Thứ Năm, 23 tháng 4, 2009

Phật Giáo Trong Mọi Thời Đại


.
Sự có mặt của Phật giáo trên 2552 năm không phải lâu dài so với các tôn giáo cổ đại tại Ấn và một số nơi trên thế giới, nhưng cũng không phải quá non trẻ như một số tôn giáo xuất hiện trên dưới 2.000 năm nay, một điều mà Phật Giáo tồn tại và phát triển tuy chậm trên thế giới, hoà nhập bất cứ xã hội nào, đó là tính thích nghi, không những trên mặt giáo thuyết, ngay cả cung cách ứng xử!

-Giá trị tự chủ:

Trước đây, dưới mắt một số người quen tính thực dụng và xốc vác, đánh giá hình thức sinh hoạt tu sĩ Phật Giáo như một thái độ cầu an yếm thế, giáo lý của đức Bổn sư bi quan bạc nhược, Phật giáo thích nghi nơi chốn thâm sơn cùng cốc…vì vậy, sau đệ nhị thế chiến, PG Nam Hàn bị đẩy lên núi rừng khi Tin Lành thống lãnh xã hội,nhưng, những gì mà PGVN và các quốc gia Phật Giáo có mặt ngầm trả lời cho những quan niệm phiến diện đó. Nhất là tình thế bắt buộc để giải quyết sự tồn vong cho một dân tộc hay cho chính tự thân Phật giáo, ngoài ra, những khía cạnh văn học nghệ thuật, khoa học, tâm lý học, y học, triết học…Phật giáo cũng có mặt bàng bạc một cách khiêm cung nhưng vững chải và sâu lắng!

Khi Thái tử Tất Đạt Đa chứng kiến bốn cảnh thường hằng của đời người: Sanh –Già- bệnh - Chết, không ai thoát khỏi, ngài cảm thấy cuộc sống vô vị cứ mãi trôi lăn trong khổ đau, Ngài cương quyết xả bỏ tất cả để tìm phương cách giải thoát cho loài người, đó không phải là chí khí của đại trượng phu? ngược lại bị xem là yếm thế bi quan! Suốt 6 năm chịu đựng bao gian khổ, khí hậu khắc nghiệt, thú dữ rừng hoang, ăn uống thất thường, một thân một bóng giữa rừng già, mạng sống như chỉ mành treo chuông, thỉnh thoảng cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, cung phi mỹ nữ và thân phụ vùi mình trong chốn hưởng lạc hiện về trong tâm tưởng, ngài phải phấn đấu từng giờ trước những cám dỗ trong ký ức như thế, phải chăng người thiếu nghị lực mà có thể vượt qua để đi đến thành công một cách vẻ vang? Điều đó nói lên chí khí của đấng trượng phu quân tử, tâm hồn cao thượng, lòng dũng cảm vì Đại Nghĩa đối với nhân loại. Kinh nghiệm tự thân, Đức Thế Tôn đã khuyến giáo các Tỳ kheo phải phấn đấu với chính tự thân qua các pháp hành tâm lý và sinh lý:

Tiểu Bộ kinh:Luật học cơ bản, Kinh Phật thuyết như vậy, chương một, phẩm một, một pháp: Điều nầy đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A la Hán nói đến và tôi đã được nghe: Nầy các Tỷ kheo hãy từ bỏ một pháp, ta bảo đảm cho các thầy không tái sanh.Thế nào là một pháp: THAM, nầy các Tỳ kheo là một pháp..Tham là tham đắm, chúng sanh đi ác thú..từ bỏ tham ái đó..Hai, điều nầy được Thế Tôn nói đến, các bậc A la Hán nói đến…giới Sân…từ bỏ sân hận ấy, ta bảo đảm các thầy không trở lại tái sanh.Giới Si Thế tôn đã nói lên ý nghĩa nấy, tôi đã được nghe. Bốn…Nầy các Tỳ Kheo..giới phẩn nộ, phẩn uất..từ bỏ phẩn nộ…từ bỏ không bao giờ trở lại đời nầy.Năm, nầy các Tỳ kheo.. nầy là một pháp: Dèm pha,.. dèm người, từ bỏ dèm pha ấy từ bỏ sẽ không trở lại tại đời nầy…Sáu, …nầy các Tỳ kheo, hãy từ bỏ một pháp: giới kiêu mạng kiêu sanh, từ bỏ kiêu mạng nầy, ta bảo đảm các thầy sẽ không tái sanh.. ý nghĩa nầy đã được thế tôn nói đến đã được A La Hán nói đến…
Giới Hoà Hợp... Bố thí..không phóng dật…nói láo…
Các nghiệp sự đưa đến sanh y, không bằng một phần mười sáu của từ tâm giải thoát…chỉ có từ tâm giải thoát vượt qua chúng mới bừng sáng, rực sáng …Thế tôn đã nói lên ý nghĩa nầy, ai tu tập…từ tâm không phóng dật chánh niệm.., công đức thật vô lượng..
Hộ trì các căn và tiết độ trong ăn uống…
Làm điều ác, không thực hiện việc lành sẽ sa vào khổ đau
Làm điều thiện, không làm điều ác tương xứng được sanh lên thiên giới…

Đây là những trãi nghiệm trong quá trình phấn đấu với tự thân để đạt thành chánh giác,làm chủ tâm thân, không thể gọi là bi quan yếm thế! Vì thế Phật dạy: Thắng một vạn quân không bằng tự chiến thắng mình, chiến thắng mình là chiến công hiển hách nhất!

Con đường phấn đấu với tập khí và nghiệp lực, một tu sĩ hay một cư sĩ có lý tưởng thánh hoá đời mình, bắt buộc phải tự nguyện hành trì, đòi hỏi nghị lực. Kẻ có nghị lực và lý tưởng, không thể là bi quan, yếm thế!

Một khi đạt được thánh tính tự thân, tình thương sẽ bàng bạc trong cuộc sống, có như thế mới đem lại an lạc cho mọi người, giúp mọi người từ bỏ xấu ác, tăng trưởng thánh thiện, đức Phật đã thực hiện và thể hiện, nhân loại đã công nhận thành quả đó, bằng chứng hàng ngàn năm qua, đệ tử đã tiếp nối một cách hoà bình và kiên trì, dù trước bạo lực và bạo động, lòng từ bi và bất bạo động đó, không những ngay khi Phật còn tại thế, thế kỷ 13 sau Tây lịch tại Ấn, thế kỷ 20-21 tại Tibet,Myanmar,Việt Nam…
Bởi Phật dạy: Lấy ân báo oán, oán tiêu tan, lấy ấn báo oán, oán chập chùng

Đó là tinh thần Bất Bạo Động, biểu lộ sức mạnh nội tâm chứ không phải vì bất lực trước bạo lực. Trong sự bất ổn hiện nay bằng bạo động tại một số vùng trên thế giới, nhân loại càng thấy giá trị của tính chất Hoà Bình và Bất Bạo động của Đạo Phật, vì thế Liên Hiệp quốc đã chọn Đạo Phật là một tôn giáo mang tính Văn Hoá và Hoà Bình.

- Góp mặt với đời:

Tự thân an tịnh và hoà bình chưa đủ nói lên tính chất tích cực đóng góp cho cuộc sống, vì chúng chỉ là sức mạnh tiềm ẩn nội tâm; lúc sanh tiền, Đức Thích Ca Mâu ni từng hoá giải nhiều cuộc xung đột của các quốc gia lân bang khi vua Tỳ Lưu Ly muốn đánh chiếm Vaisaly, nhà vua lên Linh Thứu sơn vấn ý đức Phật; Phật quay lại hỏi đức Anan:
- Xứ ấy dân chúng có hiếu thảo với cha mẹ?
- Anan đáp: Dạ, bạch thế tôn, dân xứ ấy rất thảo kính cha mẹ!
- Dân xứ ấy vợ có thương chồng, chồng có thương vợ không? Phật hỏi
- Bạch Thế tôn, Vợ chồng biết thương nhau ạ !
-Xứ ấy vua và dân có tôn trọng , đoàn kết nhau chăng?
- Bạch Thế Tôn, nhân dân nước đó biết tôn kính vua, vua biết thương dân và họ đoàn kết nhau lắm ạ!
- Thế thì nước đó có sức mạnh lắm, không nên đụng đến. Đức Phật đáp .
Vua Tỳ Lưu Ly đành vâng ý bỏ mưu định đánh chiếm và gây đổ máu cho dân chúng Vesaly.

Những góp phần cụ thể:

Trong cuộc chiến 30 năm của Việt Nam, một tăng sĩ đơn thân độc ảnh vào ngay chính quốc gia khai chiến và Liên Hiệp Quốc để kêu gọi hoà bình cho Việt Nam, ngày nay được biết dưới tên Thiền sư T, Nhất Hạnh

Hiện tại, Nepal và Maoist lâm chiến suốt nhiều chục năm, đưa đến chết chóc và bế tắt, một tu sĩ Việt Nam, noi gương đức Phật, thầy trò tìm cách góp ý, sau nhiều cam go, hai bên đồng ý giải giới,đã thống nhất ngưng chiến và sẽ có bầu cử trong năm 2008 nầy.

Trong lịch sử Việt Nam, Thiền sư Khuông Việt, TS Pháp Thuận, Ts Vạn Hạnh…đã đóng góp chính trị không ít giúp Việt Nam ổn định sơn hà, tuyệt nhiên các ngài không tham gia chính quyền sau khi hoàn thành công việc, cũng không hề vì công trạng mà khống chế vương cung, Không những các ngài trong quá khứ, ngay cả hiện tại, có những bậc thầy không hề khom mình trước quyền lực, sẳn sàng góp ý xây dựng quê hương nếu cần tham vấn. TS Nhất Hạnh những chuyến về quê hương, cũng thẳng thắn nêu ra 10 điểm góp ý xây dựng một đất nước vững mạnh, tuy rằng lời góp ý có khó khăn và đầy nghi ngại cho đối tác.

Trong các thời đại Đinh Lê Lý Trần Lê, Phật giáo gíup đất nước thạnh trị suốt bốn thế kỷ; Tu sĩ phần nhiều thuộc giới trí thức, y nho, lý số cầm chắc trong tay mà Đồ Nho còn phải bái phục, vì thế, vua Đại Hành đã nhờ Khuông Việt làm người chèo đò và Pháp Thuận là người tiếp đón Lý Giác của Tàu. Khi Lý Giác làm hai cầu thơ tức cảnh sanh tình nhắm vào đôi thiên nga: Nga Nga lưỡng nga nga- ngưỡng diện hướng thiên nha, Pháp Thuận liền tiếp hai câu: Bạch mao phô lục thuỷ, Hồng trạo bãi thanh ba, làm cho Lý Giác khâm phục người Việt Nam, sau đó, khi trở về Tàu, Lý Giác đã làm thơ khen ngợi vua dân nước Nam.

Liên tục các triều đại đã sản sinh ra nhiều thánh tăng cao đức để phò trì đất nước, nhưng đến thời bạo chúa Lê Long Đỉnh ăn chơi trác tác, bại hoại quốc gia, buộc lòng Vạn Hạnh phải đưa Lý Công Uẩn lên thế vị. Đây là thời đại mà Phật giáo chủ đạo trong ngành văn hoá của đất nước.

Từ khi Phật giáo truyền vào Việt Nam và Trung Hoa, để thích nghi với xã hội mới, PG cải tiến trang phục và cách sống, thay hạnh khất thực bằng tự thân lao động, các sư biến lao động sản xuất thành những nông thiền mà tổ Bách Trượng là một Thiền sư gương mẫu về lao tác.

Trước kia, thời Bắc thuộc, Phật Giáo hoà nhập vào xã hội bắng Nho-y-lý-số thì sau khi Pháp xâm lược, Phật giáo cũng đã hoà nhập vào xã hội bằng những động thái Từ Thiện, giáo dục, chính trị, môi sinh…Một số kỷ xảo thủ công, hội họa, mỹ nghệ cũng được một bộ phận tu sĩ và cư sĩ góp mặt.

Hầu như các nước có mặt Phật giáo sinh hoạt trong cộng đồng lâu đời, đều được lưu tồn những tác phẩm nghệ thuật có giá trị, hội hoạ, điêu khắc, đặc biệt tại Afghanistan, trong các hang động đã có những bức tranh sơn dầu cổ xưa nhất hiện nay, nhất là hang động nổi tiếng Bamian, chứng tỏ Phật giáo nơi đây tồn tại khá lâu trước khi bị Hồi giáo xâm chiếm.

Tại Indonesia cũng thế, dấu tích văn hoá Phật Giáo cũng lưu dấu chứng tích thời cực thịnh của Phật giáo tại xứ sở nầy

Sau 1975, cũng không phát triển khá hơn về cuộc đóng góp cho xã hội ngoài những thành tựu đơn lẻ như thế.
Trong quá khứ, ít nhiều Phật giáo đã năng động đem lại hoà bình cho quê hương, giờ đây, trách nhiệm nặng nề của Phật giáo là xây dựng đạo đức cho những thế hệ kế thừa đã bị trống chân, ngoài công tác từ thiện phổ cập.

