Thứ Hai, 21 tháng 9, 2020

VẪN LÀ TRUNG THU

 


Cuộc sống, một khi lặp lại thường xuyên trong một vấn đề, dễ đưa đến nhàm chán, thế nhưng, 365 ngày, một chu kỷ xoay vần đất trời, bốn mùa tám tiết vẫn tái lai, con người lại có lúc hân hoan đón mừng như Tết cổ truyền, Tết Đoan ngọ, Tết Trung Thu, đôi khi cũng chuẩn bị tâm lý lo sợ cho thời vụ gặp cơn khắc nghiệt.

Dân tộc ta sống bằng nông nghiệp, tùy thuộc thời tiết gieo cấy, trồng trọt.Trong lúc thời vụ hoàn tất, hoặc giao thoa giữa hai mùa, thường có lễ tạ đất trời, tạ thần nông thổ địa..Lễ nghĩa là tập quán của ông bà ta xa xưa, sống hòa nhập với thiên nhiên, trọng kính thiên nhiên, mong thiên nhiên bảo hộ cuộc sống an lành.Cũng trong năm, có những thời gian mang tính đặc thù, thường xem đó là Tết vì tầm quan trọng của chúng. Trung Thu là một ví dụ.

Không riêng Việt Nam, chả biết tự bao giờ, Trung Thu trở  thành ngày Tết quan trọng vào tháng tám âm lịch cho những quốc gia như Trung Quốc, Nhật,Triều Tiên, Đài Loan, Singapore.Tuy chưa rõ nguồn gốc xuất phát Tết Trung Thu, nhưng Việt Nam ta có truyền thuyết về chú Cuội và chị Hằng Nga; Trung Quốc  lưu truyền cổ tích bằng truyện Hằng Nga và Hậu Nghệ, vua Đường Minh Hoàng lên cung trăng.Hình ảnh Trung Thu được in trên mặt trống đồng Ngọc Lũ.Đồng bằng phía Nam Trung Quốc và đồng bằng châu thổ phía Bắc sông Hồng của Việt Nam đều ảnh hưởng chung nền văn hóa lúa nước, vì thế lễ mùa được tổ chức vui chơi sau khi thu hoạch là điều cần có.

 Những quốc gia  xem Tết Trung Thu là một trong những ngày nghỉ lễ trong năm. Trung Thu được xem là Tết dành cho trẻ con, được tổ chức dưới nhiều hình thức như rước đèn,hát trống quân, múa Lân,làm bánh các loại… Miền Bắc ngày xưa còn có lễ ngắm trăng, tặng quà trẻ con.Ngày nay, Tết Trung Thu còn là dịp các cơ quan tặng quà cho nhau,tặng cho các quan lớn với món quà giá trị; người lớn cũng được con cháu quà cáp bánh trái, thường là bánh nướng và bánh dẽo.Từ Tết vui của trẻ con trở thành ngày Tết cho cả người lớn.

Kinh nghiêm nhà nông thuở xưa, mùa trăng Trung Thu cũng là dịp tiên đoán thời vụ như:

  • Muốn ăn lúa tháng Năm, trông trăng rằm tháng Tám.
  • Tỏ trăng Mười Bốn được tằm, đục trăng hôm Rằm thì được lúa chiêm.

Mùa Trung Thu cũng là đề tài ngẫu hứng cho thi sĩ như bài Trung Thu của Đỗ Phủ Cảnh thu nay đúng nửa rồi

Trăng thu thêm sáng, khung trời thêm cao

Lầu nam ai rót rượu đào

Tiếng tơ, tiếng trúc thanh tao nhịp nhàng ( Thái Giang dịch)

Tản Đà thế:

Có bầu có bạn can chi tủi

Cùng gió cùng mây thế mới vui

Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám

Tựa nhau trông xuống thế gian cười.

Nguyễn Du

Khi chén rượu khi cuộc cờ,

Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên

Các nhạc sĩ như Lê Thương,Ngọc Lễ…cũng góp  phần cung nhạc cho mùa lễ hội đậm nét nhân gian.

                                                         ***

Tùy mỗi quốc gia có một hình thái  tổ chức lễ hội khác nhau.

Tại Nhật: Tuy không còn sử dụng âm lịch, Tết Trung thu vẫn được tổ chức trang trọng ,có cả lễ Lễ ngắm trăng.

Tại Philippines:Tết Trung do người Hoa sinh sống tại bản địa tổ chức như lễ hội riêng của người gốc Hoa.

Tại Malaysia: Người Malaysia cũng tổ chức sinh hoạt Trung Thu như ở nước ta, có rước đèn, múa Lân, làm bánh, lễ nhạc…

Tại Thái: Tết Trung thu ở Thái Lan được gọi là “lễ cầu trăng”, tổ chức vào đúng ngày 15/8 âm lịch.Nhưng không rầm rộ trang trọng như các nước Đông Nam Á

 

Tại Hàn Quốc: Ngày lễ rằm tháng 8 ở Hàn Quốc có tên Chuseok. Kéo dài trong 3 ngày, giống tết cổ truyền Việt Nam, thời gian này con cháu đều về quần tụ trong gia đình.

Mâm cỗ Trung Thu, thường là bánh trái, hoa quả sặc sỡ màu sắc, trang trọng bày lên bàn thờ gia tiên, một mâm  cúng ngay giữa nhà để tạ ơn điền trạch. Đúng lúc trăng lên đỉnh đầu,  người lớn nhất trong gia đình phá cỗ, cắt bánh chia đều cho thành viên trong gia đình, ông bà cha mẹ ngồi ngoài sân hóng mát, thưởng thức trà nóng, bánh nướng, bánh dẽo nhìn trăng mang màu sắc tinh khiết lung linh, huyền ảo.  Đêm rằm tháng tám, mặt trăng tròn vành vạnh, ánh sáng  vàng dịu tươi mát cả bầu trời, không gian yên ắng trong lành, gió hiu hiu trãi khắp mặt đất, người dân chọn đêm rằm để ngắm trăng cực kỳ thú vị.

Trẻ con được dịp tung tăng rước đèn, hội tụ vui chơi, cầm đèn đi khắp thôn xóm, khu phố, đến đâu cũng được người lớn tặng quà.

Tùy kinh tế mỗi gia đình mà tổ chức Trung Thu khác nhau; tùy thời điểm an bình của đất nước mà lễ Tết Trung Thu được phổ biến rộng rãi; nhưng dù sao, Tết Trung Thu vẫn là nét văn hóa đặc thù của dân tộc ta cho dù trãi qua bao biến thiên lịch sử. Điều đặc biệt, Tết Trung Thu ngày nay được các nhà hảo tâm thực hiện đem đến cho thiếu nhi vùng sâu, vùng xa và các bệnh viện nhi, bệnh viện ung bứu một tình cảm ấm áp ruột thịt.

Mùa bão lũ sẽ dành bầu trời yên lành cho vầng trăng truyền thống, đem đến cho dân tộc một giây phút thanh thản để tạ ân đất trời từng ban bố mùa bội thu no ấm cho dân tộc.

 

MINH MẪN

22/9/2020

 

 

 

 

 



 



 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2020

LỄ CÔNG BỐ

 


Mã số chuẩn Quốc Tế cho xuất bản phẩm nhiều kỳ.

Lễ ký kết thỏa thuận hợp tác giữa Tạp chí Văn hóa Phật giáo với Bưu điện Thành phố Hồ Chí Minh và công ty DATAPOST vào sáng ngày 20/9/2020 tại Hội trường Khách sạn New World, phường Bến Nghé, quận  nhất TP HCM.

Đây là lần đầu tiên, tạp chí Phật giáo được cấp mã số chuẩn Quốc tế cho ấn phẩm nhiều kỳ thuộc tạp chí Văn hóa Phật giáo. Sau 16 năm lăn lộn vất vả để duy trì tờ báo khó phổ biến vào quảng đại quần chúng, mà kinh phí phải tự túc, Tổng Biên tập đầu tiên là anh Võ Đình Cường,khởi nguồn là Tập văn do Ban Văn hóa T.Ư chủ trương, kế tiếp là HT.Thích Chơn Thiện và HT.Thích Trung Hậu, hiện tại Tổng Biên tập đương nhiệm là HT.Thích Hải Ấn, Ủy viên Thường trực HĐTS, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Văn hóa T.Ư GHPGVN, báo chí cấp phép lần đầu tiên năm 2004 của Bộ Thông tin và truyền thông.

