đó bước đi bằng gót chân? Trông sẽ rất vụng về. Bạn cần bước đi với các bước chân đều đặn đặt lên nền nhà. Trong kinh điển Pali, có những miêu tả về cách mà Đức Phật bước đi. Chúng tôi học về những điều đó, cố gắng hiểu cũng như thực hành cách bước đi như vậy của Đức Phật.

Phật giáo Bắc tông, trước khi thọ Sa Di, cũng phải nằm lòng bốn cuốn luật – Tỳ ni –Sa Di – oai nghi – cảnh sách. Cơ bản huấn luyện nhân cách cho một tu sĩ bước đầu làm thầy.

Tùy khả năng thọ trì mà phát nguyện những giới điều cần phải có. Giới của xuất gia dành cho những vị quyết tâm thoát ly sanh tử. Giới của vị xuất gia nam khác với vị xuất gia nữ. Giới của mấy chú tập sự khác với Sa Di, Sa Di khác với Tỳ Kheo, giới Thức Xoa cũng thế..Do đời sống xuất gia không bận tâm với cuộc sống thế tục, không đòi hỏi nghề nghiệp, học vị, nên giới luật càng nhiều càng thúc liễm thân tâm tránh điều giới phạm.

Bản thân được trang bị đạo giới và kiến thức nghề nghiệp, Đức Phật không quên nhắc nhở vê ngôn cách ứng xử đối với chung quanh. Thế thường, ông bà đã dạy – lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Chính quyền nào cũng có bộ Ngoại giao, là bộ phận dùng khả năng ăn nói truyền đạt chủ trương, đường lối của một chính sách, để đối tác chấp nhận điều mình truyền đạt. Ngôn ngữ là phương tiện truyền đạt; mỗi chủng loại có một ngôn ngữ riêng chứ không riêng loài người. Nếu không có ngôn ngữ của chủng loại làm sao ong và kiến xây dựng được tổ, tha mồi tích lũy, điều khiển ong thợ mà ong chúa, kiến chúa duy trì đời sống tập thể…

Qua ngôn ngữ, thể hiện bản tánh của người truyền đạt. dù là vị trí bình thường hay có chức quyền trong xã hội, trong Tôn giáo, ngôn hành đóng vai trò thành bại trong công việc.Một quản lý hay một giám đốc có lời lẽ ôn tồn khác với lời nói cộc cằn thô lỗ tỏ vẻ quyền uy đối với nhân viên thuộc cấp. Một trụ trì khôn khéo từng lời nói dễ cảm hóa đồ chúng hơn là nóng nảy thị uy của kẻ có chức quyền. “Nhất sân chi hỏa năng thiêu vạn khoảnh công đức chi sơn”. Phật đã dạy thế nhưng mấy ai thể hiện khi việc bất bình xảy đến. Sân thể hiện qua ngôn từ và hành động.

Trong “tứ nhiếp pháp”, ái ngữ đứng hàng thứ hai sau bố thí. Do tầm quan trọng của lời nói, phần thứ nhì trong 38 pháp hạnh phúc kinh Điêm lành này, Phật dạy chư Thiên“Có những lời khéo nói,Là điềm lành tối thượng”

Lời nói khôn khéo vui lòng người nghe là truyền đạt năng lượng yêu thương, thể hiện đức nhân, tăng trưởng phước nghiệp, vì thế Phật bảo là Điềm lành tối thượng.
Phải nói, Đức Thế Tôn là nhà tâm lý sâu sắc,nhắc nhỡ dạy dỗ cho chư Thiên cũng là cho loài người, một cách chu đáo.

Trong phần ba, theo Thiền sư Nhất Hạnh chuyển dịch từ Hán tự:

Bài kệ 3
Nhược bất tùng thiên nhân
若不從天人
Hy vọng cầu kiểu hạnh
希望求僥倖
Diệc bất đáo thần từ 
亦不禱神祠 
Thị vi tối cát tường
是為最吉祥

Dịch nghĩa:
Không chạy theo các giới trời và người,
để cầu mong ban phúc và tránh họa,
cũng không đến cầu đảo ở các đền miếu,
đó là điềm lành lớn nhất.

 

4.Hiếu dưỡng mẹ và cha.

 Biết nuôi nấng vợ con.

Việc làm không xungkhắc, 

  Là điềm lành tối thượng

Hiếu dưỡng mẹ cha là đức tính quan trọng trong nền giáo dục học đường cũng như trong gia đình, nhất là các nước thuộc châu Á. Việt Nam, Trung Hoa (ngày xưa), Đại Hàn, Nhật Bản…Việt Nam ngày nay, tuy không đặt nặng việc hiếu dưỡng trong chương  trình giáo dục, nhưng truyền thống đó vẫn luôn tồn tại; Tinh thần đạo Hiếu trong Phật giáo Bắc tông, hàng năm, tháng bảy được xem là tháng báo hiếu, cộng thêm tính nghệ thuật “Hoa hồng cài áo” được phổ biến trong các chùa, nhất  là các đơn vị GĐPT, các em tổ chức rất bài bản, thể hiện giáo dục tính thiết thực hiếu đạo đối với cha mẹ tại buổi lễ,quỳ dưới chân thân mẫu, dâng lên tâm tư, tình cảm và lời hối lỗi trong năm qua đã làm cho mẹ, cho cha buồn lòng. Hôn và dâng quà lên đấng sanh thành.

Một số gia đình phát nguyện trai tịnh suốt tháng bảy để cầu siêu thân bằng quyến thuộc quá vãng.Nếu có điều kiện kinh tế, phát tâm cúng trai Tăng một ngày. Thường xuyên tụng kinh Vu Lan và sám hối, làm phước, bố thí. Những năm gần đây, Ơ miền Nam, nhà nhà đua nhau làm phước, không những trong mùa báo hiếu, mà mùa dịch bệnh, nhiều nhà cung cấp lương thực, thực phẩm cho dân nghèo qua nhiều hình thức; Vài nơi cung cấp nhà lầu cho cư dân tha hương có chỗ ở, lo cho họ cơm nước từng bữa. Một cán bộ về hưu mua xe đưa đón bệnh nhân miễn phí.Cơm miễn phí vào ngày sóc vọng. bình nước đặt vỉa hè, xe bánh mỳ cho người vô gia cư hoặc ai cần, đến lấy.

Nhà nhà làm phước, người người làm thiện, không những là truyền thống lá lành đùm lá rách, mà cha ông từng dạy – “bầu ơi thương bí lấy cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Tinh thần tương thân tương ái đã gắn bó keo sơn tình người trong xã hội. Nhất là mùa dịch bệnh, trước vô thường, tiền của không thế mạng được, vì thế tình thương và lòng nghĩa hiệp trỗi dậy.Vu Lan năm nay, tuy bị giới hạn vì dịch bệnh, nhưng các chùa vẫn không thiếu bóng hình mùa Hiếu hạnh. Truyền thống báo hiếu, không chỉ nhắc nhở con cháu mà còn có dịp để cha mẹ, ông bà nhớ đến nghĩa vụ giáo dục, làm gương cho lớp trẻ.

Tích xưa kể rằng –đứa bé nhìn bố đóng củi, bèn hỏi, bố trả lời, mai bố đưa nội lên bỏ trên núi, nhà quá nghèo, bố không nuôi được; bé con nói – bố nhớ đem củi về lại để sau này bố gìà yếu, con đưa bố lên núi! Nhị thập tứ hiếu là sách xưa kể lại 24 mẫu người hiếu của Tàu. Hiếu là phải dưỡng,nhưng dưỡng theo kiểu Vương Tường đời Tấn  đặt ván lên trên tuyết để nằm chờ cá lý ngư từ dưới tuyết nhảy lên để bắt đem về làm cho kế mẫu ăn. Hoặc như Ngô Mạnh Tông, cha mất sớm, ở với mẹ, mùa đông đâu có măng, mẹ thèm canh măng, Mạnh Tông buồn vì không tìm được măng để nấu canh cho mẹ ăn nên ôm gốc tre khóc, động lòng trời đất cho măng mọc ra, đem về nấu canh cho mẹ dùng. Những chuyện thiếu thực tế như thế, nhưng nói lên tâm hiếu và dưỡng của đạo làm con ngày xưa bên Tàu; nghĩa vụ làm con bằng tấm lòng.Tuy nhiên, tùy xã hội và cuộc sống ngày nay, con cháu khó mà thể hiện chữ hiếu trọn vẹn. Kinh tế eo hẹp, không có thì giờ chăm sóc, buộc lòng phải gửi cha mẹ vào cơ sở xã hội chăm sóc người già. Cuối tuần vào thăm viếng. Dẫu sao – “công cha như núi Thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra, một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”. Phật dạy: -Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật! Này Thiện Sinh, kẻ làm con phải kính thuận cha mẹ với năm điều. Những gì là năm?

“1.) Cung phụng không để thiếu thốn.

“2.) Muốn làm gì thưa cha mẹ biết.

“3.) Không trái điều cha mẹ làm.

“4.) Không trái điều cha mẹ dạy.

“5.) Không cản chánh nghiệp mà cha mẹ làm.

 

Đạo Hiếu là vậy, còn đạo chồng vợ là một nghĩa vụ thiêng liêng, nói lên tính tương quan tình nghĩa tự nguyện đến với nhau, phải có trách nhiệm lẫn nhau.Thế thường bảo rằng – Con là nợ, chồng vợ là oan gia, cửa nhà là nghiệp báo. Cho dù là nợ, là oan gia, là nghiệp báo, đã tạo là phải có trách nhiệm, không thể phó thác cho vợ hay cho chồng để tìm niềm vui riêng.Câu nói đó dễ giúp cho kẻ vô trách nhiệm phủi tay.Trách nhiệm đi liền với đạo đức. Kinh Thiên sinh Phật dạy:

“Này Thiện Sinh, chồng cũng phải có năm điều đối với vợ:

“1.) Lấy lễ đối đãi nhau.

“2.) Oai nghiêm không nghiệt.

“3.) Cho ăn mặc phải thời.

“4. Cho trang sức phải thời

.

“5.) Phó thác việc nhà.

“Này Thiện Sinh, chồng đối đãi vợ có năm điều, vợ cũng phải lấy năm việc cung kính đối với chồng. Những gì là năm?

“1.) Dậy trước.

“2.) Ngồi sau.

“3.) Nói lời hòa nhã.

“4.) Kính nhường tùy thuận.

“5.) Đón trước ý chồng.

Vợ chồng lấy nghĩa và tình xây dựng tổ âm, thì cũng phải có trách nhiệm dạy dỗ  con cái cho nên người, để biết cách hiếu dưỡng cha mẹ mà còn có trách nhiệm với xã hội và có nhân cách trong cuộc sống.

Mọi sinh hoạt trong gia đình đến nghề nghiệp kiếm sống ngoài xã hội thuận với vợ con và hợp với đạo lý. Đó là nhữngviệc làm đem đến tốt đẹp nhất trong cuộc sống.

Bài kệ 4, Thiền sư Nhất Hạnh dịch:

 

 

5. Bố thí, hành đúng pháp,
Giúp quyến thuộc họ hàng,
Hành xử không tỳ vết,
Là điềm lành tối thượng

Bố thí là công hạnh đầu tiên của Tứ nhiếp pháp, cũng là một trong sàu hạnh Ba La Mật. Ý nghĩa đầu tiên của bố thí là hạnh xả ly; tâm không hẹp hòi,lòng vị tha…giúp đối trị lòng tham, tính vị kỷ.

Bố thí gồm – tài thí – pháp thí – vô úy thí. Tài thí là dùng của cải vật chất giúp đỡ kẻ thiếu thốn; tài thí gồm có nội tài và ngoại tài.Hiến tặng nội tạng, một phần thân thể là nội tài, ngoài ra dùng vật chất để thí là ngoại tài. hành động hiến tặng vật chất, năng lực hoặc trí huệ cho người khác là tài thí.

Sự cúng dường của Ma Ha Ca Diếp 

Ca Diếp có nghĩa là Ẩm Quang, vì thân hình của ngài lúc nào cũng tỏa ra ánh sáng rực rỡ và trang nghiêm. Trong một tiền kiếp quá khứ xa xưa vào thời Đức Phật Tỳ Bà Thi, lúc đó tôn giả Ca Diếp tiền thân là một thợ bạc chuyên đúc tượng. Một ngày nọ, có một thiếu nữ nghèo vào tiệm trên tay mang theo một thoi vàng, nhờ ông đúc một pho tượng Phật. Người thợ bạc thấy thế liền hỏi : " Vàng ở đâu mà cô có? " Thiếu nữ trả lời :" Trên đường đi lễ Phật về đã nhặt được."