Một ít Tu sĩ Việt Nam cũng đang chung tay chăm sóc một số nạn nhân cai nghiện và bị nhiễm Aid/Hiv, căn bệnh xã hội hiện nay. Một số chùa nuôi dạy trẻ khuyết tật và làm nhà dưỡng lão.

Sai gòn đã quy tụ khá nhiều tổ chức từ thiện cứu tế, trong đó, Ban từ thiện của Thiền Viện Vạn Hạnh đã chi trên 10 tỷ hơn 15 năm hoạt động, mỗi tháng đều đến các nơi khốn khó xa thành phố.

Phật Giáo hiện nay, cũng đã có mặt trong các trại giam để cảm hoá tội phạm và an ủi, khích lệ về tính thiện lành trong mỗi người sẳn có do vài giảng sư trẻ có khả năng.

Sau 1990, Phật giáo trong nước cũng như PGVN hải ngoại nở rộ phong trào cứu trợ vùng bảo lụt thiên tai hoặc cứu đói thường kỳ vùng sâu vùng xa và cao nguyên, chia cơm xẻ áo cùng đồng bào. Còn nhiều nhóm bác sĩ Phật tử khám chữa bệnh từ thiện thường xuyên như tại Đà Nẵng. Một số tín đồ Phật Quang cũng phát tâm bố thí hành thiện một cách nhiệt thành, nhiều chùa cũng âm thầm làm từ thiện như thế.

Đặc biệt, Phật giáo tại Bà Rịa Vũng Tàu và Cư sĩ PG miền Tây còn gọi là Tứ Ân Hiếu Nghĩa đã thành lập bếp cơm từ thiện một số nơi, phát hàng ngàn xuất cơm chay mỗi ngày cho các bệnh viện, kể cả y bác sĩ và nhân viên bệnh viện, người thăm nuôi bệnh tại TP HCM, ngoại ô và tỉnh lẻ.

Gần đây, một bộ phận nhỏ tu sĩ và cư sĩ phát triển Thư pháp, điêu khắc, hội hoạ, thi ca, kịch nghệ mang sắc màu Phật giáo thông thoáng.Một ít tu sĩ trẻ biết làm kinh tế tự túc, nhưng vẫn còn hạn chế và đơn độc.

Trong những thời kỳ quê hương bị thống thuộc, phân hoá, cộng đồng tu sĩ Phật Giáo Việt Nam cũng sát cánh cùng đồng bào để bảo tồn văn hoá bản địa, đối kháng kẻ thù, hành xử theo khả năng và khuynh hướng nhận thức của riêng mình, tuy cũng có một số chư vị cao niên ẩn dật nơi sơn lâm để làm biểu tượng đạo đức duy trì giềng mối tâm linh cho quần chúng. Có những nhận xét sai lầm khi bảo những bậc chân tu đó là trốn lánh trần tục tìm nguồn vui cho riêng mình, về phương diện tâm linh, ngoại tướng tuy vô tác như thế, thật ra họ đóng góp rất nhiều cho xã hội bằng tâm lực gia trì, đó là lối hành xử vô vi.

Trong bất cứ thời đại nào, luôn có những bậc chân tu phát triển tâm linh đều ẩn tu, gia lực cho đất nước, đây là một đóng góp to lớn hơn cả những hoạt động mà mình thấy qua hành trạng!

Tại Hàn Quốc, Phật Giáo tuy bị đàn áp vào thế kỷ thứ 14, nhưng đến cuối thế kỷ 16, tu sĩ Phật giáo vẫn khoát chiến bào do một thiền sư lãnh đạo để cứu nguy đất nước trước cuộc xâm lăng của Nhật Bản. Chính Thiền sư Từ Minh Đường thay mặt chính phủ qua Nhật ký hoà ước giữa Nhật và Triều Tiên. Phật giáo Triều Tiên có công trong việc giáo dục phổ cập. luôn sát cánh cùng quần chúng, sau đệ nhị thế chiến, Tin Lành phát triển bằng phương tiện vật chất và tổ chức linh hoạt, nên Phật giáo phần lớn nhường sân chơi cho bạn, tuy nhiên, ngày nay PG Triều Tiên bắt đầu phục hoạt. Vào đầu kỷ nguyên XX, Phác Trọng Bân, người Hàn Quốc sáng lập Phật Giáo Viên, mở rộng giáo dục, giáo hoá, từ thiện, sản nghiệp, văn hoá, nông nghiệp, thương nghiệp, tiền tệ, báo chí, y dược…phát triển khá thành công. Một tổ chức cố vượt thoát tính thụ động của PG với xã hội. Với tiêu đề: Phật Pháp là đời sống, đời sống là Phật Pháp, vì thế tổ chức nầy chuyển tải Phật pháp vào đời sống thường nhật - vật chất và tâm linh song hành, rất uyển chuyển linh động; hiện nay phát triển ra cả nước ngoài. Gồm có 108 cơ sở , Tín đồ trên dưới 2 triệu và trên 10 ngàn nhân viên giới chức phục vụ trong hệ thống của Phật Giáo Viên. Tuy chưa tròn 100 tuổi và hết 30 năm dưới ách thống trị của Nhật Bản, thế mà hội Phật Giáo nầy phát triển bền vững và uy thế nhất hiện nay tại Hàn Quốc. Tổ chức nầy đã giáo dục và nâng cao mức sống quần chúng, đóng góp khá nhiều cho xã hội Triều Tiên .

Tuy chưa có một tổ chức vũng mạnh như Nam Triều Tiên, vì đất nước bấy giờ đang lâm chiến, PG VN bị động giữa 2 thế chế đệ nhất và đệ nhị Cọng hoà.

Cùng thời ảnh hưởng cuộc chiến thế giới thứ 2, Phật giáo Việt Nam tuy không rút sâu vào rừng núi như Nam Triều Tiên, nhưng việc hoà nhập không theo kịp Kitô giáo. Phật Giáo vẫn bàng bạc trong xã hội, hòa hợp với quần chúng trong khía cạnh tế tụng phần lớn

Tuy nhiên, lúc quần chúng còn là nạn nhân khốn khổ của chiến cuộc, một tu sĩ Phật giáo can đảm thành lập trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội để giúp dân xây dựng nhà cửa đổ nát vì chiến cuộc, giúp quần chúng có kiên thức vệ sinh và điều hướng tâm linh để họ có được an ổn trong niềm tin, nhưng , không thành, vì bạo lực không tha cho bất cứ ai!

Riêng Phật Giáo Hồng kông, tuy không có tổ chức quy mô như Nam Triều Tiên, nhưng PG cũng có nhà dưỡng lão, trường học, bệnh viện để góp tay cùng xã hội.

PG Thái tuy là quốc giáo, phần đóng góp xã hội khiêm tốn ở giáo dục khi bộ giáo dục đã lãnh phần đảm trách. Gần đây, HT Chamroon, chùa Thamkrabok, tỉnh Saraburi đã bào chế dược phẩm chửa trị cho chứng nghiện ma tuý. Tuy nhiên, nhà chùa là tụ điểm sinh hoạt của cộng đồng dân cư, hội họp. lễ lộc…

Tại Marylan, Phật tử Đài Bắc chung góp mua một Thánh đường Good Shepherd ở Reston làm cơ sở từ thiện. Đây là một tổ chức Phật Giáo có tầm hoạt động rất mạnh trên nhiều lãnh vực do một Ni sư tên Dhama Master Cheng Yen sáng lập, gọi là hội Từ Tế (Tzu Chi ) Đài Loan. Tầm hoạt động không thua Phật Giáo Viên của Hàn Quốc; Hầu như hội Tzu Chi có mặt khắp các lãnh vực trong xã hội. Giúp cho xã hội rất nhiều, và quần chúng cũng nhờ hội mà cuộc sống an cư lạc nghiệp.

Dhamapala không những có công chấn hưng Phật giáo Tích Lan, còn góp phần phục hưng cho Srilanka, giúp chính quyền trên nhiều phương diện xã hội.

Thiền sư Nhật làm giám đốc công ty phần mềm của Computer coporation, góp phần không nhỏ trong kỷ nghệ tin học thế giới.

Một số Phật tử trên các nước tiên tiến tham dự nhiều khóa tu thiền, đã đổi mới phong cách phục vụ cho nhiệm sở một cách hiệu quả.

Từ ngày Phật giáo có mặt và phát triển tại Âu tây, góp phần cân bằng tâm lý xã hội mà nhiều thế kỷ xã hội đã bị hụt hẩng, mất cân bằng giữa tâm linh và vật chất.

Những quốc gia mà Phật giáo chớm bén rễ, Đạo phong và văn hoá Phật giáo giúp nơi đó nẩy sanh niềm tin.
Một quốc gia cưu mang Phật giáo lâu đời, sinh khí Phật Giáo sẽ trở thành hơi thở của dân tộc đó xuyên qua chính trị, văn hoá, học thuật, nghệ thuật, nhân bản, và cá tánh đặc thù cho một dân tộc, biến thành tố chất của một dân tộc như các quốc gia tồn tại Phật giáo lâu đời hiện nay.

Như những quốc gia mà Phật Giáo đã đồng hành lúc thái cũng như lúc bĩ, Phật Giáo Việt Nam từng là điểm son để đất nước được độc lập an bình. Thời Bắc thuộc Phật giáo từng giúp vua đối đầu phương Bắc, thời Pháp đô hộ, ngoài tu sĩ tham gia cứu quốc, cư sĩ Phật giáo miền Tây cũng thành lập lực lượng chống Pháp. Từ Nam chí Bắc Tăng tín đồ đã lấy xương máu để tẩm tưới cho cây tổ quốc được sum suê.

- Những nhu cầu thời đại:

Qúa khứ như thế, hiện tại đứng trước những nhu cầu mà một quốc gia không thể là một vu đảo, Phật giáo phải làm gì và đóng góp thế nào? Đó là vấn đề đặt ra không chỉ cho PGVN mà Phật Giáo thế giới nói chung.

Cái quan tâm hiện nay của nhân loại về kinh tế liên đới tới dầu hoả, môi sinh, khí hậu, nhiệt độ gia tăng bởi hiệu ứng nhà kính, nước sạch, bạo động, vũ khí hạt nhân, băng cực tan chảy…

Phật giáo cũng đã có những cuộc hội thảo khoa học về môi sinh, hiệu ứng nhà kính, đó cũng chỉ là tiếng kêu giữa sa mạc.

Điều mà một số nước đang phát triển bị quốc tế lên án vế Nhân Quyền- Tự do – Dân chủ, Phật giáo vẫn chưa trả lời dứt khoát về những vấn đề nóng bỏng đó từng tiềm ẩn mà giáo lý Phật giáo đã cung ứng trên gần ba ngàn năm nay.
Do một quan niệm định chế tính xã hội, ý niệm về Nhân Quyền- Tự Do- Dân chủ cũng bị hạn chế từ đó, dẫn đến mỗi quốc gia có cái hiểu khác nhau về cùng một vấn đề, đưa đến hành xử cũng khác nhau, gây khó cho nhau.

Từ thời Đức Phật sinh tiền, khi nhận một đệ tử xuất gia hay giải quyết vấn đề liên quan đến Tăng đoàn, Phật thường hội chúng thỉnh ý, tôn trọng quyết định của đại chúng, tập quán đó vẫn còn duy trì trong các Thiền môn ,tu viện nghiêm túc chuẩn mực khi xét xử một sai phạm nào đó của một tu sĩ. Như vậy tinh thần Dân chủ đã sớm xuất hiện từ Giáo đoàn của Đức Phật. Tuy luật của Tỳ kheo tăng 250 giới, ni nhiều hơn một tí, 5 giới cho cư sĩ, thập giới cho Sa Di…đều là tiêu chuẩn tịnh hoá tự thân, tự nguyện thọ lãnh theo khả năng và phát lồ theo tự giác trong buổi Bố Tát, phải chăng đó là bản chất của Nhân Quyền đã có trong cộng đồng tu sĩ Phật giáo xưa nay? Thế nào là Tự Do? Một định nghĩa khó dứt khoát và rõ ràng; dẫu biết rằng Tự do không có nghĩa muốn làm gì thì làm, luật pháp xác định tự do trong khuôn khổ, đó cũng chỉ là một ước lệ, vì khuôn khổ tuỳ thuộc vào quy định của mỗi quốc gia, mỗi tập quán và mỗi thời đại. Anh có thể tự do đặt tên cho con mà không được phạm húy vương tộc. Anh có thể tự do biểu tình phản đối mà không xâm phạm an ninh quốc gia. Một quốc gia khác thì bảo anh chỉ được biểu tình khi có giấy phép…Tự do muôn hình vạn trạng như thế, nên không ai đồng thuận ai, luôn có sự chống báng nhau, bất hoà nhau.
Đối với Phật Giáo, Tự do được quan niệm thông thoáng và sâu sắc hơn: Tự do là mình không bị dục vọng khống chế. Tự do là mình làm chủ chính mình.Tự do là mình thoát khỏi màn vô minh. Tự do chỉ đúng nghĩa khi tuệ tri trong mọi hành xử…và đúng theo tinh thần giải thoát như Krishnamurti từng viết trong “Tự Do Đầu Tiên Và Cuối Cùng”cái tự do tuyệt đối khi hành giả chứng đắt và giải thoát. nghĩa là mình còn bị tác động, bị chi phối bởi tâm và cảnh thường tình đưa đến tham sân si phiền não…là chưa có tự do!
Tự do- Nhân quyền – Dân chủ như thế đều là tiêu chuẩn và tính chất chung của mỗi con người, làm gì có sự mâu thuẩn giữa các quốc gia, giữa những thế hệ và giữa những thời đại!

