Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2009

LỄ ĐỘNG THỔ KHỞI CÔNG DỰ ÁN KHU DU LỊCH TÂM LINH - QUY NHƠN


8 GIỜ NGÀY 29/8/09, Tức 10/7 Kỷ Sửu, tại Xã Cát Tiên, huyện Phù Cát, Tỉnh Bình Định, đã diễn ra lễ động thổ khởi công xây dựng dự án Khu Quần Thể Du Lịch –Lịch Sử - Tâm Linh, do UBND Tỉnh Bình Định hợp tác với Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam thực hiện.

Bình Định nổi tiếng võ nghệ một thời từng sản sanh ra anh hùng áo vải Tây Sơn, Hoàng Đế Quang Trung, Nguyễn Huệ; Vùng đất từng có những trang sử chống ngoại xâm oai hùng. Nhà thơ Hàn Mặc Tử cũng gợi cho mọi người quan tâm tới Quy Nhơn. Tuy đất đai khô khan cằn cổi, nhưng con người Bình Định bất khuất can cường. So với cả nước, Bình Định không trơ vơ như Phan Rang, nhưng cũng không màu mỡ như các tỉnh phía Nam. Một thời mà cả nước tranh đua phát triển về cơ sở hạ tầng, kinh tế doanh thương, thì Bình Định cố góp mặt với đất nước chiếc cầu Thị Nại, vượt biển dài, tính từ mép đôi bờ, nếu kể luôn hai nhịp đầu cầu, phải gần 7km; chưa tỉnh thành nào có được. Cuộc sống dân cư chưa khá lắm.Công ty xí nghiệp phần lớn khai thác, biến chế lâm sản; Công nghiệp thương mại; xuất nhập khẩu; dịch vụ hải cảng; nuôi và khai thác thuỷ hải sản; cùng du lịch. Hướng Đông là biển lấn vào, hướng Tây thì núi đẩy ra, vùng đất cát, vàng vọt, cũng chắt chiu nuôi những người con quê hương lây lất sống qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, quê hương đó ngày nay cũng từng có những nhân tài tha phương lập nghiệp. Cũng có những bác sĩ, kỷ sư, chuyên viên các ngành nghề trong và ngoài nước.

Từ độ cao nhìn xuống, Quy Nhơn chỉ là nhóm nhỏ nhà cửa nằm lẽ loi bìa dãy Trường Sơn, như bị núi rừng nuốt chửng bởi màu xanh bạt ngàn.

Quy Nhơn được nâng lên cấp Thành Phố, từ quyết định ký ngày 03/7/1986. cấu trúc đô thị tương đối đồng bộ. Đời sống tại phố chợ tuy nhộn nhịp nhưng không dấu được vẻ trầm lắng. Ra khỏi cái nhộn nhịp phố phường thì nhà cửa dân chúng vẫn còn đơn sơ, cuộc sống quá đạm bạc. Tổng diện tích TP là 284,28km2; có 16 phường.Dân số trên dưới 300 ngàn người. Nằm phía Đông Nam của tỉnh Bình Định.

Quy Nhơn hình thành trên 400 năm, phát triển với văn hoá Champa thế kỷ 11; vào triều đại Tây Sơn và cảng Thị Nại vào thế kỷ 18. Thị xã Quy Nhơn được thành lập vào ngày 20/10/1898 do vua Thành Thái ban chỉ dụ.
Quy Nhơn là một trong ba Thành phố sầm uất của miền Trung Việt Nam: Đà Nẵng – Nha Trang – Quy Nhơn; trong tương lai, Quy Nhơn cố phấn đấu để là một đô thị trực thuộc trung ương

Những năm gần đây, các địa phương được các đại gia đua nhau phát triển khu du lịch Tâm linh, phía Bắc có Bái Đính, phía Nam có Đại Nam là những tầm cở mà những nhà đầu tư có tham vọng sẽ làm một kỳ tích của Đông Nam Châu Á. Tuy là vậy, nhưng chưa có công trình nào hoàn chỉnh, đạt kết quả mong muốn như khu Du Lịch Suối Tiên, vừa là vui chơi giải trí, vừa mang tính giáo dục đạo đức Tâm linh và xã hội, chỉ là tầm cở quốc gia!
*
* *
Vùng đất mà UBND Tỉnh Bình Định và Ngân Hàng Đầu Tư – Phát Triển Việt Nam chọn khai thác, lại là gần biển và núi, một ngôi chùa cổ nổi tiếng có tuổi hơn 300 năm. Vào năm thứ 23 đời vua Lê, niên hiệu Chính Hoà ( 1702) nhà sư tên Mộc Y Sơn Ông, tu tại hang núi nơi đây. Mỗi khi dân chúng vướng phải dịch bệnh, ông tự xuống núi chữa trị mà không nhận bất cứ thù lao nào. Thời chúa Nguyễn Phúc Chu, 1733 đã xây lại chùa, tặng chùa với danh hiệu là Linh Phong Thiền Tự hay còn gọi là chùa ông Núi; sau đó, năm Tân Dậu, 1741, chúa Nguyễn triệu thỉnh Sơn Ông về kinh vấn đạo.
Trong cuộc giao tranh giữa nhà Nguyễn và quân Tây Sơn, chùa đổ nát, Sơn Ông viên tịch. Năm 1785, đạo chúng xây tháp thờ Ngài. Trong thời chiến Pháp - Mỹ, một lần nữa chùa thành bình địa, chỉ trơ vơ cổng Tam quan. Sau hoà bình, chùa từng bước tái tạo, nhưng không còn giữ được nét cổ kính như xưa. Năm 1994, Bộ Thông Tin Văn Hóa công nhận chùa là Di Tích Lịch Sử quốc gia, ngoài tên tuổi trên ba thế kỷ, chùa còn là nơi lực lượng Cách Mạng nương náu.

Hàng năm, ngày giỗ tổ tháng giêng, quần chúng hàng ngàn người tấp nập lũ lượt kéo nhau lên lễ Phật, biến thành lễ hội thường niên như lễ hội Quán Thế Âm ở Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng.

Chính vì truyền thống tín ngưỡng sâu đậm đó,Tỉnh và Ngân Hàng Đầu Tư – Phát Triển Việt Nam đã chọn nơi nghèo khó làm điểm du lịch, vừa phát triển kinh tế, vừa phục vụ Tâm linh mà từ lâu, Bình Định chưa là điểm thu hút khách du lịch đúng với tầm vóc.

Chúng minh buổi lễ có chư tôn đức giáo phẩm Trung Ương Giáo Hội, và BTS PG Tỉnh Bình Định, tham gia của các viên chức địa phương và TW. Các nhân sĩ, quan chức khắp tỉnh thành trong nước được mời tham dự; Ban Kinh Sư Vĩnh Nghiêm cũng phụ trách nghi bái thỉnh Mẫu Liễu Hạnh (Mẫu Thượng Ngàn), cáo Sơn Thần Thổ Địa…Đại Đàn chẩn tế do PG Tỉnh Bình Định đảm trách.

Ngân hàng Đầu Tư- Phát Triển Việt Nam cũng chu cấp hàng trăm phần quà cho đồng bào nghèo tại địa phương.

Dự án khu du lịch rộng hàng chục hecta, công trình gồm 4 hạng mục: Quảng Trường Pháp Luân, Đường hành lễ, Tượng Đức Phật Bổn sư, và vườn tượng Phật như Bái Đính. Theo dự án, Tượng Bổn sư sẽ là một kỳ tích đứng đầu Đông Nam Á châu.

Không phải tự dưng mà các Đại gia chú hướng vào các khu du lịch Tâm Linh, bởi lẽ, các điểm thuần tuý du lịch hiện nay không có gì hấp dẫn ngoài các trò chơi cho trẻ con, hoặc giả các casino không phải ai cũng có tiền để vào mà phần lớn quần chúng Việt Nam không có máu đen đỏ. Ngược lại, thiên hướng Tâm Linh hiện nay rộ nở trên khắp vùng châu Á cũng như một số châu lục, đây là lúc cần đầu tư, vừa mang tính kinh tế, vừa lưu truyền và xây dựng đạo đức tâm linh để xã hội không lâm vào khủng hoảng Tâm linh như các nước phương Tây từ thế kỷ 18 đến nay.

Ông Trần Bắc Hà, chủ tịch HĐQT BIDV, đại diện các nhà Tài trợ, cùng với ông chủ tịch UBND Tỉnh Bình Định đồng tổ chức cuộc động thổ khởi công dự án nầy. Những ngày nầy, các khách sạn lớn như Sài Gòn, Hải Âu, Thanh Bình, Hoàng Yến… đều đông nghẹt khách mời khắp nơi. Theo dự án sẽ hoàn tất trong ba năm, nếu ba năm song suốt, Quy Nhơn sẽ xuất hiện một resort du lịch Tâm linh, sẽ thu hút rất nhiều giới trong và ngoài nước đến tham quan, liệu Quy Nhơn sẽ nổi trội hơn Bãi Bụt, Bà Nà và lễ hội Quan Thế Âm của Đà Nẵng với lượng người về tham dự???

MINH MẪN
29/8/09

Thứ Năm, 27 tháng 8, 2009

LỄ TẠ PHÁP TẠI TRƯỜNG HẠ TỔ ĐÌNH VĨNH NGHIÊM – TP HCM


SÁNG 27/8/09, Ban Chức sự Trường Hạ Tổ Đình Vĩnh Nghiêm đã trang trọng tổ chức lễ Tạ Pháp với sự chứng minh của HT T. Hiển Pháp. Phó Pháp chủ kiêm Phó chủ tịch HĐCM GNPGVN; HT T. Đức Nghiệp, Phó chánh Thư Ký TW GHPGVN kiêm Trưởng Ban Quản Trị Tổ Đình Vĩnh Nghiêm, đồng thời là Thiền chủ Trường Hạ Vĩnh Nghiêm. Chư tôn Đức trong HĐTS trung ương GH và Thành Hội PG TP HCM. Các BĐD quận huyện PG nội ngoại thành PG TP HCM; Chư Tôn Đức Ni, BGĐ Ngân Hàng TMCP SG, Cty vận tải Phương Trang, Đại diện BTG TP, chính quyền quận 3, các mạnh thường quân và Phật tử khắp nơi, đồng tham dự.

Qua thủ tục hành chánh, các thành phần tham dự được giới thiệu; HT thiền chủ T.Đức Nghiệp đã mở lời tán dương chư Tôn Đức, chào mừng các cấp chính quyền đã tạo điều kiện cho khóa an cư được viên mãn, chư Phật tử và mạnh thường quân đã liên tục hỗ trợ cho chư tăng qua ba tháng an cư. Tuy ngắn gọn nhưng đầy suc tích, đã thay lời khai mạc buổi lễ Tạ Pháp.