Người thợ bạc lấy làm ngạc nhiên hỏi : " Tôi thấy cô nghèo khổ quá, không đủ cơm ăn, áo mặc, sao cô không đem vàng này bán đi để chi dụng cho cuộc sống mà lại đem đúc tượng Phật? "

Thiếu nữ nói : "Vì tôi có phát lời nguyện tại chùa là nếu có đủ thuận duyên thì tôi sẽ đúc một pho tượng Phật bằng vàng đẻ cho chúng sinh chiêm ngưỡng lễ bái. Và hôm nay làm được như vậy là tôi mãn nguyện lắm rồi, không còn mong cầu chi khác hơn."

Cảm động trước sự phát tâm bố thí cúng dường quá rộng lớn của thiếu nữ, người thợ bạc cũng phát tâm : " Được, tôi sẽ đúc cho cô pho tượng Phật này và tôi cũng xin nguyện cúng dường không lấy tiền công."

Do nơi công đức bố thí và cúng dường này mà chín mươi mốt kiếp sau, hai người sinh ra lúc nào thân hình lúc nào cũng trong sáng trang nghiêm và gặp được nhiều thiện hữu tri thức, cho đến kiếp sau cùng sinh vào nước Ấn Độ gặp Phật Thích Ca xuât gia học đạo đồng chứng quả A La Hán.

 

Pháp thí là dùng đạo lý hướng dẫn cho người chưa hiểu. Dùng đạo lý giúp người giải thoát phiền não, gọi là chánh pháp, ngược lại, tà pháp là đưa con người vào cỏi mê tín tăm tối gọi là pháp thí không chân chánh.

Vô úy thí là đem lại nguồn yên vui an ổn cho người đang bị lo âu, khủng hoảng…Đáng ra, vô úy thí này nằm trong pháp thí, đem lời nói chân thật giúp họ hiểu đúng sai đó là pháp thí để họ không còn sợ hải bởi vọng chấp.

Bố thí bằng tâm hoan hỷ, không vụ lợi, không ý đồ, không cầu danh, không hận thù, không tình cảm cá nhân, không mong phước báu...tóm lại không vì bất cứ mục đích nào, gọi là bố thí Ba la mật.

Truyện tích xưa Sự Bố thí của vua A Dục (Asoka)

Có hai trẻ nhỏ là Jaya và Vijaya đang vui đùa lấy đất sét nắn chơi. Khi thấy đức Phật đến, chúng rất vui mừng hớn hở. Jaya lấy đất sét nắn một cái bánh, thành kính cúi đầu cúng dâng cho đức Phật, Jaya, trong lúc cúng dường cái bánh đất, phát nguyện rằng sau này sẽ làm vua an trị cả một thế giới, rồi em đọc một bài kệ cúng dường đức Phật. Đức Phật hoan hỷ  đón nhận cái bánh đất và mỉm cười. Phật mỉm cười, và nói cùng ngài A nan : 'Một trăm năm, sau khi ta nhập Niết Bàn,đứa bé này sẽ là một vị Chuyển luân thánh vương trông coi một trong bốn châu thiên hạ, và trong thành phố Kusumapura ,nó sẽ làm một vị minh vương tên là A Dục (Ásoka). Sau khi chia phát những xá lợi của ta xong, nó sẽ xây cất 84.000 bảo tháp để làm lợi ích cho muôn loài'.

Tóm lại, bố thí với tâm hoan hỷ, vật thí chính đáng là nhân tốt cho quả sau này, gọi là hành đúng pháp. Hạnh thí như vậy không chỉ với mọi người trong xã hội mà ngay cả bà con thân thich, họ hàng một cách chân chính đều là việc lành tốt nhất.

 

MANGGALA SUTTA 

6. Ghê sợ, tránh điều ác
Không nghiện ngập rượu chè,
Tinh tấn hành thiện pháp,
Là điềm lành tối thượng

Trong đời sống, không thiếu những người tự tay làm điều ác, giết vật, hại người để mưu lợi một cách lạnh lùng, không sợ tội, không sợ luật nhân quả. Việc ác có vô số qua mọi hành động, ý nghĩ, lời nói. Biết gạt người để sinh sống, người bị gạt sẽ khổ vì số tiền bị gạt, họ nghèo, phải vay mượn, thậm chí có người bị gạt phải kết liễu sự sống, thế mà vẫn cứ gạt, vẫn cướp đoạt.Ngoài tiền bạc, còn nghề nghiệp, tài sản…cướp gạt để gia đình hưởng thụ sung túc, không cần biết người bị cướp gạt sẽ khốn khổ ra sao. Mượn danh làm từ thiện,hùn hạp, mượn danh  đồng nghiệp, Phật tử hay tín hữu của bất cứ tôn giáo nào để đoạt số tiền, ăn chơi hưởng thụ, nuôi gia đình, nuôi cha mẹ vợ con, bản thân không cảm thấy ghê sợ, lương tâm không cắn rứt, không tin hậu quả, người đó không khác kẻ “nhất xiển đề” trong nhà Phật.Một người nhân danh Phật tử Việt kiều, gạt trong nước, ngoài nước, thâm chí một nhà sư phải vay mượn số tiền lớn cho bà ta, đã bị bà ta gạt trắng tay, sư phải nợ  trong khi chùa đang xây dựng.Dĩ nhiên bà ta lừa gạt rất nhiều nên kinh nghiệm cho con mồi vào tròng dễ dàng. Đã không sợ hậu quả thì không biết ghê sợ bất cứ việc ác nào mà không làm, thân nhân cũng chịu ảnh hưởng khi tiêu thụ đồng tiền do người nhà cướp đoạt kẻ khác. Dùng đồng tiền của con cái, người thân cướp đoạt kẻ khác đem làm từ thiện, chả được phước gì; có thể qua mắt thế tục nhưng nhân bất thiện không thể được bù trừ bằng việc thiện khác.Người có lòng nhân phải biết ghê sợ mọi cái ác. Cổ nhân dạy – dù việc thiện nhỏ không bỏ qua, dù cái ác nhỏ không nên làm; đây là quan trọng bản chất chứ không cần đến hiện tượng.Ví dụ ăn trộm một nhánh hoa hay ăn trộm một vật quý, bản chất vẫn là ăn trộm. Ý tưởng ngoại tình, hay gian dâm với người ngoài hôn thê, hôn phu, vẫn là ngoại tình.Nhìn người làm thiện, sanh tâm hoan hỷ, hay đích thân làm thiện cảm thấy hoan hỷ cũng đều là hoan hỷ như nhau; quan trọng ở bản chất hơn là hiện tượng.

                                                         ***

Kinh Pháp cú phẩm ác, số 125.

 Hại người không ác tâm,
Người thanh tịnh, không uế,
Tội ác đến kẻ ngu,
Như ngược gió tung bụi.

Chuyện tích kể rằng – chàng thợ săn bất mãn vì suốt ngày không săn bắt được khi gặp nhà sư lúc sáng đi săn; chiều về lại cũng gặp nhà sư, ông ta tức giận ra lịnh bầy chó tấn công nhà sư, hoảng sợ, sư trèo lên cây, thợ săn dùng cây chỉa đâm vào gót chân sư; quá đau sư buông tay rơi tấm y phủ trùm lên người thợ săn, bầy chó tưởng nhà sư té xuống, xúm nhau cắn chủ đến chết. Nhà sư bẻ nhánh cây vứt xuống, bầy cho biết cắn nhầm chủ, chúng hoảng sợ bỏ chạy. Nhà sư áy náy, do mình mà thợ săn chết chăng? Phật giải thích, con không liên hệ gì đến cái chết đó, ai gieo nhân ác phải gặt quả ác thôi.

Người làm ác do hạt giống ác có sẵn trong tâm, nếu gặp thuận duyên hỗ trợ cho ác nảy sinh thì hành động ác sẽ không đủ lý trí ngăn cản. Trong đó, cờ bạc, rượu chè, tham dục, sân hận, si mê… thường làm cho tâm trí mờ ám, dọn đường cho việc ác sanh sôi nảy nở. Vì thế, nên tránh xa mọi cái có thể dẫn đến việc ác. Chùa Kỳ Quang, thợ xây vô tình làm rơi bản tên của hủ cốt, không có gì quan trọng, nhưng kẻ ác tâm lạm dụng kích động quần chúng tạo ác khẩu,gieo nhân ác cho một bậc chân tu; quần chúng thiếu nhận định, tin vào truyền thông bẩn, dấy lên cao trào mắng chưởi, đòi chôn sống nhà sư từ cửa miệng một cán bộ đảng viên, từng là chủ tịch UBND bốn nhiệm kỳ tại quận 12 TP HCM. Phải chăng hạt giống ác có sẵn trong tâm đã bùng phát khi có điều kiện. Do vậy, người rí nên tránh xa mọi cám dỗ, kích động bên ngoài, luôn hướng thiện và làm thiện, sẽ giúp chúng ta có nhân cách đáng kính trong xã hội. Người cực thiện và trầm tĩnh,luôn là nhân tố an ổn, làm điểm tựa cho mọi người trước cuồng loạn si mê.

Tất cả mọi người hành thiện thì xã hội chắc chắn an lành, đó là điềm tốt cao quý cho bản thân cũng như cho xã hội..

7. Sống lễ độ, khiêm cung,
Tri túc và tri ân,
Đúng thời, nghe giảng Pháp,
Là điềm lành tối thượng.

Đạo đức người xưa, thường đề cao đức hạnh khiêm tốn.  Giáo dục học đường luôn nêu khẩu hiệu – “tiên học lễ, hậu học văn”; Lễ nghĩa thể hiện tính văn hóa, có văn hóa mà thiếu lễ nghĩa xem như chưa đủ nhân cách làm người. Nhật Bản, hai năm đầu trẻ con vào trường chưa được học chữ mà được giáo dục về nhân cách ứng xử với người chung quanh, học lễ độ đối với người lớn, tự chăm sóc bản thân, té ngã tự đứng lên, giữ vệ sinh cá nhân, tạo con trẻ tính tự lập và có bản lãnh không ỷ lại.

Phẩm Thường Bất Khinh trong kinh Pháp Hoa cho thấy một vị Bồ tát luôn khiêm cung với mọi người bởi vì theo Ngài ai rồi trước sau cũng sẽ thành Phật nên không khinh người: “
"Lạy người, tôi không dám khinh suất các người.
Vì nhân duyên trước sau, các người sẽ thành Phật.".

Người có nhân cách dạo đức, chọn vị trí sau cùng, thấp nhất trong hội chúng, sẽ được tôn kính mời lên hàng đầu. Trong đời sống, chỗ trũng thấp nhất là chỗ tích lũy nhiều nước, kẻ thiếu thốn nghèo khổ sẽ được nhiều người trong xã hội văn minh quan tâm giúp đỡ; được học hỏi điều hay từ người khác. Ngược lại, người thể hiện tính cao ngạo, xem thiên hạ  không ra gì, đó là nhân cách vô văn hóa, chẳng bao giờ được tiếp nhận cái hay cái tốt của người khác, mọi người thường xa lánh; cây trái biết rũ xuống khi đơm hoa kết trái. Lúa trổ bông biết lã ngọn cho thơm hạt gạo. Tóm lại, khiêm cung không làm mất nhân cách mà tăng thêm nhân cách và lễ độ tùy lúc tùy nơi.Người càng hiểu biết đức khiêm cung càng lớn, bản ngã mòn dần cho dù đứng trước kẻ thấp kém hơn mình.

Cố đại lão Hòa thượng Thiện Hoa có dạy: “Tu là từ mẫn vật, khiêm tốn tự y, thiên ty tọa xứ, thuyết luật pháp ngữ, kiến quá mặc nhiên”. Nghĩa là, người tu phải có lòng yêu thương loài vật, phải khiêm tốn nhún nhường, phải biết bổn phận của mình, phải nên luận bàn đúng theo lời Phật dạy và chỉ tự xét lỗi mình chớ nên tìm lỗi kẻ khác.

Cho nên Phật dạy: “Hãy thắng người hơn mình bằng đức tánh khiêm cung.”

 “Kinh Thư” nói: “Mãn chiêu tổn, khiêm thụ ích” (kiêu căng chiêu cảm tổn hại, khiêm cung nhận được lợi ích.Bất học lễ, vô dĩ lập (Không học lễ, lấy gì lập thân)

Liễu Phàm Tứ Huấn”là sách dạy nhân cách, triết lý nhân sinh rất quan trọng của người xưa. Một khi Ngạo khí bất trưởng thì con ngừi khó mà trưởng thành về nhân cách cũng như kiến thức. Đức độ chính là phúc khí, Khiêm nhường biểu hiện hàm dưỡng, Trầm tĩnh là thể hiện của trí huệ .Trong “Chu Dịch” viết rằng, khiêm tốn là cái gốc của đạo đức, nhường nhịn đứng đầu mọi loại lễ nghi, phép tắc

Bậc đại trí quân tử rất hiểu được đạo đức nội tại ẩn giấu của một con người, cho dù vẻ bề ngoài của họ dường như rất ngờ nghệch, chậm chạp“. Đây chính là điều mà người xưa vẫn gọi là “Đại trí nhược ngu“, nghĩa là: Người tài giỏi có vẻ ngoài đần độn.