Muốn giải quyết rốt ráo vấn đề cơ bản nầy, Phật giáo phải có nhiệm vụ phổ cập vào đời sống quần chúng và xã hội học đường. Một khi nền tảng nhân cách được giải quyết thì vấn đề môi sinh- khí hậu – vũ khí -bạo động và những cơn khủng hoảng khác tự nó được hoá giải.

Bởi vì, do thiếu tinh thần trách nhiệm và lương tâm mà xí nghiệp phế thải chất độc hại.Do tham đắm lợi nhuận mà phá hủy môi trường. Do quyền lợi vật chất mà xâm chiếm gây chiến lẫn nhau.

Dầu hỏa không giải quyết rốt ráo vấn đề kinh tế.Vũ khí sinh học, hoá học, hạt nhân… không đe doạ được cực đoan bạo động. Chế tài, bao vây kinh tế không đem đến cho nhóm lãnh đạo cực đoan chùn bước; Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc không đem lại an ninh toàn cầu, vì thế mỗi ngày thế giới càng đi đến căng thẳng nóng bỏng do cơ bản những quan điểm chưa đồng thuận.

Liên Hiệp quốc từng chú trọng đến các nước chậm phát triển, thế nhưng lục địa đen vẫn chiếm phần lớn thân phận kẻ nghèo đói, suy dinh dưỡng. Ấn Độ từng làm cách mạng xanh, nổi tiếng về kỷ thuật phần mềm và một số lãnh vực khác, thế nhưng tiện dân vẫn còn quá nhiều cơ cực. Như thế, làm kinh tế không có nghĩa giải quyết được những vấn đề xã hội, nếu kinh tế không đặt trên nền tản đạo đức tình người, phân phối lương thực thiếu hợp lý, chưa nói đến nền kinh tế phồn thịnh của một số quốc gia tân tiến vẫn tồn tại những bất ổn thuộc tâm lý và đạo đức trong xã hội!

- Những tiêu chuẩn cơ bản của Đạo Phật:

Tinh thần Lợi Hoà đồng quân trong lục hoà của Phật giáo, hay Bố thí trong tứ nhiếp pháp của Đạo Phật là nền tản quân bình lợi nhuận của xã hội, là đạo đức cơ bản trong mọi phúc lợi của một đất nước.
Ngày nay, đối diện trước những vấn đề mang tính toan cầu, Phật giáo không thể thụ động co mình trên phương diện hoằng pháp: Ai có duyên thì đến với đạo, đến cầu đạo, đạo không phải món hàng cần đi chào mờ!i
Chính quan niệm đó mà Phật giáo trì trệ trước bước chân chủ động của những tôn giáo khác.

Ngày nay phát sanh quá nhiều vấn đề mà nửa thập kỷ trước không hề có, Phật giáo không thể thụ động : Bệnh đâu chữa đó, hữu cầu tắc ứng, hữu cảm tắc thông, công đâu đi làm chuyện thiên hạ! mà cần có phướng án ngăn chận trước khi những tiêu cực phát tác

Hoằng pháp lợi sanh của những thời đại kinh tế còn thoải mái, dân số chưa báo động, ngày nay cuộc sống đảo lộn mọi thứ, quan niệm đạo đức cũng xét lại trên bình diện lớn hơn thì phải Lợi sanh trước khi hoằng pháp, Đài Loan và Nam Triều Tiên đã làm, một bộ phận Phật giáo trong nước đang làm. Tịnh Độ cư sĩ đóng góp thiết thực trong cuộc sống song hành với việc tu tập, do đức Tông sư Minh Trí khai sáng năm 1934, sống và hoà mình giữa bệnh khổ của chúng sanh mà lập công bồi đức.

Trong lúc đất nước bị nô lệ, nhân dân điêu linh thống khổ, Phật Thầy Tây An xuất hiện năm 1849 trị bênh cứu dân, khuyến dạy nông nghiệp, chủ trương tự túc kinh tế để mà tu và giúp người khốn khó chứ không hưởng của bá tánh, vì thế có câu: Có thực mới vực được đạo.

Hiện nay, một số tín đồ Phật giáo tu tập theo tinh thần Di Lạc, cũng tự túc cuộc sống, áp dụng tinh thần Lục hòa, đem lại an vui cho huynh đệ và người chung quanh, ẩn tàng giáo lý vừa thực tế, vừa sâu nhiệm, gọi là Hỷ Tông.
không chủ trương phải nghèo khổ.An bần lạc đạo không có nghĩa phải sống cảnh nghèo, người Phật tử có quyền làm giàu để giúp đỡ kẻ khó,góp phần chấn hưng xã hội, riêng bản thân sống thì đơn giản, tri túc, luôn vui tươi!
Tại một số nước như Dài Loan, Đại Hàn, Phật giáo không còn quan niệm Cúng dường Tam Bảo, ngược lại, để PG đi vào quần chúng, phải là Tam Bảo cúng dường trước sự đói khổ của người dân, tu sĩ Phật giáo không thể bảo họ niệm Phật mà no.

Đó là phong thái nhập cuộc giúp đời của Phật Giáo ngày nay mà Tin Lành, Thiên Chúa Giáo họ đã thực hiện hàng thập kỷ vể trước.

Trước những vấn nạn toàn cầu, Phật giáo không thể chỉ thấy cộng nghiệp chi phối mà không có phương án chuyển hoá, vì giáo lý các tôn giáo Thần học không quán xưyến nổi vấn đề Tâm và Pháp như đạo Phật.

Một Phật giáo không chỉ giải thoát luân hồi cá nhân mà giải quyết luôn những bất cập trong hiện thực của cộng đồng sống. Một giáo lý xưyên suốt Tam giới chả lẽ bế tắt trước những vấn đề do con người tạo ra? Đó là những vấn nạn toàn cầu hiện nay, Phật giáo phải góp phần giải quyết. Sự đóng góp riêng lẻ cho từng quốc gia trong quá khứ mà Phật giáo có mặt, ngày nay đối diện với ngôi nhà chung của nhân loại, Phật giáo phải có tầm nhìn và phương án toàn cầu. Đó là trách nhiệm mà nhân loại ngày nay đang cần tới Đạo Phật.

Trong lục đạo, Phật giáo luôn có mặt;
trong tam giới, Đạo Phật vẫn song hành để giúp chúng sanh;
mỗi cảnh giới đều có vấn đề riêng của cảnh giới đó,
mỗi thời đại đều có nhu cầu của thời đại đó,
vì thế sự hiện diện của đạo Phật ắt phải đủ khả tính cho những vấn đề xã hội toàn cầu ngoài giải quyết tâm linh cá thể.
Phật giáo trong mọi thời đại phải đối diện nhiều thách thức để áp dụng giáo lý khả thi vào cuộc sống. Bởi lẽ, không phải sự có mặt của Phật giáo để đem nhân loại đến với Đạo mà Phật Giáo phải đem Đạo đến với nhân loại, có như thế mọi vấn nạn mới có cơ may hoá giải!



MINH MẪN
01/3/08

Phật Giáo và Tín Ngưỡng...


Cũng như hầu hết các nước nước Châu Á, Việt Nam có nhiếu loại tín ngưỡng truyền thống, tuy không có một tổ chức quy củ, nhưng vẫn tồn tại như một tục lệ, một thói quen; Chinh vì thế, khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam, ít nhiều phải hội nhập một phần những loại tín ngưỡng đó vào đời sống sinh hoạt thờ cúng của tôn giáo mình. Với tinh thần hoà nhi bất đồng còn gọi là Tùy duyên bất biến của Đạo Phật, Phật giáo không bị biến chất hay đánh mất tinh túy cơ bản, lý thuyết chủ đạo, để tồn tại và phát triển trên 2.000 năm nay tại mảnh đất ảnh hưởng nhiều tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau từng du nhập bởi Trung hoa và Ấn Độ, năm thế kỷ sau nầy, khi văn hoá tôn giáo Tây phương du nhập đến, Phật giáo cũng hài hoà cộng sinh như một phần máu huyết của tâm linh dân tộc. Tuy nhiên, trước nhũng sai biệt từ cơ bản giữa tín ngưỡng dân gian với giáo lý giải thoát của đạo Phật, một số tu sĩ trẻ xuất thân các trường Đại học Phật giáo, các trường giảng sư, tỏ ra lúng túng khi truyền đạt Phật giáo giữa vùng đất đầy dẫy mê tín dị đoan mà Phật giáo vốn xa lạ. Thật ra, tinh thần bao dung và cái nhìn vô chấp của Đạo Phật, những sai biệt đó chỉ là hiện tướng của Nhất thiết duy tâm tạo –tam thế duy tâm, vạn pháp duy thức, nắm được mấu chốt đó, đường chông gai chướng ngại là cơ duyên tạo thêm việc làm thử thách cho tâm chất người tu để hoàn thành tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự.

Trong các loại tín ngưỡng truyền thống như Bình vôi ông Táo, Thần Đa quỷ miếu…hiện nay chỉ còn tồn tại một cách mờ nhạt trong đời sống các thị dân; Những vùng nông thôn, bên cạnh các Chùa Phật còn có Đình Thần Miếu mạo, gọi là Tam giáo đồng lưu, đến độ lễ nguơn, quần chúng đều cúng cả ba nơi, không còn thấy sự sai khác cơ bản.

Hãy sơ lược qua một vài tín ngưỡng dân gian đang tồn tại ở Việt nam:
1/ thuở cổ sơ, trình độ quần chúng còn thấp, mọi hiện tượng hữu hình vô hình trong cuộc sống đều là linh thiêng, nên cổ nhân đã bái vật như Long-Lân-Qui-Phụng- trâu- cóc..mà một số đền chùa miền Bắc và Trung vẫn còn; từ đó nẩy sinh ý tưởng Rồng Tiên là thuỷ tổ của Việt Tộc. Ngoài động vật, còn tôn kính thực vật như Thần lúa, Hồn lúa, mẹ lúa…
2/ Khi trình độ tiến bộ, nẩy sinh bái Thần: Tổ tiên ông bà, Thần thổ công (Thổ Địa), Thần Làng ( Thành hoàng) Vương tổ (vua Hùng); Hà Bá; Ngọc Hoàng;
3/ Ngoài ra, trong dân gian còn truyền tụng một loại Tứ Thánh bất tử, đó là: Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử và Liễu Hạnh.

4/ Đến khi xã hội có sự nhận thức về giá trị của tự thân mỗi người, nền triết học nhân gian bắt đầu sản sanh ra một quan niệm Ba Hồn bảy vía trong mỗi con người, do ảnh hưởng của Đạo gia mà biết đến Tinh- KHí - Thần; do tam bửu nầy mà kết thành Hồn và vía, vía là sợi giây liên kết giữa thể xác và linh hồn. Quan niệm người chết, hồn đầu thai, vía còn phưởng phất nên tục thờ cúng người quá vãng đã phát sanh; tục lệ nầy đã thâm nhập vào nhà chùa rất lâu đời, khi mà Thiền Tông suy thóai, nhường lại cho Tịnh Độ phát triển. Cũng từ quan niệm Tinh- Khí - Thần trong mỗi người mà Đạo gia đã phát triển thuật luyện đơn theo Tiên đạo, vì họ quan niệm vũ trụ là Đại Châu Thiên, con người là Tiểu Châu Thiên, luyện Tinh hoá Khí, luyện Khí hoá Thần, luyện Thần hoàn Hư là thể nhập với vũ trụ, học thuyết nầy gần giống với Ătman và Brahman của Ấn giáo khi tiểu Ngã hoà cùng đại Ngã. Với pháp tu Tiên, chỉ xuất hiện trong các Đạo gia và thiền Môn, ít phổ biến trong quần chúng.

5/ Một loại tín ngưỡng khác được du nhập từ Ấn Độ, mà người Chămpa còn thờ phượng, đó là thờ ngẫu tượng Linga và Yoni, đây là biểu tượng của thần Hindu Shiva. Linga biểu trưng sinh thực khí của Nam, và Yoni biểu trưng âm, Linga cắm giữa Yoni là sự hoà hợp Âm Dương biểu thị sự hình thành, tạo dựng, tái sinh, phát triển. Nó không phổ biến trong tín ngưỡng người Việt kinh. Một Linga lớn nhất thể giới hiện nay tại Cát Lâm, Trung Quốc, cao 10m trên đồi cao 400m so với mặt biển. Ngoài các tỉnh miền Trung, phía Nam cũng phát hiện tại Đaknông do người dân khai hoang tìm thấy.