Trãi qua thời gian dài trong lịch sử báo chí Việt Nam, Pháp Âm là tờ báo Phật giáo đầu tiên được xuất bản ngày 31-8-1929, chủ nhiệm là HT. Khánh Hòa, trãi dài qua tiếp theo là Tạp chí Viên Âm, Nguyệt san Phương Tiện và - Từ Quang, tạp chí Bồ Đề Tân Thanh ,Tuần báo Đuốc Tuệ đầu tiên  là Duy Tâm Phật Học sau đổi thành Duy Tâm, Bác Nhã Âm,Tạp Chí Giác Ngộ…để ngày nay, những báo chính thống của Phật giáo như Truyền hình An Viên, Báo Giác ngộ, Tạp chí Văn hóa Phật giáo, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, Tạp chí Khuông Việt... Các website, trang tin điện tử và những tạp chí địa phương như Vô Ưu, Khánh Hòa,Hương Thiền…đã tiếp tục góp phần phổ biến văn hóa, tư tưởng Phật giáo khá phong phú.

Chư Tôn đức  đã thấy được tầm quan trọng của báo chí đem Phật giáo vào quần chúng, thuở ấy, cuộc sống và mọi phương tiện còn đơn giản; ngày nay, với thời đại toàn cầu hóa thông tin, 4.0 đòi hỏi người làm báo can đảm vượt khỏi lối cũ, mạnh dạn tiến vào lãnh vực kỷ thuật thông tin đại chúng mà vẫn duy trì hình thái truyền thống để đáp ứng cả hai thế hệ trẻ và người lớn tuổi quen sử dụng báo giấy. Theo TT. Minh Nhẫn, Tạp chí Văn hóa Phật giáo sẽ được trình bày qua nhiều hình thức tiên tiến hiện đại với mã code, ngoài báo giấy và trang điện tử, còn báo nói giúp cho những ai bận rộn công việc vẫn nghe và theo dõi.Ngoài ra, báo được chuyển ngữ tiếng Anh, sẽ truyền tay đến khách nước ngoài qua sự hỗ trợ của Bưu điện và công ty DATAPOST đến các khách sạn 4 – 5 sao, vừa được ký kết sáng nay. Để duy trì  sự tồn tại của tạp chí là một sự cố gắng quá sức của tập thể , trong đó phải nói công sức của cư sĩ Trần Tuấn Mẫn Phó Tổng biên tập Thường trực kiêm Thư ký tòa soạn. Nay vì tuổi cao sức kém,ngày 13-7, HT.Thích Thiện Nhơn, Chủ tịch HĐTS đã ký quyết định bổ nhiệm TT.Thích Minh Nhẫn, Ủy viên Thường trực HĐTS làm Phó Tổng Biên tập Thường trực kiêm Thư ký tòa soạn.

Báo chí Phật giáo hiện nay, với sáng kiến, năng lực vá trình độ chuyên môn được cập nhật thường xuyên, TT. T. Minh Nhẫn xứng đáng nhận lãnh vai trò Phó Tổng Biên tập Thường trực kiêm Thư ký tòa soạn và cũng là Ủy viên Thường trực HĐTS. Tuổi trẻ năng động, TT đã chứng minh qua thời gian điều hành PSO từ nửa nhiệm kỳ Đại hội VIII, các tin tức Phật sự cập nhật 63 Tỉnh thành, nhất là sự kiện Đại lễ Vésak lần thứ ba tại Tam Chúc, chứng tỏ năng lực chuyên môn của đội ngũ trẻ do TT Minh Nhẫn điều hành, rất phong phú mà trước đó truyền hình An Viên đã từng cống hiến. Tuy  PSO là một phần trong TTTT, một trong 13 Ban của Phật giáo, nhưng sự có mặt PSO đã làm thay đổi bộ mặt văn hóa và truyền thông của Phật giáo thời gian gần đây không nhỏ.

Thành phần nhân sự ê kíp mới gồm 20 người, đang tập dợt, trao đổi kinh nghiệm,tìm tòi sáng kiến để đổi mới toàn bộ về báo chí Phật giáo Việt Nam hiện nay. Thời gian gần đây, Giáo Hội PGVN có những thành phần trẻ năng động, có trình độ, có tay nghề như TT Minh Nhẫn, TT Đức Thiện, còn có nhiều Tăng sĩ có bằng cấp thực học âm thầm làm nhiệm vụ giáo dục; giỏi nhiều mặt như giáo dục, trình độ giáo lý và luật học, còn có năng khiếu và thẩm mỹ trong việc kiến tạo một tu viện Vĩnh Nghiêm tại quận 12 như TT Giác Dũng. Dĩ nhiên còn nhiều vị có khả năng sinh hoạt trong thầm lặng để giúp ngôi nhà PGVN vượt qua những khó khăn đang gặp phải từ khủng hoảng truyền thông xã hội.

Hy vọng, với nhiệm vụ mới, tài thao lược, năng động và sở trường, TT Minh Nhẫn sẽ có nhiều nhân sự đủ khả năng, có tâm, có tầm hỗ trợ để hoàn thành xuất sắc được Giáo hội tin tưởng ủy thác.

Kinh chức tập thể Tạp chí Văn hóa Phật giáo sẽ hanh thông, vững tiến.

MINH MẪN

20/9/2020

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2020

TRẦM LẮNG

 


Nắng hạn cũng qua đi, mưa bão cũng chấm dứt, lũ lụt tẩy xóa  mọi ô trược trong cuộc sống cũng phải có thời gian nhất định theo chu kỳ của tạo hóa; Nhưng riêng năm Canh Tý, 2020 mọi sự đảo lộn mà khoa học cũng không thể giải thích những hiện tượng thời tiết ví sao thất thường.

Mỹ đối lập với Trung Cộng, Mỹ cháy hàng chục ngàn hecta rừng thì Trung Cộng lũ lụt mưa bảo dầm đề suốt hơn ba tháng liền làm khốn khổ, mất tích nhiều sinh mạng, tài sản trôi giạt.Thủy hỏa tương xung! Cái khổ vô tận của dân chúng Tàu nói lên quả báo mà nhân quá khứ, theo tinh thần nhà Phật, hiện tại phải lãnh chịu. Không hiểu luật nhân quả thì không thể chấp nhận những hiện tượng bất thường do cộng nghiệp đem đến. Lòng tham chiếm đoạt biển Đông thì trời cho nước ngập hơn biển Đông tại chỗ; Những tâm tham ác đối với nhân loại luôn phản hồi chính chủ, thế nhưng mấy ai hiểu rằng ”hàm huyết phún nhơn, tiên ô tự khẩu”. Những bất trắc nạn tai đều là bài học cho con người  cảnh giác, phản tỉnh xét lại cách sống của mình. Vô cổ bất thành kim: Không có xưa thì không có nay, không có nhân thì sao có quả. “dục tri tiền thế nhân, kim sanh sanh thọ giả thị, dục tri lai thế quả, kim sanh tác giả thị.Muốn biết nhân kiếp trước, xem đời sống hiện tại, muốn biết quả kiếp sau, hãy xem việc làm hiện tại.Khi hoạn nạn không ai cứu giúp, Một đất nước thiên tai không ai ngó ngàn giúp đỡ cho dù từng là môi với răng, môi hở răng lạnh, núi liền núi, sông liền sông; ngay cả thế giới cũng bỏ mặc cho đất trời trừng trị. , phải xem lại mình.

Nhất thiết duy tâm tạo – tất cả do tâm cảm ứng, tâm đạo đức sẽ cảm ứng điều lành, tâm ác độc hại người bằng mọi hình thức cũng khó tránh quả báo. Trong nhà, tang gia bối rối không lo mà cứ muốn gây sự, cướp đoạt hàng xóm thì dó gọi là gì? Một quả báo kéo dài phải biết do nhân tích lũy quá lớn. Một đất nước nhỏ bé và nghèo như dân ta, biết nhường cơm xẻ áo lúc đồng bào hoạn nạn, đó là cái đức ươm mầm cho phúc lộc nở hoa.