                                              ***

Thánh nhân luôn có cuộc sống thật giản dị, tuy giản dị mà họ vẫn cảm thấy đầy đủ, vì thế họ sống an lạc vô cùng –Thiểu dục tri túc - Tri túc thường lạc. Người sống biết đủ thì lòng tham không làm chủ, không bị sai sử chạy theo cám dỗ; Người thấy cái gì cũng ham muốn, cho dù thật sự không cần thiết, cũng bỏ tiền mua về chất đầy nhà, thay vì đồng tiền đó có thể giúp cho người đói một bữa cơm. Người biết hạn chế lòng ham muốn là người sống an lạc, ngược lại cứ chạy theo cám đỗ thí suốt đời không bao giờ thỏa mãn. Phương tiện vật chất mỗi ngày một cải tiến, thấy cái gì cũng mới lạ, cũng thích, đó là người không làm chủ được bản thân, không khống chế được cảm thọ, dĩ nhiên lúc nào cũng cảm thấy thiếu thốn khổ đau, không bao giờ thỏa mãn an vui với hiện tại.Vật chất đã không tiết chế được thì sắc dục làm sao khỏi lún sâu. Người có tâm tham dục, cho dù vợ chồng xứng đôi, vẫn thèm thuồng khi gặp người khác phái. Người tu không thể để lòng tham dục khống chế. Tinh thần sống giản dị, tri túc giúp hành giả có đời sống an lạc hạnh phức thực tại. Nguyễn Công Trứ trong bài “Chữ nhàn”:

Trí túc tiện túc, đãi túc hà thời túc
Tri nhàn tiện nhàn, đãi nhàn hà thời nhàn

Nghĩa là:

Biết đủ là đủ, đợi đủ bao giờ mới đủ?
Biết nhàn là nhàn, đợi nhàn bao giờ mới nhàn?

Trong đời người, khi ra khỏi lòng mẹ, ai cũng phải bẫm thọ ơn nghĩa cuộc sống. từ giọt sữa, muỗng cháo, manh tả, tấm áo, đến khi khôn lớn, mọi thứ từ cái ăn cái mặc đều được cuộc đời cung ứng;sống trên đống vàng mà không có những tiện nghi vật chất do người khác đem lại, liệu có sống được? cho dù trong rừng, trên núi dưới biển cũng phải thọ dụng  cây trái, sinh vật của đất trời, tất cả là ân nghĩa mà nhà Phật dạy – “Tứ trọng ân”.Người sống biết tri ân  là công hạnh đức độ tăng trưởng, kẻ vô ơn cuộc sống chả ra gì. Tri ân và đền đáp-  Khi ta biết tri ân thì cũng sẽ tìm cách đền đáp. Không chỉ đền đáp vật chất mà cần thể hiện tình cảm qua nhân cách. Không làm thất vọng người đã ban ơn cho mình-        

    Một người luôn biết tri ân thì tâm hồn sẽ dần sáng, vơi đi những oán hận, hướng tới đời sống thiện lành. Tri ân là chìa khóa thành công của mỗi con người. Người biết tri ân là người luôn khiêm tốn, nhã nhặn.Muốn hiểu sâu những đức tính đó, không những học hỏi từ những cao nhân cổ đức, Thánh hiền,mà cần học sâu giáo lý đức Phật  để tăng trưởng lòng nhân, đức thiện tiến hóa tâm thức, hợp thời , hợp căn cơ với từng chủng loại.

Đây là một trong những liệu pháp tối ưu cho một đời người trong cuộc sống.

 

8. Biết kiên trì, phục thiện
Thân cận giới xuất gia
Dự pháp đàm học hỏi
Là phước đức lớn nhất.

Kiên trì là một đức tính cần phải có để vượt qua mọi chướng ngại nếu muốn đi đến thành công. Trong cuộc sống, không ai mà không có chướng duyên khi bắt tay làm một việc nào đó.Ví dụ, sức khỏe kém, bệnh nhiều, sau thời gian dùng thuốc không khỏi, bạn bèn nhịn ăn để tiêu độc trong cơ thể. Ba ngày đầu, cái đói cồn cào xúi dục bạn phải ăn, tại sao phải nhịn! tâm lý bịa ra đủ mọi lý do để bạn bỏ cuộc; sau khi thắng được mọi cám dỗ, bạn bè, người thân lại cản ngăn việc nhịn ăn, cho đó là phản khoa học, sẽ đưa đến tai hại cho bao tử, giảm sức khỏe, mất năng lượng…Họ mời những thức ăn bạn thường khoái khẩu; trước cám dỗ khó xử, bạn kiên trì vượt qua, đó là một thành công cho một chủ đích vạch ra.Cũng thế,để đi đến thành công cho  một việc, kiên trì là động lực căn bản vượt mọi chướng ngại.Trong kiên trì còn có tính chất lạc quan, vì chóng chán đã ươm mầm thất bại.Ông bà ta có câu- “có công mài sắt có ngày nên kim”. Trước khi đi đến thành công, chắc chắn phải gặp thất bại; thất bại nung chí kiên trì, sẽ gặt hái được những thành công theo chí nguyện;đây là một nghị lực.Tuổi trẻ  sống trong hoàn cảnh được cung ứng mọi thuận lợi trong gia đình, ra xã hội, gặp trở ngại đầu tiên dễ nản chí, thất vọng, bỏ cuộc.Nhiều học sinh nghèo, không đủ điều kiện ăn học, họ kiên trì tự học, dù thi trượt nhiều lần vẫn không nản, cuối cùng thành công là sự tưởng thưởng cho ý chí kiên trì.Bằng cấp không phải là điều kiện tối ưu để đi đến thành công; năng lực, trình độ, khả năng và ý chí vượt khó, đó là tiêu chuẩn để các công ty, doanh nghiệp xét đoán thu nạp nhân viên.

Xác định mục tiêu để phấn đấu, mới không lạc hướng để kiên trì  đi đến thành công. Cuộc sống thật ngắn ngủi, mục tiêu đưa ra để phấn đấu cần hợp lý, không uổng phí thời gian và đời người.Thất bại không phải là con đường chấm dứt tương lai. Thất bại và đau khổ là chất liệu kiên trì đi đến thành công.Đừng mơ tưởng sự thành công của người khác mà chán nản sự thất bại hôm nay của mình, hãy thể hiện nghị lực để kiên trì vượt khó.Hố càng sâu thì đỉnh càng cao, càng cao danh vọng càng dày gian nan.Kiên trì thể hiện nghị lực của mình.

Song song với sự kiên trì, biết nhận lỗi, biết phục thiện giúp ta thăng tiến giữa sự ngưỡng mộ và trân quý của mọi người. Đức Phật dạy – “ Trên đời có hai hạng người đáng quý nhất, một là người không mắc phải lỗi lầm, hai là người có lỗi nhưng biết sai và phục thiện”; phục thiện là biết nghe theo điều phải, làm theo lẽ phải sau khi sai phạm. Phục thiện ẩn chứa niềm ăn năn hối lỗi. Các Tôn giáo đều tán thán tinh thần phục thiện của người biết sửa sai.Tín hữu Kito giáo khi phạm phải sai lầm, thường vỗ ngực nhận – lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng, đến tòa giải tội xưng với vị Linh mục, hứa phục thiện, không tái phạm. Trong nhà Phật, khi phạm lỗi, tự đối diện bàn Phật, phát lồ sám hối, nguyện không tái phạm. Mỗi tháng có hai kỳ sám hối tập thể.

Phục thiện là thái độ thành khẩn tự tâm để mình tiến bộ, không sai phạm tiếp; giúp trở thành con người lương thiện, trong sáng hơn. Tạo niềm tin yêu và kính trọng với mọi người; đây cũng là yếu tố giúp ta thăng tiến dễ dàng trong cuộc sống.

Dĩ nhiên trong cuộc sống, điều xấu dễ gặp hơn cái tốt.   Pháp cú phẩm Tâm dạy - 35. Khó nắm giữ, khinh động                                                                               Theo các dục quay cuồng.
Lành thay, điều phục tâm;
Tâm điều, an lạc đến.


36. Tâm khó thấy, tế nhị,
Theo các dục quay cuồng.
Người trí phòng hộ tâm,
Tâm hộ, an lạc đến.

Muốn có sự bảo hộ, nhắc nhở thường xuyên, ta nên gần gủi, thân cận người tốt, các vị chân tu, bạn hiền, để trao dồi học hỏi giáo pháp; Thường xuyên đàm đạo, không những tăng trưởng niềm tin, phát triển kiến thức mà còn vun bồ đạo lực. Kinh Pháp cú phẩm Giáo học dạy:

 Chánh kiến học Đạo tăng                                                                                      Trí tuệ soi thế gian
Phước sanh trăm ngàn đời
Vĩnh không đọa đường ác.

Người Phật tử khi đã chọn con đường tu tập, nên hạn chế mọi sinh hoạt giải trí không cần thiết; cuộc sống ngắn ngủi, không nên phung phí thời gian vào những việc vô bổ, dành thời gian cho việc học hỏi, nghiên cứu, tham vấn và hành trì.Dù sống thánh thiện, luôn  làm từ thiện, hộ đạo, làm phật sự cũng chưa đủ cho sự tu tập. Chọn một pháp môn để chuyên tu quan trọng hơn việc làm phúc bề ngoài. Phúc huệ phải song hành. Được như thế là điềm lành tối thượng cho một kiếp sống tạm bợ hiện nay.

 

9.Sống tinh cần, tỉnh thức
Học chân lý nhiệm mầu
Thực chứng được Niết-bàn
Là phước đức lớn nhất.

Tinh cần là luôn siêng năng, cần mẫn. Phật dạy có bốn loại tinh cần:

 “1- Tinh cần chế ngự

 2- Tinh cần đoạn tận

 3- Tinh cần tu tập

 4- Tinh cần hộ trì”.

Luôn cần mẫn chế ngự những ham muốn, tâm bất thiện. Trong tâm thức dung chứa rất nhiều hạt giống bất thiện; tham muốn mọi thứ, dễ nóng giận ganh ghét, đố kỵ, thich ăn ngon mặc đẹp, ham ngủ, xem phim, nghe ngóng chuyện thị phi…tất cả là những điều bất thiện của người tu; vì thế, chế ngự những bất thiện đó, giúp lục căn không bị tác động bởi lục trần, tâm không bị chi phối ngoại cảnh, nhiếp tâm việc hành trì dễ dàng.

Tinh cần đoạn tận là siêng năng chấm dứt mọi duyên phát khởi cho tâm. Dục ẩn dưới mọi hình thức gọi là ham muốn; thập kiết sử cũng thế, tâm luôn theo dõi mọi sanh biến từ tưởng thức đưa đến hành động; đi đứng, nằm ngồi, nói năn phải được kiểm soát bằng chánh niệm. Nhiếp tâm để đoạn mọi tạp niệm gọi là đoạn tận từ cội gốc.

Đam mê truyền hình, đam mê thời sự, đam mê điện thoại cảm ứng, đam mê tiện nghi vật chất…tóm lại mọi thứ đam mê trở thành thói quen làm mất thời giờ của người tu tập. Hành xử như một phương tiện, khác với đam mê, vì đam mê trở thành thói quen,thói quen biến thành bản chất và nhân cách. Vì thế, cần đoạn tận mọi đam mê cám dỗ.Do đam mê, năng lượng bị phân tán vào những việc không cần thiết, tinh thần suy nhược, ảnh hưởng đến sức khỏe, hay mệt mỏi, luôn buồn ngủ, thiếu tập trung; thích hoạt động bên ngoài hơn là chuyên tâm hướng nội cho pháp hành.Càng đam mê càng tạo nghiệp, càng tích lũy càng nặng nghiệp.

Khi đoạn tận những cám dỗ thì việc tu tập sẽ tiến triển, chuyên cần là việc đương nhiên như cái trớn bánh xe được lăn,từ đó, các căn được hộ trì, không bị giao động khi tiếp xúc với pháp trần, tâm không tạp niệm. thì tâm hành và thân hành được hiệp nhất.