Đoàn nữ Phật tử tu viện Quán thế Âm, Phú Nhuận dâng hoa chào mừng chư tôn Đức, trước khi ĐĐ T. Giác Hiệp, phó Duy Na trường hương, báo cáo sinh hoạt của trường hạ, đã nêu được những ưu và khuyết trong chúng hành giả. Mặt ưu điểm, các hành giả đã được truyền thụ các bộ: Kinh Chuyển Pháp Luân, Thiền Lâm Bảo huấn, Thiền học, Luận Câu Xá, Nhị khóa Hiệp Giải, Kinh Pháp Hoa mà những Trường Hương khác chưa có.Điểm nổi bậc khác đạt được, bởi lẽ ngoài Tổ Đình Vĩnh Nghiêm là Trường hạ mẫu trong TP, Vĩnh Nghiêm còn là trung tâm văn hóa PG tại TP, vì thế Trường hạ đã hân hạnh được Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đến viếng và trồng cây Bồ Đề vào ngày 15/8/09. Trường Hạ còn tiếp đoàn Giáo sư và Nghiên cứu sinh thuộc chủng viện Thần học Liên Hiệp (United Theologycal Seminary),Dayton, Ohio, Hoa Kỳ, đến thăm viếng.

Một điểm khác, Trường Hạ do ĐĐ T. Thanh Phong điều hành tổ chức đại lễ kỳ siêu mang tầm vóc quốc gia tại Phú Quốc, Khe Sanh…được chư tôn giáo phẩm và các cấp chính quyền tham dự.

Do điều hành pháp sự quá nhiều, các hành giả đã mất thời gian cho việc tu học mà ba tháng đòi hỏi phải thúc liễm thân tâm, môt số ít hành giả không tránh khỏi những chểnh mãn.

Về tổ chức sinh hoạt, trường Hạ cũng có các khóa tu học cho Phật tử như Gia Đình Phật Tử, đoàn A Dật Đa, và Ban Thọ Bát Quan Trai.

Trường Hạ cũng dành một khoản tiền không nhỏ để giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn trong quần chúng.

Tuy nhiên, nhu cầu Phật sự ngoài nước cho các Phật tử Hải ngoại cũng là điều cấp thiết, Trường Hạ đã cung cử chư tăng sang các nước như Hungary, Ba Lan.Đức, CH Sec để tổ chức Vu Lan cho quần chúng Việt Kiều nhớ lại cội nguồn, ấm lòng người tha phương.

Tuy 9 tuần cho hơn 100 chúng Tăng an cư theo truyền thống Phật Giáo Bắc truyền, kể từ sau Đại lễ Phật Đản đến Vu Lan, Trường Hạ Vĩnh Nghiêm đã hoàn thành một khối lượng Pháp sự không nhỏ.

HT T. Thiện Nhơn, đại lao cho chư tôn giáo phẩm, ban đạo từ cho hội chúng thật uyên áo và trôi chảy, sau khi chư Tăng hành giả đọc lời khánh tuế và tri ân chư tôn.
Để kết thúc lễ, đoàn Phật tử tung hoa theo điệu nhạc do ca sĩ Phật tử Hiếu Ngọc hát cúng dường. Chư Tăng và Phật tử trong Ban hộ trì Tam Bảo lần lượt dâng Pháp y và tịnh tài lên chư tôn túc và quan khách.

Tuy lễ tạ pháp là thủ tục hành chánh của bất cứ trường hạ nào mà gần 2600 năm qua, vẫn duy trì, Bắc truyền cũng như Nam truyền PG, với sự chuyên tu giới đức trong mùa an cư , Trường hạ Tổ Đình Vĩnh Nghiêm vừa mang sắc thái truyền thống tín ngưỡng, vừa thể hiện tính tương quan xã hội và trách nhiệm của Tăng sĩ đối với đất nước.

Nếu tất cả các trường Hạ trong nước đều thực hiện việc làm công ích ngoài chương trình tu tập, có lẽ Phật giáo sẽ gần gủi với quần chúng như từng gần gủi trong thời Lý Trần. Hy vọng Trường Hạ đã làm được như thế, thì thời gian 9 tháng còn lại trong năm, Vĩnh Nghiêm cũng như chư Tăng khắp chốn Già Lam sẽ phát triển hơn nữa trong công cuộc Hoằng pháp lợi sanh cũng như Lợi sanh để Hoằng Pháp khi mà đất nước đang cần đến Tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng.

TT Tọa chủ Tổ Đình Vĩnh Nghiêm, T. Thanh Phong đã kết thuúc chương trình bằng lời cảm tạ khá súc tích. Lễ tạ pháp tại Trường hạ Vĩnh Nghiêm không chỉ là thủ tục Phật giáo, mà còn mang ý nghĩa hàm ân sinh loại và dân tộc qua mùa an cư.

MINH MẪN
27/8/09

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2009

BỐ DƯỢNG


Thu Thủy cầm những tờ giấy bạc mới ken, chàng thanh niên lịch sự đưa cho nàng, gọi là phụ giúp gia cảnh khó khăn, nàng ngần ngại nhưng rồi cũng phải nhận trước sự nài ép của anh ta.

Công viên buổi trưa thật trống vắng, chàng thanh niên nghe rõ tiếng thở dài của Thu Thủy; Tuy mới gặp nhau vài lần, chàng ta tỏ ra ân cần sốt sắng; phong cách, ngôn từ và hành động toát hiện vẻ chân thật làm cho Thu Thủy an tâm hơn. Mạ từng dặn con gái – không nên tin ai nếu không biết rõ về họ. Cái xã hội muôn mặt, xô bồ, làm thân gái phải biết cảnh giác.
Chả hiểu tại sao chàng ta chiếm cảm tình Thu Thủy nhanh thế. Các anh huynh trưởng trong Gia Đình Phật Tử của Thuỷ, cũng như các đơn vị bạn từng giao lưu họp trại, cũng lắm chàng trai khôi ngô chất phác, Thu Thủy chưa hề đặt tình cảm với ai. Thu Thủy cũng không có thời giờ để mà nghĩ đến việc ấy. Năm cuối cấp ba phổ thông, liệu mình có thi đậu tốt nghiệp, phải chọn đại học nào cho thích hợp với khả năng và kinh tế gia đình; Bố dượng nằm liệt ba năm nay, mạ phải tảo tần gánh bánh bèo ra chợ Đông Ba mỗi sáng sớm. Việc trong nhà, Thu Thuỷ một tay giúp mạ, hai em còn bé phải nghỉ học, dồn cho chị.
-Hôm nay em phải tập bài Thánh ca mới để đón chào mùa Phục sinh nhé, chàng trai nói.
Thu Thủy phân vân chưa biết tinh thế nào: Em bận quá anh à, chương trình cuối học kỳ nặng lắm, bố dượng một tay em chăm sóc thay mạ, và còn bao nhiêu việc khác nữa…
- Còn đi sinh hoạt GĐPT chứ gì? Anh đã bảo em, những cái đó không có lợi gì cho linh hồn em; cái đoàn thể em đang theo, tôn giáo em đang thờ, họ giúp được gì cho gia cảnh em ? Anh có thể bảo đảm tương lai cho em và cho những đứa bé còn lại.
Thuỷ như bị đánh trúng yếu điểm, cán cân đang nghiêng hẳn về những lời bảo kê; Trong giây lát, Thuỷ chợt nghĩ đến giáo lý mà bao năm các anh chị huynh trưởng hướng dẫn, thầy cố vấn giáo hạnh giải toả bao thắc mắc về kiếp người, về Nhân quả nghiệp báo; nhờ những giáo lý đó mà Thủy vui vẻ chấp nhận mọi khó nhọc để lo cho bố dượng.
*
* *
Khi ba của Thủy mất vì tai nạn giao thông, để lại cho mạ con Thuỷ một tài sản khá lớn, mạ không phải buôn tảo bán tần như ngày nay, một hôm, mạ mời bà con giòng họ đến góp ý để làm kỵ giỗ cho ba, đồng thời tạ ơn xóm giềng bao năm giúp đỡ mạ goá con côi của Thủy. Bạn của mạ góp lời: cô còn trẻ, không thể một thân nuôi dạy con cái, vả lại nhà phải có nóc, mái ấm phải có đàn ông, tôi giới thiệu cho cô một người rất có nhân cách, chí thú làm ăn…

Những tháng ngày vào ra lẻ loi, nhìn bàn thờ chồng cảm thấy có cái gì thiếu vắng. Việc nhà và đưa đón con đi học đều do gia nhân lo liệu. Mạ Thủy ngồi sòng bài Tứ sắc từ tối đến sáng để giết thời gian, có lúc đêm không về nhà. Người đàn ông chung sòng lại là người mà bà bạn giới thiệu.
- Bà bảo là người đàn ông có nhân cách, chí thú làm ăn mà lại ngồi sòng với mình suốt ngày thì làm ăn cái gì? Đồng ý ông ta ít nói và đỉnh đạc.
- Cô không biết đó thôi, tôi mời ông ta tham dự để làm quen với cô và cho cô nhận xét ông ta đấy. Bà bạn phân trần.

Lễ ra mắt bà con thật đơn giản, ông ta bảo – không nên hoang phí, để giành tiền mà làm ăn. Mạ Thuỷ đồng ý, nói với Thu Thủy: Con thấy đó, người ta biết tằn tiện như vậy là đúng. Thủy bướng bỉnh cải: Nhưng mạ có hỏi ý kiến chúng con khi đem ông ta vào nhà mình?
Con là con chứ có phải là mạ của mạ đâu mà phải có sự chấp nhận của con! mạ Thủy nạt. Thủy úp mặt vào gối khóc rấm rức. Thủy nghĩ, ừ thôi cũng được, hãy để mạ được hạnh phúc, mình có sống mãi trong nhà nầy đâu. Vả lại, mình là Phật tử, sao lại ích kỷ hẹp hòi vậy, phải biết hy sinh cho người khác huống nữa là mạ mình…

Bố dượng và mạ mở một công ty TNHH dịch vụ đầu tư, tham gia chứng khoán thị trường, những năm đầu làm ăn suôn sẻ; Đến khi các cổ đông đánh hơi được kinh tế biến động ở hải ngoại, họ thu hồi vốn, sàn giao dịch cũng bắt đầu tuột dốc, địa ốc khựng lại; một số đối tác hủy hợp đồng, tiền cho vay không thu hồi được. Nợ ngân hàng không thanh toán kịp, tài sản bị thanh lý. Gia cảnh Thu Thủy lâm vào bế tắt. Bán dần đồ đạc, thay nhà mặt tiền gần cầu Tràng Tiền để rút vào hẽm Đá Bạc.