Không làm ác mà tâm cũng không nghĩ ác.  Virus trên đất nước Tàu phát sanh thì Nhật đã chỉa xẻ, khích lệ, an ủi dân chúng Tàu, khi nghe Nhật và các nước khác nhiễm bệnh thì Tàu họ tung hô cầu chúc, ăn mừng; tâm ác như thế sao khỏi chiêu họa? Đừng trách thế giới vô tâm trước cảnh thiên tai hiện nay.

                                                      ***

Đời người không ai tránh khỏi lúc thạnh lúc suy; có nghiệp mới mang thân người; nghiệp nặng thì cuộc đời khốn đốn, nghiệp nhẹ cuộc sống an vui thanh thản. Đừng nhìn thấy người lúc lâm nạn mà chê cười. Nghiệp thân, nghiệp tâm do quá khứ quy tập, hay do vô tình đem đến mà ta thường nói – tai bay họa gửi.Một nhãn tên trên hủ cốt chùa Kỳ Quang do thợ di dời làm vệ sinh, bị rơi ra, chuyện quá nhỏ, nhưng tại sao truyền thông bẩn biết mà tri hô khích động giới bình dân thiếu hiểu biết hô hoán, chửi mắng  nhà sư thậm tệ! chắc gì trong số đó có người gửi tro cốt thân nhân ở chùa. Phải chăng đây là một âm mưu làm nhục Phật giáo mà lâu nay một số truyền thông từng khích động gây phẩn nộ, gây ác cảm với PG. Quần chúng thiếu bình tĩnh đã đành, một người tự nhận là đảng viên bốn nhiệm kỳ làm ủy viên UBMTTQ Q.12 “đòi chôn sống nhà sư” là HT. Thích Thiện Chiếu là thế nào? Nhân cách một đảng viên được đào tạo thế ư?

Phía truyền thông hành động có ác ý, phía quần chúng thiếu hiểu biết, do hạt giống sân hận tích lũy sẵn, đợi có dịp bùng phát đốt cháy cả rừng công đức mà không biết. Theo kinh Pháp cú phẩm ác, Phật dạy

119. “Người ác thấy là hiền.
Khi ác chưa chín muồi,
Khi ác nghiệp chín muồi,
Người ác mới thấy ác.”

125. “Hại người không ác tâm,
Người thanh tịnh, không uế,
Tội ác đến kẻ ngu,
Như ngược gió tung bụi.”

Đối với nhà sư bị hàm oan, điều tâm niệm nhà Phật -  Oan ức không cần bày tỏ, vì bày tỏ thì hèn nhát mà trả thù thì ân oán kéo dài. Một nhà sư bị vu oan có con rơi, họ đem con giao, ngài bảo –Thế à – thời gian sau do lương tâm kẻ vu vạ cắn rứt, bèn đến xin nhận con lại và sám hối, ngài lại bảo – Thế à! HT Thiện Chiếu đứng ra nhận lãnh mọi sai trái của đệ tử đó là nhân cách của bậc trượng phu. Lời trình bày của anh em thợ hồ đủ minh oan cho người. Việc người nhịn ăn là để tự mình sám hối nghiệp chướng, nếu có, trong quá khứ, cũng có thể sám hối cho những người thiếu bình tĩnh đã xúc phạm bậc chân tu.

Rất tiếc, do áp lực truyền thông, Giáo hội muốn trấn an,dập tắt cơn phẩn nộ của quần chúng, GH vội ra văn thư cất chức trụ trì của HT Thiện Chiếu. Tuy Kỳ Quang trực thuộc GH trên mặt pháp lý, ngoài ra còn là một hệ phái có nhiều cớ sở, làm từ thiện; việc đưa một đệ tử lên thay quyền thầy một cách vội vả là một sỉ nhục trong tông phong.Thay vì một văn thư phản cảm gây phẩn nộ trong Phật giáo như thế, GH cần có một văn bản mang nội dung trấn an quần chúng không kém hiệu  quả:

“… trước tình hình chưa được kiểm chứng tại chùa Kỳ Quang, trong thời gian tìm hiểu, tạm thời đề cử TT Quang Thạnh thay việc quản lý mọi sinh hoạt trong chùa để HT Thiện Chiếu được an tâm tu tập…”

Qua sự kiện, luật Đạo không phạm mà luật đời cũng không. Nếu thật sự hệ trọng xúc phạm đến đức tin quần chúng, GH quận Gò Vấp và chính quyền quận cùng hợp tác điều tra cho rõ ngọn ngành; một sự việc cho là kinh hải mà chỉ giải quyết bằng văn bản trong thời gian ngắn thế sao? Nếu không quan trọng, cần gì phải GH Thành phố nhúng tay vào một cách khó hiểu? Chỉ cần nội bộ chùa hoặc tông môn cũng đủ khả năng giải quyết ổn thỏa.Có hợp tình hợp lý thiên hạ mới tâm phục khẩu phục, nội tình không xào xáo.

Lâu nay GH quá nhạy cảm, nghe truyền thông đưa tin là vội hành động như đĩa phải vôi,áp đảo nội bộ, mục đích là trấn an quần chúng và chận đứng truyền thông, đây là cách mở đường cho hươu chạy, tạo tiền đề cho những kẻ ác tâm tiếp tục đánh phá PG. Trong thời gian qua, PG luôn là nạn nhân của một số truyền thông bẩn, khi mà xã hội đang đối phó với nạn dịch thế kỷ, biên giới bị lăm le đe dọa, truyền thông nên tiếp tay trấn an dân chúng hơn là khích động xáo trộn xã hội, với ác tâm mà hậu quả không tránh khỏi về sau.

GH Trung ương cũng như GH Thành phố, tổ chức có ban Pháp chế, ban Giám luật mà một văn bản không cần tham cứu chu đáo thử hỏi hành chánh thế nào,luật đạo thế nào để một kẻ phàm tục đòi chôn sống  bậc chân tu? Bộ mặt Phật giáo dưới mắt quần chúng bây giờ như cọng rác, ai muốn chà đạp cũng được?

Đồng ý tinh thần nhà Phật chuyện khen chê, mắng chửi là lá rơi theo cơn gió, không có gì quan trọng, nhưng đã là một tổ chức hành chánh song hành với bao tổ chức trong xã hội, cần phải có uy tín, thanh danh.

Qua sự kiện giao động lớn trên thế giới, do cộng nghiệp tích lũy lâu đời, con người phải cam chịu trước thiên tai, dịch bệnh, muốn giảm phải biết tích lũy âm đức bằng hành động nhân ái và tâm thiện lành. Cá nhân con người, ngoài cộng nghiệp còn có biệt nghiệp. Chùa Kỳ Quang là một biệt nghiệp lãnh chịu, mọi người cần lắng đọng tâm tư để nhận biết phải trái, đúng sai khi vu vạ cho một người hiền, quả báo không nhỏ. Cuộc sống không ai hoàn toàn đúng, chả ai hoàn toàn sai, bởi – Thánh nhân nào cũng có quá khứ, tội phạm nào cũng có tương lai. Hiện tượng và bản chất đôi khi không thể là một.

Chỉ có sự trầm lắng tâm tưởng như mặt nước hồ Thu  mới thấy tận đáy lòng sự việc đúng sai.

GH cần cẩn trọng khi ra văn bản quyết định nội tình Phật giáo.

Quần chúng cần bình tĩnh xét đoàn đúng lý đúng tình khi hô hào theo phong trào.

Người làm truyền thông cần có lương tâm khi điều hướng quần chúng có lợi xây dựng nhân cách làm người.

Người cán bộ khi tham gia sự kiện trong xã hội cũng cần có phẩm cách của một con người được đào tạo đạo đức cách mạng, vì đất nước trong thời bình không thể như lúc chiến tranh muốn chôn sống ai cũng được.

Hy vọng đất nước sẽ trầm lắng sau những giao động ngoài ý muốn.

 

MINH MẪN

14/9/2020

Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2020

DÒNG CHÚC THÁNH – QUẢNG NAM.

 

THAM LUẬN.


