Chủ Nhật, 18 tháng 4, 2021

DẤU CHÂN THẦM LẶNG

 

Có người chưa bao giờ làm từ thiện, họ thắc mắc tiền đâu mà các người làm từ thiện quanh năm suốt tháng lấy đó làm niềm vui.Dù đại gia cũng chỉ xuất kho một thời gian đủ kiệt quệ. Vậy thế nào có thể kéo dài nhiều năm tháng???

Một tối, người chuyên dắt mối đến thăm các nơi làm từ thiện nổi tiếng trên face book, chuyện lạ là cứ phải đi vào giờ âm mới linh? Thật ra giờ dương họ là những công nhân làm thuê vác mướn đủ tám tiếng, từ thứ hai đầu tuần đến thứ bảy.

Căn nhà thuê mặt tiền đường Hai Bà Trưng thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, phòng trước, chả biết gọi là nhà kho,phòng khách hay phòng thờ. Bàn Phật Tam Thánh trang nghiêm trên khung giá dựa vào vách nhìn ra đường. Bên dưới ngổn ngang đủ loại tạp phẩm; thanh niên có, phụ nữ có, ngồi bệch dưới nền nhà đóng gói, dán nhãn như một công xưởng. Những gương mặt đầy sự hoan hỷ như sắp được lãnh lương khi đạt doanh thu của các công ty đa cấp.

Các em thanh niên là những công nhân miền tỉnh đến Bình dương. Sau giờ lao động trong các kho xưởng, thay vì ăn chơi như nhiều thanh niên khác, được bà chị mộc mạc mang hạnh xả ly, kết nạp vào “công ty từ thiện” với cái tên Đông Hưng; Thế mà càng ngày càng đông hơn mới lạ, đáng lẽ nên lấy tên  “đông hơn” mới xứng tầm.Một số bà chị, các cô cũng nhiệt tình  hơn cả việc nhà, phải chăng ông bà ta có câu  “ăn cơm nhà vác tù và hàng Tổng”? hoặc là “ việc nhà thì nhác, việc cô bác thì siêng”. Nhìn các tình nguyện viên sồn sồn, biết chắc là toàn bộ ở giá như cô trưởng nhóm chăng! Tại sao những công nhân làm tự nguyện hân hoan như thế?

Đang làm việc tại Cty CPCN Đông Hưng Dĩ an Bình Dương, con người mộc mạc chân chất xuất thân từ Long Xuyên thuộc miền Tây Nam bộ, lên Sài gòn không biết từ thuở nào, trôi giạt đến Bình Dương, thầm nghĩ, đời công nhân sáng đi làm tối về ngủ như con dã tràng hoạt động vô nghĩa, chỉ vì miếng cơm? Tâm Phật tánh thiện là hạt giống ươm mầm nhiều kiếp, nhất là dòng máu gốc Hoa, nơi mà nhiều đời tin Phật, cho dù trôi giạt nơi mô, cũng khó làm cho hạt gióng bị thui chột. Một ngày đẹp trời, cuối tuần, vài chị em rủ nhau đi chùa, trên tay vài trái cam, một nhánh hoa, rồi từ từ phát tâm cúng dường trường Hạ. Trên vùng đất tốt, cây lá sum suê thì tâm Phật cũng phát triển theo sáng kiến và khả năng, từ đó, một nhóm chị em chung tay san sẻ đến với bao cảnh đời bất hạnh.

Lặng lẽ hành thiện như một hạnh nguyện lâu đời, chị em nam nữ trong công ty trở thành cánh tay đắc lực giúp nhóm thiện nguyện Đông Hưng thành một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, có mặt khắp nơi trên mọi miền đất nước. Hữu xạ tự nhiên hương, mạnh thường quân các nơi góp phần cho các chuyến cứu trợ.Những chuyến di nhiều gian nan khổ nạn vào mùa lũ, các buôn làng xa thị thành, qua sông lội suối, mang từng phần quà đến tay đồng bào sắc tộc.

Cứu trợ cho dân, cúng dường các chùa, chẳng những thế, còn cung ứng cơm chay hàng tháng cho cư dân bản địa.Như thế đã đủ đâu, người phụ nữ độc thân còn bôn ba giúp dân mổ mắt; hỗ trợ chăm sóc các bệnh nhân cô độc, xây nhà cho dân nghèo…tất tần tật, nghĩa là nơi nào nghèo đến tận chỗ, nơi nào khổ có Đông Hưng.