Kẻ xấu mồm nói với Thuỷ: Do mạ con ở với người không hạp mạng nên làm ăn sa sút, không thì cũng tản mạn. Nhưng Thủy không nghĩ thế, có lẽ bố dượng bòn rút tài sản của nhà mình để hưởng thụ; Ngày nào mạ và bố dượng cũng đến tối mới về, không gặp mặt con, không có thời giờ tâm sự với con; làm ăn tất bật như thế sao lại sa sút thảm hại được. Đến khi không còn khả năng mướn người giúp việc, Thủy phải quán xuyến mọi việc. Mạ bảo Thuỷ nghĩ học, nhưng bố dượng không đồng ý, thế là mạ phải làm bánh bèo gánh ra chợ. Bố dượng suốt ngày lê la ngoài phố.
- Sao bố không ở nhà phụ giúp mẹ một tay mà cứ long nhong vậy? Thủy than phiền với mẹ.
- Con không biết đó thôi, bố con đi tìm việc làm chứ có phải đi chơi đâu! Mạ đáp.
- Việc làm gì mà con cứ thấy ngồi quán cà phê ngay chợ Đông Ba. mạ cứ bênh vực ông ta, Thủy cãi mạ.
- Nếu không làm thì tiền đâu lo cho con và hai em ăn học như người ta. Gánh bánh bèo không đủ tiền chợ mỗi ngày con à. Bố con thương các con lắm, không muốn các con thất học và thua kém bạn bè, tính ông ta ít nói vậy thôi.
Bố dượng của Thủy bị bao hàng quá nặng, ngã đè lên người, chấn thương cột sống khi khuân vác vào chợ. Thần kinh toạ bị đốt xương cùng lệch chèn, Mất sức lao động từ đó. Bảo hiểm lao động bồi thường số tiền đủ cho gia đình chi dụng vài tháng, không đủ để vào bệnh viện chấn thương chỉnh hình Sài gòn điều trị. Bố dượng cũng không muốn sử dụng số tiền đó để chữa trị, để lại mạ Thuỷ lo cho con cái
*
* *
- Em liệu có khả năng lo cho gia đình em về lâu về dài, khi mà em chưa có việc làm? tiền đâu em tiếp tục đi học? chàng Thanh niên hỏi Thủy
Những chiếc lá vàng từ tán cây phượng bị gió lùa xuống ghế đá công viên, chỗ Thuỷ và chàng ngồi, làm cho Thủy chợt nhớ bài hát Mùa Thu Lá Bay, Tuy hoàn cảnh Thủy khác với Hàn Ni, không ngang trái tình cảm, nhưng gia cảnh thật ngang trái. Mùa Thu sắp qua, Năm học sắp đến, giờ nầy Thủy chưa có áo quần, sách vở. Nhìn mạ và gánh bánh bèo mà Thủy không dám xin tiền. Mạ Thủy cũng biết, nhưng đào đâu ra để cho con nhập học; Thuỷ xin đi tìm việc làm mùa nghỉ hè để phụ với mẹ, nhưng bố dượng ngăn cản. Bố dượng nhiều lần muốn gọi Thủy lại để vỗ về an ủi, nhưng có cái gì ngăn cách. Thủy tận tình lo cho bố để tròn bổn phận, chưa một lần Thủy cảm thấy một tình thiêng liêng gắn bó giữa hai người như từng gắn bó với ba ruột của mình.
Vu lan sắp về,Thủy chợt rùng mình, hình ảnh ba mạ ngày nào ngồi trên hàng ghế danh dự để cho Thuỷ cùng với đoàn sinh dâng quà, lạy tạ ba mẹ trong mùa Báo hiếu; Thủy hãnh diện được nhận cánh hoa màu hồng trên ngực áo lam; ba được thờ trong chùa, mỗi tuần sinh hoạt Thủy đều đến thắp nhang, tâm sự với ba. Từ ngày bố dượng ngã bệnh, Thủy không thường xuyên đi sinh hoạt, nhưng các anh chị vẫn đến thăm gia đình Thủy;
Mấy lần được chàng thanh niên hướng dẫn Thánh kinh, Thủy chưa cảm nhận được ơn Chúa. Vị Mục sư rao giảng cũng như dàn hợp xướng trong Hội Thánh, Thuỷ cũng chưa rung cảm như chưa từng cảm thông với bố dượng. Không thể, Thủy tự nhủ thầm, không thể thay đổi từ cuộc sống đến tâm linh khi mà mình chưa đủ ý thức tự chủ.

*
* *
Khác với đám ma của ba ruột, bố dượng nằm xuống mà Thủy và cả nhà không ai nhỏ được giọt nước mắt, mặc dù ai cũng thương xót cho người ra đi. Mạ Thủy bơ phờ rũ rượi sau những tháng năm chật vật. Thủy cũng hốc hác mệt mỏi. Bà con lối xóm ai cũng nhiệt tình phụ giúp. Tro cốt đưa vào chùa thờ chung với ba Thủy. Căn nhà trở lại vắng vẻ như ngày ba Thủy mới mất. Thủy thu dọn mọi vật dụng của bố dượng đem tẩy giặt; Một mãnh giấy và ít tiền rơi xuống từ áo gối, mạ Thủy nhặt lên đọc: Em, anh để dành số tiền trong sổ tiết kiệm để cho con ăn học; số tiền chơi hụi vẫn chưa hốt. Sổ nợ các cửa hàng vẫn còn thiếu công Lao động của anh, em hãy thu gom lo cuộc sống của mạ con. Em cố gắng cho Thủy hoàn tất Đại học; tiếp tục cho hai con đi học. Thủy ra trường sẽ giúp lại em nó.
Thủy con, mặc dù bố con mình chưa hề tâm sự với nhau, nhưng lúc nào bố cũng dành tình thương cho các con; Bố phải để mẹ con vất vả hầu các con thấy được giá trị của đồng tiền và công lao của mẹ cha; khi bố đi rồi, mạ con phải ở nhà lo cho các con, vì gánh bánh bèo không tương xứng với công khó nhọc của mạ con. Số tiền bố lao động cật lực để lại cho các con ăn học. đủ cho gia đình sống qua ngày đến khi con ra trường. Con rất ngoan vì con là một Phật tử; Nếu bố có làm điều gì Phật ý, các con nên tha thứ cho bố. Riêng bố, chưa hề tủi hổ lương tâm khi ý thức trách nhiệm và bổn phận với gia đình mạ con. Bố chưa hề hưởng thụ cho riêng mình; những lúc cả nhà hưởng thụ món ngon vật lạ do bàn tay lao động của bố, lúc đó bố tận hưởng niềm vui trọn vẹn. Bố rất biết ơn khi con tận tụy phục vụ những ngày bố nằm trên giường bệnh. Bố chúc gia đình hạnh phúc an lạc; Riêng con vẫn là một người con Phật ngoan hiền và vị tha. Bố chào mạ và các con…
Những giọt lệ lăn xuống áo gối, Thủy tấm tức khóc, không hiểu tại sao phải khóc, có một điều làm cho Thủy ân hận vì đã hiểu lầm bố dượng; Thủy bàn với mạ làm trai đàn, cúng trai tăng cho cả ba và bố nhân mùa Vu Lan.
*
* *
- Anh ạ, em xin gửi lại số tiền của anh đã giúp, vì bố dượng không còn nữa, em không phải lo. Mạ con em đủ sống rồi. Thủy nhìn thẳng vào mắt chàng trai và can đảm nói
Chàng ta kinh ngạc trước thái độ của Thủy: Em vẫn về Hội Thánh vào mỗi chúa nhật?
- Dạ, thưa anh, nếu rỗi, em sẽ đến.

Chàng cầm số tiền đi vòng công viên để tìm con chiên lạc khác. Thủy đạp xe vòng qua Đông ba, lên cầu về thẳng nhà mà lòng thanh thản chi lạ; Thủy thấy rõ lòng mình, không phải trúng đối tượng tình cảm như mình nghĩ mà chỉ cảm xúc trước nghĩa cử cao thượng của một chàng trai xa lạ.
*
* *
Thủy ủi thẳng nếp áo dài lam mà từ lâu xếp vào góc tủ, chiều lên chùa để trở lại với các anh chị em đoàn sinh thân thương, một lần nữa được hát bản Bông Hồng Cài Áo. được nhận cánh hoa vô thường màu tím, tri ân thêm một người cha mà công lao như một người cha ruột. Mạ và hai em đều tham dự lễ cài hoa; Thủy nhìn được gương mặt mẹ thanh thản hơn; Mọi gánh nặng được trút bỏ. Riêng Thủy, gánh nặng không phải là cuộc sống vật chất, mà là mặc cảm tội lỗi với tổ tiên, với chư Phật, với anh chị em GĐPT và với ba mạ mình khi nhận số tiền để đánh đổi niềm tin.
Trong sân chùa vang vọng: Một Bông Hồng cho anh, một Bông Hồng cho em, và một Bông Hồng cho những ai… cho những ai đang còn mẹ…


MINH MẪN
20/8/09

Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2009

Alexandre de Rhodes



Một thời gian xôn xao về những nhân vật từng “cỏng rắn cắn gà nhà” hoặc “ “ áo chùng thâm che đậy mưu đồ xâm lược” đất nước ta, giờ đây, một lần nữa gợn sóng trên ngôn luận xã hội.

Tạp chí Văn nghệ số 69 bộ mới ngày 02/7/09; tạp chí Văn Hoá Phật Giáo, số 86, Tuổi trẻ online ngày 29/6/09 cũng như một số báo giấy, báo điện tử trong và ngoài nước rộ lên những phản hồi về vụ ông Phạm văn Hạng đã hoàn thành tượng Đắc Lộ nặng 43 tấn, bằng đá hoa cương trắng, để tại Thủ Dầu Một, nguyện hiến tặng Hà nội nhân kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long. Lịch sự, chính quyền Hà Nội phúc đáp bằng văn thư, hứa sẽ cho đoàn vào thẩm định giá trị tác phẩm điêu khắc.

Nếu chỉ thuần hiến tặng thì chả có gì để nói, ý của tác giả nhấn mạnh là kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long. Nhưng, ai là con dân đất Việt đều biết, nhà nước kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long là kỷ niệm tưởng nhớ công lao Đức Thánh Vương Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Đại La, sau đổi tên là Thăng Long để đế nghiệp và dân tộc được trường lưu. Không những đó là một quyết định chiến lược, địa lợi mà còn là nơi phát triển văn hoá, kinh tế, chính trị trên vùng đất cao ráo, thông thoáng, không bị núi sông ngăn trở như Hoa Lư. Hoa Lư có địa thế giá trị của một quân thành nhờ núi non che chắn vào thời chiến, thì khi Lý Thái Tổ thống nhất đất nước, an cư lạc nghiệp cho bá dân, Đại La được chọn làm kinh thành là điều đắc địa.

Không những chiếu chỉ dời đô: Đầu năm 1010, vua Lý Thái Tổ hạ chiếu dời đô, có đoạn: “Thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, có thế rồng cuộn hổ chầu, ở giữa nam, bắc, tây, đông, tiện hình thế núi sông sau trước, đất rộng và bằng phẳng, chỗ cao mà sáng sủa, dân cư không khổ vì ngập lụt, muôn vật thịnh đạt, phồn vinh, xem khắp nước Việt, chỗ ấy là hơn cả. Thực là chỗ hội họp của bốn phương, nơi thượng đô của kinh sư muôn đời”. Mùa thu năm đó, vua cho dời đô từ Hoa Lư về và đổi gọi là Thăng Long.
(Theo Đại Việt sử kí toàn thư, tập I, Sđd, tr. 241)

Tuy là vua một nước của thể chế quân chủ phong kiến, nhưng vua biết lắng nghe ý kiến của quần thần và nhân dân khi nêu lên lý lẽ bất khả bác trong ý định dời đô:
Trong Chiếu dời đô do nhà vua tự viết để hỏi ý kiến quần thần, đã nói rõ việc dời đô là việc lớn không thể "theo ý riêng tự tiện chuyển dời", mà phải "tính kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo chí dân". Nhà vua chọn thành Ðại La với đủ các tiêu chí thủ đô của một quốc gia thống nhất và thịnh đạt “ở giữa khu vực trời đất, có thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa Nam, Bắc, Ðông, Tây, tiện hình thế sông núi trước sau", là "thắng địa" "muôn vật rất phồn thịnh mà phong phú", "là chỗ hội tụ của bốn phương, là nơi thượng đô của kinh sư muôn đời”.