6/ Tam Toà - Tứ phủ: Tam toà là chỉ ba vị Trời cai quản : Mẫu Thượng Thiên, còn gọi là Mẫu Đệ nhất ( Thiên phủ).Tiên Thiên Thánh Mẫu, Tam thế sinh hoá, được sắc phong Chế Thắng Hoà Diệu Đại Vương mẫu Hoàng Công Chúa.
Liễu Hạnh Quỳnh Hoa công chúa( Mẫu đệ nhị) -Mẫu Thượng Ngàn (Bà chúa Thượng) –Sơn Lâm chúa Tiên. Quế Hoa Công Chúa,Lê triều công thần. Diệu Tín, Diệu Nghĩa thiền sư sắc phong là Lê Mại Đại Vương
Mẫu Thoải ( Bà chúa Nước).hay còn gọi là Mẫu Đệ Tam( Thoải phủ). Liễu Nghi truyền Thư. Thủy Cung công chúa. Bát Hải Động Đình Thần nữ Bạch Ngọc Thủy Tinh Xích Lân Long nữ Công Chúa.

7/ Tứ Phủ gồm có: Thiên phủ( miền trời) có Mẫu Đệ Nhất là Mẫu Thượng Thiên, cai quản bầu Trời.
Nhạc phủ ( rừng núi) Mẫu đệ Nhị ( Mẫu Thượng Ngàn) trông nom núi rừng
Thủy phủ ( sông nước ) Mẫu Đệ Tam ( Mẫu Thoải) giúp trồng lúa nước và nông nghiệp.
Địa phủ (đất đai) Mẫu Đệ Tứ (Mẫu Địa phủ ) quản lý đất đai. Còn gọi là Địa Mẫu.

8/ Từ lọai Tứ phủ trên, biến thành Tứ Pháp, thâm nhập vào Phật Giáo đổi tên là Man Nương Phật Mẫu: Thần Sấm ( pháp Lôi, thờ chùa bà Tướng ), thần Mây ( pháp Vân, thờ chùa Dâu), Thần mưa ( pháp Vũ, thờ chùa Đậu ), Thần chớp ( pháp Điện, thờ chùa Dàn ). Qua Tứ Pháp trên, ảnh hưởng vào Phật giáo miền Bắc khá sâu đậm.

Miền Bắc và một số nơi miền Nam, nhất là tại TP HCM, các chùa vẫn tổ chức hầu Đồng mà lại là các sư nam nhập cốt, gọi là Đồng cô, thường là các chùa người Bắc. Các miếu phủ tư gia cũng thường tổ chức chầu; Đây là loại giải trí của giới thượng lưu, vì mỗi lần tổ chức như thế rất tốn kém cho việc ban phát bổng lộc qua những mâm lộc tiền quả. Các đồng cô bóng cậu chuyên nghiệp, xem đây là một nghề sống do các con nhang chu cấp và những ai đam mê nhảy nhót theo điệu hát chầu văn. Họ tin vào các phần mượn xác để nhập có thể ban phát tài lộc, giải nạn, hộ trì…Hiện nay, các tư gia miền Bắc, kể cả một ít cán bộ có chức quyền đã lập đền, tạo miếu phủ.

Ngoài Tứ Phủ ra, có một loại nhập đồng mà không cần đền miếu, đó là xác đồng, dùng kêu gọi các hồn ma thân nhân quá cố. Hầu hết các xác đồng đều được gọi xác hội, vì rất nhiều phần nhập vào khi phần khác xuất ra..
Cầu cơ không được coi là đồng cô, nhưng người cầu cơ cũng có một linh điển nhẹ để vong hồn khác nhập cơ; Đây chỉ là trò giải trí lúc nhãn rỗi. Còn một loại cầu cơ cao cấp khác, đó là cầu cơ của Cao Đài mà xác cốt phải được huấn luyện theo một đời sống thuần khiết, khắc khe, vì phần nhập là Tiên Thánh chứ không phải ma quỷ: Cầu cơ thỉnh Tiên
Cầu cơ là một phương tiện Thông Công để giao tiếp với cõi siêu-linh sẵn có tại phương đông từ lâu đời. Vào năm 1902, Ngô Văn Chiêu đang làm việc tại Sài Gòn, có đến đàn cầu cơ tại Thủ Dầu Một để thỉnh Tiên cầu thọ cho thân mẫu và hỏi về tương lai, thì Tiên ông giáng cho ông một bài kệ khuyên ông lo tu hành ngày sau sẽ đắc đạo. Đến năm 1917 ông thi đỗ ngạch Tri huyện, nhằm lúc thân mẫu ông lâm trọng bệnh, nên ông đến đàn cơ Hiệp Minh ở Cái Khế, Cần Thơ đặng cầu xin thuốc, mẫu thân ông mạnh giỏi được vài năm, sau đó đau trở lại, ông có tới lại đàn cơ Hiệp Minh, lần nào ông cũng được Tiên ông giáng cho thi phú dạy đạo và khuyên Ngài lo tu hành. Cuối năm 1919 thân-mẫu ông qua đời, vào ngày 1-3-1920 ông được lịnh bổ đến Hà Tiên, khi đến nơi này ông thường lên núi Thạch Động cầu Tiên, thì có vị Tiên cô Ngô Kim Liên giáng cho mấy bài thơ, khuyên ông ráng lo tu-hành. ( Viki)
Từ những sinh hoạt tín ngưỡng siêu hình như thế, người dân phát sinh thêm một số tập tục lâu đời như đốt vàng mã. Theo Phật giáo và những nhà ngoại cảm, vàng mã không xử dụng được cho người quá cố, thế mà tập quán đó vẫn duy trì và các sư miền Bắc, một số miền Nam vẫn tiếp tay cho quần chúng tiêu phí một cách vô lý mỗi khi cúng kiến.

Sau khi miền Bắc được tiếp thu và chìm trong chinh chiến, Phật giáo không có cơ hội phát triển, chùa am không có các sư thừa kế, các vị giữ chùa thường là tuổi già hoặc các thương binh về chăm sóc; họ không có trình độ Phật học, cộng thêm đời sống tín ngưỡng Đồng Bóng sâu đậm đã len lỏi vào chùa, vàng mã là phương tiện để họ thể hiện lòng thành thương tưởng đến người quá cố; Nhất là trong cuộc chiến tương tàn, không nhà nào không có con em hy sinh, trước niền đau cửa nát nhà tan, máu mủ chia lìa, niềm trống trải cô đơn đau xót đó, họ phải tựa vào thần linh mà họ tin vào thế giới siêu hình, vẫn tồn tại, cho dù đang sống dưới mái nhà XHCN vô thần lúc bấy giờ. Thế mà làn sống tâm linh vẫn tồn tại bàn bạc trong quần chúng. Thậm chí, trong thời chiến, vẫn có những cuộc cầu cơ, hầu Đồng lén lút trong các gia đình cán bộ. Sau khi đất nước thống nhất, 1990, chính sách cởi mở hơn, quần chúng bắt đầu rộ nở tin ngưỡng công khai; Tam Toà Tứ phủ xưa kia bị kết án là mê tín dị đoan, giờ đây được xác nhận là loại tín ngưỡng truyền thống của dân tộc; do vậy, đã phát triển nhiều ở phía Bắc, trong Nam tuy không trăm hoa đua nở như vậy, nhưng vẫn nhiều hơn các tỉnh miền Trung; Có nơi, trong chùa cũng có đền Tứ Phủ, có sư tuy thọ Đại giới, vẫn làm Đồng cô, bởi họ lý giải là có căn duyên với các Thánh.

Thuở xưa, các bộ tộc theo mẫu hệ, tín ngưỡng của họ cũng biến các Thánh là Mẫu Nương. Bồ Tát Quan Âm là hiện thân nữ, vì thế Tứ phủ Tam toà đều được cai quản bởi chư Mẫu. Các Mẫu đó, khi vào Nam, đơn giản hoá thành Địa Mẫu. Đạo thờ Mẫu trong Nam sinh hoạt không rầm rộ, huyên náo bởi trống nhạc kèn như Tứ Phủ, mỗi tháng có ba ngày: mồng 8,18,28 quần chúng tụ tập tại chùa thờ Mẫu cúng kiến, có người được mượn xác nhập đồng về nói thơ, chữa bệnh; Tượng Địa Mẫu họ khoác áo thêu thùa, rồi tượng Phật Quan Âm cũng được họ trùm thêm áo cánh dơi, biến một vài chùa Phật giáo Nam bộ thành một sắc thái Địa Mẫu.

Những tập quán tín ngưỡng quần chúng tự phát như thế biểu hiện một trình độ nhất định qua từng thời đại; Từ đa thần, đến nhất thần rồi lại vô thần; Phật giáo trong xã hội như thế, tu sĩ ứng xử thế nào trước những đa sắc tín ngưỡng cho thích hợp mà vẫn không đánh mất bản sắc đặc thù của Đạo Phật?

Như đã xác định, những loại tín ngưỡng, tôn giáo hay học thuyết đều phản ánh sự nhận thức và đức tin của từng giai đoạn, nó có một giá trị nhất định của giai đoạn đó. Đến một giai đoạn phát triển, tự thân nó sẽ cải biến hoặc bị thải hồi. Phật giáo không bận tâm thay đổi hay phủ bác. Theo tinh thần nhà Phật, nếu một thực thể bất toàn, Phật giáo chuyển hoá cho thích nghi chứ không từ chối phủ nhận; Người xấu cần giáo dục sửa sai chứ không thể tiêu diệt, cũng thế, học thuyết, tín ngưỡng, tôn giáo nếu mang mầm móng hủy hoại sự sống, tha hoá tâm linh, phi đạo đức…thì chuyển hoá bằng nhận thức. Trước nhất, tu sĩ Phật Giáo phải nhận thức một hiện tượng trên cơ sở nhân văn để xác định hướng cải hoá theo nhân bản mà không có phán xét, kết án; Ví dụ, một tội phạm, không nên xét đoán, kết án theo cặp mắt của luật pháp mà có cái nhìn cảm thông, hiểu biết của lòng Từ, nguyên nhân phạm tội, bản thân phạm nhân, hoàn cảnh gia đình và xã hội…là những yếu tố tác động đưa đến hành động sai trái, thế thì giải quyết tận căn những nguyên nhân mới giúp cho tội phạm chuyển hoá; nhà tù càng làm gia tăng tội phạm.
Cũng thế, một giảng sư hoằng pháp, đem Tam quy ngũ giới vào quần chúng, không nên kết án hoặc phủ nhận tín ngưỡng quần chúng, cho dù tín ngưỡng đó có hại cho kinh tế và dân trí, mà phải chuyển hoá tín ngưỡng đó theo tuệ giác của nhà Phật.

Ngày xưa, một ngoại đạo hỏi Đức Phật: Tôn giáo tôi dạy lễ lạy lục phương để báo đáp ơn đất trời, thủy thổ. Đạo của ngài có dạy như thế không?. Đức Phật đáp: Có chứ, ta cũng có lễ lục phương, đó là tri ân tổ tiên ông bà cha mẹ,tri ân quốc gia thủy thổ, tri ân đàn na tín thí, tri ân thầy bạn, tri ân chồng vợ, tri ân Thánh hiền.
Một Phạm chí hỏi ngài:Giết cái gì để được ngủ ngon,giết cái gì để được vô ưu,Ngài giết cái gì mà mọi người xưng tán Ngài như vậy. Phật trả lời: Sát giận thì ngủ ngon, sát hận thì vô ưu, sân uế là gốc độc, diệt hết mọi ngọt ngào, các bậc hiền Thánh tán đồng việc sát ấy.

Những cổ tục của Ấn độ, được Ngài chuyển hoá một cách hợp lý và khoa học để cảm hoá họ. Cũng thế, việc đốt vàng mã là thể hiện tình thương đối với người quá cố theo trình độ nhận thức cạn cợt của quần chúng, một giảng sư không thể phủ nhận tình thương đó, nhưng hướng dẫn quần chúng chuyển hoá việc thể hiện đó theo phương cách nhẹ nhàng đơn giản hơn, thay vì đốt vàng mã, hãy giúp đỡ thân bằng quyến thuộc đang sống và đồng bào thiếu ăn để hồi hướng phước đó cho thân nhân quá vãng.Việc thờ các Mẫu theo Tam toà Tứ Phủ là thể hiện sự quy phục mẫu hệ, cầu đảo trước quyền năng thiên nhiên mà dân trí xa xưa chưa đủ lý giải; một giảng sư hay một trụ trì không phủ nhận đức tin đó, nhưng chuyển hoá đức tin đó theo lý giải Tam Bảo và Tứ Nhiếp pháp của Phật giáo. Địa Mẫu cũng thế, đất là bà mẹ cưu mang tất cả xấu tốt của con ngài là nhân loại; Thờ Địa Mẫu là tôn trọng hành tinh xanh, giữ gìn môi sinh sạch sẽ, tức bảo vệ môi trường.