Tâm chuyên hướng nội, theo dõi mọi tâm hành và thân hành là tâm luôn luôn tỉnh thức trước ngoại cảnh. Pháp hành cũng từ đó được chuyên nhất. Tùy căn cơ chọn một pháp hành  tương thích; Những pháp hành giúp người tu giải quyết mọi khổ đau hiện tại, tâm giải thoát, lòng từ phát triển và trí tuệ phát sanh. Đó là giáo lý nhiệm mầu đạt đến Niết Bàn.

Vậy Niết Bàn là gì? Niết-bàn là mục đích tu hành cứu cánh của mọi trường phái Phật giáo. Trong đạo Phật nguyên thủy, Niết-bàn được xem là đoạn triệt Luân hồi Đó là sự tận diệt gốc rễ của ba nghiệp bất thiện  là tham, sân và si. Trưởng lão tăng kệ ghi (Chân Nguyên dịch Pāli-Việt): Tóm lược lại thì Niết-bàn có thể được hiểu là: Tình trạng ngọn lửa tham lam, sân hận, ngu si đã bị dập tắt.

[PHẬT NGÔN]

Các Tỳ Kheo, có hai thứ Niết bàn Những gì là hai? Niết bàn có dư y và Niết bàn không dư y. Các Tỳ kheo, thế nào là Niết bàn có dư y? Các Tỳ kheo, ở đây vị Tỳ kheo là bậc A la hán, hết các lậu hoặc, hoàn thành phạm hạnh, làm xong việc nên làm, đặt xuống gánh nặng, đạt đến mục đích, hết sạch hữu kiết sử, giải thoát do chánh trí. Nơi vị ấy, 5 căn vẫn tồn tại; Vì bản thân không bị tiêu hoại nên vị ấy lý giải điều vừa ý và điều không vừa ý, và cảm giác vui khổ. Các Tỳ kheo, nơi vị ấy tham hết, sân hết, si hết, ấy gọi là Niết bàn có dư y.

Các Tỳ kheo, thế nào gọi là Niết bàn không dư y? Các Tỳ kheo, ở đây vị Tỳ kheo là bậc A la hán, hết các lậu hoặc, hoàn thành phạm hạnh, làm xong việc nên làm, đặt xuống gánh nặng, đạt đến mục đích, hết sạch hữu kiết sử, giải thoát do chánh trí. Các Tỳ kheo, ở đây, nơi vị ấy, tất cả cảm giác không hỷ lạc đều mát dịu; Các Tỳ kheo, ấy gọi là Niết bàn không dư y.

Các Tỳ kheo, đây là hai thứ Niết bàn.

Theo HT T.Thanh Từ thì trong các kinh điển có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng chữ Niết Bàn không ngoài những nghĩa Viên tịch (hoàn toàn vắng lặng), Vô sanh (không còn sanh diệt) và Giải thoát v.v... những nghĩa này nhằm chỉ cho người đạt đạo sống trong trạng thái tâm thể hoàn toàn vắng lặng, dứt hết vọng tưởng vô minh.
Do trình độ giác ngộ khác nhau nên trong kinh chia ra bốn thứ Niết Bàn:

1. Niết Bàn Hữu Dư Y: Niết Bàn đã dứt sạch phiền não vọng hoặc trong ba cõi, nhưng còn thân của nghiệp báo dư thừa.

2. Niết Bàn Vô Dư Y: Niết Bàn đã dứt sạch phiền não hữu lậu và không còn mang thân của nghiệp báo (dứt hết uẩn thân).

3. Niết Bàn Tự Tánh: Niết Bàn tự tánh sẵn có của chúng sanh, nó vốn sẵn có tánh Niết Bàn không phải tu tập mới có. Như mặt gương tánh vốn sạch không phải đợi lau chùi mới hiện.

4. Niết Bàn Vô Trụ Xứ: Niết Bàn không chỗ nơi. Các vị Bồ Tát khi giác ngộ, lao mình trong lục đạo giáo hóa chúng sanh, lấy sự sanh tử của chúng sanh làm cảnh giới. Tuy ra vào sanh tử nhưng lúc nào cũng tự tại vô ngại.

Hai thứ Niết Bàn trên là của hàng Nhị thừa, hai thứ Niết Bàn dưới chỉ riêng hàng Đại thừa mới có.

Như vậy, Niết Bàn theo quan điểm Phật giáo phát triển, thân còn sống trong hiện tại hay trôi lăn trong 6 cõi luân hồn, các vị Bồ Tát nhập pháp giới để giáo hóa chúng sanh vẫn thể hiện tự tánh Niết Bàn, lúc nào cũng tự tại vô ngại.

Hành giả sống tinh cần, luôn tỉnh thức, luôn học hỏi thực hành giáo lý nhiệm mầu,cuộc sống thật đơn giản, ít ham muốn, ít chú trọng hình tướng, dù là hình tướng tín ngưỡng Tôn giáo chắc chắn sẽ thấu đạt Niết Bàn tại thế. Được như thế là phúc báu lớn nhất.

 

MANGALA SUUTA   (tiếp theo)

10.Khi xúc chạm việc đời,
Tâm không động, không sầu,
An nhiên, không uế não,
Là điềm lành tối thượng

Xúc cảnh sanh tình là muốn nói lục căn giao tiếp lục trần sanh ra lục thức, từ thức mới sanh cảm thọ., đưa đến yêu, ghét, mừng lo,thích, chán… Cái gì thích , hạp với tâm dục thì hạt giống đó luôn ám ảnh, thỉnh thoảng đầu óc nghỉ tưởng về nó, lấy đó làm niềm vui thích thú, sanh ra nhiều tưởng tượng.không đạt được như ý thì cảm thấy khổ; chán ghét hay lo sợ cũng thế, tâm thức luôn ám ảnh điều mình lo sợ; gặp nhau là khổ (oán tắng hội khổ). Thương yêu không gần nhau, bị chia ly

cũng khổ, đó là những điều kiện đưa đến bát nạn tam đồ cu ly khổ . Như vậy, tam đồ là hỏa đồ (đường lửa), huyết đồ (đường máu), và đao binh đồ (đường đao binh). Bát nạn gồm có: địa ngục- ngạ quỷ- súc sinh-  sinh lên cõi trời Trường thọ -  sinh ở Uất đan việt hay còn gọi là Bắc cu lô châu hoặc Thắng xứ - đui điếc câm ngọng -  thế trí biện thông - sinh trước Phật và sau Phật. Cuộc sống không mấy ai làm chủ được cảm xúc, do cảm xúc mới sanh tình cảm, tình ái, tình thương yêu ghét…Nghệ sĩ thường dâng trào cảm xúc để có những tác phẩm nói lên nỗi lòng như:
vf


Có những cảm xúc đưa đến sa đọa, sầu thảm bi ai, như tằm nhả tơ để lại cho đời những cung bậc trầm thống giá trị về nghệ  thuật, tự bản thân dày vò đau khổ. Có những cảm xúc mang tư tưởng chính trị khích động quần chúng, cũng có những nghệ sĩ biết sử dụng khả năng hướng cảm xúc cho ra những nhạc phẩm phục vụ đức tin Tôn giáo, giúp quần chúng thích nghệ thuật, âm nhạc, thơ văn hướng về đạo. Đứng trước một tôn tượng ta có thể sanh cảm xúc, tuy đó là cảm xúc thánh thiện nhưng theo tinh thần tu hướng giải thoát, nó vẫn là hạt giống đam mê, ưa thích, đó gọi là xúc cảnh sanh tình, chướng ngại trên đường tu.

Từ tiếp xúc với đời sống đến cá nhân, luôn bị tác động cảm xúc, Phật khuyên không nên giao động, tránh được sầu khổ thương đau, nhẹ thì tự kỷ, nặng thì tự tử, cuộc sống như thế uổng phí kiếp người, không giải quyết được gì, biết bao giờ có được thân người tiếp tục. Trường đời là bài học khảo thí, không hiểu đạo Phật để giữ thân tâm tiến hóa trên chánh đạo thì dễ rơi vào đường ác, khổ đau. Quan trọng là giữ tâm bình thản trước mọi giao tiếp, không vui mừng, không giận hờn lo âu, đó được gọi là tâm bình thường.

Đến là nhân duyên, đi là nhân duyên. Cho nên cần phải "Tùy duyên mà hằng bất biến, bất biến mà hằng tùy duyên".Đối diện với hiện thực mà vượt qua mọi cám dỗ, cảm thọ mới là đấng trượng phu, chí quân tử, đó là mẫu người chuyên tu giải thoát mọi nghiệp chướng.Không ai có thể làm cho ta đau khổ nếu tâm ta không chiêu cảm sự khổ đau. Cứ dòm ngó lỗi người như tự đem rác vào mình. Không ai có nghĩa vụ làm vừa lòng ta thì ta cũng không thể bắt ai phải theo ý mình. Qua lục căn tiếp xúc với lục trần sanh ra lục thức, phát sanh cảm thọ.


Lục nhập

Sáu căn

(sáu nội xứ)

Sáu trần

(sáu ngoại xứ)

1. Mắt (nhãn xứ)

Sắc (sắc xứ)

2. Tai (nhĩ xứ)

Âm thanh (thanh xứ)

3. Mũi (tỷ xứ)

Hương (hương xứ)

4. Lưỡi (thiệt xứ)

Vị (vị xứ)

5. Thân (thân xứ)

Xúc, chạm (xúc xứ)

6. Ý (ý xứ)

Pháp (pháp xứ)

Đức Phật dạy: Trong Kinh "Bài giảng về lửa" (Adittapariyaya Sutta, SN 35.28), được thuyết một vài tháng sau khi Đức Phật giác ngộ, Đức Phật mô tả tất cả các xứ và các quá trình tâm thức liên quan như sau:

"Này các tỷ-kheo, tất cả đang bốc cháy. Tất cả đang bốc cháy là gì? Mắt là đang bốc cháy. Sắc là đang bốc cháy. Thức tại mắt là đang bốc cháy. Xúc tại mắt là đang bốc cháy. Và bất kể cái gì sinh ra theo duyên của Xúc tại mắt - được cảm thọ như là lạc, khổ hoặc bất khổ bất lạc - cũng đang bốc cháy. Bốc cháy với điều gì? Bốc cháy với ngọn lửa tham, ngọn lửa sân, ngọn lửa si. Bốc cháy, ta nói cho các ngài, với sanh, già và chết, với sầu, bi, khổ, ưu và não"

Kinh Niệm xứ (Satipatthana Sutta) (MN 10) Đức Phật đã hướng dẫn các Tỷ-Kheo cách thiền trên các nội-ngoại xứ và phát triển của kiết sử như sau:

"Này các Tỷ kheo, thế nào là Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Sáu Nội Ngoại xứ?

Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo tuệ tri con mắt và tuệ tri các sắc, do duyên hai pháp này, kiết sử sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy... và tuệ tri tai và tuệ tri các tiếng... và tuệ tri mũi và tuệ tri các hương... và tuệ tri lưỡi và tuệ tri các vị... và tuệ tri thân và tuệ tri các xúc... và tuệ tri ý và tuệ tri các pháp...

Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp... không chấp trước một vật gì trên đời."

Trong kinh Lăng Nghiêm, Phật dạy rằng: 
“Khi thấy,nghe, hay, biết, mà khởi vọng niệm phân biệt, đó là gốc vô minh. Còn khi thấy, nghe, hay, biết mà không khởi vọng niệm phân biệt, đó là Niết bàn”.
 
 Trong các phiền não, chỉ có sân hận là thô bạo nhất, bởi thế cổ nhân có nói:”Nhứt niệm sân tâm khởi, bá vạn chướng môn khai”,
là khi phát sinh một niềm giận hờn tức đã mở muôn ngàn cửa chướng ngại. Tệ hại hơn nữa, một khi tham, sân, si phát khởi, thì dâm, sát, đạo, vọng sẽ nảy sinh. Đây là bốn đại ác nghiệp mà người tu Phật phải tránh xa.Xã hội ngày nay giết nhau dễ dàng do tâm sân không được kềm chế. Tham dục lúc nào cũng rực lửa đưa đến hành động phạm tội do ái dục không được lạnh nguội mà tu sĩ Tôn giáo thường phạm ấu dâm.
 
Cổ đức nói: “Ái bất trọng bất sinh Ta-bà”. Nghĩa là tình ái không nặng nề thì không sinh vào thế giới này. Tình ái là nguồn gốc của sinh mệnh. Theo “Mười hai nhân duyên”1 của Phật giáo, con người do vì có tình ái, cho nên luân hồi sinh tử; con người do vì có tình cảm, vì vậy gọi là “hữu tình chúng sinh”.