Sau khi ổn định đế đô, Đức Thánh Vương cũng đã chấn chỉnh tổ chức hệ thống hành chánh như: Đứng đầu nhà nước là nhà vua, nắm quyền chính trị, luật pháp quân sự, nghi lễ, đối ngoại, xây dựng giáo dục, kiến trúc…Dưới vua là các Tể tướng, đại Thần. Các cơ quan pháp lý, hành chánh gồm: sảnh, viện, đài…Hạ tầng cơ sở về nông nghiệp, điền địa, thuỷ lợi có các quan bố phòng trách nhiệm.

Về địa giới, vua tổ chức Lộ, phủ, huyện, châu, hương, xã. Toàn quốc có 24 Lộ.Mỗi địa phận đều có quan trông nom như quan Lộ, quan Phủ, quan huyện, quan xã. Khu vực Vương thành chia làm hai – khu của vua quan và phố phường của nhân dân do quan Lưu thủ quản lý. Các sứ quân dấy loạn đều bị dẹp sạch để thống nhất nước nhà, đem lại an cư thịnh vượng cho bá tánh.

Về quân sự, vua chia làm hai lực lượng: Cấm binh, bảo vệ an ninh khu nội thành của vua quan, Lộ binh trấn giữ bờ cỏi. luân phiên canh gác xóm làng và canh tác nông nghiệp. Lúc an bình là thế, nhưng khi loạn lạc, vua, quan, vương hầu, quý tộc và nhân dân đều có quyền tuyển mộ quân binh để hợp lực cùng vua chống giặc, giữ an quê nhà.

Về luật pháp, tuy chưa hình thành một bộ luật chi tiết, nhưng nhà vua cố gắng thành công xây dựng các cơ sở Xã hội, chính trị, tư tưởng, giáo dục. Chính sách nhân đạo do thấm nhuần tinh thần Phật giáo, đã giúp nhà vua dành được cảm tình của nhân dân, vì vậy, Ngài được xem là vị vua nhân hậu, đồng thời mở đầu cho các trều đại nhà Lý kế tục theo tinh thần thân dân kết hợp với tôn kính Phật Pháp, làm nền tảng vững bền cho triều đại kéo dài suốt 215 năm, về sau, đã hình thành bộ luật Hình thư rõ ràng để cai trị đất nước được công minh hơn.( đó là bộ luật đầu tiên cấu thành văn bản của dân tộc ta, bước đầu của ngành lập pháp, cai trị bằng pháp luật ). Nhà nước triều đại Lý đã kết hợp Pháp trị với đức trị, đem lại sự gắn bó giữa nhân dân và nhà nước phong kiến quân chủ lúc bấy giờ, mà được coi là quân chủ theo tinh thần dân tộc. tránh được tình trạng quân chủ quan liêu chuyên chế theo mô thức nho học, từng đem đến nhiều áp bức cho dân lành. Vua cũng biết tiếp nhận ý nguyện của dân, bằng cách tạo nhiều phiên trạm ngoài thành để lắng nghe tiếng chuông kêu oan của dân chúng.

Về chính trị, vua đã gả các công chúa, thứ phi, gia tỳ cho các tù trưởng những bộ tộc miền núi. để trấn thủ ngoại biên. Tinh thần nhân ái, thương dân, dang tay kết nạp mọi thành phần, chủng tộc đã giúp triều Lý ổn định giang san. Thánh vương Lý Thái tổ là tiên đế, mở đầu cho các đời vua kế tục một sách lược củng cố xã tắc vững bền bằng cách thu phục nhân tâm, do lòng từ bi của đạo Phật, xây dựng trên nền tảng thôn ấp làng xã.

Về xã hội và nông nghiệp, các triều đại nhà Lý đã chẩn bần bố thí, giảm thuế, khuyến nông. Lấy nông nghiệp làm căn bản “dĩ nông vi bản” nhà vua còn giữ thông lệ cày ruộng tịch điền làm gương cho dân; khai hoang lập ruộng. Phát triển thủ công, tạo lập thị tứ, giao thương biên giới, lưu thông tiền tệ. chương trình dẫn thuỷ nhập điền… đã củng cố một xã hội phát triển phồn thịnh.

Về văn hoá, giáo dục, triều Lý cũng đã quan tâm phát triển giáo dục, mở mang văn hoá. 1070 lập Văn miếu, 1075 mở khoa thi, 1076 thành lập Quốc Tử giám; khuyến khích con dân lai kinh ứng thí. Một thời đại mà xã hội phát triển mọi mặt, kiến thức, đạo đức, kinh tế, chính trị…chính vì thế mà lòng dân đoàn kết trên dưới một lòng đã đẩy lui nhiều cuộc xâm lăng từ phương Bắc. Chưa có thời đại nào mà quốc gia Đại Việt được tôn trọng ngang hàng như một quốc gia độc lập có chủ quyền như các triều Lý. Là một Phật tử thuần thành, vua cho tu tạo chùa miếu, dùng đó làm cơ sở giáo dục quần chúng về văn hoá lẫn đạo đức.

Sau khi các triều đại nhà Lý phạt Tống bình Chiêm, các vua luôn giữ tình giao hảo bình đẳng với các lân bang, nhờ các quốc sư cố vấn giỏi, tạo uy thế cho Đại Việt trước mộng bá quyền phương Bắc; Tóm lại, mở đầu triều đại nhà Lý, Thánh vương Lý Thái Tổ đã biểu thị một phong cách lãnh đạo của đấng minh vương, giúp quốc gia phát triển vững mạnh về mọi mặt,sau khi thoát khỏi một ngàn năm nô lệ giặc Tàu. Kéo dài sự thanh bình an lạc cho nhân dân qua nhiều thập kỷ.

Với công đức khai sơn lập nghiệp như thế, nhân dân ta luôn tri ân tiền nhân là điều tất nhiên. Qua thời gian Pháp xâm thực đất nước, dưới hai chế độ Cộng Hoà, công đức to lớn của tiền nhân vẫn chưa được ghi nhận đúng mức ngoài những con đường nhỏ hẹp mang tên, nằm lẫn khuất đâu đó trong các Thành phố sầm uất. Thế nhưng, nhà nước đương vì, tuy mang tiếng vô Thần, nhưng biết dành một nơi tôn quý nhất tại thủ đô để tri ân tiền nhân vào dịp 1.000 năm dời đô về Thăng Long. Đó là việc làm đúng và đáng trân trọng.

Alexandre de Rhodes mà lịch sử xôn xao công và tội, nếu gọi là chữ quốc ngữ dưới dạng La Tinh do công của Đắc Lộ, điều này các nhà nghiên cứu như Bùi Kha đã phủ nhận một cách xác đáng; Ngoài cái công ảo hoá đó, Đắc Lộ làm được gì cho dân tộc như một Pasteur, một Yersin…? Nếu bảo Đắc Lộ là nhà văn hoá Tôn giáo thì ngôn ngữ khiếm nhã trong phép giảng tám ngày đòi chém thằng Thích Ca thì loại văn hoá gì? Một giáo sĩ đi truyền đạo luôn triệt tiêu văn hoá và tôn giáo của một dân tộc , thì đó là loại văn hoá tôn giáo gì?
Không những tại Việt Nam đã có một thời bài xích các cố đạo mà trước đó họ cũng đã nâng đỡ các các cố đạo, ngay cả Trung Hoa, Nhật Bản, Ấn Độ…cũng đã chống báng vì sự ngạo mạn của các giáo sĩ xem thường phong tục, tập quán, tín ngưỡng của bản địa, muốn áp đặt văn hoá Thần học để khống chế tinh thần quần chúng, biến con người thành một sinh vật chỉ biết vâng lời các chủ chăn mà không cần đến lý trí phán đoán đúng sai.

Hơn 5 lần Alexandre de Rhodes bị chúa đàng trong - đàng ngoài trục xuất, và cũng nhiều lần trốn trở lại Việt Nam hoạt động bất hợp pháp, chứng tỏ một nhân cách thiếu nghiêm túc và bất khả tín. Những tàng thư minh chứng cầu viện ngoại binh và giáo sĩ đến chiếm đoạt đất nước ta mà Đắc Lộ đã khẩn cầu Pháp hoàng Louis IV. Đắc Lộ cũng báo cáo chi tiết về tình hình kinh tế, thương mãi, tôn giáo, chính trị, địa dư…của Việt Nam cho Pháp và các Giám mục của Giáo Hội Pháp. Hành động đó nếu không gọi là tình báo thì gọi là gì? Ý đồ chiếm đoạt một đất nước bằng quân sự và tình báo chả lẽ là có công với dân tộc Việt???

Hình ảnh một đấng minh Vương dầy công dựng nước như Lý Thái Tổ, một kẻ phạm tội với dân tộc Âu Lạc như Alexandre de Rhodes, chả lẽ tôn kính ngang nhau?

Ông Phạm Văn Hạng nghĩ gì khi đề nghị tặng tượng Đắc Lộ vào dịp kỷ niệm nhớ ơn tiền nhân của đất nước? Phải chăng đây là một sự biếm nhẽ khinh thường tổ tiên, hay là một thử thách trình độ nhận thức của các nhà lãnh đạo Hà Nội về lịch sử dân tộc?

Hình ảnh một Đắc Lộ được đưa lên báo giấy và báo điện tử, có đúng là thật ảnh của Đắc Lộ hay do tay nghề kém của tác giả mà biến tác phẩm điêu khắc thành một gương mặt quỷ??? Trên đầu Đắc Lộ tác giả vẽ mấy vần chữ ABC ý muốn nói Đắc Lộ là tổ khai sinh ra chữ quốc ngữ La Tinh hay ý muốn nói cái đầu đó chỉ là trình độ ABC??? Nếu cho đó là tổ khai sinh ra chữ quốc ngữ La Tinh, quả thật trình độ sử học của tác giả có vấn đề, cần học hỏi.
Và nếu tác giả chọn năm 2010, kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long để hiến tặng nhà nước Việt Nam bức tượng Đắc Lộ, đó là một sự sỉ nhục dân tộc Việt và xem thường nhà nước Việt Nam, ngành khoa học lịch sử Việt Nam.

Kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long, mọi người con dân đất Việt thể hiện sự tôn kính và ủng hộ bằng cánh hoa, nén nhang cũng là tấm lòng đối với tổ tiên tiền bối. Nếu tượng Đắc Lộ đúc bằng vàng khối mà dâng tặng vào dịp nầy cũng được xem là sự quái gở thế kỷ, chẳng khác nào kỷ niệm sinh nhật Hồ Chí Minh lại đem tặng quả bom hay con khỉ, đó là một phạm thượng không thể chấp nhận.

Sự phản hồi của nhiều người đã nói lên niềm phẩn uất trước thái độ khiếm nhã của Phạm văn Hạng, hãy chờ xem sự quyết định của UBND TP Hà Nội và ngành khoa học lịch sử Việt Nam.