Với tấm lòng Bồ tát cho dù nát thây cũng phải làm, thế bảo sao các chị em công nhân không vui vẻ chung tay giúp sức. Lương công nhân chỉ đủ ăn sau khi đóng tiền nhà trọ, thế mà đôi lúc họ  vẫn sẵn lòng góp phụ mọi chi phí. Những chuyến đi xa, bà chị trưởng nhóm, cho dù thâm vốn, cũng san sẻ phần tiền xe, đôi khi bao trọn gói cho những ai trong nhóm không đủ khả năng. Đấy, từ thiện từ trong ra ngoài. May là nhà thuê, chứ không thì cũng phải cầm cố cho sạch vốn, chịu chơi là chơi tới cùng, bản chất người miền Nam không cần thủ mà chỉ cần xả. Tính ra hàng năm, chi phí cho bao việc từ thiện không dưới một tỷ đồng Việt Nam, trên mười năm như thế, ai không biết từ thiện là gì, cứ đặt nghi vấn – tiền đâu ra?.

Nhà Phật có câu: “thâm tín chư Phật giai sung mãn”, cứ đem lợi lạc cho quần sanh thì phước báu tự khắc bù đắp vào. Phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật, đã là cúng dường chư Phật lẽ nào thiếu hụt vật chất để phụng sự chúng sanh. Hãy cho ra sẽ được bù vào, bảo thủ để hưởng thụ chẳng những hao tổn phước báu tự thân mà còn vô nghĩa cho cuộc sống.

Với lý lẽ như thế, người con Phật nói chung, và những tấm lòng vị tha đối với mọi người, luôn là tấm gương nhân hậu, ai cũng biết tên Loan Nguyễn đại gia trên Face book, lẽ nào cũng trên Face book không ai nghe tên Loan Huỳnh, người phụ nữ bản chất nông dân, đang là công nhân trắng tay mà lòng luôn trong trắng. Đấy, người phụ nữ lãnh đạo nhóm độc thân hóa thân thành từ thiện Đông Hưng, không những hành thiện bên ngoài, đã giúp cho các cô các chị có việc làm ý nghĩa trong cuộc sống, các em thanh niên không còn thời giờ tụ tập ăn chơi hư hỏng trong xã hội, còn biết lễ lạy trước tôn tượng trong căn nhà vừa là nhà kho, vừa là phòng khách, cũng là nơi cho các hành viên bái lễ hàng đêm.

Hãy gọi Loan Huỳnh là gì nhỉ???

 

MINH MẪN                                                                                                            19/4/2021








Thứ Sáu, 16 tháng 4, 2021

NGẮM MÂY

 

Thơ đăng trên tập sách văn học RA KHƠI, số 6, phát hành 4-2021.

NGẮM MÂY

Trần Huệ Hiền

Hôm nào ngồi ngắm mây bay

Chợt nghe lá rụng một ngày chớm xuân

Rồi đôi mắt ngó mông lung

Đồng xanh héo úa thành vùng hoang vu

Trời trong chuyển xám mây mù

Thoảng ngây thơ đã lu bù cuộc chơi !

Tay nào úp- ngửa đầy vơi...

Chân nào vấp ngã rã rời tháng năm

Trăng xưa ngỡ sáng; trăng rằm

Trăng nay ngỡ khuất; âm thầm gầy hao

Tình theo con sóng ra vào

Tội cho ghềnh đá thân đau ngậm ngùi !

Lặng nhìn mây thả buồn vui

Tụ tan sương khói vẽ trời hư không !

                                                            ***

Trần Huệ Hiền là nhạc sĩ hay thi sĩ?

Cũng khó mà phân định rạch ròi, tuy hai lãnh vực khác nhau nhưng điểm chung vẫn là một, cái một đó là một cảm xúc mà Phật giáo gọi là “xúc cảnh sanh tình”.