 

Trên 300 năm, một hệ phái truyền thừa tồn tại và phát triển  ở nền tảng một đất nước từng xem đạo Phật là một quốc giáo, quả không phải dễ nếu hệ phái đó không được truyền dẫn bởi những bậc có một nội lực sung mãn hoặc từng là những Tổ vị đắc pháp. Miền Bắc. trước đó, các phái thiền Tỳ–ni–đa–lưu–chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, Trúc Lâm đã đóng vai trò chính của Phật giáo và ảnh hưởng sâu rộng tại đàng ngoài rồi.

Theo lịch sử do giáo sư Lê Mạnh Thát thi Việt Nam lúc bấy giờ có 4 dòng Thiền du nhập từ Trung Hoa như dòng Bút Tháp của Viên Văn Chuyết Công (1590 – 1644), dòng Thập Tháp của Siêu Bạch Thọ Tông (1648–1728), dòng Quốc Ân của Nguyên Thiều Hoán Bích (1648–1728), cả ba dòng này đều thuộc phái Lâm Tế ; riêng dòng thứ tư là Hòe Nhai của Thủy Nguyệt thuộc phái Tào Động. Ba dòng còn lại phát xuất tại Việt Nam như Bút Tháp,  Trúc Lâm, mà điển hình là dòng Long Động của thiền sư Chân Nguyên Tuệ Đăng (1647–1726) hoặc do các vị thiền sư người Việt Nam hay Trung Quốc hành đạo tại Việt Nam xuất kệ thành lập dòng mới, cụ thể là các dòng thiền Chúc Thánh của thiền sư Minh Hải Pháp Bảo (1670–1746) và Thiên Thai của thiền sư Thiệt Diệu Liễu Quán (1667 – 1742).

                                                             ***

Thiền sư đầu tiên của tông Lâm Tế đến Đàng Trong là ngài Nguyên Thiều–Hoán Bích. Tiếp đó, các ngài như Minh Vật–Nhất Tri; Minh Lượng–Thành Đẳng; Minh Hải–Pháp Bảo; Minh Dung–Pháp Thông; Minh Giác–Kỳ Phương, Minh Hoằng–Tử Dung v.v… kế thừa sự nghiệp của tổ Nguyên Thiều, phát triển tông môn rộng khắp. Trong số những thiền sư Trung Hoa du phương hoằng hoá có thiền sư Minh Hải–Pháp Bảo dừng chân tại phố Hội An, Quảng Nam, khai sơn Tổ đình Chúc Thánh, xuất kệ truyền thừa lập nên thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh.

Kể từ khi tổ Minh Hải–Pháp Bảo khai tông lập giáo, tính đến nay dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh đã trải qua 300 năm lịch sử với 12 đời truyền thừa. Qua ngần ấy thời gian có mặt trong ngôi nhà Phật giáo Việt Nam, các thế hệ Tăng nhân của dòng thiền Chúc Thánh đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển của Đạo pháp và Dân tộc. Dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh là một trong những thiền phái lớn của Phật giáo Việt Nam trong quá khứ cũng như hiện tại.( Nhĩ tôn Thích Như Tịnh)

Các dòng Thiền từng góp phần làm rạng rỡ Phật giáo nước nhà cả lịch sử Dân tộc,chính trị, khoa học, văn hóa… qua tay các Thiền sư Như Ý Trần Cao Vân, Võ Trứ Chân An Tuệ Tĩnh, Chân Nguyên Tuệ Đăng, Pháp Chuyên Luật Truyền Diệu Nghiêm. Toàn Nhật Vi Bảo Quang Đài, Trừng Thông Viên Thành v.v...(Lê Mạnh Thát)

Riêng Sơ tổ Minh Hải Pháp Bảo vào Hội An khai sơn lập chùa Chúc Thánh, xuất kệ truyền thừa lập nên Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh gần 50 năm hành hóa. Ngoài ra,  phái đoàn hoằng pháp  còn có Thiền sư Thạch Liêm năm 1694 đã tạo nền móng phát triển cho Phật giáo đàng trong

Hòa Thượng Thạch Liêm cùng Hội đồng thập sư sang mở đàn truyền giới tại chùa Thiền Lâm, Linh Mụ tại Huế và chùa Di Đà tại Hội An. Trong phái đoàn này gồm có các vị Thiền sư danh tiếng như: Minh Hoằng Tử Dung, Minh Hải Pháp Bảo, Minh Vật Nhất Tri, Minh Lượng Thành Đẳng v.v (lịch sử truyền thừa dòng Chúc Thánh)

Do công lao giáo dưỡng của chư vị Thiền sư tiền bối, đã xây dựng được một số hậu bối đủ năng lực truyền bá rộng khắp toàn quốc, ngay cả hải ngoại, các tỉnh thành đều có cơ sở của dòng phái Chúc Thánh.  (ĐĐ Thích Như Tịnh)

Trãi qua truyền thừa của dòng Chúc Thánh, được vô số danh Tăng thạc đức xây dựng ngôi nhà chánh pháp, trong đó, thời hiện đại, thế kỷ XX, nổi bậc nhất là Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết và Thích Giác Nhiên, đệ nhất và đệ nhị Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Ngài thường căn dặn đệ tử: “Giới luật là thọ mạng của Phật pháp, nếu phá giới phải hoàn lại y bát, ra khỏi Già Lam, để cho trong đục rõ ràng, tà chánh phân minh.

Dòng Chúc Thánh nói riêng và PGVN nói chung đã lưu lại cho dân tộc một bức tranh đa sắc gam màu rạng rỡ mà ngày nay được truyền tụng – “Phật giáo đồng hành cùng dân tộc”
                                                       ***

Trong quá trình hình thành và phát triển như thế, một hình thức hệ phái tông phong trãi qua hơn ba thế kỷ vẫn trường tồn và phát triển như thế, duy trì được truyền nhân có tài năng và tâm đạo như thế, nhưng…Đã gọi là thiền phái, hiện nay mấy ai đã duy trì manh mối mạch pháp thiền vị? phần lớn thiên về Tịnh độ, một ít hành trì Mật pháp.  Phải chăng Thiền pháp Chúc Thánh đã bị mai một, không còn ai nắm được mạch pháp của chư Tổ để hành trì, vì vầy, tuy danh nghĩa Chúc Thánh còn duy trì và phát triển trên hình thức, nhưng nội chất cũng như bao pháp phái khác hiện song tồn trên danh nghĩa đạo Phật Việt Nam.

Thiền phái Chúc Thánh  truyền thừa theo  kệ xuất của Tổ khai sơn, nói theo thế gian, mang dòng họ nội để xác định là con cháu của dòng họ đó. Đoàn hậu lưu phát triển như thế nào tùy năng khiếu và sở trường của riêng họ. Con cháu nhìn nhận nhau qua danh pháp chữ kệ được thầy truyền để xác định thuộc đời thứ mấy của môn phong.

Hiên nay, Hội An được xem là Tổ đinh khai sơn môn phong, đây là lần đầu tiên môn phong Chúc Thánh tổ chức Hội thảo khoa học, ngoài vấn đề tôn vinh chư Tổ, ôn tập hệ thống truyền thừa, kết tập tư liệu để bổ sung cho lịch sử tông phong, cũng là dịp con cháu truyền nhân nhận diện nhau từng lưu lạc khắp phương trời.

Hiện nay tư liệu về dòng Thiền phái Chúc Thánh khó mà đầy đủ theo nhận định của giáo sư Lê Mạnh Thát, nhưng dẫu sao, nhiều tay vỗ nên kêu còn hơn không.

                                                    ***

Trong cuộc Hội thảo này, nội dung tư liệu cũng đã được chư vị đóng góp khá nhiều, riêng tôi, thuộc con cháu Tông môn Chúc Thánh Quảng Nam, sanh sau đẻ muộn, mong muốn Hội thảo tìm ra một pháp môn đặc thù của Tông phong để truyền nhân, tử tôn được hành trì đúng tôn chỉ của chư Tổ, song song với sự phát triển về cơ cấu tổ chức và phát triển cơ sở vật chất để Thiền phái Chúc Thánh trọn vẹn như Thiền phái Trúc Lâm hiện nay.