MINH MẪN
01/8/09

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2009

ĐẠI LỄ KỲ SIÊU TẠI PHÚ QUỐC


ĐẠI LỄ KỲ SIÊU TẠI PHÚ QUỐC

Từ 2008 đến nay, đã có 3 lần tổ chức kỳ siêu cho các anh linh chiến sĩ tại đảo Phú Quốc.

Phú Quốc là một hải đảo cách Kiên Giang 120km, cách Hà Tiên 45km; gồm có 99 ngọn đồi và núi; diện tích 593 km2; có 2 thị trấn; 4 xã phía Nam và 4 xã phía Bắc của đảo. Dân cư trên dưới 100 ngàn, phần lớn sống bằng nghề biển và trồng tiêu.

Đảo thành lập được 300 năm, nhưng trước đó cũng đã có cư dân từ đất liền ra đây lập nghiệp, khi Mạc Cửu khai khẩn vùng Hà Tiên; Tuy nằm giữa biển nhưng vẫn có nước ngọt quanh năm. Núi và đồi còn giữ được màu xanh của cây mà phần lớn núi đồi đất liền đều bị khai hoang một cách thảm hại. Từ Nam ra Bắc, có những ngọn núi chỉ còn trơ đá và đất, thì nơi đây, từ trên không nhìn xuống, giữa màu xanh của biển, bềnh bồng một khối thảm xanh đậm đặc phủ kín cả mặt đảo. Cây vườn của cư dân tranh đua phát triển với những thân cây rừng to cao. Nhờ rừng núi xanh rậm mà đã từng có những cuộc ẩn náu của tù nhân chính trị chờ đợi tìm cách vượt biển, cũng có những cuộc vượt ngục thành công.

Do vị thế cách xa đất liền, cũng như Côn Đảo, Phú Quốc được chọn làm nơi xây dựng trại tù giam giữ tội phạm chính trị vào năm 1968, viên cai ngục nhà lao Cây Dừa lúc bấy giờ là ông Bảy Nhu, năm nay 83 tuổi, vẫn còn gắn bó với hòn đảo mà ông từng gieo nhiều ân oán! Không riêng gì cai ngục Bảy Nhu, hầu như tạo hóa sinh ra những ai làm cai ngục đều có phẩm chất ngưu đầu mã diện để trừng phạt tội nhân.

Những năm gần đây, cư dân phát triển sung túc nhờ ngành du lịch phát triển. Sân bay cũng mở rộng, một số đường chính được trán nhựa; hai bên đường hàng quán sát nhau. Riêng xe taxi du lịch cũng trên 650 chiếc, chưa kể xe của công ty, doanh nghiệp, không có xe của người dân kinh doanh mà xe của cán bộ ngành giao thông hoặc công an đầu tư vơi tính cách cá nhân.

Đảo nẳm chênh vênh giữa mênh mông trời nước, nắng thì rát da, gió thì lồng lộng, và mưa đi kèm với lốc hoặc bảo thì núi đồi đó vẫn không đủ sức che chắn cho dân. Những ngày qua mưa lớn và dai đã để lại cho đảo những con đường lầy lội, trời u mây ám thì đảo là vùng mang lắm tâm trạng hoài hương. Ngư phủ không ra biển được, nông dân ngồi trong chòi đếm từng hạt mưa bay trên lá để chìm trong nổi mông manh hiu quạnh! Người dân đã thế thì những mãnh đời tù tội vì lý tưởng của những chiến sĩ hy sinh, hẳn cũng trầm uất, chìm sâu trong bốn vách ngục lạnh lẻo cô đơn. Cho dù bất cứ thể chế nào, làm thân tù tội là điều bất hạnh, đau buồn! và bất hạnh hơn khi gặp phải cực hình đày đọa.

Trong hai cuộc cầu siêu trước đây, Phan Thị Bích Hằng, nhà ngoại cảm nổi tiếng, đã tìm được hàng trăm liệt sĩ chôn chung một hố. Tổng cộng đã tìm ra 1.300 hài cốt. giờ đây, Kiên Giang phát hiện thêm hơn 300 nữa Trong số đồi tại Phú Quốc, có đồi 100 và đồi 37 được phát hiện nhiều hài cốt nhất. Vì thế, địa phương đã thỉnh cầu Giáo Hội tổ chức cầu siêu và cải táng các liệt sĩ vô danh.

Hơn 30 năm nước nhà thống nhất, sau đại đàn chẩn tế của Làng Mai cho ba miền, và hàng loạt nhà ngoại cảm phát hiện mộ liệt sĩ, đã đánh động ý thức của các cầp lãnh đạo về sự hiện hữu những vong linh vô thừa nhận. Họ sống trong tăm tối cô đơn cho dù họ hy sinh tất cả cho đại sự. Mọi người sống đã không lắng nghe nguyện vọng của họ, không ai đoái hoài nghĩ đến họ, họ không diễn đạt cho người sống hiểu điều họ muốn, vì thế uất khí luôn phủ trùm không gian cuộc sống. Sự hy sinh mang theo nổi căm hờn thì hồn vất vưởng của họ cũng uất ức, đất nước luôn gặp điều không may.Một khi làm ma thì không còn phân biệt thân thù, địch và ta, chính và tà mà chỉ còn những oan hồn đau khổ thê lương như nhau. Người sống giải quyết theo biên kiến thì không giải quyết tận nguồn cội của sự đen tối cho dân tộc; tình thương không nên phân biệt bạn và thù.

Giáo hội ủy thác cho chùa Vĩnh Nghiêm tổ chức từ A tới Z, thầy Thanh Phong đã được các mạnh thường quân yểm trợ, cũng như những Phật sự trước, Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Sài gòn cùng Công Ty TNHH DV&VT Phương Trang đã tài trợ cho cuộc lễ này, cách đây không lâu, Vĩnh Nghiêm cũng đảm trách chẩn tế cho đại lộ kinh hoàng ở Quảng Trị và ở Côn Đảo.

Trên 200 tu sĩ phía Nam tham dự. Ban kinh sư của chùa Vĩnh Nghiêm đảm trách.Mọi chi phí lễ và vận chuyển đều do Vĩnh Nghiêm đài thọ.
Theo chương trình chính thức vào ngày 25/7/09, có sự chứng minh của Hòa Thượng Trưởng Lão, Đức Pháp chủ Thích Phổ Tuệ và Đại diện Giáo Hội trung ương. Ban TRị Sự Phật Giáo Tỉnh Kiên Giang; Ban Quản Trị Tổ Đình Vĩnh Nghiêm;Tỉnh Ủy,HĐND và UBND tỉnh Kiên Giang; Ngân Hàng TMCP Sài Gòn; Công Ty TNHH DL & VT Phương Trang cùng tham dự.
Ngày 25/7 cũng là ngày giỗ đầu tiên cho các anh linh chiến sĩ. Sau lễ kỳ siêu, ngày 26 là lễ truy điệu, cải táng các hài cốt liệt sĩ.
Suốt ngày 24/7, chư Tăng Vĩnh Nghiêm và BTS Kiên Giang đã hoàn tất những nghi lễ như: tiếp linh, triệu linh, rước linh và đại đàn chẩn tế.

Trời về đêm trong vắt,trăng lưỡi liềm treo lơ lửng trên không giữa biển sóng reo. mà những ngày trước mưa gió bảo bùng. Bà phó chủ tịch nước Nguyễn thị Doan cùng cán bộ, tháp tùng chư Tăng, tay hoa tay nến vòng quanh đài liệt sĩ dâng đến từng mộ để an ủi hồn liệt sĩ; Nếu thế giới cỏi âm vẫn còn tính tị hiềm như dương thế thì những anh linh chưa được phát hiện hài cốt hoặc những người cầm súng chiến tuyến bên kia, cùng bắt tay nhau sống chung hòa bình nơi âm giới, cũng mũi lòng như những người tù mồ côi không ai thăm viếng!

Đồng bào hơn trăm người kéo nhau về tham dự. Các cựu chiến binh, cựu tù nhân Phú Quốc, thân nhân liệt sĩ và cán bộ, bộ đội đương chức cũng lũ lượt về góp mặt. Đã hơn 20 giờ, mọi người đang xôn xao trước lễ đài thì nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng vẫn còn lặn lội trên núi để tiếp tục tìm mộ, mà địa phương cho biết, nơi đây, trên 4.000 tù nhân chiến sĩ đã vong thân. Số tù nhân bị chôn tập thể một cách vội vàn vì sợ hội Bảo vệ nhân quyền phát hiện.

Phú Quốc cũng cố ngoi mình chứng tỏ một sức sống giữa trời đêm bao vây bởi biển. Chợ đêm Dinh Cậu là những hàng quán mọc hai bên đường Võ Thị Sáu, không đến 200m, phân nửa là quán ăn, quán nhậu. Một vài người nước ngoài ngồi quán cóc nhâm nhi hải sản; những quày bày bán vật lưu niệm bằng vỏ sò vỏ ốc, đông những người xem hơn người mua; Đặc biệt chợ chỉ nhóm từ 18 giờ về đêm. Một quày bán chay duy nhất là Âu Lạc, ít ai ghé mắt.
Phía sau hai dãy phố là những căn nhà nghèo nàn xơ xác, rải rác ẩn mình trong các cây cao bóng mát.Phú Quốc còn được gọi là Đảo Ngọc, trên máy bay nhìn xuống, màu xanh biển cả và màu xanh rừng núi tương hợp hài hòa như viên ngọc bích. Đáng ra, với dáng vẻ kiều diễm của đảo, Phú Quốc phải là một địa điểm thu hút mạnh và phát triển mạnh về ngành du lịch. Singapore không lớn hơn Phú Quốc bao nhiêu, thế mà nó trở thành một đảo quốc nổi tiếng quốc tế và thịnh vượng kinh tế. Việt Nam cũng là một trong những quốc gia thuộc địa, nhưng Hồng Kông, Siangapore không là những nấm mồ mai táng vĩ đại như Côn đảo và Phú Quốc. Các đế quốc đã biết tận dụng những thuộc địa đó để phát triển kinh thương, trái lại, Việt Nam trở thành bãi chiến trường sát phát đồng loại.
Chúng ta hy vọng, một ngày không xa, Phú Quốc sẽ không còn là Huyện mà sẽ là Thành phố xứng đáng với nét đẹp và tiềm năng của nó.Chiến tranh đã lui về quá khứ, hận thù mờ nhạt với biển khơi, nhà nước hãy giúp nhân dân hải đảo vươn lên để cùng đất liền tương xứng một quốc gia trên đà hội nhập.


MINH MẪN
25/7/09

CHI HỘI TỪ THIỆN BẢO HOÀ


Chi Hột từ thiện Bảo Hoà là một trong 25 hội từ thiện chính thức sinh hoạt có tổ chức, có tầm vóc, ngoài ra , cả TP HCM có trên 100 hội, nhóm làm từ thiện tự phát mà ít ai biết đến, kể cả một nhóm từ thiện do anh chị em khiếm thị tự nguyện đứng ra điều hành. Để lần lượt tìm hiểu sự sinh hoạt của các hội, nhóm, chúng ta khởi đầu bằng việc làm của Chi Hội Từ Thiện Bảo Hoà.