Nghĩa là, cho dù tín ngưỡng, cổ tục lỗi thời, nhưng tính nhân văn của nó vẫn là tính nhân văn của mọi thời đại, có khác nhau là cách thể hiện mà thôi. Một số chùa không dám đi ngược lại truyền thống cũ, sợ tín đồ không đến chùa, nên tiếp tục dung dưỡng điều sai quấy trong chốn thiền môn. Vì quan niệm không đúng nên thể hiện việc làm không đúng, tính cơ bản về tình người vẫn không sai. Giáo lý đạo Phật cung cấp cho ta cái nhìn trí tuệ qua mọi hình thức trong xã hội. Phật giáo không cố chấp, bảo thủ cứng ngắc để xa cách quần chúng; cũng không mù quán bám theo đức tin lệch lạc của quần chúng để mình tồn tại. Đạo Phật phải hoà nhập để chuyển hoá xã hội, chuyển hoá tín ngưỡng quần chúng theo một tuệ giác chính đáng. Nắm được tuệ giác đó,Phật giáo đã từng hoà nhập, tồn tại và phát triển khắp nơi. Chính vì thế có nhiều đình miếu, đền phủ biến thành nơi thờ Phật, và các Thánh Mẫu, thánh cô lần lượt phong lên quả vị Phật, theo tinh thần Nhất Thiết chúng sanh giai hữu Phật tính.

Có như thế, nắm vững như thế, một tu sĩ không thấy có chướng ngại khi hoằng pháp, không bị chống đối bởi ngoại pháp, tín ngưỡng xa lạ với đạo Phật, mà còn hoà nhập, hoá giải đồng hành như từng đồng hành với Khổng và Lão giáo mà còn gọi là Tam Giáo Đồng Nguyên, không những đồng nguyên mà kết cuộc là Đồng Quy. Thế thì, Tam toà, tứ phủ, mọi hiện tướng tín ngưỡng của thế gian cũng chỉ là: Thế gian Pháp tức Phật Pháp nếu ta biết chuyển hoá. Hy vọng các giảng sư, các trụ trì nắm vững chiêu thức chuyển hoá nầy mà không bị chướng ngại trên bước đường vân du hành Đạo.


MINH MẪN
10/12/08

Phật Đản 2631 p.l 2511


Kỷ niệm năm thứ 2631 kể từ năm đức Bổn sư ra đời, PGVN đã tổ chức trọng thể Kính mừng Phật Đản năm 2551 Phật lịch tức năm 2007 tây lịch.
Mặc dù năm nay, GH trung ương không chỉ thị , nhưng một vài quận huyện tại TP HCM vẫn theo truyền thống, trần thiết xe hoa để cúng dường ngày đấng Từ Phụ có mặt trên tinh cầu nầy. Quận Hốc Môn cũng đã có ba chiếc, chùa Vĩnh Nghiêm một chiếc…sau khi dự lễ tại mỗi quận huyện và ngày rằm tại Vĩnh Nghiêm, xe hoa trở về đơn vị của mình qua các ngã đông dân cư, theo sau một ít Phật tử tháp tùng bằng xe hai bánh.
Điều đặc biệt năm nay, các đơn vị quận huyện, Phật tử tham dự khá đông; những người trước đây chả thấy đi chùa thì bây giờ có mặt tại buổi lễ với bộ cánh tươm tất nhất; hầu hết trên khuôn mặt mỗi người rạng rỡ và hãnh diện. Số cờ treo tại tư gia cũng gia tăng. Trên đoạn đường Thuận Kiều ngang qua bệnh viện Chợ Rẫy, hai hàng cờ phướng và lồng đèn theo kiểu người Hoa, chạy dọc các nhà dân, tuy nơi đây không có chùa, do Phật tử người Hoa trang trí. Một nhà dân tại đường số 7, Tân Mỹ, Hốc Môn cũng thiết lễ đài trước cổng chính với tượng Đản sinh, cờ hoa, thật trang trọng. Trong TP, một số đầu hẽm, tín đồ tự động treo biểu ngữ: KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN và giăng cờ như trước 1975 các khu lao động và chị em tiểu thương Phật tử đã từng làm. So với miền Trung thì Miền Nam thụ động nhất, thế mà năm nay, các tỉnh miền Tây cũng tung bay năm màu rực rỡ cờ giấy, cờ vải. Những nhà sản xuất bong bóng cũng in hình đức Bổn Sư đản sinh, nhất là tại TP HCM, bong bóng trúng mùa, vì thế bầu trời rải đầy đủ màu tung bay.
Sau buổi lễ chính tại Vĩnh Nghiêm, các chùa cũng tuần tự tổ chức.Chùa Già Lam, Gò Vấp, năm nào GĐPT cũng thiết trí lẽ đài rất đẹp, chẳng những thế, chương trình văn nghệ thật xuất sắc, múa Lân không thua chuyên nghiệp. Các đơn vị Gia Đình PT về đóng góp nhiều tiết mục mà các em thanh thiếu niên đã khổ công tập dượt, tuy trong mùa thi cử. Chùa Kim Liên quận 8, gần cầu chữ Y hàng năm đều được các ca sĩ, nghệ sĩ về góp vui chương trình văn nghệ cúng dường Phật Đản. Cách đó không xa, non một cây số, chùa Từ Hiếu của TT Nguyên Lý (GHTN) cũng được GĐPT trình diễn văn nghệ. Phần lớn chùa nào cũng thiết lập lễ đài tại TP HCM. Chùa Liên Trì của TT Không Tánh thuộc GHTN cũng trang nghiêm hành lẽ
Các tỉnh Cao Nguyên và miền Trung, BTS và các chùa tư đều hành lễ thật trang trọng; quần chúng tham dự rất đông, hoan hỷ và thoải mái vì là ngày lễ chính của đạo Phật mà miền Trung từ nhiều thế kỷ xem như truyền thống.

Những lễ Đản sanh mấy năm trước đây, quần chúng còn e dè khi treo cờ, đèn; tham dự tại các lễ đài do BĐD quận kêu gọi, họ còn miễn cưỡng, năm nay, phần nhiều quần chúng tự động tham gia, không những thế, phát tâm sắm sửa thực phẩm thiết đải Phật tử; tại cổng chùa Linh Sơn, sau thời lễ hoàn mãn, các bàn bánh trái đặt phía ngoài cổng chùa bố thí đại trà cho cả những trẻ em lang thang và người không nhà; đây là truyền thống tốt đẹp của người con Phật để kẻ khốn khó chia vui cùng ngày lễ PG.
Tuy nhiên, một số địa phương vẫn còn gặp trở ngại khi trưng bày biểu tượng của ngày lễ; hoặc BTS, BĐD các cấp vẫn chưa phổ biến sâu rộng tinh thần ngày lễ đến với quần chúng, nhất là TP HCM và các tỉnh phía miền Tây. Dẫu sao, năm nay đánh dấu một mùa Đản sanh với tinh thần thoải mái và tự nguyện cao trong quần chúng Phật tử, để trở thành một truyền thống chuẩn bị cho năm 2008 một cuộc lễ mang tầm quốc tế tại VN, và cũng bắt nhịp cho sinh hoạt PG trở lại nhịp nhàng như trước 1975 đã từng có.
MINH MẪN
04/6/2007

Phật Đản 3


Toàn thế giới, những người con Phật đều hân hoan đón mừng đại lễ Phật Đản lần thứ 2630 vào niên đại Phật lịch thứ 2550; nghĩa là 2550 kể từ khi đức Thế Tôn nhập diệt cộng thêm 80 năm ngài trụ thế.

Lần thứ 3, Liên Hiệp Quốc đứng ra tổ chức đại lễ Phật ĐẢN THẾ GIỚI; Lần đầu tiên VN được nhà nước cổ súy đón mừng đại lễ một cách long trọng nhất từ trước đến nay, vì, 1964, đại lễ cũng hoành tráng, nhưng chỉ phân nửa nước trong thời chiến, năm nay, từ Bắc chí Nam, trong niềm vui rộn rã, tất cả đồng loạt hưởng ứng lúc đất nước thanh bình; Theo ghi nhận chưa đầy đủ: TP HCM , xe hoa, có 60 chiếc; Quảng Nam có 65 chiếc; Daklak -14; komtum – 13; Bà Rịa V.T – 27; Khánh Hòa 23; Cam Ranh – 5; Thừa Thiên – 40, kể cả chiếc xe hoa ở A Lưới không về tham dự được; Mỹ Tho – 9;

Rất tiếc, chỉ thua Phật Đản năm 1964 một lể đài nơi công cộng tại bến Bạch Đằng, SG trước đây;
Hầu hết, quần chúng hân hoan nối đuôi đoàn xe hoa, mặc dù, có chỉ thị không cho cổ động viên tháp tùng; hai bên đường, Phật tử chấp tay khi đoàn xe đi qua, vài nơi có cổng ngọ môn và bàn hương án; một vài địa phương, có cả đoàn xe mô tô hộ tống...Daklak, vùng nghèo khó, đoàn từ Thiện PQ huyện Cưmgar cũng làm được 10 cổng chào, trang trí cờ tổ quốc, cờ PG,đèn và hoa…
Tại Hà Nội ông Phạm Thế Duyệt, chủ tịch Mặt Trận và bà Trương Mỹ Hoa, phó Chủ Tịch nước, có mặt trong buổi lể ở Sóc Sơn; TP HCM và các tỉnh thành đều có các quan chức đầu ngành tham dự. Một không khí tưng bừng, hoan hỷ của tín đồ PGVN bao năm chìm trong mặc cảm thua thiệt, giờ dây, chiếc giây neo được cắt bỏ, tâm hồn lồng lộng như những bong bóng trong buổi lễ,đua nhau bay vào không gian vô tận; Trong không khí thanh bình, một xã hội vươn lên, PG cũng được dịp hưởng ứng niềm vui chung của cả dân tộc!
Năm nay, cán bộ, viên chức Phật tử cũng được nghỉ lễ, và rồi đây, Quốc Hội sẽ xét duyệt sự đề bạt xem Phật Đản như một quốc lễ, toàn dân sẽ nghỉ ngơi vào ngày rằm tháng tư âm lịch .VTV2 cũng phát sóng vào tối thứ bảy ngày 13/5 và hai ngày kế tiếp về giáo lý Nhân Quả Công Bằng của giảng sư Thich Chân Quang.
Hầu hết các chùa phía Nam đều có chương trình văn nghệ mừng Phật Đản, hoặc do nghệ sĩ diễn xuất, hoăc được trình diễn bởi Gia Đình Phật Tử…Đặc biệt, tại Hà Nội, đội kèn đồng đã mở đầu chương trình bằng bản giáo ca: Phật Giáo VN của Lê Cao Phan mà trước 1975 PG xử dụng; giờ đây, giáo kỳ lẫn giáo ca đã hình thành một tổng thể hoàn chỉnh của GHPGVN mà trải qua thời gian dài khiếm khuyết!
Nghi lễ hầu như đều giống nhau về Mộc Dục và tán tụng, riêng chùa Phật Quang ở núi Dinh, có nhiều cải biến chúng ta cần noi theo: Chương trình hành lễ, kể chuyện về cuộc đời Đức Phật; không có tắm Phật; Phật Tử lần lượt vào chùa dâng hoa cúng Phật thay vì cắm nhang; tụng sám ngày Đản Sinh, sau đó làm lể Quy Y; Tất cả diển ra thật trật tự; Chùa kết hợp Nhạc và Lễ biến nghi thức thành một nghệ thuật mà cổ truyền chỉ thích hợp với thế hệ già nua; Sau thời lễ như thế, các chùa ngợp vì nhang khói, nhưng nơi đây,núi rừng thanh thoát, Đức Phật ngự trị giữa biển hoa từ những tấm lòng con Ngài dâng lên.

Từ Nam chí Bắc, PG hòa nhịp đúng chính sách nhà nước, nhưng, một vài nơi, cán bộ do không nắm bắt kịp sự cởi mở, cũng có người thành kiến hoặc đố kỵ tôn gíáo, làm sai chính sách, tạo bất mãn, ngờ vực cho dân; ví dụ quận 8 TP HCM, cấm chùa Kim Liên, Phổ Đà Sơn, Huệ Lâm giăng cờ qua đường,và tín đồ F 3 Phạm Thế Hiển không được treo cờ, trong đó có bà Phước nhà số 304/35k. Tại Đà Nẳng đường Hoàng Diệu; Ở Daklak, buông Huck, xã Cưmgar, công an xã có Ma Khách,Hồ văn Hòa, Thái, Khuê buộc chị Hoa gở tấm băng Kính Mừng Phật Đản, không cho treo cờ, theo những cán bộ đó, làm như vậy là: - tuyên truyền tôn giáo, sái pháp lệnh; -tư gia chỉ được phép trang trí trong nhà; tại thị trấn Quảng Phú, công an cũng buộc gở tấm biểu ngữ Kính mừng Phật Đản mà chị phủ lên bảng cafe Hoài Thương của chị. Tương tự như thế, nhiều địa phương cán bộ tùy tiện vô lý, người dân bảo đó là giặc phá hoại chính sách nhà nước.Rất may, nhờ phản ánh kịp, trung ương đã can thiệp thỏa đáng

Rút kinh nghiệm, nhà nước ngoài công văn chỉ thị, phải cho cán bộ tập huấn và quy định rõ phạm vi, vị trí treo cờ, để tránh tình trạng trống đánh xuôi, kèn thổi ngược.
Tại TP HCM, cuộc diễu hành xe hoa, tuy có quy định lộ trình thông qua buổi họp các Ban Đại Diện, nhưng hạ tầng cơ sở không có văn bản, và không cắt đặt các hướng dẫn viên tại các giao lộ, vì thế một số xe đã lạc đoàn. Thành Hội, Ban Đại Diện và các chùa không nhiệt tình hướng dẫn, phổ biến, giải thích cặn kẽ cho Phật tử hiểu, nên họ không dám treo cờ, sợ bị khó dể.