Phật dạy rằng: 
 “A Nan, ông tu thiền, nếu không đoạn lòng dâm, thì cũng như người nấu cát muốn cho thành cơm, dầu trãi bao nhiêu kiếp cũng không thành được”.
 

Phật dạy:”Thanh tịnh pháp thân là chơn tánh thanh tịnh, không sanh không diệt, không hoại không thành. Vọng tánh của chúng sanh chỉ thấy nhục thân mà không thấy pháp thân. Tại chổ phàm phu gọi là tâm tánh, tại nơi thánh hiền gọi là thánh tánh, trong cõi trời đất gọi là thiên tánh. Tới chỗ Bồ tát gọi là Phật tánh và tại chổ chư Phật gọi là thanh tịnh pháp thân”.
 
Bản ngã càng lớn ác pháp càng dễ sanh do tam độc chủ động sai khiến, vì thế, khi giao tiếp ngoại cảnh, sống an nhiên, không uế tạp phiền não; Bát phong suy bất động là khen chê, được mất, vinh nhục, buồn vui. Ba điềm lành khác: không còn sầu não sống an nhiên không còn uế nhiễm . Đó là điềm lành tột bực đem lại hạnh phúc cho cuộc sống.

 

11. "Ai sống được như thế
Ði đâu cũng an toàn
Tới đâu cũng vững mạnh
Phước đức của tự thân."

 

11 bài kệ là bản hướng dẫn tổng quát cách sống, vào đầu tiên Phật dạy không thân cận kẻ ác,  ý tưởng, hành động, lời  nói, đều ươm mầm đạo đức; lối hành sử trong cuộc đời vừa lợi mình vừa lợi người; từ trong gia đình, cha mẹ, vợ chồng con cháu cho đến bạn bè, tín ngưỡng…đều là nên tảng,  là căn bản đạo đức; ta thấy, tuy Phật giảng cho chư Thiên nhưng không khác  nhân gian. Chư Thiên xuất hiện giữa đêm tối, ánh sáng chói lòa, được Phật khai thị, thế thì giữa đêm trường vô minh tịch mịch cõi nhân gian, được Phật đem ánh sáng Phật pháp khai thị làm sáng tỏ nhân cách sống; tuy đạo đức nhân cách và đạo đức xử thế, vẫn không lìa xa pháp hành giải thoát. Vì thế được gọi là – Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác, ly thế mịch Bồ đề, cáp như cầu thố giác.

Phật xác định, ai sống được như thế, đến đâu cũng an toàn, tới đâu cũng vững mạnh.Vì một khi tâm an trụ, không chiêu cảm chướng duyên thì cuộc sống không chướng ngại, nếu có chăng là do nhân quá khứ, cũng sẽ được hóa giải bằng lòng từ và vô niệm mình đang hành trì.

Chư Tổ thường nói – Bồ tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả; chỉ sợ tạo nhân xấu chứ không sợ quả xấu đến với mình. Một nhà sư Tây Tạng sau mấy mươi năm bị cầm tù tra khảo hành hạ, trốn sang được Ấn Độ, gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma, ngài hỏi – trong suốt thời gian đó, con sợ gì nhất? – ngài đáp – con chỉ sợ đánh mất lòng từ bi thôi! Đúng là người nuôi dưỡng tâm từ cực thiện trước ác ma mà vẫn không lay chuyển. Đó lá sự thử thách công hạnh tu tập. Vô ma khảo bất thành đại đạo, không bị nghịch duyên làm sao biết đạo lực và công năng tu tập đến đâu.

Các bậc Thánh hạnh, họ cảm ơn đời, cảm ơn mọi nghịch cảnh đã giúp cho họ một bài học, thử thách để tiến hóa. Hành giả khác với thế thường là can đảm đối diện với mọi chướng duyên nghịch cảnh, không than vãn, sợ sệt, trốn chạy, cũng không khiên cưỡng chấp nhận, nhẫn nhục chịu đựng, vì tâm các ngài không còn đối tượng thuận nghịch, lúc đó gọi là thỏng tay vào chợ. Đã không cảm thấy chướng duyên trở ngại, thì đi đâu, sống đâu cũng tự tại an nhiên.

Cho dù chưa giải thoát hay đạt đến trạng thái Niết Bàn hữu dư y, ngay đó hành giả cũng đã cảm thấy tự tại của Niết bàn tự tánh. Sống tự tại là nguồn hạnh phúc, phước báu vô biên của người biết tu!

Hãy học thật kỷ , hàng ngày quán xét thân tâm, áp dụng 38 pháp hành Phật dạy, chắc chắn cuộc sống thật an toàn hạnh phúc giữa cõi tạm.

 

MINH MẪN

21/9/2020             (HẾT)

 



 

VẪN LÀ TRUNG THU

 


Cuộc sống, một khi lặp lại thường xuyên trong một vấn đề, dễ đưa đến nhàm chán, thế nhưng, 365 ngày, một chu kỷ xoay vần đất trời, bốn mùa tám tiết vẫn tái lai, con người lại có lúc hân hoan đón mừng như Tết cổ truyền, Tết Đoan ngọ, Tết Trung Thu, đôi khi cũng chuẩn bị tâm lý lo sợ cho thời vụ gặp cơn khắc nghiệt.

Dân tộc ta sống bằng nông nghiệp, tùy thuộc thời tiết gieo cấy, trồng trọt.Trong lúc thời vụ hoàn tất, hoặc giao thoa giữa hai mùa, thường có lễ tạ đất trời, tạ thần nông thổ địa..Lễ nghĩa là tập quán của ông bà ta xa xưa, sống hòa nhập với thiên nhiên, trọng kính thiên nhiên, mong thiên nhiên bảo hộ cuộc sống an lành.Cũng trong năm, có những thời gian mang tính đặc thù, thường xem đó là Tết vì tầm quan trọng của chúng. Trung Thu là một ví dụ.

Không riêng Việt Nam, chả biết tự bao giờ, Trung Thu trở  thành ngày Tết quan trọng vào tháng tám âm lịch cho những quốc gia như Trung Quốc, Nhật,Triều Tiên, Đài Loan, Singapore.Tuy chưa rõ nguồn gốc xuất phát Tết Trung Thu, nhưng Việt Nam ta có truyền thuyết về chú Cuội và chị Hằng Nga; Trung Quốc  lưu truyền cổ tích bằng truyện Hằng Nga và Hậu Nghệ, vua Đường Minh Hoàng lên cung trăng.Hình ảnh Trung Thu được in trên mặt trống đồng Ngọc Lũ.Đồng bằng phía Nam Trung Quốc và đồng bằng châu thổ phía Bắc sông Hồng của Việt Nam đều ảnh hưởng chung nền văn hóa lúa nước, vì thế lễ mùa được tổ chức vui chơi sau khi thu hoạch là điều cần có.

 Những quốc gia  xem Tết Trung Thu là một trong những ngày nghỉ lễ trong năm. Trung Thu được xem là Tết dành cho trẻ con, được tổ chức dưới nhiều hình thức như rước đèn,hát trống quân, múa Lân,làm bánh các loại… Miền Bắc ngày xưa còn có lễ ngắm trăng, tặng quà trẻ con.Ngày nay, Tết Trung Thu còn là dịp các cơ quan tặng quà cho nhau,tặng cho các quan lớn với món quà giá trị; người lớn cũng được con cháu quà cáp bánh trái, thường là bánh nướng và bánh dẽo.Từ Tết vui của trẻ con trở thành ngày Tết cho cả người lớn.

Kinh nghiêm nhà nông thuở xưa, mùa trăng Trung Thu cũng là dịp tiên đoán thời vụ như:

  • Muốn ăn lúa tháng Năm, trông trăng rằm tháng Tám.
  • Tỏ trăng Mười Bốn được tằm, đục trăng hôm Rằm thì được lúa chiêm.

Mùa Trung Thu cũng là đề tài ngẫu hứng cho thi sĩ như bài Trung Thu của Đỗ Phủ Cảnh thu nay đúng nửa rồi

Trăng thu thêm sáng, khung trời thêm cao

Lầu nam ai rót rượu đào

Tiếng tơ, tiếng trúc thanh tao nhịp nhàng ( Thái Giang dịch)

Tản Đà thế:

Có bầu có bạn can chi tủi

Cùng gió cùng mây thế mới vui

Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám

Tựa nhau trông xuống thế gian cười.

Nguyễn Du

Khi chén rượu khi cuộc cờ,

Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên

Các nhạc sĩ như Lê Thương,Ngọc Lễ…cũng góp  phần cung nhạc cho mùa lễ hội đậm nét nhân gian.

                                                         ***

Tùy mỗi quốc gia có một hình thái  tổ chức lễ hội khác nhau.

Tại Nhật: Tuy không còn sử dụng âm lịch, Tết Trung thu vẫn được tổ chức trang trọng ,có cả lễ Lễ ngắm trăng.

Tại Philippines:Tết Trung do người Hoa sinh sống tại bản địa tổ chức như lễ hội riêng của người gốc Hoa.

Tại Malaysia: Người Malaysia cũng tổ chức sinh hoạt Trung Thu như ở nước ta, có rước đèn, múa Lân, làm bánh, lễ nhạc…

Tại Thái: Tết Trung thu ở Thái Lan được gọi là “lễ cầu trăng”, tổ chức vào đúng ngày 15/8 âm lịch.Nhưng không rầm rộ trang trọng như các nước Đông Nam Á

 

Tại Hàn Quốc: Ngày lễ rằm tháng 8 ở Hàn Quốc có tên Chuseok. Kéo dài trong 3 ngày, giống tết cổ truyền Việt Nam, thời gian này con cháu đều về quần tụ trong gia đình.

Mâm cỗ Trung Thu, thường là bánh trái, hoa quả sặc sỡ màu sắc, trang trọng bày lên bàn thờ gia tiên, một mâm  cúng ngay giữa nhà để tạ ơn điền trạch. Đúng lúc trăng lên đỉnh đầu,  người lớn nhất trong gia đình phá cỗ, cắt bánh chia đều cho thành viên trong gia đình, ông bà cha mẹ ngồi ngoài sân hóng mát, thưởng thức trà nóng, bánh nướng, bánh dẽo nhìn trăng mang màu sắc tinh khiết lung linh, huyền ảo.  Đêm rằm tháng tám, mặt trăng tròn vành vạnh, ánh sáng  vàng dịu tươi mát cả bầu trời, không gian yên ắng trong lành, gió hiu hiu trãi khắp mặt đất, người dân chọn đêm rằm để ngắm trăng cực kỳ thú vị.

Trẻ con được dịp tung tăng rước đèn, hội tụ vui chơi, cầm đèn đi khắp thôn xóm, khu phố, đến đâu cũng được người lớn tặng quà.

Tùy kinh tế mỗi gia đình mà tổ chức Trung Thu khác nhau; tùy thời điểm an bình của đất nước mà lễ Tết Trung Thu được phổ biến rộng rãi; nhưng dù sao, Tết Trung Thu vẫn là nét văn hóa đặc thù của dân tộc ta cho dù trãi qua bao biến thiên lịch sử. Điều đặc biệt, Tết Trung Thu ngày nay được các nhà hảo tâm thực hiện đem đến cho thiếu nhi vùng sâu, vùng xa và các bệnh viện nhi, bệnh viện ung bứu một tình cảm ấm áp ruột thịt.

Mùa bão lũ sẽ dành bầu trời yên lành cho vầng trăng truyền thống, đem đến cho dân tộc một giây phút thanh thản để tạ ân đất trời từng ban bố mùa bội thu no ấm cho dân tộc.

 

MINH MẪN

22/9/2020

 

 

 

 

 



 



 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2020

LỄ CÔNG BỐ

 


Mã số chuẩn Quốc Tế cho xuất bản phẩm nhiều kỳ.

Lễ ký kết thỏa thuận hợp tác giữa Tạp chí Văn hóa Phật giáo với Bưu điện Thành phố Hồ Chí Minh và công ty DATAPOST vào sáng ngày 20/9/2020 tại Hội trường Khách sạn New World, phường Bến Nghé, quận  nhất TP HCM.

Đây là lần đầu tiên, tạp chí Phật giáo được cấp mã số chuẩn Quốc tế cho ấn phẩm nhiều kỳ thuộc tạp chí Văn hóa Phật giáo. Sau 16 năm lăn lộn vất vả để duy trì tờ báo khó phổ biến vào quảng đại quần chúng, mà kinh phí phải tự túc, Tổng Biên tập đầu tiên là anh Võ Đình Cường,khởi nguồn là Tập văn do Ban Văn hóa T.Ư chủ trương, kế tiếp là HT.Thích Chơn Thiện và HT.Thích Trung Hậu, hiện tại Tổng Biên tập đương nhiệm là HT.Thích Hải Ấn, Ủy viên Thường trực HĐTS, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Văn hóa T.Ư GHPGVN, báo chí cấp phép lần đầu tiên năm 2004 của Bộ Thông tin và truyền thông.