Sau 1975, đồng bào phía Nam, nhất là miền Tây Nam bộ lâm vào bẩn chật do cơ chế bao cấp tạo ra. Đồng bằng Nam bộ là vựa lúa có tầm vóc của các nước thuộc Đông Nam Á, thế mà người dân vẫn thiếu ăn, bệnh tật thiếu thuốc…Cảm xúc trước tình cảnh bi thương đó, sau khi nhà nước mở cửa, thay đổi cơ chế, vào năm 1990 thì năm 1992, bà Lê Thị Thủy, một doanh nhân giàu lòng đạo tâm trước 1975, phát nguyện thành lập tổ từ thiện Bảo Hoà, phục vụ mỗi ngày một ngàn suất cơm chay miễn phí cho bệnh viện Ung Bướu, TP HCM. Khi Hội Bảo Trợ Bệnh Nhân Nghèo do ông Nguyễn Vĩnh Nghiệp ra đời vào năm 1994, tổ từ thiện Bảo Hoà sáp nhập, thành một chi hội từ thiện Bảo Hoà từ đó.

Khả năng có hạn, nhu cầu vô cùng, thế là Bảo Hoà lắm khi lâm vào bế tắc; Ít ai biết để hổ trợ; Bảo Hoà luôn thiếu gạo và tiền đi chợ. Các nhà hảo tâm từ miền Tây cho gạo thì chi phí vận chuyển lại quá cao; Nhìn bà con nằm viện nghèo đói, thân nhân vất vưởng thiếu hụt mọi bề. Có những con người không thân nhân nuôi dưỡng, không có tiền chi trả viện phí, phải lang thang đi xin để tiếp tục vào chửa trị; vô vàn gia cảnh đau thương, con cháu nheo nhóc đi lượm bịch nilon để có tiền nuôi mẹ nằm viện; Có những bệnh nhân từ miền Trung vào, không có đồng xu dính túi, không có thân nhân chăm sóc, nhặt đồ ăn thừa để sống qua ngày, bao cảnh thương tâm, anh em chi hội không thể cầm lòng, anh em trong chi hội từ thiện không thể buông xuôi, do tinh thần phục vụ vô vị lợi và nhiệt tâm của anh chị em, Bảo Hoà đã vượt qua mọi khó khăn để từng bữa ăn đạm bạc đem đến tận tay người bệnh, và rồi, không những bệnh nhân, thân nhân người bệnh được ăn theo, ngay cả bác sĩ, y tá, y công cũng được phần cơm mỗi ngày nếu muốn.

Qua việc làm xả kỷ vị tha đó, chi hội từ thiện Bảo Hoà được các mạnh thường quân lưu tâm, bắt đầu họ hỗ trợ, hiện nay, có những nhà hảo tâm mỗi tháng đóng góp thấp nhất là 20.000 và cao nhất là 2.000.000 đồng; cũng có những đóng góp đột xuất từ những Việt kiều hoặc các nhà thiện tâm khác. Và các tiểu thương chợ rau cũng thường xuyên giúp đỡ củ quả. Vì thế, khẩu phần mỗi ngày cho các bệnh viện trong TP hiện nay lên đến 2.800 suất cơm mỗi ngày cho các bệnh viện Ung Bướu, Gia Định, Chợ Rẫy, Đại Học Y Dược và Trẻ bại liệt ở Đường Lý Thường Kiệt…Qua 17 năm hoạt động, Chi hội còn tài trợ gạo cho một vài quán cơm chay từ thiện; bếp ăn từ thiện tại các BV Long An, BVYHDT Bến Tre, YHDT Tiền Giang, Đa Khoa Bình Dương, Đa khoa Bình Phước, BV nhi Đồng Nai, BvĐa Khoa Tân Thạnh(Long An); hổ trợ mỗ tim bẩm sinh, xoá cầu khỉ nông thôn,xây nhà tình thương, xe đưa rước bệnh nhân nghèo, cho áo quan, làm cầu đường , đào giếng nơi vùng sâu vùng xa giúp bà con nông dân có phương tiện đi lại. Mùa khai giảng, chi hội cũng trợ cấp học bổng, sách vở, xe đạp cho học sinh nghèo; xe lăn, nạn cây, cho người khuyết tật; mổ mắt miễn phí…

Hiện nay, mỗi ngày chi phí cho mọi công tác từ thiện mỗi tăng, trung bình chi hội Bảo Hoà mỗi tháng chi riêng cho vụ cơm hộp hết 40.000.000 Đ.VN. Một gánh nặng to lớn cho chi hội hiện nay là cơ sở vật chất. Ngày mới thành lập tổ Từ thiện, được bệnh viện Ung Bướu cho tạm trú, khi bệnh viện quá tải, năm 1998, Bảo Hoà phải dời về 220, Đinh Tiên Hoàng, Đakao, quận nhất. Tiền thuê mặt bằng không quá 30m2 mỗi tháng hiện nay là 11.000.000 đồng. Tuy là công tác từ thiện, nhưng không được chủ nhà có tâm từ thiện để hổ trợ, ngược lại kê khai, chủ nhà nói cho thuê giá ưu đãi vài triệu để khỏi phải đóng thuế; nếu buộc đóng thuế thì chi hội Bảo Hoà phải gánh. Đã có những tâm hồn hy sinh cho đồng loại, gác việc nhà lo cho bá tánh thì ngược lại cũng có những người như chủ cơ sở trên đây không cần biết nỗi khổ của bao nhiêu người và nỗi khó nhiều mặt của chi hội phải lo xoay xở hàng tháng và cứ thế, tiền nhà gia tăng theo kinh tế thị trường; Nếu không phải chi tốn 11 triệu mỗi tháng cho cơ sở vật chất thuê mướn thì số tiền đó, mỗi năm thặng dư 132.000.000 có thể giúp biết bao nhiêu hoàn cảnh đau thương khác của đồng bào mình, và gần 12 năm nay, số tiền thuê mướn lên con số đáng ngại! Hy vọng có mạnh thường quân tạo điều kiện cơ sở vật chất để giúp cho anh em chi hội nhẹ gánh hầu dồn tâm lực vào việc cứu tế xã hội.

Đây là hình ảnh tổng quát của chi hội từ thiện Bảo Hoà do anh Lê văn Tư điều hành với sự góp công của anh chị em các tỉnh miền Tây Nam bộ, góp của từ những tấm lòng vị tha. Một hình ảnh hy sinh âm thầm 17 năm qua của những con người thấm đượm tinh thần Phật giáo luôn hy sinh và chỉ biết làm từ thiện giúp mọi người, cần sự giúp đỡ từ mọi phía để chi hội tiếp thêm những lãnh vực cần giúp cho xã hội hiện nay.
Mọi liên hệ tài chánh qua bà LÊ THỊ THỦY số Tài khoản 55101719 ACB, chi nhánh Đakao.
MINH MẪN 10/7/2009

Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2009

CHUYỆN BUỒN ĐẤT NƯỚC


Hơn một năm nay, vấn đề Tu viện Bát Nhã ngày càng trầm trọng trong cung cách giải quyết cũng như phương thức giải quyết để nhiều tai tiếng trong và ngoài nước.

Vấn đề Bát Nhã đã trở thành chính sách nhà nước chứ không còn là vấn đề tự phát của địa phương hay nội bộ thầy trò Làng Mai, khi mà văn bản 1329 của BTGCP-PG đưa ra; Ban Tôn giáo chính phủ, đại diện nhà nước quản lý tôn giáo, tiếng nói của BTG tức là tiếng nói quyết định của nhà nước, nói cách khác, đó là quyết sách, vì BTG không thể tự động giải quyết một vấn đề trọng đại của một tôn giáo liên quan đến tâm lý tình cảm của quần chúng và uy tín đối với quốc tế mà không được hội ý hay chỉ thị từ cấp cao;

Vấn đề Làng Mai, vấn đề Thái Hà, vấn đề Mục sư Nguyễn Công Chính, quản giáo hạt Mennonite Tây Nguyên, GHPGVNTN… và rất nhiều chuyện linh tinh các tôn giáo, hẳn nhiên, nhà nước có lý do nào đó để hành xử các vụ việc trên theo chính sách của nhà nước, như từng hành xử với các thành phần dân chủ đối lập, đó là chuyện của nhà nước, người dân không cần biết đến lý do nào để nhà nước quyết định hành xử , nhưng hành xử như thế nào, trên cương vị công lý, luật pháp hay không luật pháp là chuyện khác.

Người dân rất phấn khởi khi nhà nước chấp nhận kinh tế thị trường thay cho cơ chế bao cấp; Và kể từ lúc “đổi mới tư duy” sinh khí trong nước có phần hưng phấn. Đất nước Việt Nam ngày càng có chỗ đứng trong sự lưu tâm và ưu ái trên chính trường quốc tế đối với bè bạn năm châu. Không những Việt Nam có chân ở Liên Hiệp quốc trong 32 năm qua( 20/.9/1977) mà còn là thành viên không thường trực của Hội Đồng Bảo an LHQ; Việt Nam giao lưu với hầu hết các quốc gia mà trước đây từng là cựu thù.Một số quốc gia cũng đã chọn Việt Nam làm nơi hợp tác đầu tư; Những lúc kinh tế tài chánh khủng hoảng vào mấy năm trước, Việt Nam cũng thoát khỏi một cách nhẹ nhàng, hiện nay một số nước lớn chuyển mình một cách đau đớn trên đà tuột dốc kinh tế thì Việt Nam cũng bị ảnh hưởng đôi chút, nếu các mặt hàng gia dụng, thực phẩm không bị Trung Quốc phá giá thì kinh tế Việt Nam cũng không đến độ báo động.

Việt Nam cũng chứng tỏ thắng lợi trên mặt trận ngoại giao khi chiếc vòng kim cô CPC lũng lơ trên đầu. Việt Nam cũng tạo được sự kính nể đối với các cường quốc về an ninh chính trị và an ninh xã hội. Về mặt trận quốc tế, Việt Nam có cái nhìn sâu sát và có chiến lược thích hợp; tuy rằng, Việt Nam có lúng túng trước hai thế lực Hoa-Mỹ để duy trì thế đứng tồn tại. Thế và lực Việt Nam đều yếu, buộc lòng nhượng bộ khá nhiều trước những áp lực của bá quyền kề cận, chính vì thế mà được bảo đảm về tính lâu dài của vị thế lãnh đạo. Sự nhân nhượng quá đáng đã đem lại thiệt thòi cho người dân trên vùng biển cũng như trên đất liền; Đối với nước ngoài, muốn tồn tại và được bảo đảm tồn tại thì phải nhân nhượng, đối với trong nước, muốn tồn tại và giữ vững an ninh, giới lãnh đạo bất cứ quốc gia nào cũng phải trấn áp thành phần bất mãn, đối lập nếu trình độ chính trị của những quốc gia đó thuộc loại trung bình.Ngoại trừ những quốc gia tiến bộ, họ hoá giải vấn đề đối lập, khủng hoảng bằng những thái độ tinh vi tế nhị và khoa học hơn . Đó là điều đương nhiên và dễ hiểu đối với mọi giai cấp lãnh đạo.