Dẫu sao mùa Phật Đản P.L 2550 cũng là một mùa đáng nhớ cho tăng tín đồ PGVN, và là mùa PHậT ĐẢN mà thế giới trân trọng, được công chúa Thái Lan SiRivannavari Nariratana, đích thân rạp mình xuống cúng dường chư Tôn Đức, có mặt vua sãi Thái, hơn 2000 đại biểu của 46 quốc gia, hàng vạn tín đồ khắp nơi trên thế giới vân tập. Chừng nào VN hân hạnh được đăng cai tổ chức Đại Lễ PĐ quốc tế như vậy, không những là niềm vinh hạnh cho PGVN, còn là niềm tự hào cho một quốc gia CS hòa nhập vào sinh hoạt văn hóa thế giới, quý trọng Đạo Phật như thế giới đã quý trọng.

MINH MẪN
13/5/06 PL 2550

Phật Đản 2549 - 2005


Phật Đản một lần nữa lại trở về trên quê hương, nhưng vào thời điểm lịch sử mà 30 năm trước đã có kẻ khóc, người cười, kẻ được tất cả, người mất tất cả, kẻ hoan hỷ, người hận thù đến tận gốc những sợi tóc bạc màu, nhưng trong buổi giao thời những bất toại tất yếu phải có, giờ đây, cuộc sống nhộn nhịp hơn, tiện nghi hơn, nhiều cái hơn của thập niên 1975 –1990, kể cả tệ nạn, tham ô, bệnh nan y cũng hơn hẳn thời chiến tranh khốc liệt.

Nhà nước VN tất bật tổ chức chào mừng 30 năm ngày giành thắng lợi, thống nhất tổ quốc, đồng thời đánh dấu giai đoạn đổi mới của đất nước, trong buổi họp chuẩn bị lể Phật Đản 2549 tại SG, cán bộ Tôn Giáo thành phố truyền đạt chỉ thị:- năm nay, để chào mừng 30 giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, PG có quyền tổ chức lể Phật Đản bằng khả năng tối đa, trên nguyên tắc, tôn giáo nầy không tự phát triển thì tôn giáo khác cũng phát triển...Thành hội có người phát biểu:sợ làm xe hoa sẽ kẹt xe, cản trở giao thông và tốn tiền...các quận huyện có ai muốn làm xe hoa và tổ chức Phật Đản? tất cả im lặng!
Trong những mùa P Đ trước, dù Thành Hội không chủ trương, một vài quận, huyện ngoại thành vẫn làm xe hoa, nhà nước vẫn không cấm cản, nhưng cảm thấy hạ tầng cơ sở quá năng nổ, Một vài nhân sự quyền hành trong Thành Hội sợ mất mặt, bèn chỉ thị cấm đóan, kể cả treo cờ PG. Năm vừa rồi, nhà nướic cho phép PG treo cờ mặc dù Ki tô giáo suốt 30 năm vẫn không gián đoạn việc treo cờ, làm hang đá ngay chổ công cộng, giăng cờ qua cả khu ngoại giáo; nhạc giáng sinh và chương trình văn nghệ vẫn nhan nhãn trên phương tiện truyền thông đại chúng , giờ nhà nước chính thức cho làm xe hoa và mọi hình thức chào mừng ngày Đức Phật Đản sinh, tuy là mới đối với PG nhưng quá cũ đối với Kito giáo trên mãnh đất nầy. Cái điều lạ, ai cũng biết Kito giáo là một tôn giáo mang nợ máu đối với dân tộc, rước voi dầy mã tổ, thế mà thời chiến tranh Pháp- Mỹ, không một nhà thờ nào bị dội bom hay giật sập, trong Nam cũng như ngoài Bắc, ngược lại đình chùa có nơi mất hẳn dấu vết một thời có mặt cùng với dân tộc; Nhiều chùa vùng ngoại biên từng là nơi cưu mang những người dân chạy nạn cuộc chiến, là nơi giúp con em biết đọc chữ quốc ngữ, từng cứu trợ thương binh, từng vào sanh ra tử với dân tộc, hầu hết từ xưa, cửa chùa là trung tâm văn hóa của nhân dân, tinh hoa của đất nước. Thiền môn từng là linh hồn dân tộc;thành trì bảo vệ lảnh thổ quốc gia...thế nhưng, cũng là điểm mà các thế lực xem như nguy hiểm, cản trở ý đồ chính trị, nên mọi cách cần phải loại trừ, hạn chế sự hiện diện của PG nơi công công càng nhiều càng tốt, thậm chí còn bôi bác, bêu rếu dưới nhiều hình thức như chương trình Gala cười là một ví dụ; vì thế, mang tiếng cùng với dân tộc tồn tại từ thời lập quốc, nhưng ngày lể P Đ không ai biết, ngày Giáng sinh chỉ mới hơn 400 năm tại VN, ai cũng quen thuộc điệu nhạc, hình ảnh, nhất là ông già Noel và cây thông biểu tượng.
Nhiều lý do để P Đ năm nay được tự do tổ chức, ngoài kỷ niệm ngày chiến thắng lịch sử, thống nhất tổ quốc, còn những vấn đề tế nhị về tâm lý và chính trị, nhất là sau chuyến hành hóa của Thiền sư, để lại cho nhà nước VN một ấn tượng tốt về một PG và hình ảnh tu sĩ chân chánh của PG mà đa số cán bộ trước kia đều hiểu PG một cách méo mó, xem nó như một loại tín ngưỡng dân gian thiếu khoa học, bị xem thường, không đáng trân trọng!
Gần 30 năm,PGVN không tổ chức được buổi lể P Đ mang tầm vóc quốc gia, trách nhiệm thuộc về giới lảnh đạo GHPGVN hiện tại, một phần do tính thụ động, một phần không muốn năng nổ sợ mích lòng bề trên, sợ ảnh hưởng chức vị quyền lợi, chỉ thị đâu làm đấy như một thừa sai, duy chỉ một vấn đề tự chủ động , đó là TIỀN, bằng mọi cách phải làm ra tiền mà không sợ mích lòng ai! Trong thời buổi ràng buộc bởi cơ chế nên thụ động đã đành, khi nhà nước tháo khoán, các sư cũng nhác tay và lo trước cái lo của nhà nước, sợ kẹt xe và sợ tốn tiền. Nếu các sư là cán bộ, hẳn là những cán bộ gương mẫu nhất! Dịp lể 30/4 kỷ niệm 30 năm giải phóng, từ Bắc chí Nam rầm rộ tổ chức, chắc hẳn tốn kém bạc tỷ và quần chúng hưởng ứng đông hơn cả ngày lể Phật Đản, nhà nước không sợ kẹt xe, không sợ tốn kém; Tiền đã vào túi, dù vào bằng cách nào, dù không đổ mồ hôi, không bỏ bỏ vốn liếng,thò tay rút ra, các sư cũng cảm thấy như rát ruột. Năm vừa rồi, nhờ sự năng nổ của thầy Nhật Từ, vài bản nhạc PG được rỉ rả trên truyền thanh truyền hình, thế nhưng, Thành Hội cũng chỉ chu cấp vài triệu để sau đó, thầy Nhật Từ vừa bỏ công lại bỏ của bù vào khoản chi phí nhạc lể đó cả chục triệu! Năm nay, có sự hứa khả của thầy Chân Tính chùa Hoằng Pháp, chắc chắn thầy Nhật Từ mạnh dạn tổ chức văn nghệ P Đ chu tất hơn, và Thành Hội không còn sợ tốn kém nữa ( một điềiu lạ, nếu cần một phong bì hàng chục triệu cho ai đó, các ngài vui vẻ trao hai tay mà còn cảm thấy hảnh diện, không đau xót như chi phí cho ngày Phật Đản )
Theo nguyên tắc, khi được nhà nước khích lệ tổ chức lể P Đ như vậy, thêm một câu khích tướng: Tôn giáo nầy không phát triển, tôn giáo khác cũng phát triển, đó là quy luật cạnh tranh, đáng ra chúng ta phải hồ hởi và tự ái,nhưng các sư không cần cạnh tranh, cha chung không ai khóc, miễn an phận là đủ; Người Phật tử đau xót khi thấy cái vô trách nhiệm của giới lảnh đạo PGVN ngày nay trước mùa lể trọng đại của PG; Thay vì chỉ thị các quận huyện mỗi nơi tùy khả năng mà tổ chức cho chu đáo, Thành Hội lại hỏi – có ai muốn làm không ! ngầm hiểu rằng đừng nên làm; mặc dù các vị đại diện quận huyện im lặng, không có nghĩa tất cả đồng tình để ngày lể chìm trong lặng lẽ, nhưng các ngài lặng lẽ chìm trong ngao ngán tính thụ động tắc trách của bề trên.Trên thế giới, mọi người con Phật cồ thể hiện tinh thần Phật Đản, nhất là những Phật tử tha hương, muốn tìm sự an ủi, ấm áp trong tinh thần đồng đạo; Tại miền Trung, nhất là từ Đà Nẳng ra Huế, tuy tài chánh hạn hẹp, năm nào cũng thể hiện sự trang trọng và hưng phấn cho buổi lể, tuy tín đồ ngheo tiền bạc, nhưng tâm đạo phong phú, tinh thần sung mãn, qua chuyến thăm quê của Thiền sư N.H. vừa rồi đã chứng tỏ điều đó..Ngoài xã hội, nhưng đứa con tha hóa mất gốc chỉ biết hưởng thụ ăn chơi, không hề quan tâm đến kỵ giổ cha mẹ ông bà, thậm chí xem đó là gánh nặng kinh tế, chỉ những đứa con mà không người đó mới vô tâm với cội nguồn, nhưng một tôn giáo, đạo đức làm nền tảng lại thiếu trách nhiệm với đấng cha lành kể cũng lạ. Chuyện khó tin nhưng có thật là những thiên tiểu thuyết nhiều tập trong PGVN ngày nay, không thể nói hết. Thành Hội không chỉ thị, ở dưới cũng không dám vung tay quá trán, sợ hậu quả, nhưng rất may, vẫn còn nhiều tu sĩ tuy không có chức năng quyền hạn nhưng có tấm lòng, vẫn âm thầm năng nổ góp phần trong những dịp lể quan trọng.
Xã hội VN đang cải thiện nhiều mặt, cố gắng xóa những tiêu cực, để làm cho bộ mặt VN sáng hơn trên trường quốc tế, nhất là Tôn giáo và tín ngưỡng, nhà nước muốn các tôn gíao tự do phô trương nhân dịp lể của mình, vừa mừng ngày trọng đại của đất nước, vừa chứng tỏ cho thế giới thấy cái tự do tôn giáo của VN hiện nay, vừa muốn khôi phục nền tảng đạo đức tôn giáo hầu góp phần giảm bớt tệ nạn xã hội mà nhà nước một mình không thể giải quyết, đó là một trong nhiều điều kiện để hội nhập vào WTO; Cũng dịp nầy, các tôn giáo khác ngoài PG, đang ra sức chen chân trong mọi ngõ ngách, thể hiện sự có mặt của mình trong xã hội,tìm một thế đứng trong trái tim nhân dân, trong cơ cấu nhà nước bằng những phương tiện vật chất dồi dào sẳn có, họ có tinh thần, có trình độ, có tổ chức, biết đâu VN sẽ là Philippines thứ hai nếu các sư nhà ta nằm chờ sung rụng, bởi lẽ hiện nay, quần chúng phần lớn thờ ơ với PG, không hiểu Đạo Phật là gì, cái hào quang 400 năm qua thời đại Đinh Lê Ly Trần chỉ còn trên sử sách, các sư quyền cao chức trọng đang ngái ngũ trên bả lợi danh.
Đản sanh năm nay, đức Phật cũng một tay chỉ thiên, một tay chỉ địa, nghĩa là trời ơi, hãy nhìn xuống mà xem bả lợi danh đang chôn sống đám đệ tử của Ngài.

MINH MẪN
Mùa Phật Đản 2549

Phấn Khởi Vesak 2008


Ba miền đất nước đã hồ hởi đón mừng Vesak 2008.

Thủ đô Hà Nội tổ chức Vesak mang tính hành chánh và nghi lễ nhiều hơn sắc thái tôn giáo.Diễn tiến Đại lễ tại Mỹ Đình thật hoàn chỉnh, nhìn trên mô thức tổ chức; Các đường phố đều treo bích chương, ít thấy bandroll và chả có một lá cờ ngũ sắc. Ngay cả chùa Quán Sứ là Trung ương Giáo Hội, cũng không có một lá cờ, tiêu biểu cho bộ mặt một tôn giáo. Một số chùa có trang trí nhưng chỉ trong phạm vi của chùa. Đã từ lâu. người dân miền Bắc chưa quen với lá cờ ngũ sắc của Phật giáo thế giới, nhưng khi chúng ta hội nhập với Phật giáo Liên hữu và các tổ chức Phật giáo toàn cầu, họ đều xử dụng chung một lá cờ, thì chúng ta cũng phải chấp nhận khi hòa nhập. Đại Hội kỳ 6 GHPGVN đã chấp nhận lá cờ đó trong Hiến Chương, không lý gì mà ngại xử dụng. Sân bay Nội Bài cũng phất phới giáo kỳ, sân Mỹ Đình cũng giương cao ngọn cờ Phật giáo, tại sao nội thị không hề xuất hiện tấm vải năm màu biểu hiện linh hồn của đạo Phật? Chả lẽ lá cờ đó chỉ để cho khách nước ngoài chứng kiến thôi sao!