Trãi qua thời gian dài trong lịch sử báo chí Việt Nam, Pháp Âm là tờ báo Phật giáo đầu tiên được xuất bản ngày 31-8-1929, chủ nhiệm là HT. Khánh Hòa, trãi dài qua tiếp theo là Tạp chí Viên Âm, Nguyệt san Phương Tiện và - Từ Quang, tạp chí Bồ Đề Tân Thanh ,Tuần báo Đuốc Tuệ đầu tiên  là Duy Tâm Phật Học sau đổi thành Duy Tâm, Bác Nhã Âm,Tạp Chí Giác Ngộ…để ngày nay, những báo chính thống của Phật giáo như Truyền hình An Viên, Báo Giác ngộ, Tạp chí Văn hóa Phật giáo, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, Tạp chí Khuông Việt... Các website, trang tin điện tử và những tạp chí địa phương như Vô Ưu, Khánh Hòa,Hương Thiền…đã tiếp tục góp phần phổ biến văn hóa, tư tưởng Phật giáo khá phong phú.

Chư Tôn đức  đã thấy được tầm quan trọng của báo chí đem Phật giáo vào quần chúng, thuở ấy, cuộc sống và mọi phương tiện còn đơn giản; ngày nay, với thời đại toàn cầu hóa thông tin, 4.0 đòi hỏi người làm báo can đảm vượt khỏi lối cũ, mạnh dạn tiến vào lãnh vực kỷ thuật thông tin đại chúng mà vẫn duy trì hình thái truyền thống để đáp ứng cả hai thế hệ trẻ và người lớn tuổi quen sử dụng báo giấy. Theo TT. Minh Nhẫn, Tạp chí Văn hóa Phật giáo sẽ được trình bày qua nhiều hình thức tiên tiến hiện đại với mã code, ngoài báo giấy và trang điện tử, còn báo nói giúp cho những ai bận rộn công việc vẫn nghe và theo dõi.Ngoài ra, báo được chuyển ngữ tiếng Anh, sẽ truyền tay đến khách nước ngoài qua sự hỗ trợ của Bưu điện và công ty DATAPOST đến các khách sạn 4 – 5 sao, vừa được ký kết sáng nay. Để duy trì  sự tồn tại của tạp chí là một sự cố gắng quá sức của tập thể , trong đó phải nói công sức của cư sĩ Trần Tuấn Mẫn Phó Tổng biên tập Thường trực kiêm Thư ký tòa soạn. Nay vì tuổi cao sức kém,ngày 13-7, HT.Thích Thiện Nhơn, Chủ tịch HĐTS đã ký quyết định bổ nhiệm TT.Thích Minh Nhẫn, Ủy viên Thường trực HĐTS làm Phó Tổng Biên tập Thường trực kiêm Thư ký tòa soạn.

Báo chí Phật giáo hiện nay, với sáng kiến, năng lực vá trình độ chuyên môn được cập nhật thường xuyên, TT. T. Minh Nhẫn xứng đáng nhận lãnh vai trò Phó Tổng Biên tập Thường trực kiêm Thư ký tòa soạn và cũng là Ủy viên Thường trực HĐTS. Tuổi trẻ năng động, TT đã chứng minh qua thời gian điều hành PSO từ nửa nhiệm kỳ Đại hội VIII, các tin tức Phật sự cập nhật 63 Tỉnh thành, nhất là sự kiện Đại lễ Vésak lần thứ ba tại Tam Chúc, chứng tỏ năng lực chuyên môn của đội ngũ trẻ do TT Minh Nhẫn điều hành, rất phong phú mà trước đó truyền hình An Viên đã từng cống hiến. Tuy  PSO là một phần trong TTTT, một trong 13 Ban của Phật giáo, nhưng sự có mặt PSO đã làm thay đổi bộ mặt văn hóa và truyền thông của Phật giáo thời gian gần đây không nhỏ.

Thành phần nhân sự ê kíp mới gồm 20 người, đang tập dợt, trao đổi kinh nghiệm,tìm tòi sáng kiến để đổi mới toàn bộ về báo chí Phật giáo Việt Nam hiện nay. Thời gian gần đây, Giáo Hội PGVN có những thành phần trẻ năng động, có trình độ, có tay nghề như TT Minh Nhẫn, TT Đức Thiện, còn có nhiều Tăng sĩ có bằng cấp thực học âm thầm làm nhiệm vụ giáo dục; giỏi nhiều mặt như giáo dục, trình độ giáo lý và luật học, còn có năng khiếu và thẩm mỹ trong việc kiến tạo một tu viện Vĩnh Nghiêm tại quận 12 như TT Giác Dũng. Dĩ nhiên còn nhiều vị có khả năng sinh hoạt trong thầm lặng để giúp ngôi nhà PGVN vượt qua những khó khăn đang gặp phải từ khủng hoảng truyền thông xã hội.

Hy vọng, với nhiệm vụ mới, tài thao lược, năng động và sở trường, TT Minh Nhẫn sẽ có nhiều nhân sự đủ khả năng, có tâm, có tầm hỗ trợ để hoàn thành xuất sắc được Giáo hội tin tưởng ủy thác.

Kinh chức tập thể Tạp chí Văn hóa Phật giáo sẽ hanh thông, vững tiến.

MINH MẪN

20/9/2020

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2020

TRẦM LẮNG

 


Nắng hạn cũng qua đi, mưa bão cũng chấm dứt, lũ lụt tẩy xóa  mọi ô trược trong cuộc sống cũng phải có thời gian nhất định theo chu kỳ của tạo hóa; Nhưng riêng năm Canh Tý, 2020 mọi sự đảo lộn mà khoa học cũng không thể giải thích những hiện tượng thời tiết ví sao thất thường.

Mỹ đối lập với Trung Cộng, Mỹ cháy hàng chục ngàn hecta rừng thì Trung Cộng lũ lụt mưa bảo dầm đề suốt hơn ba tháng liền làm khốn khổ, mất tích nhiều sinh mạng, tài sản trôi giạt.Thủy hỏa tương xung! Cái khổ vô tận của dân chúng Tàu nói lên quả báo mà nhân quá khứ, theo tinh thần nhà Phật, hiện tại phải lãnh chịu. Không hiểu luật nhân quả thì không thể chấp nhận những hiện tượng bất thường do cộng nghiệp đem đến. Lòng tham chiếm đoạt biển Đông thì trời cho nước ngập hơn biển Đông tại chỗ; Những tâm tham ác đối với nhân loại luôn phản hồi chính chủ, thế nhưng mấy ai hiểu rằng ”hàm huyết phún nhơn, tiên ô tự khẩu”. Những bất trắc nạn tai đều là bài học cho con người  cảnh giác, phản tỉnh xét lại cách sống của mình. Vô cổ bất thành kim: Không có xưa thì không có nay, không có nhân thì sao có quả. “dục tri tiền thế nhân, kim sanh sanh thọ giả thị, dục tri lai thế quả, kim sanh tác giả thị.Muốn biết nhân kiếp trước, xem đời sống hiện tại, muốn biết quả kiếp sau, hãy xem việc làm hiện tại.Khi hoạn nạn không ai cứu giúp, Một đất nước thiên tai không ai ngó ngàn giúp đỡ cho dù từng là môi với răng, môi hở răng lạnh, núi liền núi, sông liền sông; ngay cả thế giới cũng bỏ mặc cho đất trời trừng trị. , phải xem lại mình.

Nhất thiết duy tâm tạo – tất cả do tâm cảm ứng, tâm đạo đức sẽ cảm ứng điều lành, tâm ác độc hại người bằng mọi hình thức cũng khó tránh quả báo. Trong nhà, tang gia bối rối không lo mà cứ muốn gây sự, cướp đoạt hàng xóm thì dó gọi là gì? Một quả báo kéo dài phải biết do nhân tích lũy quá lớn. Một đất nước nhỏ bé và nghèo như dân ta, biết nhường cơm xẻ áo lúc đồng bào hoạn nạn, đó là cái đức ươm mầm cho phúc lộc nở hoa.

Không làm ác mà tâm cũng không nghĩ ác.  Virus trên đất nước Tàu phát sanh thì Nhật đã chỉa xẻ, khích lệ, an ủi dân chúng Tàu, khi nghe Nhật và các nước khác nhiễm bệnh thì Tàu họ tung hô cầu chúc, ăn mừng; tâm ác như thế sao khỏi chiêu họa? Đừng trách thế giới vô tâm trước cảnh thiên tai hiện nay.

                                                      ***

Đời người không ai tránh khỏi lúc thạnh lúc suy; có nghiệp mới mang thân người; nghiệp nặng thì cuộc đời khốn đốn, nghiệp nhẹ cuộc sống an vui thanh thản. Đừng nhìn thấy người lúc lâm nạn mà chê cười. Nghiệp thân, nghiệp tâm do quá khứ quy tập, hay do vô tình đem đến mà ta thường nói – tai bay họa gửi.Một nhãn tên trên hủ cốt chùa Kỳ Quang do thợ di dời làm vệ sinh, bị rơi ra, chuyện quá nhỏ, nhưng tại sao truyền thông bẩn biết mà tri hô khích động giới bình dân thiếu hiểu biết hô hoán, chửi mắng  nhà sư thậm tệ! chắc gì trong số đó có người gửi tro cốt thân nhân ở chùa. Phải chăng đây là một âm mưu làm nhục Phật giáo mà lâu nay một số truyền thông từng khích động gây phẩn nộ, gây ác cảm với PG. Quần chúng thiếu bình tĩnh đã đành, một người tự nhận là đảng viên bốn nhiệm kỳ làm ủy viên UBMTTQ Q.12 “đòi chôn sống nhà sư” là HT. Thích Thiện Chiếu là thế nào? Nhân cách một đảng viên được đào tạo thế ư?

Phía truyền thông hành động có ác ý, phía quần chúng thiếu hiểu biết, do hạt giống sân hận tích lũy sẵn, đợi có dịp bùng phát đốt cháy cả rừng công đức mà không biết. Theo kinh Pháp cú phẩm ác, Phật dạy

119. “Người ác thấy là hiền.
Khi ác chưa chín muồi,
Khi ác nghiệp chín muồi,
Người ác mới thấy ác.”

125. “Hại người không ác tâm,
Người thanh tịnh, không uế,
Tội ác đến kẻ ngu,
Như ngược gió tung bụi.”

Đối với nhà sư bị hàm oan, điều tâm niệm nhà Phật -  Oan ức không cần bày tỏ, vì bày tỏ thì hèn nhát mà trả thù thì ân oán kéo dài. Một nhà sư bị vu oan có con rơi, họ đem con giao, ngài bảo –Thế à – thời gian sau do lương tâm kẻ vu vạ cắn rứt, bèn đến xin nhận con lại và sám hối, ngài lại bảo – Thế à! HT Thiện Chiếu đứng ra nhận lãnh mọi sai trái của đệ tử đó là nhân cách của bậc trượng phu. Lời trình bày của anh em thợ hồ đủ minh oan cho người. Việc người nhịn ăn là để tự mình sám hối nghiệp chướng, nếu có, trong quá khứ, cũng có thể sám hối cho những người thiếu bình tĩnh đã xúc phạm bậc chân tu.

Rất tiếc, do áp lực truyền thông, Giáo hội muốn trấn an,dập tắt cơn phẩn nộ của quần chúng, GH vội ra văn thư cất chức trụ trì của HT Thiện Chiếu. Tuy Kỳ Quang trực thuộc GH trên mặt pháp lý, ngoài ra còn là một hệ phái có nhiều cớ sở, làm từ thiện; việc đưa một đệ tử lên thay quyền thầy một cách vội vả là một sỉ nhục trong tông phong.Thay vì một văn thư phản cảm gây phẩn nộ trong Phật giáo như thế, GH cần có một văn bản mang nội dung trấn an quần chúng không kém hiệu  quả:

“… trước tình hình chưa được kiểm chứng tại chùa Kỳ Quang, trong thời gian tìm hiểu, tạm thời đề cử TT Quang Thạnh thay việc quản lý mọi sinh hoạt trong chùa để HT Thiện Chiếu được an tâm tu tập…”

Qua sự kiện, luật Đạo không phạm mà luật đời cũng không. Nếu thật sự hệ trọng xúc phạm đến đức tin quần chúng, GH quận Gò Vấp và chính quyền quận cùng hợp tác điều tra cho rõ ngọn ngành; một sự việc cho là kinh hải mà chỉ giải quyết bằng văn bản trong thời gian ngắn thế sao? Nếu không quan trọng, cần gì phải GH Thành phố nhúng tay vào một cách khó hiểu? Chỉ cần nội bộ chùa hoặc tông môn cũng đủ khả năng giải quyết ổn thỏa.Có hợp tình hợp lý thiên hạ mới tâm phục khẩu phục, nội tình không xào xáo.