Nơi đây, chúng ta không thể đề cập phương pháp chuyển hoá của đạo Phật áp dụng vào xã hội khi mà chính trị và quyền lực được xem là tối ưu. Việt Nam cũng từng trải qua 4 thế kỷ an cư lạc nghiệp trước sự đe doạ từ phương Bắc, vào những triều đại quốc giáo đạo Phật. Ông cha ta biết tranh thủ lòng dân, sống bằng lòng dân và hy sinh cho dân bởi tâm đức và chính trị chân chánh; đối với kẻ thù, tuy giao hảo nhưng cương quyết từng tấc đất. Phật giáo không duy trì an ninh xã hội bằng quyền lực và trấn áp,Phật giáo cũng không hoá giải những bất đồng bằng những kế sách tinh vi như các nước tiên tiến.

Khi Thủ Tướng Việt nam sắp sang Mỹ, toà Bạch ốc đã vời các nhà chính trị đối lập với thể chế Việt Nam vào gặp Tổng Thống Bush để hạ nhiệt làn sóng phản đối. Trong khi đó, tổ chức Nhân quyền hay nghị sĩ Mỹ sang Việt Nam, các nhà đối lập chính trị bị câu lưu hoặc bị quản thúc, đó là hai lối hành xử của hai thể chế chính trị có trình độ quản lý đất nước khác nhau. Phậtgiáo không nằm một trong hai cung cách xử sự như vậy. Đạo Phật chủ trương chuyển hoá nội tâm hơn là trấn áp hình thức cho dù tinh vi. Mỹ là quốc gia có tiếng dân chủ nhất thế giới, nhưng sau cánh cổng nhà tù Guantanamo là gì, cả thế giới đều biết.Hành xử theo thế quyền là vậy, chúng ta phải thông cảm. Các nước khác hầu hết khó tránh khỏi những nhiêu khê trong khâu quản lý điều hành xã hội! Nói như thế không phải chúng ta chấp nhận cách trấn áp đối lập Aung San Suu Kyi của quân phiệt Yangoon, cũng không thể vừa lòng với cách thống trị Tibet của Trung Cộng, tại sao không giải quyết Thiên An Môn theo cung cách Triệu Tử Dương, nếu phải chọn một lối giải quyết vấn đề nhẹ nhàng hiểu biết hơn? Cho dù tế nhị hay thô thiển, cũng đều có cái giá phải trả nhất định của luật tương đối. Obama nhẹ nhàng, biết lắng nghe và lịch sự để thay đổi tầm nhìn và mối thiện cảm của quốc tế đối với quốc gia cờ Hoa nhiều tai tiếng trong nhiệm kỳ các Tổng Thống tiền nhiệm, thì Obama cũng không tránh khỏi những khó khăn cho cuộc canh tân xứ sở. Để xoá những tai tiếng cho Guantanamo, Obama phải chi ít nhất 80 triệu đô mà quốc hội không đồng thuận, rồi sẽ rút quân khỏi Afghanistan, Iraq…mà bao khó khăn đang đối diện. Như thế muốn tốt thì khó mà việc xấu càng dễ phát triển.

Có lẽ khi nắm quyền lãnh đạo, một chức vụ càng lớn mà trình độ càng kém sẽ đưa đến lối ứng xử bất toàn, và cũng khó cầu toàn trong một thế giới không xây dựng trên nền tảng đạo đức tâm linh.

Qua 34 năm thống nhất đất nước, Việt Nam xây dựng khá nhiều cơ sở vật chất cũng như cấu trúc tổ chức kinh thương, đạt được một số thành công nhất định, tuy muộn nhưng xác định được tầm nhìn vĩ mô để hội nhập. Tuy nhiên trong nước, một số chuyên ngành, chưa có tầm vóc thích ứng với một quốc gia đang lên. Ngành giáo dục đang lúng túng, bất nhất. Doanh nghiệp đang bị tuỳ thuộc sự lấn lướt từ Hoa lục; dệt may đã khựng lại, ngành xuất khẩu cũng khó khăn. Hơi thở thị trường chứng khoán không ổn định. Ngành xây dựng nhiều tai tiếng, không bảo đảm chất lượng và an toàn. Vấn đề trật tự xã hội đã ổn cố bằng những phương thức lỗi thời. Trật tự giao thông đã mạnh tay không đúng luật với thường dân, gây phẩn nộ trong quần chúng. Khu công nghiệp đem lại nỗi lo cho sức khoẻ tại địa phương; vô vàn cái bất cập do trình độ cán bộ chuyên ngành không chuyên sâu cộng thêm vụ lợi đã đem đến những vết đen cho đất nước.

Cũng thế, tôn giáo là một ngành đầy nhạy cảm, vì nó là một hợp thể được cấu trúc bởi niềm tin và tình cảm của quần chúng; nó không chỉ là một tổ chức biệt lập với mọi tổ chức, nó cũng vươn rộng đến mọi lãnh vực về phương diện tinh thần. Từng có thời kỳ nó tác động và ảnh hưởng diện rộng vào mọi mặt trong xã hội của một số quốc gia. Hiện nay Hồi giáo cũng quyết định đời sống luật pháp, văn hoá của những nước xem Hồi là quốc giáo. Theravada cũng gắn liền với cuộc sống của Thailand, Myanmar,Srilanka…Tôn giáo đã có mặt khi loài người có nhận thức đối với xã hội và thiên nhiên, vì thế Tôn giáo sẽ tồn tại lâu dài và sẽ chuyển hoá theo trình độ dân trí. Người quản lý Tôn giáo không những phải chuyên sâu về triết giáo mà còn phải hoà nhập vào tính khiết minh của mỗi tôn giáo mới thẩm thấu được nhu cầu và tính tất yếu của tôn giáo đó. Chính sự đặc tính cách biệt của mỗi tôn giáo mà ngành quản lý tôn giáo cũng phải có những phương thức khác nhau cho thích hợp khi giải quyết vấn đề nhạy cảm của tôn giáo. Ngoài triết giáo, còn tùy thuộc điều kiện phát triển và sự hành hoạt của mỗi tôn giáo trong chiều kích xã hội; Công và tội, xấu và tốt, lợi và hại của mỗi tôn giáo trong một giai đoạn nhất định;

Việt Nam có những sai lầm khi giải quyết các tôn giáo đều giống nhau, bởi quan điểm của họ về các tôn giáo đều là một; Chưa nói đến các chi phái mang tính cá biệt. Khi giải quyết một vấn đề khó chịu của tôn giáo mang tầm cở quốc gia, cán bộ tôn giáo thường đặt trên căn bản chính trị và áp dụng luật pháp cũng trên quan điểm chính trị; có thể họ thành công về mặt chính trị nhưng tâm lý và tình cảm quần chúng thì chưa thỏa đáng. Nhà nước chỉ lắng nghe phản ứng của các lãnh đạo nước ngoài mà không lắng nghe phản ứng của nhân dân khi xử lý vấn đề tôn giáo và chính trị; Dùng quyền lực để giải quyết sẽ thiếu chu đáo nếu không biết lắng nghe nguyện vọng của quần chúng theo tôn giáo đó và đặc tính của tôn giáo đó. Quyền lực mà thiếu hiểu biết chuyên môn và không kết hợp tình với lý, thường dẫn đến thô bạo. Giải quyết tính nổi cộm một vấn đề nào đó của tôn giáo không phải là nhiệm vụ của xe ủi đất hay xe xúc đất. Mặt đất, bên dưới đôi khi còn có gốc cổ thụ, đá tảng hoặc bảo vật, chất nổ; tôn giáo không đơn thuần là một tổ chức hành chánh, tu sĩ là cán bộ văn phòng, nơi thờ phượng là cơ quan…mà tôn giáo thường là một tổ chức vượt ngoài mọi tổ chức. Những thành viên được liên kết bằng đức tin và tình cảm chứ không phải nội quy, luật định.

Khi nhà nước xử lý một vấn đề của tôn giáo, đó là tính quyết định của nhà nước đối vấn đề của tôn giáo đó, người dân không có ý kiến, nhưng vấn đề xử lý như thế nào, cung cách xử lý trên căn bản luật pháp hay không. Có lẽ cán bộ chưa quen hành xử theo pháp luật, nhất là đối diện trước những vấn đề nan giải, hoặc giao khoán nội vụ cho thuộc cấp. Vì trách nhiệm hay báo công đối với thượng cấp mà nhân viên cấp dưới thường làm càn, bất chấp luật lệ, miễn đạt được thành quả.

Riêng vụ án Bát Nhã, lúc đầu ai cũng ngỡ là do tranh chấp nội bộ, sự thật cũng là vậy. Một đằng thiếu truyền thông giữa tập quán trong nước và ngoài nước của thầy trò, đồng Đạo Làng Mai; phong cách làm việc của những người quen tập quán của nước công nghiệp đã tạo sự thiếu cảm thông, nhất là thầy tu trong nước, quen truyền thừa tính phong kiến của một trụ trì mà Đức Nghi là một đại biểu. Thêm vào đó khi quyền lợi không thoả mãn, tham vọng không được đáp ứng thì thành kiến, mặc cảm kéo theo những nghĩ ngợi thiếu khách quan, nhìn mọi việc làm của đối thủ đều mang dụng ý xấu, mà Đức Nghi gọi là có ý đồ chiếm đoạt Bát Nhã. Cách nói chuyện của Đức Nghi tạo cho người nghe có một ấn tượng kích động và thương cảm. Phần lớn ngoài trăm đệ tử cạo đầu của Đức Nghi là thành phần đi kinh tế mới từ miền Bắc vào, được cạo đầu để trông nom các cơ sở, vì thế không qua trường lớp tu tập, thiếu giới hạnh, phạm luật là bình thường. Một số quần chúng tỵ nạn kinh tế cũng trở thành công nhân hái chè và chăm sóc hàng chục hecta đất canh tác cho Đức Nghi, với đồng lương lao động bình thường. Hàng tháng nhận thêm tài trợ từ nguồn tiếp tế của Làng Mai thông qua Đức Nghi, con em được gửi vào nhà trẻ, cùng với nguồn bồi dưỡng các cô giáo, bảo mẫu, nên cuộc sống ổn định và hàm ân. Khi nghe Đức Nghi than thở qua giòng lệ bi thương, bị Làng Mai dùng thủ đoạn chiếm đoạt cơ sở, chính những quần chúng đó biến thành xã hội đen hành hung các tu sĩ trẻ tại Bát Nhã; Ban trị sự Phật Giáo Lâm Đồng cũng là đối tượng cần tiêu diệt khi bảo lãnh cho những tu sĩ tại chỗ và cản trở ý đồ Đức Nghi triệt phá Làng Mai; kết quả là TT Thái Thuận bị hành hung thương tích, một số thầy bị ném phân và đá, mấy Phật tử bị trọng thương, xe cộ máy móc bị đập bể, điện cúp, nước cắt, nhà bếp chiếm đoạt, sinh mạng 400 tu sinh và quần chúng có mặt như chỉ mành treo chuông.