Các tỉnh thành và quận huyện cũng thiết trí xe hoa trình diễn, tuy đơn điệu về màu sắc, nghèo nàn về mỹ thuật, cũng đã nói lên tấm lòng chung vui ngày ra đời của đấng cha lành. Các cụ, các thanh thiếu niên trong các đạo tràng và quần chúng tự phát cũng tham gia ngày hội tại Mỹ Đình ước chừng trên vài chục ngàn lượt người tham dự, nếu không bị hạn chế bởi thủ tục hành chánh,( vì Hội nghị Quốc tế chứ không phải lễ cộng đồng cho riêng Phật giáo ) có lẽ khuôn viên Mỹ Đình không còn chỗ trống.

Ra khỏi Mỹ Đình, không còn ai biết tại Hà Nội có một sự kiện lớn. Người dân vẫn tất bật kiếm sống; kẻ ăn chơi vẫn say mềm bên bàn tiệc. Cà phê phòng trà luôn chật ních tuổi trẻ; các shop buôn đủ màu sặc sỡ áo quần; công viên bờ hồ ngược xuôi khách bộ hành…

Qua một đêm xuyên các tỉnh xuôi Nam, trời rạng sáng đã thấy cờ đèn, biểu ngữ, bích chương chạy dọc hai bên đường cách Huế 50km. Càng gần Huế, sinh khí Phật Đản càng sôi động.
Xe chạy dọc sông Hương, dưới dòng nước trong xanh nổi bồng bềnh bảy hoa sen thật lớn màu hồng nhạt, giữa hai bờ. Cầu Tràng Tiền, Gia Hội đều phất phới cờ hoa. Các tư gia trưng bày vườn Lâm Tỷ ni, đèn, cờ chen nhau như người người chen đua dự lễ. Các táng cây từ Diệu Đế sang Đông Ba, xuất hiện nhiều hoa sen vải màu hồng bám trên nền xanh của cây lá. Một số ngả đường, khung sắt treo hoa sen, cao 4m, rộng 8m, bề dầy khoảng 3m làm thành cổng chào rất sáng tạo.
Từ Đàm, Diệu Đế, Thiền Tôn đều thiết trí lễ đài. Đêm 14 rạng rằm, thành phố Huế đã tắt nghẽn mọi ngả đường. Người tham dự ở đâu đứng đó, không nhích chân được nửa bước. 56 xe hoa dạo qua khắp phố, 25 thuyền rồng ngợp bóng sông Hương. Bong bóng bềnh bồng trên bầu trời đục mờ trăng trung tuần.Gíó từ lòng sông phả từng hồi xua bớt hơi nóng giữa rừng người có mặt. Những điểm chính cho Đại lễ, các chùa cũng rầm rộ kẻ đến người lui. Khách nước ngoài chứng kiến xứ Huế vào những ngày này, họ sẽ nghĩ Huế là kinh đô của Đạo Phật. Một thời, Huế được mệnh danh là trung tâm văn hoá của Phật giáo không ngoa lắm.Các công sở cũng cờ đèn lộng lẫy.

Qua khỏi đường hầm đèo Hải Vân, cảnh trí ngược hẳn Thừa Thiên. Phố phường im lìm, thoáng đãng. Cầu quay TP Đà Nẳng vẫn bất động trên giòng nước sông Hàn. Không một lá cờ để cho thấy ngày Phật Đản có mặt trên TP xứ Quảng. Một số bích chương cũng ngủ gật trên các trụ đèn. TP Đà Nẳng không thiêu tinh thần Phật giáo. Quần chúng Phật tử từng phấn chấn trước các phong trào, chẳng hiểu BTS Phật giáo Đà Nẳng phổ biến thế nào mà cả thành phố thiếu khởi sắc màu cờ. một vài nhà gần tỉnh hội trưng bày cờ hoa một cách ngại ngùng. Lễ đài nằm trên khu đất trống của công viên nước, cách xa TP vài cây số, đường về Ngũ Hành Sơn, thật đơn điệu. Từ đường vào lễ đài có cờ hoa, biểu ngữ, nhưng không che lấp được biển quảng cáo: Hàng Việt Nam chất lượng cao nằm chình ình ngay đầu cổng!

Phố cổ Hội An cũng ngủ quên trong ngày Đại lễ, chỉ trừ vài chùa tuy chưa ngủ quên nhưng chưa đủ thức để tạo cảm hứng cho quần chúng tham dự ngày vui.

Quảng Ngãi cũng lưa thưa vài căn phố giăng cờ. Một vài điểm có chút sinh khí ngày lễ. Hầu như lễ đài chính là phô bày sắc màu.

Khánh Hoà, lễ đài thiết lập tại chùa Phật Trắng, quần chúng tham dự tuy đông, nhưng so với dân số của tỉnh, chỉ là những lá cành rơi rụng. Nhiều đoàn Phật tử trang phục sắc màu xanh đỏ; ngoài đoàn thể GĐPT, còn có các đạo tràng của các am tự viện tham dự. Không hiểu tại sao BTS Khánh Hoà không xin được một vị trí rộng rãi hơn để quần chúng được thoải mái. Trên 20 xe hoa đến tham dự và đêm đó, sẽ diễu hành cho quần chúng xem vui! Dọc biển, có một cổng vòm hơi màu đỏ. Các bích chương cũng không khác các nơi, không kèm theo lá cờ trên các bích chương đó. Tuy nhiên, tinh thần quần chúng tham dự tại lễ đài Tỉnh hội cũng phấn chấn khác thường.
Qua Phan Rang, Phan Thiết, Đồng Nai, một vài nhà dân nằm lẻ loi trên khu đất cát trơ trọi, cũng lất phất cờ đèn tự chế biểu lộ tâm hồn mộ đạo giữa cái nghèo khổ khô khốc ven đường!

TP Hồ Chí Minh dĩ nhiên đèn màu phố phường đã chìm lấp những bích chương miễn cưỡng treo mình trên thân cây. Lễ đài chính tại sân bóng đá quân khu 7 dấu mình trong bốn vách rào, được thiết kế bởi nhà thầu, chuần bị sẳn, khi mặt bằng bàn giao, đã cấp tốc dựng lên một cách đơn giản; tầm vóc lễ đài TP cũng không hơn lễ đài huyện Hốc Môn, khoá lễ vừa xong, mọi người ra về là cánh cửa sân bóng đá đóng sập vội vã; tuy nhiên rất nhiều chùa cố gắng thể hiện ngày vui bằng cờ đèn, bandroll và lễ đài. Đặc biệt các bích chương do Việt Nam Airlines đã in thêm cờ Phật giáo, và một số đơn vị in cờ Phật giáo thành một bích chương kính mừng Phật Đản. Đây là một sáng tạo. Nếu tất cả hàng vạn bích chương từ Bắc vào Nam đều in thêm màu cờ Phật giáo thì việc quảng bá sẽ nổi trội hơn.

Các vùng Cao Tây nguyên, tuy Phật tử vất vả trong cuộc sống, nhưng không thiếu đèn hoa để đón mừng mùa Vesak.
Miền Tây Nam Bộ, các BTS cũng cố gắng chứng tỏ không còn thụ động ngủ quên như những năm trước đó,Châu Đốc nhộn nhàng bao nhiêu thì Long Xuyên trầm lắng bấy nhiêu.

Một số ít chùa không hưởng ứng ngày đại lễ nên không treo cờ, trang trí. Năm nay, nhìn chung , Phật Đản vẫn khởi sắc hơn 30 năm trước, nhưng vẫn chưa tương xứng tầm vóc của một đất nước đăng cai. Một số địa phương vẫn gây khó cho các chùa và tư gia thiết trí, việc nầy không chỉ lỗi ở địa phương, mà phần lớn ở BTS, BĐD Phật giáo thiếu năng động xuống các hạ tầng để làm việc với các cấp cán bộ cơ sở, một phần khác thuộc BTG không giúp cho các nơi đó nắm vững tinh thần công văn của Thủ Tướng chính phủ về Đại lễ Vesak. Bảo rằng đó là quyền lợi và nhiệm vụ của cán bộ Giáo Hội Phật giáo cũng chưa đúng, BTG có nhiệm vụ giúp đỡ Phật giáo thực hiện đúng chủ trương, chính sách nhà nước, thì tổ chức Đại lễ cũng không ngoài chủ trương, chính sách đó. Tuy không trọn vẹn 100%, cũng nói lên sự phấn khởi của quần chúng trong cuộc lễ nầy, và Việt Nam đã cho thế giới thấy được sự cởi mở của nhà nước đối với tôn giáo, không chỉ lúc nầy mà còn tiếp tục dài lâu.
Có lẽ họ quen sinh hoạt tôn giáo, nên cờ đèn chỉ có mặt trong bốn vách chùa, nhưng quên rằng đây là Vesak quốc tế, văn hoá nhân loại chứ không riêng của Phật giáo, phố phường cần phải hưởng ứng chung vui!
Đây là lần đầu tiên, nên các khâu tổ chức chưa ăn khớp, Ban Tôn giáo cần phối hợp với các cấp Giáo Hội nhịp nhàng hơn trong những dịp tới.
Lúc đói thì cơm hẩm vẫn ngon hơn, có lẽ!!!