Lâu nay GH quá nhạy cảm, nghe truyền thông đưa tin là vội hành động như đĩa phải vôi,áp đảo nội bộ, mục đích là trấn an quần chúng và chận đứng truyền thông, đây là cách mở đường cho hươu chạy, tạo tiền đề cho những kẻ ác tâm tiếp tục đánh phá PG. Trong thời gian qua, PG luôn là nạn nhân của một số truyền thông bẩn, khi mà xã hội đang đối phó với nạn dịch thế kỷ, biên giới bị lăm le đe dọa, truyền thông nên tiếp tay trấn an dân chúng hơn là khích động xáo trộn xã hội, với ác tâm mà hậu quả không tránh khỏi về sau.

GH Trung ương cũng như GH Thành phố, tổ chức có ban Pháp chế, ban Giám luật mà một văn bản không cần tham cứu chu đáo thử hỏi hành chánh thế nào,luật đạo thế nào để một kẻ phàm tục đòi chôn sống  bậc chân tu? Bộ mặt Phật giáo dưới mắt quần chúng bây giờ như cọng rác, ai muốn chà đạp cũng được?

Đồng ý tinh thần nhà Phật chuyện khen chê, mắng chửi là lá rơi theo cơn gió, không có gì quan trọng, nhưng đã là một tổ chức hành chánh song hành với bao tổ chức trong xã hội, cần phải có uy tín, thanh danh.

Qua sự kiện giao động lớn trên thế giới, do cộng nghiệp tích lũy lâu đời, con người phải cam chịu trước thiên tai, dịch bệnh, muốn giảm phải biết tích lũy âm đức bằng hành động nhân ái và tâm thiện lành. Cá nhân con người, ngoài cộng nghiệp còn có biệt nghiệp. Chùa Kỳ Quang là một biệt nghiệp lãnh chịu, mọi người cần lắng đọng tâm tư để nhận biết phải trái, đúng sai khi vu vạ cho một người hiền, quả báo không nhỏ. Cuộc sống không ai hoàn toàn đúng, chả ai hoàn toàn sai, bởi – Thánh nhân nào cũng có quá khứ, tội phạm nào cũng có tương lai. Hiện tượng và bản chất đôi khi không thể là một.

Chỉ có sự trầm lắng tâm tưởng như mặt nước hồ Thu  mới thấy tận đáy lòng sự việc đúng sai.

GH cần cẩn trọng khi ra văn bản quyết định nội tình Phật giáo.

Quần chúng cần bình tĩnh xét đoàn đúng lý đúng tình khi hô hào theo phong trào.

Người làm truyền thông cần có lương tâm khi điều hướng quần chúng có lợi xây dựng nhân cách làm người.

Người cán bộ khi tham gia sự kiện trong xã hội cũng cần có phẩm cách của một con người được đào tạo đạo đức cách mạng, vì đất nước trong thời bình không thể như lúc chiến tranh muốn chôn sống ai cũng được.

Hy vọng đất nước sẽ trầm lắng sau những giao động ngoài ý muốn.

 

MINH MẪN

14/9/2020

Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2020

DÒNG CHÚC THÁNH – QUẢNG NAM.

 

THAM LUẬN.


 

Trên 300 năm, một hệ phái truyền thừa tồn tại và phát triển  ở nền tảng một đất nước từng xem đạo Phật là một quốc giáo, quả không phải dễ nếu hệ phái đó không được truyền dẫn bởi những bậc có một nội lực sung mãn hoặc từng là những Tổ vị đắc pháp. Miền Bắc. trước đó, các phái thiền Tỳ–ni–đa–lưu–chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, Trúc Lâm đã đóng vai trò chính của Phật giáo và ảnh hưởng sâu rộng tại đàng ngoài rồi.

Theo lịch sử do giáo sư Lê Mạnh Thát thi Việt Nam lúc bấy giờ có 4 dòng Thiền du nhập từ Trung Hoa như dòng Bút Tháp của Viên Văn Chuyết Công (1590 – 1644), dòng Thập Tháp của Siêu Bạch Thọ Tông (1648–1728), dòng Quốc Ân của Nguyên Thiều Hoán Bích (1648–1728), cả ba dòng này đều thuộc phái Lâm Tế ; riêng dòng thứ tư là Hòe Nhai của Thủy Nguyệt thuộc phái Tào Động. Ba dòng còn lại phát xuất tại Việt Nam như Bút Tháp,  Trúc Lâm, mà điển hình là dòng Long Động của thiền sư Chân Nguyên Tuệ Đăng (1647–1726) hoặc do các vị thiền sư người Việt Nam hay Trung Quốc hành đạo tại Việt Nam xuất kệ thành lập dòng mới, cụ thể là các dòng thiền Chúc Thánh của thiền sư Minh Hải Pháp Bảo (1670–1746) và Thiên Thai của thiền sư Thiệt Diệu Liễu Quán (1667 – 1742).

                                                             ***

Thiền sư đầu tiên của tông Lâm Tế đến Đàng Trong là ngài Nguyên Thiều–Hoán Bích. Tiếp đó, các ngài như Minh Vật–Nhất Tri; Minh Lượng–Thành Đẳng; Minh Hải–Pháp Bảo; Minh Dung–Pháp Thông; Minh Giác–Kỳ Phương, Minh Hoằng–Tử Dung v.v… kế thừa sự nghiệp của tổ Nguyên Thiều, phát triển tông môn rộng khắp. Trong số những thiền sư Trung Hoa du phương hoằng hoá có thiền sư Minh Hải–Pháp Bảo dừng chân tại phố Hội An, Quảng Nam, khai sơn Tổ đình Chúc Thánh, xuất kệ truyền thừa lập nên thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh.

Kể từ khi tổ Minh Hải–Pháp Bảo khai tông lập giáo, tính đến nay dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh đã trải qua 300 năm lịch sử với 12 đời truyền thừa. Qua ngần ấy thời gian có mặt trong ngôi nhà Phật giáo Việt Nam, các thế hệ Tăng nhân của dòng thiền Chúc Thánh đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển của Đạo pháp và Dân tộc. Dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh là một trong những thiền phái lớn của Phật giáo Việt Nam trong quá khứ cũng như hiện tại.( Nhĩ tôn Thích Như Tịnh)

Các dòng Thiền từng góp phần làm rạng rỡ Phật giáo nước nhà cả lịch sử Dân tộc,chính trị, khoa học, văn hóa… qua tay các Thiền sư Như Ý Trần Cao Vân, Võ Trứ Chân An Tuệ Tĩnh, Chân Nguyên Tuệ Đăng, Pháp Chuyên Luật Truyền Diệu Nghiêm. Toàn Nhật Vi Bảo Quang Đài, Trừng Thông Viên Thành v.v...(Lê Mạnh Thát)

Riêng Sơ tổ Minh Hải Pháp Bảo vào Hội An khai sơn lập chùa Chúc Thánh, xuất kệ truyền thừa lập nên Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh gần 50 năm hành hóa. Ngoài ra,  phái đoàn hoằng pháp  còn có Thiền sư Thạch Liêm năm 1694 đã tạo nền móng phát triển cho Phật giáo đàng trong

Hòa Thượng Thạch Liêm cùng Hội đồng thập sư sang mở đàn truyền giới tại chùa Thiền Lâm, Linh Mụ tại Huế và chùa Di Đà tại Hội An. Trong phái đoàn này gồm có các vị Thiền sư danh tiếng như: Minh Hoằng Tử Dung, Minh Hải Pháp Bảo, Minh Vật Nhất Tri, Minh Lượng Thành Đẳng v.v (lịch sử truyền thừa dòng Chúc Thánh)

Do công lao giáo dưỡng của chư vị Thiền sư tiền bối, đã xây dựng được một số hậu bối đủ năng lực truyền bá rộng khắp toàn quốc, ngay cả hải ngoại, các tỉnh thành đều có cơ sở của dòng phái Chúc Thánh.  (ĐĐ Thích Như Tịnh)

Trãi qua truyền thừa của dòng Chúc Thánh, được vô số danh Tăng thạc đức xây dựng ngôi nhà chánh pháp, trong đó, thời hiện đại, thế kỷ XX, nổi bậc nhất là Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết và Thích Giác Nhiên, đệ nhất và đệ nhị Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Ngài thường căn dặn đệ tử: “Giới luật là thọ mạng của Phật pháp, nếu phá giới phải hoàn lại y bát, ra khỏi Già Lam, để cho trong đục rõ ràng, tà chánh phân minh.

Dòng Chúc Thánh nói riêng và PGVN nói chung đã lưu lại cho dân tộc một bức tranh đa sắc gam màu rạng rỡ mà ngày nay được truyền tụng – “Phật giáo đồng hành cùng dân tộc”
                                                       ***

Trong quá trình hình thành và phát triển như thế, một hình thức hệ phái tông phong trãi qua hơn ba thế kỷ vẫn trường tồn và phát triển như thế, duy trì được truyền nhân có tài năng và tâm đạo như thế, nhưng…Đã gọi là thiền phái, hiện nay mấy ai đã duy trì manh mối mạch pháp thiền vị? phần lớn thiên về Tịnh độ, một ít hành trì Mật pháp.  Phải chăng Thiền pháp Chúc Thánh đã bị mai một, không còn ai nắm được mạch pháp của chư Tổ để hành trì, vì vầy, tuy danh nghĩa Chúc Thánh còn duy trì và phát triển trên hình thức, nhưng nội chất cũng như bao pháp phái khác hiện song tồn trên danh nghĩa đạo Phật Việt Nam.

Thiền phái Chúc Thánh  truyền thừa theo  kệ xuất của Tổ khai sơn, nói theo thế gian, mang dòng họ nội để xác định là con cháu của dòng họ đó. Đoàn hậu lưu phát triển như thế nào tùy năng khiếu và sở trường của riêng họ. Con cháu nhìn nhận nhau qua danh pháp chữ kệ được thầy truyền để xác định thuộc đời thứ mấy của môn phong.

Hiên nay, Hội An được xem là Tổ đinh khai sơn môn phong, đây là lần đầu tiên môn phong Chúc Thánh tổ chức Hội thảo khoa học, ngoài vấn đề tôn vinh chư Tổ, ôn tập hệ thống truyền thừa, kết tập tư liệu để bổ sung cho lịch sử tông phong, cũng là dịp con cháu truyền nhân nhận diện nhau từng lưu lạc khắp phương trời.

Hiện nay tư liệu về dòng Thiền phái Chúc Thánh khó mà đầy đủ theo nhận định của giáo sư Lê Mạnh Thát, nhưng dẫu sao, nhiều tay vỗ nên kêu còn hơn không.

                                                    ***

Trong cuộc Hội thảo này, nội dung tư liệu cũng đã được chư vị đóng góp khá nhiều, riêng tôi, thuộc con cháu Tông môn Chúc Thánh Quảng Nam, sanh sau đẻ muộn, mong muốn Hội thảo tìm ra một pháp môn đặc thù của Tông phong để truyền nhân, tử tôn được hành trì đúng tôn chỉ của chư Tổ, song song với sự phát triển về cơ cấu tổ chức và phát triển cơ sở vật chất để Thiền phái Chúc Thánh trọn vẹn như Thiền phái Trúc Lâm hiện nay.

Kính chúc Hội thảo thâu đạt được nhiều kết quả tốt đẹp, kính chúc chư Tôn Đức thân tâm thường lạc, pháp vị khai thông, tiếp dẫn hậu lai khai thông pháp mạch.

                         NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

28/8/2020

 

 

.

 

 

 

 

 

 

.








 

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2020

TIẾN VỚI ĐÔI CHẤN

 


Con người ta không thể đi một chân. Đôi chân là một cặp tương thích hỗ trợ cho việc tiến bước. Trong cuộc sống cũng thế, mọi sự việc, mọi hiện tượng từ vật thể đến tinh thần, luôn có cặp đôi tương phản lẫn nhau. Chân cần có đủ cặp để tiến bước, tại sao những cặp tương phản không giúp ta tiến bộ về nhận thức cũng như về tâm thức ?