Kính chúc Hội thảo thâu đạt được nhiều kết quả tốt đẹp, kính chúc chư Tôn Đức thân tâm thường lạc, pháp vị khai thông, tiếp dẫn hậu lai khai thông pháp mạch.

                         NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

28/8/2020

 

 

.

 

 

 

 

 

 

.








 

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2020

TIẾN VỚI ĐÔI CHẤN

 


Con người ta không thể đi một chân. Đôi chân là một cặp tương thích hỗ trợ cho việc tiến bước. Trong cuộc sống cũng thế, mọi sự việc, mọi hiện tượng từ vật thể đến tinh thần, luôn có cặp đôi tương phản lẫn nhau. Chân cần có đủ cặp để tiến bước, tại sao những cặp tương phản không giúp ta tiến bộ về nhận thức cũng như về tâm thức ?

Trong cuộc sống đời thường, con người muốn chọn cho mình cái thuận lợi nhất, cái tốt đẹp nhất, tránh né mọi bất lợi, mọi xấu ác; thậm chí trong việc giao tiếp, thích tìm bạn tốt, tránh né bạn xấu. Tục ngữ có câu: - gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Do có cái nhìn cực đoan hay được giáo dục từ bé tạo cho ta một ấn tượng cực đoan, vì thế, ta luôn gặp những bất toại khi cuộc sống luôn xuất hiện những mâu thuẩn đối cực mà Phật giáo gọi là nhị nguyên, đạo gia xem là lưỡng cực, lưỡng nghi, thế thường gọi là mâu thuẩn, đối lập…

                                                       ***

Đức tin đối với đạo Phật và những đức tin của ngoại giáo, đều là những cặp tương phản. Ngay cả đức tin đối với đạo Phật, cho rằng mình chọn đúng chánh đạo, nhưng không tìm hiểu những gì ngoài đạo Phật, tinh thần chủ quan và cực đoan sẽ nảy sanh, lắm khi đức tin gọi là chánh tín dó, trở thành mê tín khi hành xử.Ví dụ, đạo Phật sinh hoạt như một tôn giáo, bị xem là một tôn giáo nên phát sanh nhiều hình thức, pháp tướng, thanh sắc; so với các tôn giáo khác, chúng ta cũng chỉ là một tôn giáo như bao tôn giáo Thần luận; do vậy sanh ra cầu đảo, van xin, dâng cúng mong đạt thành sở nguyện. Một khi tuyệt đối sa vào tha lực, đánh mất nội lực, việc tu tập hành trì sẽ xa rời trong đời sống chân chánh của một đệ tử Đức Phật. Ngay cả trong nội giáo, có nhiều pháp môn khác nhau, tùy căn cơ thích hợp, chọn một pháp để hành trì, cũng phải tìm hiểu biết qua những pháp khác để củng cố niềm tin cho pháp hành, tránh được cực đoan, cố chấp.

Tín ngưỡng trong đạo Phật là tiêu chí để vững tiến chứ không là điểm để giao phó toàn bộ cho một tha lực.Đức tin rất cần thiết trong cuộc sống, nhưng cần có trí tuệ để nhận thức, xây dựng nền tảng vững chắc cho niềm tin. Trong kinh Hoa Nghiêm Đức Phật dạy: Đức tin là mẹ đẻ của mọi công đức. Đức Phật lại dạy: “Người có lòng tin mà không hiểu giáo lý thì dễ tăng trưởng vô minh si ám, người hiểu giáo lý mà không có lòng tin thì dễ tăng trưởng tà kiến. Cho nên “lòng tin và hiểu biết phải cùng có đủ để làm cội gốc tu hành” (Kinh Niết Bàn). Dĩ nhiên ngoài đức tin sẽ có những đối cực của đức tin. Cũng thế, phóng sanh là hạnh lành cứu vớt sinh mạng của chúng sanh đang bị tước đoạt mạng sống, thế nhưng, sau mặt tích cực đó vẫn xảy ra mặt tiêu cực, tiếp tay cho những kẻ tham lợi đánh bắt khi đặt hàng tấn cá chim, loài hải sản với nơi buôn bán.Nhắm mắt làm theo hình thức, phước trở thành tội. Giữa hai mặt tốt và xấu đó, không thể mù quáng chọn một; dùng trí tuệ giúp tránh chuộng về hình thức.

Từ thiện xã hội thể hiện tâm từ, được coi là hạnh Bồ Tát; nó không là mục tiêu cứu cánh đưa đến giải thoát;hành thiện tiềm ẩn nguy cơ cho những tâm hồn bất thiện cầu lợi. Không thiếu kẻ lạm dụng việc từ thiện để mưu lợi; kêu gọi những lòng tốt đóng góp để chiếm dụng. Vì thế từ thiện xã hội không thể nhiệt tình theo thói quen mà cũng phải hiểu mặt trái bị lợi dụng.

Cũng có những người nhiệt tâm hộ đạo, trên bước đường tu tập, muốn làm phước, lập ban hộ niệm, sẵn sàng lăn xả giúp cho người sắp lâm chung bất kể ngày đêm, bỏ công, bỏ của, bỏ thời gian để hộ niệm, nghĩ rằng sẽ giúp thần thức người lâm chung được siêu thoát. Đức Phật từng nói – cục đá chìm dưới nước, một ngàn vị sư cầu nguyện, đá không thể nổi,cọng lông tơ trên mặt nước, ngàn vị tụng lông kia cũng không thể chìm. Không có kinh nào bảo rằng trì tụng hương linh được siêu thoát. Chư Tăng thời  đức Phật và kể cả chư Tăng Theravada  ngày nay chỉ đọc những bài kệ nói đến vô thường, khổ và vô ngã trước hương linh để cảnh tỉnh nhắc nhở cho người sống chứ không tụng cầu siêu cho người chết.Thần thức chưa lìa thể xác thì chư Tăng khai thị để họ hướng về điều lành lúc cận tử nghiệp.Như thế không thể gọi là làm công tác cầu cho hương linh siêu độ, mà chỉ trợ niệm một khi hương linh có sẵn hạt giống thiện, không ngoài luật nhân quả.

                                                         ***

Trong xã hội cũng thế, những bất trẵc xảy ra thường mang đến khổ đau, bất mãn, những thuận lợi tốt đẹp cho ta niềm hoan hỷ, mãn nguyện. Dĩ nhiên không ai trong đời hoàn toàn gặp điều may mắn tốt đẹp hay xui xấu suốt đời. Xui và hên, tốt và xấu luôn là cặp tương phản của nền tảng nhân quả từ nghiệp thức. Hành giả luôn quán xét những bất trắc xấu và tốt, may mắn và tai họa…vốn là hai mặt tương phản của nhân quả. Bị tác động hai mặt để khổ đau và sung sướng mãi biến con người thành thụ động trôi lăn trong tử sanh luân hồi. chính ở trong khổ đau, phiền não mới có bài học giác ngộ;trốn chạy khổ đau bằng nhiều hình thức khác nào con vật chui đầu vào cát trốn chạy thực tại, không giải quyết được vấn đề.Trực tiếp đối diện hai mặt tương phản trong đời sống để thấy chúng là một bài học tiến hóa nghiệp thức,theo Duy thức luận thì mọi hiện tượng đều do: 
Thị chư thức chuyển biến
Phân biệt, sở phân biệt
Do thử bỉ giai vô
Cố nhất thiết duy thức

(Tất cả do thức chuyển biến Phân biệt, bị phân biệt. Do đây kia đều không, Nên tất cả là duy thức) ;

bởi vì con đường giác ngộ chỉ có trong thực tại:”Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác, ly thế mịch Bồ đề, cáp như cầu thố giác”. Thực tại nằm trong hai mặt tương phản của cuộc sống.