MINH MẪN
19/5/08

Vatican đến Việt Nam


“Một phái đoàn của Giáo hội Công giáo La Mã đã đến Việt Nam để chuẩn bị thực hiện một loạt các cuộc họp với các nhà lãnh đạo ở Hà Nội trong lúc Việt Nam và Tòa thánh Vatican xem xét tới việc thiết lập quan hệ ngoại giao.
Theo tin của hãng thông tấn AP: phái đoàn do Thứ trưởng Ngoại giao Tòa thánh, Đức Ông Pietro Parolin, hướng dẫn đã đến Việt Nam hôm thứ hai. Theo lịch trình đã được ấn định, phái đoàn sẽ họp với các nhà lãnh đạo giáo hội Công giáo Việt Nam trong ngày thứ hai để bàn về các vấn đề nội bộ.
Sau đó trong tuần, phái đoàn sẽ họp với các giới chức chính phủ Việt Nam và đi thăm các nhà thờ ở 3 tỉnh miền trung. “
Sau chuyến viếng Vatican của Thủ Tướng Nuyễn Tấn Dũng, Pietro Parolin, Thứ trưởng Ngoại Giao tòa Thánh đã cùng phái đoàn đến làm việc tại Hà nội.
Dư luận xôn xao khi VN đến Vatican thì dư luận cũng hoang man khi Vatican đến VN.
Những hoạt đầu chính trị nương bóng Mỹ, kêu gọi Mỹ cấm vận VN, đưa VN vào danh sách CPC, nhưng Mỹ lại bắt tay với VC và bỏ cấm vận, đưa VN ra khỏi danh sách đáng quan tâm. Những tổ chức chống Cộng một phen thất vọng, có người còn lớn tiếng oán trách, lên án Mỹ đã phản bội như Tổng Thống Thiệu từng mắng Mỹ suốt mấy giờ trên truyền hình khi Mỹ bỏ rơi miền Nam VN,.trước lúc ông ta bỏ nước ra đi.
Cũng những tổ chức nương bóng Vatican để chống lại VN, kêu gọi Vatican đừng bắt tay nếu VN không tôn trọng tự do Tôn giáo và Nhân Quyền, hy vọng với áp lực của Vatican, có thể làm VN chùn bước, nhượng bộ, nhưng khi Giáo Hoàng tiếp Thủ Tướng VN bằng phong thái đon đả, thì phía VN vẫn ngồi thẳng lưng nghiêm nghị mà mọi người ngỡ rằng sẽ phải khom lưng trước Benedict 16. Gíáo Hoàng cũng xác nhận VN có tiến bộ về tự do Tôn Giáo. Một số Giáo dân và Linh Mục gửi thư yêu cầu Giáo Hoàng đặt điều kiện với TT Nguyễn Tấn Dũng nếu muốn bang giao với Vatican.
Nghe qua, tưởng chừng bang giao với Vatican là một ân huệ cho VN, ngỡ chừng VN được tòa Thánh chấp nhận cho bang giao là VN được tòa Thánh tiếp tế, bao bọc, cung ứng mọi nhu cầu, và hơn nữa chế độ CSVN sẽ được Vatican bảo lưu tại vị vĩnh viễn…
Khi Vatican tiến hành đàm phán với VN trên lộ đồ bang giao thì những kẻ chống đối càng một lần nữa hoang mang sợ sệt, ngỡ chừng mình lại bị phản bội như Mỹ vừa phản bội.
Hình như tòa Thánh không vì những tiếng kêu cứu bi thương đó mà xét lại bang giao, ngưọơc lại, chỉ có Vatican và chính phủ VN mới biết điều gì cần phải làm và tại sao phải làm..
Vatican nôn nóng VN sớm cải thiện chính sách đối với tôn giáo, nhất là Kito giáo, để sớm xét đến vấn đề bang giao, hầu tín hữu trở thành kiều dân Vatican, không bị lay chuyển lập trường như giáo hội ở Nga và Trung quốc, trể ngày nào, Vatican lo sợ ngày đó. Chính quyền CSVN khôn ngoan hơn, không như Balan hay các nước trong Liên Bang xô Viết trước đây; Khi dùng mọi áp lực quốc tế vẫn không lay chuyển được VN, tòa Thánh phải thay đổi chiến thuật mềm mỏng, đối thoại và bang giao, đó là sự khác biệt giữa thái độ chính trị của Kito giáo và các sư PG. Sự khôn ngoan đó đã giúp cho Vatican tồn tại hơn 2 ngàn năm qua. Riêng VN, vấn đề bắt tay với Vatican không hẳn là sự cầu lụy,vì ai cầu lụy với một đối thủ luôn lừa cách chôn sống mình. Có người nghĩ rằng VN đã đến lúc thoi thóp, vớ cái phao nào đở cái ấy; có người nghĩ cách khác, bảo rằng VN tham tiền nên bị mua chuộc bằng nhiều hình thức mà hình thức khôn ngoan nhất là trợ cấp cho gia đình họ một cách hào phóng., họ bảo nhà nước phần lớn cán bộ đều bị mua chuộc từ tung ương xuống các phường xã…Nhưng có người thoáng hơn, nghĩ rằng VN thường thể hiện tính lập dị với nước đàn anh Trung quốc và hào phóng ngoại giao để bảo vệ chính trị của mình, thỉnh thoảng vẫn tuyên bố Hoàng sa, Trường sa là của VN nhưng không hề khiếu kiện với tòa án quốc tế về chủ quyền của mình bị xâm phạm; chọn ngày tết ta trước tết Trung quốc một ngày…
Hẳn nhiên nhà nước VN có cái lý riêng của họ khi đặt vấn đề với Vatican; Cái trước mắt ai cũng thấy đó là say mê chiến thắng trên mặt trận ngoại giao đối với quốc tê, thế thì tiếc gì một Vatican khi an ninh chính trị đã vững vàn.
Một khi hai bên bắt tay làm việc tiến đến thiết lập Bang giao, nhiều vấn đề sẽ được đặt ra và nhiều điều kiện, yêu sách sẽ đề cập; Theo yêu cầu chung, tòa Thánh sẽ đặt vấn đề nhân quyền và tự do Tôn giáo nói chung, một số yêu sách biệt đãi cho GH và tín hữu Kito giáo VN nói riêng; Vấn đề tài sản GH bị chiếm dụng; vấn đề quyền hạn của VN đối với nội bộ Kito giáo. Thêm nữa, tu sĩ và tín đồ đang bị giam giữ, quản chế vì lý do chính trị hay bất cứ lý do nào. Đặc biết khu đất La Vang và vấn đề trùng tu xây dựng đền thờ La Vang; Vì thế, trước khi bắt tay vào làm việc với Bộ ngoại giao, Ban tôn giáo VN, Pietro Parolin đã phải tìm hiểu tình hình GHVN, lắng nghe yêu sách của Hội Đồng Giám Mục VN…Đi quan sát các tỉnh để thẩm định mức độ tự do Tôn giáo, nắm rõ thực chất của vấn đề cần đưa ra thảo luận.
Riêng VN, có quyền không cần đặt vấn đề Bang giao với bất cứ quốc gia nào, nếu thích, nhưng với 6 triệu kiều bào Vatican tại VN khác với 6 triệu tín đồ Kito giáo trong đất nước Trung quốc, vừa là lợi thế, nếu tinh thần yêu nước cao hơn đúc tin cuồng nhiệt, vừa là hiểm họa nếu họ chỉ biết đi theo tiếng gọi của Thánh cha mà 5 thế kỷ qua điều nầy đã được xác quyết.
VN muốn chứng tỏ bản lãnh thử lửa cho dù đã và đang gặp khó khăn với Kito giáo VN. Trên bàn cờ chiến thuật hiện nay, ai đủ khôn ngoan và bản lãnh, tất sẽ thắng; VN có quyền lực, Vatican có đức tin. Trong thời chiến, miền Nam có quyền lực, VC chiếm được lòng dân vùng xa, cho dù vũ khí không cân sức, nhưng họ đã thắng nhờ ngoại giao và tâm lý, ngày nay họ cũng dùng khả năng đó để thành công trong việc bang giao với mọi quốc gia; nhờ bang giao để VN ổn định và cân bằng vị thế trên chính truờng quốc tế mà không bị một quốc gia nào chi phối như một thuộc địa, dù sát nách với một chàng khổng lồ nhiều tham vọng.
Trong vấn đề bang giao với Vatican, không hẳn nội bộ VN đã đồng thuận, nhất là nội bộ Đảng CSVN, vì ai cũng thấy mối hiểm họa khi Vatican nhúng tay vào bất cứ quốc gia nào có tín đồ Kito giáo đang tồn tại, chỉ có một số ít cán bộ, đảng viên còn trẻ, chưa kinh nghiệm máu xương về tội lỗi của Kito giáo đối với nhân loại, hoặc một số mờ mắt trước mãnh lực của đồng dollar mới can đảm rước giặc vào nhà, nuôi ong tay áo; ngoài những lý do đó, chỉ có bản lãnh chính trị mới dám tham gia cuộc chơi đỏ đen mà trên bàn cờ là tay lão luyện ma mảnh có bề dày kinh nghiệm chính trị, có thành tích làm đảo lộn nhiều quốc gia, có tổ chức chặt chẻ được bao bọc bởi đức tin, có con dân đông nhất thế giới và tiền của quá dồi dào, nguồn kinh tế không bị chi phối như những quốc gia thế tục. Vừa là một quốc gia, vừa là một tôn giáo, Vatican có một ưu thế rõ rệt, vì thế, cái đối thủ đáng gờm của Vatican không phải là CS, nhất là CSVN mà là Hồi Giáo, tuy Hồi giáo không có những ưu thế đó, Hồi giáo chỉ có cuồng tín vì thế liều mạng, Vatican sợ liều mạng, vì anh nhà giàu nào cũng sợ mất mạng trước kẻ liều.
Khi VN bang giao với Vatican không hẳn liều mạng như Hồi giáo, không hẳn vì e sợ trước áp lực quốc tế, bằng cớ LM Lý vẫn bị quản thúc sau khi TT VN đi Vatican về, VN cũng chưa giải quyết vụ La Vang mặc dù đã cấp cho Phạm Minh Mẫn 100 mẫu đất tại Củ Chi và đáp ứng yêu cầu của Tổng Giám mục Thừa Thiên trước khi TT Nguyễn Tấn Dũng đi Ý…Có lẽ VN muốn có sự hòa hoãn giữa 2 bên, giảm bớt những thành kiến không cần thiết để con Chúa tại VN ngoan hơn, có trách nhiệm với dân tộc hơn, yêu nước hơn mà không dựa vào quốc tế để quấy rối; cái ngoan ngoãn hiện nay đối với chế độ, hào phóng với cán bộ các cấp, chấp hành mọi chỉ thị và đóng góp sốt sắng khi Mặt tận kêu gọi là thái độ khôn ngoan, nhà nước VN không có cớ để gây khó; nếu cần thọc gậy bánh xe thì đã có các sư quá khích sẳn sàng la lối đả đảo. Khi nhà nước tỏ ra tiến bộ hơn trước sự chống đối, thì có một vài con cờ thí nghiệm đứng đầu thành lập các đảng phái chống đối; khi nhà nước bắt bớ thì nhũng con cờ thí đó được xem là những kẻ tự phát, tòa Thánh ngoại giao xin ân giảm; nếu CS bó tay trước những cao trào thì nhiều phong trào khác sẽ phát triển như trăm hoa đua nở.
Cái bận tâm thường xuyên của Kito giáo là xóa CS khỏi cộng đồng nhân loại, ngoại giao chỉ là giai đoạn, bang giao chỉ là chiến lược chờ thời. Cái mục dích của Vatican là mở rộng lãnh thổ, đem Tin mừng phủ trùm nhân loại; phương Tây là cái nôi của Kito giáo từng ấp ủ cưu mang đức tin cũng như từng là nạn nhân thống khổ của quyền lực đức tin đó, giờ đây nhẹ nhàng chối bỏ vì đức tin không đủ thỏa mãn nhu cầu Tâm linh song hành với kiến thức khoa học thực dụng và thực nghiệm hiện đại. Do những thất bại đó, Vatican hướng về Đông phương mà tự nhận la trở về nguyên quán của đấng Kito. VN là mãnh đất mầu mỡ đức tin cũng như Á châu là vùng phì nhiêu Tâm linh; VN chưa bị khống chế bởi Hồi giáo, CS chỉ là học thuyết nhất thời mà Kito giáo mới là vạn đại, vì thế, bằng mọi cách, dù phải lòn tron giữa chợ như Hàn Tín, cũng chả sao, hạ mình để bắt tay với CSVN thì có gì phải ngại, tín hữu không thấy cái lợi về lâu về dài và thủ thuật của toà Thánh nên ồn ào thỉnh nguyện thư thế thôi. Đức Thánh cha là kẻ vô ngộ. làm gì có sai lầm mà phải lo!
Đỉều mà đôi bên đặt ra là không xen vào nội bộ của nhau, câu nói đó mang tính trừu tượng, thế nào là không xen vào nội bộ của nhau? Hai bên phải đặt ra một ranh giới cụ thể, vì ai cũng muốn bảo vệ toàn vẹn quyền lực của minh. Cái khó trước mắt là trả lại vùng đất La Vang khi mà PG cũng xác định đó là lãnh thổ của mình. BTS PG Quảng Trị và quần chúng PG cũng đưa đơn khiếu nại về vùng đất Thánh đó khi Kito giáo cậy vào quyền lực xâm lăng của Pháp để chiếm đọat và hủy bỏ ngôi chùa Lá Vằng để lập nên đền thờ Thánh mẫu. Tài sản đang tranh chấp thì khó mà cho phục hồi hoặc cho xây dựng. Các tài sản khác cũng thế, nếu trả lại cho GH KitoVN thì cũng phải trả lại co tất cả các tôn giáo khác tại VN đã bị trưng dụng, trong đó có VN Quốc Tự tại đường 3/2 TP HCM..
Về phía chính phủ VN, khi đặt bút chấp thuận bang giao, trao Đại sứ cho nhau, tức xác định lãnh thổ của Vatican tại VN cả hai phương diện: Địa lý lẫn tâm lý. Về địa lý, tòa Đại sứ ( Khâm sứ ) là lãnh thổ bất khả xâm phạm của Vatican trên đất VN, xác định tính hợp pháp của tòa Thánh tại VN, về tâm lý, tín đồ Kito giáo không những cảm nhận mình là con chiên tòa Thánh mà còn là Kiều dân của quốc gia Vatican. Một kiều dân bình thường khi vi phạm pháp luật VN thì y cứ vào luật pháp hoặc tầm vóc lớn không giải quyết được giữa 2 quốc gia thì phải cần đến Công pháp Quốc tế, có tòa án quốc tế, giải quyết, chuyện nầy ít xẩy ra. Nhưng một quốc gia cũng là một Tôn giáo thì khó tránh khỏi những nhập nhằng.. Ví dụ Lm Lý, vừa là chức sắc tôn giáo, vừa là công dân Vatican, vi phạm luật pháp VN, hành trạng là chính trị hay tín ngưỡng? Nếu là tín ngưỡng thì tại sao lập các tổ chức mang tính chính trị, nếu là chính trị thì sao yêu sách mang tính tôn giáo? Đây là cái khó mà không chỉ có thế! Một khi tín đồ cảm nhận sau lưng mình đã có GH bảo vệ thì tính ỷ lại cố hữu của con người, cái gì sẽ xẩy ra trong những tình thế khó xử giữa 2 quốc gia, giữa nhà nước với một tôn giáo??
Chuyện khó khăn nếu có, không chỉ trách nhiệm của nhà nước mà còn là nổi đau của một dân tộc từng là nạn nhân của Tin mừng suốt 500 năm qua trên đất nước nầy.Công lao Kito giáo đóng góp cho dân tộc thì ít mà tộc ác thì quá nhiều. Hy vọng tất cả sai lầm đó chỉ là quá khứ, một quá khứ không lặp lại cho dân tộc, dân tộc sẳn sàng mở rộng vòng tay ấp ủ mọi sai lầm của những đứa con vọng ngoại, nhưng có gì bảo đảm qua khứ không lặp lại khi Vatican chưa thiết lập bang giao với VN mà một số tín đồ đã lớn tiếng áp lực yêu sách với VN và thỉnh nguyện thư với Tòa Thánh?
Chả lẽ VN luôn bị cuốn xoáy vào cơn lốc xáo trộn cực đoan mà hàng ngàn năm dân tộc phải gánh chịu?


MINH MẪN
12/3/07