Nửa năm trước, sau cuộc tranh chấp nội bộ không đi đến kết quả, Đức Nghi được Ban Tôn Giáo Chính Phủ hổ trợ bằng văn bản 1329 và Thông Tư Giáo hội 037; cục diện tạm lắng để đối phương tìm phương án hữu hiệu hơn. Trong văn bản 1329 có nhắc đến xử lý những đối tượng gây rối tại Bát Nhã, nhưng chưa tìm ra cách để cho các đối tượng Làng Mai vi phạm, thầy trò Đồng Hạnh khiêu khích dưới mọi hình thức; Trước khi bắt tay quyết định xoá sổ làng Mai tại Bát Nhã, Đức Nghi họp đệ tử nói: Nếu làng Mai họ tu đàng hoàng thì thầy trò mình nhường chùa lại cho họ tu. Đó là đòn đánh lạc hướng đối phương, chưa tới 72 giờ, Đức Nghi bật đèn xanh cho Đồng Hạnh chỉ huy đám côn đồ đốt phá, rượt chém, hành hung các tu sĩ, cô lập hoàn toàn khu vực, dồn tu sĩ lên tầng trên, đóng chốt ăn nhậu canh gác phía dưới. Vòng ngoài được 200 công an thường phục bảo vệ , sẳn sàng ứng chiến nếu làng Mai có thái độ phản ứng.

Nguồn tin rúng động khắp nơi, các báo đài nước ngoài đều tường thuật, mọi người theo dỏi sinh mạng các tu sĩ Làng Mai tại Bát Nhã giống như theo dỏi trận chiến ác liệt năm xưa khiến Tướng Hưng tử thủ từng ngày tại An Lộc, và cả tu sĩ lẫn Phật tử đã trên 400 người cũng cầm hơi qua một tuần lễ, không điện nước, không uống ăn, có người đã kiệt sức. Bất bạo động, bất phản kháng đã khiến những hành động vô đạo trong mùa An cư của thầy trò đức Nghi càng lộ bản chất ẩn dương nương Phật, thủ lợi cầu danh,ma tăng ác đạo chứ không phải người con Phật từ Bi Trí Tuệ. Cho dù thầy trò Đức Nghi thắng thế, nhưng bản chất vẫn bị thua trước tinh thần kiên định ôn hoà của tập thể chân tu đó. Những người không cần danh dự thường điên rồ đánh đổi tất cả chỉ vì mục đích tham sân si, càng quậy, thầy trò Đức Nghi càng lún sâu vào tội lỗi và nhơ danh muôn thuở. Bạo lực được hổ trợ bởi thế lực vẫn không giải quyết được vụ án Bát Nhã.

Xét trên bình diện quốc gia, không ai ngây thơ xem vụ bạo động tại Bát Nhã là nội bộ tự phát. Một cá nhân quậy làng phá xóm, đe dọa tính mạng kẻ khác liền bị công an bắt nhốt, một vụ bạo động rung chuyển cả trong và ngoài nước, có lực lượng an ninh địa phương hổ trợ thì không thể bảo là cá nhân Đức Nghi hành xử.
Vấn đề đặt ra, không phải ai hành xử, vì rõ ràng một xã hội quá loạn, không có kỷ cương luật pháp trong mọi mặt của đời sống xã hội, mà phải đặt vấn đề hành xử thế nào để ngưởi dân vẫn thấy luật pháp còn giá trị, cán bộ còn là người đại diện luật pháp. Cứ cho rằng Làng Mai không thích hợp với thể chế chính trị hiện hành, bộ phận chuyên môn về tôn giáo hãy đặt vấn đề theo hai phương án:
1/ Làng Mai làm đơn xin sinh hoạt tại Việt Nam như mọi tôn giáo, tổ chức khác theo luật pháp hiện hành ( Làng Mai đăng ký hay không là chuyện khác, và nhà nước chấp nhận hay không lại là một chuyện); Nếu đăng ký, thì Làng Mai chịu dưới sự kiểm soát của Giáo Hội Phật giáo Việt Nam, Ban Tôn Giáo Chính Phủ, an ninh tôn giáo; Điều nầy Làng Mai đã quen với lối sinh hoạt tại hải ngoại, nên không dễ chấp nhận.
2/ Làng Mai không chính thức có mặt tại Việt Nam theo luật định, thì những cơ sở của Làng Mai sinh hoạt tại Việt Nam không hợp pháp, dĩ nhiên nhà nước không chấp nhận, ngoại trừ tu sĩ và tín đổ của Phật giáo Việt Nam có quyền tu theo pháp môn Làng Mai.
Đó là về mặt tổ chức và pháp lý, nhưng tinh thần Phật giáo lại là vấn đề khác, có thể là thành viên của Giáo Hội nhưng tinh thần không nằm trong giáo Hội. Có thể ngoài vòng kiểm soát Giáo hội nhưng vẫn là tu sĩ của Giáo hội. Tổ chức Phật giáo là chiếc bóng chập chờn khó nắm bắt. Cụ thể hoá Phật giáo như mọi tổ chức khó mà thành công, vì thế, lượng số tín đồ Phật giáo khó mà thống kê chính xác.

Biết tận dụng cái hay cái đẹp của Phật giáo nói chung hay Làng Mai nói riêng, không nhất cứ phải là con chim được bảo vệ trong lồng son. Không chấp nhận cái xấu cái dở của Phật giáo nói chung, Làng Mai nói riêng, không nhất cứ phải hành động thô bạo, bởi vì thô bạo đã nói lên khả năng và trình độ kém cỏi, thiếu văn minh.

Ném phân và đá vào chư tôn đức trong BTS tỉnh, vào quần chúng từ SG lên thăm, hành hung tu sĩ tại chỗ; ném phân và đá vào nhà bất đồng chánh kiến, vào mục sư Nguyễn công Chính…đều là những hành động kém cỏi trong cách xử lý, chỉ là cách bôi lọ luật pháp và trét trấu vào mặt chế độ. Con người và con người có ngôn ngữ để thẩm thấu, trao đổi nhau. Con người và con người có trí tuệ và sự hiểu biết để giải quyết nhiều vấn đề mắc mứu nhau. Nói với nhau bằng giày dép đã là vô giáo dục, muốn chuyển hoá đối phương mà dùng bạo lực càng đưa đến bế tắt bất phục tùng, làm sao thể hiện chính nhân quân tử, đại diện cho pháp luật.

Vấn đề giải quyết Làng Mai như thế nào là chuyện của nhà nước, nhưng thô bạo với các tu sĩ trẻ tại Bát Nhã không thể chỉ là lỗi của những kẻ lợi dụng đầu tròn áo vuông tham lợi mà còn là trách nhiệm của kẻ cầm cân nẩy mực.
Nhà nước kêu gọi nhân dân sống và làm việc theo pháp luật thì cán bộ cũng phải thể hiện đúng tinh thần đó.
Hàng ngày báo chí phản ánh quá nhiều tệ nạn cán bộ đối với quần chúng; Tôn giáo là bộ phận lý tưởng đối với quần chúng, không thể xử sự theo cách xã hội đen. Nếu Làng Mai vi phạm luật pháp Việt Nam, nhà nước có văn bản chính thức mời Thiền sư hoặc đại diện TS đến để phân bày và y cứ theo luật pháp Việt Nam giải quyết. Bốn trăm tu sĩ trẻ là sản phẩm của TS Nhất Hạnh và Đức Nghi, muốn giải quyết số phận các tu sĩ đó không thể riêng ý kiến của Đức Nghi như văn bản 037 của Giáo Hội. Tranh chấp là có người tranh chấp và người bị tranh chấp, giải quyết phải có mặt cả hai. Nếu bảo Thiền sư Nhất Hạnh mang con bỏ chợ, đào tạo các thanh thiếu niên thành tu sĩ, khi tu sĩ gặp khó khăn, vẫn im lặng để họ cam chịu, thì Đức Nghi là người đứng ra xuất gia cho các trẻ em đó, giờ lại khủng bố các em chỉ vì quyền lợi vật chất và tự ái cá nhân với TS. Cha mẹ khi chia tay, cũng phải có trách nhiệm với bầy con mình đã tạo. Hai bên phủi tay thì số phận 400 em đó sẽ trở thành bụi đời, phạm pháp hay còn niềm tin vào Tam Bảo chăng? Giáo Hội tỉnh Lâm Đồng không can dự gì đến Làng Mai, nhưng thấy bố mẹ bỏ rơi, Giáo hội dang tay bảo bọc, đó là tinh thần trách nhiệm của đàn anh đối với kẻ hậu tấn, khi quý thầy trong BTS PG Lâm Đồng bảo lãnh cho các em cũng là lúc các thầy phải chịu áp lực từ mọi phía và nỗi căm thù của thầy trò Đức Nghi dành cho họ là điều tất yếu phải có, thầy Thái Thuận lãnh đạn chẳng phải là oan! Cái oan là 400 tu sĩ vô tội, từ chối mọi cám dỗ tội lỗi của thế gian để trở thành người tốt, có ích cho xã hội lại bị xã hội, bị sư phụ, bị luật pháp đối xử phủ phàng!

Chả lẽ ngành chuyên môn Tôn giáo không còn cách nào giải quyết Bát Nhã theo tinh thần luật pháp hợp lý mà phải mượn tay xã hội đen của Đức Nghi?
Đất nước đã bao năm ly loạn, khổ đau quá nhiều, khi nước nhà thống nhất đáng ra người dân có quyền an cư lạc nghiệp, tôn giáo phát triển để làm chỗ tựa tinh thần cho dân tộc; Người dân khốn khổ vì tài sản đất ruộng bị trưng thu, cuộc sống khó khăn, giờ đây, niềm tin tôn giáo cũng bị lay động tận gốc; Những thành phần bê tha, tệ nạn vẫn nhởn nha sống một cách an lành,
Người lãnh đạo đất nước chả lẽ chỉ quan tâm đến tiếng nói của nước ngoài mà không hề chú ý đến nguyện vọng chính đáng của người dân và nỗi đau buồn của dân tộc hiện nay? Cán bộ chuyên ngành tôn giáo cũng cần cập nhật kiến thức chính trị và tôn giáo song hành để đối xứng với thế giới khi cần điều chỉnh, giải quyết vấn đề. Giải quyết tôn giáo không thể là cách giải quyết giữa hai người đàn bà trong xóm, mà phải là cung cách của cán cân công lý và văn hoá.
Cán bộ hãy lắng nghe nỗi khổ niềm đau của quần chúng khi xử lý vấn đề, nhất là vấn đề trọng đại.
TS Nhất Hạnh có những sai trái nhất định, theo quan điểm luật pháp Việt Nam, thì chỉ có TS chịu trách nhiệm trước pháp luật, các tu sĩ vô tội, không thể là nạn nhân của trầu bò húc nhau, ruồi muỗi chết.

Đất nước đã chịu quá nhiều tai tiếng, đừng tạo thêm cái nhìn mất thiện cảm đối với thế giới về Việt Nam. Một nhà lãnh đạo tốt là biết thương dân, lo cho dân, đừng làm khổ dân.
Tai uơng, dịch bệnh chưa hẳn là khổ, cái khổ mà người dân luôn gánh chịu là nỗi oan vô cớ đè nặng lên cuộc sống thường ngày.
Hy vọng nhà nước xét lại và ngưng ngay những hành động thô bạo do thầy trò Đức Nghi gây ra cho những tâm hồn non trẻ tại Bát Nhã hiện nay, họ đau một nhưng quần chúng và Phật giáo đau mười trước nụ cười biếm nhẽ của ngoại đạo khắp nơi.
Bao giờ chuyện buồn đất nước được cạn vơi???

MINH MẪN
03/7/09