Phật giáo khác với học thuyết Duy vật là tìm giải thoát ngay trong quy luật tương phản, mâu thuẩn, từ mâu thuẩn để hiểu được bản chất tương đối của ảo thức, vượt khỏi sự chi phối của mâu thuẩn; Trong lúc Duy vật lúng túng lẫn quẩn trong mâu thuẩn khi nhận thức rằng: “Một hợp thể luôn có hai mặt mâu thuẩn lẫn nhau, giải quyết mâu thuẩn này thì mâu thuẩn khác phát sanh”. Nghĩa là trong xã hội luôn phát sanh mâu thuẩn, không thể dứt trừ thì con người trong xã hội luôn bị khổ đau. Duy vật y cứ hiện tượng xã hội, giải quyết hiện tượng này thì hiện tượng khác phát sanh; Phật giáo muốn giải quyết mọi bất toàn, phải giải quyết ngay chính tâm thức, không đổ thừa do xã hội hay do một đấng quyền năng quyết định.Theo Duy thức thì: Do chư nghiệp tập khí
      Nhị thủ tập khí câu
      Tiền dị thục ký tận
      Phục sanh dư dị thục

(Do tập khí các nghiệp Cùng tập khí hai thủ Nên dị thục trước hết Lại sanh dị thục sau)

Tuyệt đối tận cùng của Phật giáo là “vô ngã” đã là vô ngã thì làm gì có cái mà: C.Mác đã viết: “Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng như nó. là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”. Quan niệm này không phù hợp với đạo Phật khi giáo lý nhà Phật quan niệm chính con người là chủ đạo giải quyết mọi bất toàn (kể cả sung sướng và khổ đau) trong cuộc sống.

Một hành giả đạo Phật không chấp thủ một phía. Không thể bỏ khổ tìm vui; không phủ nhận cái này để chấp nhận cái kia.Luôn nhìn mọi hiện tượng cả hai mặt, vì chính hai mặt là một vấn đề. Trong Đạo gia, lưỡng nghi là một tổng thể của âm và dương; âm triêu dương trưởng hoặc dương triêu âm trưởng chứ không thể triệt tiêu một trong hai cực. Sự phát triển, tiến hóa do lưỡng nghi vận hành đồng bộ; khi âm thạnh dương suy là hiện tượng tiêu cực phát sanh, ngược lại dương thạnh âm suy là hiện tượng tích cực quá đà, âm dương quân bình thì mọi sự ổn cố.Mọi chuyển biến của lưỡng nghi gọi là dịch

                                                  ***

Nhiều người đến với đạo Phật mục đích tu tập để sửa mình, tu tâm, tu tánh, tu tướng đều lệch hướng, thật tế đạo Phật không dạy tu để sửa, vì có tu có sửa là có cái ngã để tu để sửa. Chủ yếu giúp con người nhận thức được hai mặt mâu thuẩn trong cuộc sống, để khỏi bị chi phối luật nhị nguyên đó; với nhận thức bằng trí tuệ  mới đưa đến giải thoát mọi khổ đau.Khi thâm nhập vào mọi hiện tượng trong đời sống tức đã thâm nhập pháp giới tạng để tiến dần đến giải thoát.

Thế thường con người đứng một phía gọi là nhất nguyên. Thuyết nhất nguyên duy vật được phát triển bởi Mác và Ăngghen cho rằng toàn bộ hiện thực khách quan, về bản chất là vật chất, ý thức chỉ là kết quả của sự phát triển và sự phản ánh của vật chất vận động .Thuyết nhất nguyên duy tâm cho rằng mọi cái đều do ý niệm tuyệt đối sáng tạo ra.Thuyết nhất nguyên khác biệt với thuyết nhị nguyên - Đã đứng một phía thì không giải quyết được thực tại, vì thực tại luôn là hai mặt đối nghịch lẫn nhau. Ví dụ thuyết duy vật quan niệm vật chất có trước và chi phối ý thức, nhưng duy tâm đã có mặt trước duy vật rất lâu.

Duy vật hay duy tâm, duy linh hay duy thần..đều là hai cực của nhị nguyên. Trước vấn nạn giữa duy vật và duy tâm thì Kant đi đến thuyết bất khả tri, nhưng theo các nhà duy vật thuyết bất khả tri không sớm thì muộn cũng đi đến duy tâm.

Kết: Như đã phân tích trên, Phật giáo luôn dung hợp hai mặt của một vấn đề để hiểu được thực tướng bằng tuệ giác mới không kẹt trong nhị nguyên,mâu thuẩn. Tiến hóa từ nhị nguyên.Ngược lại, do chủ quan phiến diện,một số học thuyết đã có quan điểm như:

Với C.Mác, tôn giáo như là “vầng hào quang” ảo tưởng, là những vòng hoa giả đầy màu sắc và đẹp một cách hoàn mỹ, là ước mơ, là niềm hy vọng và điểm tựa tinh thần vô cùng to lớn cho những số phận bé nhỏ, bất lực trước cuộc sống hiện thực. Tôn giáo chỉ là những “bông hoa giả” tô điểm cho một cuộc sống hiện thực đầy xiềng xích. Nhưng nếu không có những “bông hoa giả” ấy thì cuộc sống của con người chỉ còn lại “xiềng xích” mà thôi. Và nếu không có thứ “thuốc giảm đau” ấy thì con người sẽ phải vật vã đau đớn trong cuộc sống hiện thực với đầy rẫy những áp bức, bất công và bạo lực.

Pascal phán:

-Nếu bạn tin vào Chúa và Chúa tồn tại, thì cái lợi của bạn sẽ là hạnh phúc vĩnh cửu.
-Nếu bạn tin vào Chúa, còn Chúa không tồn tại thì bạn không mất gì.
-Nếu bạn phủ định sự tồn tại của Chúa, và Chúa thật sự tồn tại thì bạn đánh mất khả năng có hạnh phúc vĩnh cửu.
-Nếu bạn phủ định sự tồn tại của Chúa và Chúa không tồn tại, bạn không có lợi gì.

Mọi người có quyền tự do chọn lựa trước những bất cập trong cuộc sống khi mình gặp phải.

 

MINH MẪN

25/8/2020.

 

Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2020

TU VÀ HÀNH



Thông thường hai chữ tu hành đi đôi với nhau; sử dụng quá quen nên hiểu một cách chung chung, đã giảm tầm mức quan trọng mà tự thân nó mang một ý nghĩa sâu sắc.
Tu, thường được hiểu là sửa sai, chỉnh đốn, tu bổ, làm mới…
Trong Phật giáo, Tu có nghĩa là thay đổi tánh hư tật xấu theo khung giới cơ bản, tránh xa mọi tệ nạn cám dỗ.Loại bỏ mọi tánh phàm tục, để tự trong sạch đời sống cá nhân, hướng đến cuộc sống cao thượng.

Giới luật là khung rào, là thước đo cho mọi hành vi, ý tưởng và lời nói theo chuẩn mực thánh thiện. Giới có giới  tại gia, giới xuất gia, luật Tứ phần, Bồ tát giới, Thập thiện…Ngoài giới luật, còn có thập kiết sử, sở tri chướng phân tích trạng thái tâm thất niệm loạn tưởng; có nhiều phương cách dẫn tâm váo chánh niệm; hướng dẫn nếp sống theo tám con đường chánh“Các Tỳ-kheo, đây là chân lý cao cả về con đường đưa đến khổ diệt: chính là con đường Tám nẻo cao cả, tức là Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định”
37 phẩm tợ đạo như:Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát thánh đạo phần.

Người Phật tử sơ tâm đến với Đạo, chỉ cần thọ Tam quy, trì ngũ giới, sau thời gian học hỏi, tìm hiểu kỷ về đời sống của một tín đồ chân chánh, phát tâm thọ trì thêm Bồ tát giới, hành Thập thiện nghiệp…để thân – khẩu – ý đi dần vào chánh nghiệp
Tu trong ba phạm vi: Thân – khẩu – ý
Thập là mười việc thiện được thực hiện qua thân (3), khẩu (4) và ý (3).
Theo kinh Thập thiện nghiệp, lợi ích bao gồm:

Thân : Không sát hại sinh vật: lợi ích –
a) Tất cả chúng sinh đều kính mến
b) Lòng từ bi mở rộng đối với tất cả chúng sinh 
c) Trừ sạch thói quen giận hờn
d) Thân thể thường được khỏe mạnh
đ) Tuổi thọ được lâu dài
e) Thường được Thiên thần hộ trợ
ê) Ngủ ngon giấc và không chiêm bao giữ
g) Trừ hết các mối oán thù
h) Khỏi bị đọa vào ba đường ác.
i) Sau khi chết, được sanh lên cõi Trời.