Trong cuộc sống đời thường, con người muốn chọn cho mình cái thuận lợi nhất, cái tốt đẹp nhất, tránh né mọi bất lợi, mọi xấu ác; thậm chí trong việc giao tiếp, thích tìm bạn tốt, tránh né bạn xấu. Tục ngữ có câu: - gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Do có cái nhìn cực đoan hay được giáo dục từ bé tạo cho ta một ấn tượng cực đoan, vì thế, ta luôn gặp những bất toại khi cuộc sống luôn xuất hiện những mâu thuẩn đối cực mà Phật giáo gọi là nhị nguyên, đạo gia xem là lưỡng cực, lưỡng nghi, thế thường gọi là mâu thuẩn, đối lập…

                                                       ***

Đức tin đối với đạo Phật và những đức tin của ngoại giáo, đều là những cặp tương phản. Ngay cả đức tin đối với đạo Phật, cho rằng mình chọn đúng chánh đạo, nhưng không tìm hiểu những gì ngoài đạo Phật, tinh thần chủ quan và cực đoan sẽ nảy sanh, lắm khi đức tin gọi là chánh tín dó, trở thành mê tín khi hành xử.Ví dụ, đạo Phật sinh hoạt như một tôn giáo, bị xem là một tôn giáo nên phát sanh nhiều hình thức, pháp tướng, thanh sắc; so với các tôn giáo khác, chúng ta cũng chỉ là một tôn giáo như bao tôn giáo Thần luận; do vậy sanh ra cầu đảo, van xin, dâng cúng mong đạt thành sở nguyện. Một khi tuyệt đối sa vào tha lực, đánh mất nội lực, việc tu tập hành trì sẽ xa rời trong đời sống chân chánh của một đệ tử Đức Phật. Ngay cả trong nội giáo, có nhiều pháp môn khác nhau, tùy căn cơ thích hợp, chọn một pháp để hành trì, cũng phải tìm hiểu biết qua những pháp khác để củng cố niềm tin cho pháp hành, tránh được cực đoan, cố chấp.

Tín ngưỡng trong đạo Phật là tiêu chí để vững tiến chứ không là điểm để giao phó toàn bộ cho một tha lực.Đức tin rất cần thiết trong cuộc sống, nhưng cần có trí tuệ để nhận thức, xây dựng nền tảng vững chắc cho niềm tin. Trong kinh Hoa Nghiêm Đức Phật dạy: Đức tin là mẹ đẻ của mọi công đức. Đức Phật lại dạy: “Người có lòng tin mà không hiểu giáo lý thì dễ tăng trưởng vô minh si ám, người hiểu giáo lý mà không có lòng tin thì dễ tăng trưởng tà kiến. Cho nên “lòng tin và hiểu biết phải cùng có đủ để làm cội gốc tu hành” (Kinh Niết Bàn). Dĩ nhiên ngoài đức tin sẽ có những đối cực của đức tin. Cũng thế, phóng sanh là hạnh lành cứu vớt sinh mạng của chúng sanh đang bị tước đoạt mạng sống, thế nhưng, sau mặt tích cực đó vẫn xảy ra mặt tiêu cực, tiếp tay cho những kẻ tham lợi đánh bắt khi đặt hàng tấn cá chim, loài hải sản với nơi buôn bán.Nhắm mắt làm theo hình thức, phước trở thành tội. Giữa hai mặt tốt và xấu đó, không thể mù quáng chọn một; dùng trí tuệ giúp tránh chuộng về hình thức.

Từ thiện xã hội thể hiện tâm từ, được coi là hạnh Bồ Tát; nó không là mục tiêu cứu cánh đưa đến giải thoát;hành thiện tiềm ẩn nguy cơ cho những tâm hồn bất thiện cầu lợi. Không thiếu kẻ lạm dụng việc từ thiện để mưu lợi; kêu gọi những lòng tốt đóng góp để chiếm dụng. Vì thế từ thiện xã hội không thể nhiệt tình theo thói quen mà cũng phải hiểu mặt trái bị lợi dụng.

Cũng có những người nhiệt tâm hộ đạo, trên bước đường tu tập, muốn làm phước, lập ban hộ niệm, sẵn sàng lăn xả giúp cho người sắp lâm chung bất kể ngày đêm, bỏ công, bỏ của, bỏ thời gian để hộ niệm, nghĩ rằng sẽ giúp thần thức người lâm chung được siêu thoát. Đức Phật từng nói – cục đá chìm dưới nước, một ngàn vị sư cầu nguyện, đá không thể nổi,cọng lông tơ trên mặt nước, ngàn vị tụng lông kia cũng không thể chìm. Không có kinh nào bảo rằng trì tụng hương linh được siêu thoát. Chư Tăng thời  đức Phật và kể cả chư Tăng Theravada  ngày nay chỉ đọc những bài kệ nói đến vô thường, khổ và vô ngã trước hương linh để cảnh tỉnh nhắc nhở cho người sống chứ không tụng cầu siêu cho người chết.Thần thức chưa lìa thể xác thì chư Tăng khai thị để họ hướng về điều lành lúc cận tử nghiệp.Như thế không thể gọi là làm công tác cầu cho hương linh siêu độ, mà chỉ trợ niệm một khi hương linh có sẵn hạt giống thiện, không ngoài luật nhân quả.

                                                         ***

Trong xã hội cũng thế, những bất trẵc xảy ra thường mang đến khổ đau, bất mãn, những thuận lợi tốt đẹp cho ta niềm hoan hỷ, mãn nguyện. Dĩ nhiên không ai trong đời hoàn toàn gặp điều may mắn tốt đẹp hay xui xấu suốt đời. Xui và hên, tốt và xấu luôn là cặp tương phản của nền tảng nhân quả từ nghiệp thức. Hành giả luôn quán xét những bất trắc xấu và tốt, may mắn và tai họa…vốn là hai mặt tương phản của nhân quả. Bị tác động hai mặt để khổ đau và sung sướng mãi biến con người thành thụ động trôi lăn trong tử sanh luân hồi. chính ở trong khổ đau, phiền não mới có bài học giác ngộ;trốn chạy khổ đau bằng nhiều hình thức khác nào con vật chui đầu vào cát trốn chạy thực tại, không giải quyết được vấn đề.Trực tiếp đối diện hai mặt tương phản trong đời sống để thấy chúng là một bài học tiến hóa nghiệp thức,theo Duy thức luận thì mọi hiện tượng đều do: 
Thị chư thức chuyển biến
Phân biệt, sở phân biệt
Do thử bỉ giai vô
Cố nhất thiết duy thức

(Tất cả do thức chuyển biến Phân biệt, bị phân biệt. Do đây kia đều không, Nên tất cả là duy thức) ;

bởi vì con đường giác ngộ chỉ có trong thực tại:”Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác, ly thế mịch Bồ đề, cáp như cầu thố giác”. Thực tại nằm trong hai mặt tương phản của cuộc sống.

Phật giáo khác với học thuyết Duy vật là tìm giải thoát ngay trong quy luật tương phản, mâu thuẩn, từ mâu thuẩn để hiểu được bản chất tương đối của ảo thức, vượt khỏi sự chi phối của mâu thuẩn; Trong lúc Duy vật lúng túng lẫn quẩn trong mâu thuẩn khi nhận thức rằng: “Một hợp thể luôn có hai mặt mâu thuẩn lẫn nhau, giải quyết mâu thuẩn này thì mâu thuẩn khác phát sanh”. Nghĩa là trong xã hội luôn phát sanh mâu thuẩn, không thể dứt trừ thì con người trong xã hội luôn bị khổ đau. Duy vật y cứ hiện tượng xã hội, giải quyết hiện tượng này thì hiện tượng khác phát sanh; Phật giáo muốn giải quyết mọi bất toàn, phải giải quyết ngay chính tâm thức, không đổ thừa do xã hội hay do một đấng quyền năng quyết định.Theo Duy thức thì: Do chư nghiệp tập khí
      Nhị thủ tập khí câu
      Tiền dị thục ký tận
      Phục sanh dư dị thục

(Do tập khí các nghiệp Cùng tập khí hai thủ Nên dị thục trước hết Lại sanh dị thục sau)

Tuyệt đối tận cùng của Phật giáo là “vô ngã” đã là vô ngã thì làm gì có cái mà: C.Mác đã viết: “Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng như nó. là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”. Quan niệm này không phù hợp với đạo Phật khi giáo lý nhà Phật quan niệm chính con người là chủ đạo giải quyết mọi bất toàn (kể cả sung sướng và khổ đau) trong cuộc sống.

Một hành giả đạo Phật không chấp thủ một phía. Không thể bỏ khổ tìm vui; không phủ nhận cái này để chấp nhận cái kia.Luôn nhìn mọi hiện tượng cả hai mặt, vì chính hai mặt là một vấn đề. Trong Đạo gia, lưỡng nghi là một tổng thể của âm và dương; âm triêu dương trưởng hoặc dương triêu âm trưởng chứ không thể triệt tiêu một trong hai cực. Sự phát triển, tiến hóa do lưỡng nghi vận hành đồng bộ; khi âm thạnh dương suy là hiện tượng tiêu cực phát sanh, ngược lại dương thạnh âm suy là hiện tượng tích cực quá đà, âm dương quân bình thì mọi sự ổn cố.Mọi chuyển biến của lưỡng nghi gọi là dịch

                                                  ***

Nhiều người đến với đạo Phật mục đích tu tập để sửa mình, tu tâm, tu tánh, tu tướng đều lệch hướng, thật tế đạo Phật không dạy tu để sửa, vì có tu có sửa là có cái ngã để tu để sửa. Chủ yếu giúp con người nhận thức được hai mặt mâu thuẩn trong cuộc sống, để khỏi bị chi phối luật nhị nguyên đó; với nhận thức bằng trí tuệ  mới đưa đến giải thoát mọi khổ đau.Khi thâm nhập vào mọi hiện tượng trong đời sống tức đã thâm nhập pháp giới tạng để tiến dần đến giải thoát.

Thế thường con người đứng một phía gọi là nhất nguyên. Thuyết nhất nguyên duy vật được phát triển bởi Mác và Ăngghen cho rằng toàn bộ hiện thực khách quan, về bản chất là vật chất, ý thức chỉ là kết quả của sự phát triển và sự phản ánh của vật chất vận động .Thuyết nhất nguyên duy tâm cho rằng mọi cái đều do ý niệm tuyệt đối sáng tạo ra.Thuyết nhất nguyên khác biệt với thuyết nhị nguyên - Đã đứng một phía thì không giải quyết được thực tại, vì thực tại luôn là hai mặt đối nghịch lẫn nhau. Ví dụ thuyết duy vật quan niệm vật chất có trước và chi phối ý thức, nhưng duy tâm đã có mặt trước duy vật rất lâu.

Duy vật hay duy tâm, duy linh hay duy thần..đều là hai cực của nhị nguyên. Trước vấn nạn giữa duy vật và duy tâm thì Kant đi đến thuyết bất khả tri, nhưng theo các nhà duy vật thuyết bất khả tri không sớm thì muộn cũng đi đến duy tâm.

Kết: Như đã phân tích trên, Phật giáo luôn dung hợp hai mặt của một vấn đề để hiểu được thực tướng bằng tuệ giác mới không kẹt trong nhị nguyên,mâu thuẩn. Tiến hóa từ nhị nguyên.Ngược lại, do chủ quan phiến diện,một số học thuyết đã có quan điểm như:

Với C.Mác, tôn giáo như là “vầng hào quang” ảo tưởng, là những vòng hoa giả đầy màu sắc và đẹp một cách hoàn mỹ, là ước mơ, là niềm hy vọng và điểm tựa tinh thần vô cùng to lớn cho những số phận bé nhỏ, bất lực trước cuộc sống hiện thực. Tôn giáo chỉ là những “bông hoa giả” tô điểm cho một cuộc sống hiện thực đầy xiềng xích. Nhưng nếu không có những “bông hoa giả” ấy thì cuộc sống của con người chỉ còn lại “xiềng xích” mà thôi. Và nếu không có thứ “thuốc giảm đau” ấy thì con người sẽ phải vật vã đau đớn trong cuộc sống hiện thực với đầy rẫy những áp bức, bất công và bạo lực.

Pascal phán:

-Nếu bạn tin vào Chúa và Chúa tồn tại, thì cái lợi của bạn sẽ là hạnh phúc vĩnh cửu.
-Nếu bạn tin vào Chúa, còn Chúa không tồn tại thì bạn không mất gì.
-Nếu bạn phủ định sự tồn tại của Chúa, và Chúa thật sự tồn tại thì bạn đánh mất khả năng có hạnh phúc vĩnh cửu.
-Nếu bạn phủ định sự tồn tại của Chúa và Chúa không tồn tại, bạn không có lợi gì.

Mọi người có quyền tự do chọn lựa trước những bất cập trong cuộc sống khi mình gặp phải.

 

MINH MẪN

25/8/2020.