Thân: KhôngTrộm cướp: lợi ích :
a) Tiền của có dư không bị nạn giặc giả cướp mất, chánh quyền tịch thâu, không bị nạn lụt trôi, lửa cháy và con cái phá tán.
b) Được nhiều người tin cậy
c) Không bị lừa dối, gạt gẫm.
d) lòng ngay thẳng của mình được mọi người khen ngợi
đ) Lòng được an ổn, không lo sợ vì sự tổn hại gì cả
 e) Khi chết rồi được sanh lên cõi Trời.

Thân không tà dâm, không quan hệ tình dục bất chính . Lợi ích:
a) Sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) đều được vẹn toàn
 b) Đoạn trừ hết những sự phiền não, quấy nhiễu.
 c) Không ai dám xâm phạm vợ chồng con cái
 d) Được tiếng tốt, người đời khen ngợi.

Khẩu : Bất vọng ngữ nghĩa là không dối gạt người, không nói lời không chân thật. phải nói trên sự thật.
1.     Bất lưỡng thiệt không nói lưỡi đôi chiều, đâm bị thóc, thọc bị gạo.
2.     Bất ác khẩu. không nói lời hung dữ, văng tục, chửi thề, nói lời độc địa
3.     Bất ỷ ngữ không dùng lời phù phiếm, nói những chuyện không mang lại lợi ích.
Đem lại lợi ích:
 a) Miệng thường thơm sạch
  b) Thế gian và nhân, thiên đều kính yêu
  c) Lời nói không lầm lộn và vui vẻ
   d) Trí tuệ thù thắng, không ai hơn
   đ) Được hưởng lạc thú như ý nghuyện và ba nghiệp đều sạch.

  Ý không tham (tham ngũ dục lạc, sắc, danh, lợi, ăn, ngủ) đem lại lợi ích:
  a) Ba nghiệp (thân, khẩu, ý) được tự tại, vì nhân các căn đều đầy đủ
 b) Của cải không mất mát, hay bị cướp giựt
 c) Phúc đức tự tại
 d) Những sự tốt đẹp sẽ đến với mình, mặc dù mình không mong ước.

Ý Không sân.
 a) Không khổ não
 b) Không giận hờn
 c) Không tranh giành
 d) tâm nhu hòa ngay thẳng
 đ) tâm từ bi như Phật 
  e) Thường làm lợi ích yên ổn cho các chúng sanh 
  f) Thân tướng trang nghiêm, chúng sinh đều tôn kính
  g) Có đức nhẫn nhục, được mau sanh lên cõi Phạm Thiên

. Ý không si mê tà kiến (không hiểu biết chân thật- hiểu biết lầm lạc, không tỉnh táo sáng suốt- nghiện ngập, mê ngủ).
a) Được ý vui chơn thiện và bạn chơn thiện
b) Tin sâu nhân quả, thà bỏ thân mạng chớ không làm ác.
c) Chỉ quy y Phật, chứ không quy y thiên thần và ngoại đạo
d) Tâm sanh ngay thẳng, chánh kiến
đ) Sanh lên cõi trời, khỏi bị đọa vào ba đường ác
e) Phúc huệ không lường, thường tăng lên mãi
ê) Dứt hẳn đường tà, chăm tu đạo chánh
g) Không lòng chấp ngã, bỏ hết ác nghiệp
h) Yên ở vào nơi chánh kiến
i) Khỏi bị nạn dữ

Nói chung tu là sửa căn cứ theo giới luật được thọ trì.
Hành:Ngoài vấn đề thực hiện giới luật, chữ Hành bao gồm việc hành trì một pháp môn để tâm linh được tiến hóa, thăng hoa. đưa đến giác ngộ giải thoát.Giáo lý thực hành không chỉ dành riêng cho Tăng sỹ; người tu tại gia có chí hướng và năng lực cũng có thể hành trì một pháp môn thích hợp với căn cơ của mình; không nhất thiết nơi rừng núi hay thị thành, miễn giữ tâm an định, không bị chi phối bởi ngoại cảnh;Ngài Xá Lợi Phất nói: "Một người có thể sống trong rừng miệt mài với sự tu tập khổ hạnh, nhưng cũng có thể đầy những tư tưởng xấu xa, bất tịnh, một người khác có thể sống trong làng mạc hay thị thành ,không thực hành kỷ luật ép xác nhưng tâm người đó có thể trong sạch không có cấu bẩn. Trong hai người ấy, Ngài Xá Lợi Phất bảo người sống trong sạch giửa làng mạc thị thành nhất định là cao cả hơn người sống trong rừng nhiều". Như vậy Phật tử tại gia cũng vẫn được" thừa tự pháp " như bậc xuất gia.

 Đức Phật chỉ đưa ra giải pháp, còn việc thực hiện hay không do chính chúng ta.  Người có tâm hướng thượng, không chỉ là  một tín đồ sùng Phật mà phải là người hành trì để đi đến quả vị giác như chư Phật.
. Đức Phật xác định: " Các người nên làm công việc của mình, vì các đức Như Lai chỉ dạy con đường mà thôi " .
Tiến trình tu tập các quả vị gồm năm giai tầng gọi là ngũ thừa, gồm:
Nhân thừa: Nếu muốn ứng dụng nhân thừa việc trước tiên phải phát tâm quy y Tam bảo, đây chính gieo duyên với Phật, Pháp, Tăng trong nhiều đời. Xây dựng cho con người có một nhân cách hoàn thiện 
 Thiên thừa: Con đường sanh lên cỏi trời nếu người đó thực hiện mười pháp thiện (thập thiện) gọi thông thường là Thập thiện nghiệp đạo được chia làm 2 phần:  tiêu cực và tích cực.
Thinh văn thừa: Đây Pháp nền tảng giáo lý đạo Phật nó đưa hành giả từ phàm đến thánh,.
Duyên giác thừa: Đây là con đường của hành giả tu theo 12 nhân duyên ( thập nhị nhân duyên) bao gồm: Vô minh, hành , thức, danh sắc, lục nhập, xúc,thọ, ái, thủ, hữu , sinh, lão, tử. Do thấu rõ lý duyên sinh của mọi pháp nên hành giả đạt được qủa Duyên giác . Đây là con đường chấm dứt sự khổ đạt được qủa vị Niết Bàn.
 Bồ tát thừa: Đây là con đường thực hành Bồ tát hạnh  con đường độ tha .
                                          ***
Tóm lại; Tu và hành tuy một mà hai, có thể nói hai trong một, vì tu sửa mà không hành trì một pháp môn như chim thiếu cánh; Hành trì mà không giữ giới lạc vào tà giáo. Tinh tấn là luôn quán xét lại đời sống giữa tu và hành của chúng ta , nếu muốn thoát ly sanh tử.
Như Lai đã đến tuổi. Đời sống của Như Lai quả là ngắn ngủi. Rời các con Như Lai sẽ ra đi. Như Lai đã tự mình làm chỗ nương tựa cho mình. Hỡi các Tỳ-kheo, hãy tinh tấn, giữ tâm niệm và sống đời đạo hạnh. Hãy giữ gìn tâm các con bằng những tư tưởng có chiều hướng tốt. Những ai kiên trì, cố ghép nếp sống của mình trong những khuôn khổ dạy trên sẽ bước ra khỏi con đường phiêu bạt vô định của đời sống và chấm dứt khổ não”
Các Tỳ-kheo, đây là chân lý cao cả về khổ nhân: chính ái dục dẫn đến tái sanh, cùng kết cấu với hỷ và tham, tìm kiếm thú vui nơi này, chỗ khác. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.

MINH MẪN
19/7/2020



Thứ Năm, 9 tháng 7, 2020

MÓN QUÀ CUỘC SỐNG.



Mùa Hạ miền Trung nắng cháy da, miền Nam bất chợt những cơn mưa, tạo hóa cố dấu cái gì đó như kẻ đang thẹn thùng giả vờ tươi cười; lòng đang sầu não miệng vẫn nở hoa, cũng thế, đang mưa trút hết nỗi lòng lại thả vài tia nắng, cứ như ướt đẫm phố phường không do từ trên cao trút xuống, một sự thay đổi tánh nết thật kỳ lạ.
                                                        ***
Trong căn phòng chật hẹp như  được bao bọc bởi bàn tay của mụ phù thủy, mưa từ ngoài mà lòng vẫn thấm đượm miên man bảng lảng mây trời. Hắn mang tên của con người do cha mẹ bổng chợt hứng thú ghi trên mảnh giấy khai sinh; tên thật lạ mà suốt cuộc hành trình đời người hắn chưa bị đụng hàng. Có lẽ cái tên báo hiệu nhiều chông gai trắc trở như món quà tạo hóa đặt sẵn trên vai từ lúc mở mắt chào đời đến gần miệng hố gửi thây! Nhà Phật gọi là Nghiệp!

Cha mẹ - tình thương – anh em ruột thịt là những mặt hàng cao giá chưa bao giờ với tới. Lầm lủi kiếp sống chuột rúc, hắn tuổi con chuột cũng phải. Dưới ánh sáng mặt trời, sinh hoạt con người như mắc cửi, hắn mần mò như tìm kiếm một vật đánh rơi; không bon chen cạnh tranh; an phận cây liễu rũ trong sân chùa, cho dù chuông mõ trống chiêng khuấy động, liễu vẫn lặng lờ rũ cành muốn ngủ quên mọi sự thế.Cung cách đối xử trong gia đình như mũi dùa rèn gọt hắn trở nên khiêm hạ, vô cảm.Thời gian thoát ly lặng chìm trong xã hội, nhìn lại bầy em như lũ sinh vật được sản xuất theo khuôn đúc của hệ thống dây chuyền, chúng không khôn lớn hơn loài cỏ dại, do sự bảo bọc kỹ càng của tình mẫu tử ngàn đời từ bất cứ sinh động vật nào. Hắn là một ngoại lệ, cố vươn cao như  thân liễu, thẳng tắp như  cây trúc.Chính vì vậy cuộc sống bị vùi dập như con giun dưới gót giày vô tình của kẻ bước qua!

Ông Trời, nếu có, cũng lạnh lùng như cơn gió lùa qua đồng nội, lùa hắn vào bốn bức tường cô đơn lạnh lẽo đúng cái tuổi đầy nhiệt huyết lớn khôn. Cầm mảnh giấy như con chim thoát khỏi lồng son, cái lồng không đẹp như tranh vẽ nhưng tô trét lộng lẫy bằng mỹ từ hào nhoáng; hắn lại cô đơn tái nhập xã hội, lang thang đường đời như kẻ thừa thải không đáng có thêm một bóng hình loạn ảnh nhân gian. Thường bữa cơm thí của chùa, trời vội phủ màn đêm che chắn tấm thân trên công viên ghế đá, dưới gầm cầu làm quen với muỗi mòng, chuột bọ. Bổng chốc, cơn mơ cuộc đời được chiếu rọi le lói ánh quang minh, người phụ nữ quen quen lạ lạ từ thuở khai thiên lập địa trãi tấm lòng phủ trọn đời hắn, tưởng chừng số độc đắc cũng có lúc thần Tài vô tình ghế thăm, nửa đời người trắng tay như thế cũng nhuốm mùi hạnh phúc. Hai mái đầu chưa pha sương nhưng cọng tóc cũng thiếu sự mềm mại, chung tay góp gạo thành cơm, hình thành tổ tò vò bên cạnh tổ đại bàng huyết thống. Được trui rèn suốt 10 năm lao động, hắn nỗ lực xây dựng tổ ấm trước cửa hoàng hôn. Từ bùn đen, nụ sen nẩy nở đóa hoa tuyệt dịu rạng rỡ hướng trời Tây, hoa đã nở và hoa đang ở xa tầm tay bảo bọc.
                                                     ***
Như túi rỗng, đời hắn là kiếp nhân sinh không đáy để lưu giữ cái tình, cái tiền, cái danh hay bất cứ cái gì ngoại trừ cái nghiệp duyên đọa đày hằn vết trên khóe sầu thiên cổ.Học đòi vẽ vời bằng ngọn bút hư danh, góp công trả ân một thời cơm độn sắn khoai nhà chùa bố thí; tuổi xế chiều đang là mầm non của Diêm vương, thế cũng an phận một kiếp người, nhưng Phật dạy, vô thường, mọi sự đều phải thay đổi, chỉ có đổi thay không bao giờ thay đổi. Một ngày vui thiên hạ là ngày lạ của đời hắn, những tưởng tuổi xế chiều trời ban cho nguồn sống an lành, trên bảy mươi năm bầm dập nghiệp quả như thế vẫn chưa vừa lòng con tạo?
                                                          ***
Cố vực dậy người đàn bà to xương, thân già gắng gượng, đưa bà lên giường,không hề nhúc nhích, bà té nằm dưới đất từ nửa đêm đột quỵ. Mười ngày chạy chữa sớm khuya, mái tóc bạc phủ cặp mắt lừ đừ như tằm bị rút ruột.Cứ như vòng kim đồng hồ cố định, nửa khuya về sáng mùi uế khí thải từ tấm thân bại liệt, cha sanh mẹ đẻ lần đầu tiên phục vụ bệnh nhân, mùi xú uế bám theo mọi lúc mọi nơi như  từng quen thuộc hương đồng cỏ nội. Kẻ đuối nước thế nào, người chăm bệnh đuối sức gục ngã trước bệnh nhân nếu kéo dài vô hạn cũng như thế. Người bạn đời nằm đó với gương mặt nhuốm buồn xanh xao, tóc rối bời, áo quần xộc xệch. Thay bỉm thường xuyên mà trây trét vẫn còn trét trây như bé nằm nôi.Con Lucky khịt khịt đánh hơi lạ, thỉnh thoành chống hai chân lên giường nhìn, liếm như cố đánh thức người dậy cho chúng ăn hằng bữa.
 Trời buồn trời mưa không dứt, quần áo không kịp khô thay liên tục mỗi ngày. Nền nhà cũng sạch bóng để thầy thuốc, bạn bè không phát hiện khai khái trong kiếp ngũ trược ác thế nhân sinh .
                                                      ***
Xe Daihatsu gói gọn chiếc giường bố, bệnh nhân liếc nhìn mọi người như giả biệt một vùng quê nuôi lớn bảy mươi năm qua.Nhà thờ ông bà Tô tiên đớn đau chia tay. Một ngôi nhà,từng lưu nhân ảnh cha mẹ, con cái, giờ đây ba ngả xa nhau; Kẻ tận trời Âu, người về trại dưỡng lão miền quê ngoại thành; hắn tiếp tục gánh vác phần còn lại trên tấm thân mòn mỏi cho trọn nghĩa tình trong ngôi nhà thừa kế của người bạn đời. Trách nhiệm, tình thương đều là nghĩa vụ gắn kết thường xuyên trên con đường cách ly miễn cưỡng. Con đường phía trước sẽ về đâu như áng mây vô định!
Những cái nhìn thương cảm, những tiếng thở dài của bà con chòm xóm tiển đi. Tình cảm đó cũng nhạt nhòa nhanh như bông tuyết đậu trên nhánh lá trước ngọn gió Đông. Kiếp người cũng thế, vui chưa thắm mà buồn tràn đầy chát chua; Một ngày trôi qua, mạng sống giảm dần như cá ít nước, Tổ Quy Sơn cảnh báo, mấy ai nằm lòng khi cám dỗ bao quanh!
                                                     ***
Trời vừa chợt mưa lại nắng, cứ giả vờ như sự vô tình; hắn cũng ra vẻ khỏe mạnh để che giấu sự mòn mỏi tuổi già. Kiếp bất hạnh đeo mang như đeo khối đá làm vật trang sức; vẫn phải sống, vẫn phải khỏe cho trọn nghĩa đời người; dẫu sao vẫn còn cưu mang tình nghĩa quý thầy, còn thắm đượm bạn bè đồng đạo.
Nét hoa nào không sắc cho dẫu ruột héo dần bên trong. Chướng duyên, âu đó cùng là món quà cuộc sống để tiến hóa kiếp người.

MINH MẪN
09/7/2020