“Chợt nghe lá rụng một ngày chớm xuân” nếu là âm nhạc  – những chiếc lá là âm điệu rung động trên nền trời nhạc phiếm, chỉ hiển hiện lúc đối cảnh bất chợt.Nhưng hồn thơ không chỉ là bất chợt mông lung, hiện thực vẫn là “Đồng xanh héo úa thành vùng hoang vu”; Thế là gì hởi tạo hóa vô thường?

Tạo hóa cũng biết đùa cợt sáng tối, trong xanh rồi u ám bất chợt, đời người là bao trong lu bù cuộc chơi để có lúc phải rã rời theo năm tháng không hề bất chợt. Ngộ được mỏng manh kiếp người,là thế, thương cảm cho thân phận như thân phận ghềnh đá chơ vơ khi con sóng xô dạt xa khơi, chả phải trăng tròn để rồi khuyết đó sao?Tác giả ngộ được lý vô thường trần gian mà nhà Phật xác định – chỉ có đổi thay mới không thay đổi, tức là vô thường, vô thường trong từng sát na. Cho nên “Lặng nhìn mây thả buồn vui / Tụ tan sương khói vẽ trời hư không !”

Chỉ việc ngắm mây để thấy được buồn vui tụ tán trong nháy mắt, đau thương nào chỉ có mỗi mình ta!

Nhạc là cung bậc thay lời khoác vô thường lên sắc màu kiều diễm, thơ là tiếng nói nỗi lòng xúc cảm kiếp nhân sinh. Như vậy nhạc hay thơ vẫn gặp nhau một điểm cảm xúc, nếu cảm xúc được nuôi dưỡng lý đạo vô thường, không  than van sầu não mà là chất xúc tác tỉnh thức trước những cảm thọ vu vơ của tạp niệm.

Trần Huệ Hiền là một nhạc sĩ, một thi sĩ đượm chất đạo lý giác ngộ.Đặt vấn đề: Trần Huệ Hiền là nhạc sĩ hay thi sĩ, khác nào hỏi số 9 và số 6, đâu là đúng nhất hay sao!

Cái khác người, dù là nhạc hay thơ, Trần Huệ Hiền luôn là người biết đâu là thật đâu là giả, đâu là chân, đâu là vọng, từ đó, vẫn là thơ, vẫn là nhạc, nhưng với Trần Huệ Hiện nhạc và thơ không chỉ nhạc và thơ…

MINH MẪN

16/4/2021

Thứ Hai, 12 tháng 4, 2021

LẠI CHUYỆN NHONG NHONG

 Chưa sang Hạ, chợt mưa chợt nắng, cuộc trần gian luôn nặng kiếp long đong!

Nào Tịnh Viên Đường, nào Phong Tình Động, rồi  Động Phong Tình,Lầu Gió, rồi U Tình Cốc, Thong Dong am…đủ thứ địa danh trên cõi đời cho hồn phiêu bạt, qua những trạng thái cảm xúc đường trần.

Phong cách bởn cợt như là Bùi thi sĩ, đôi lúc tự hối, trách mình:”Rứa mà cũng tu với hành” (lời khai thị cuối cùng). 

“Trầm luân  chẳng sợ - ưa em” Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 6 đã là thế thì “ Đem chi giới luật chôn vùi qủả tim”.

Niết Bàn cũng thế, đường trần ngại chi, Lê Sa Đà không là Tế Điên hiện thực?, yêu thương cũng hiện thực bằng hành động thực hiện cụ thể: “Tặng hình bằng giấy, ích chi!...ước gì tặng trọn cả người … Đêm tâm sự-ngày đứng ngồi bên nhau…”

 Biết đâu trần thế thua chi Niết Bàn: “Trần gian ơi – đẹp quá chừng / Nhong nhong…Ta cứ tưng bừng nhong nhong”.

Thực và mộng,Cực lạc cũng là đây: “Được tiếp tục rong chơi cho đã/ Di Đà ơi – Tịnh độ đây rồi”, phải chăng bản chất nghệ sĩ cuồng và thiền sư chính tông cũng là một,bất cần đời, cái một vượt khỏi nhị nguyên biên kiến, bản chất hư hư thực thực do thức biến hoặc nhập pháp giới tánh hoặc thoát tam giới luân, chỉ là trò đùa với họ.

Cái can đảm của hai mẫu người trên là dám sống thật, dám nói thật, “lý sự vô ngại” cũng bởi sự sự tương dung theo tinh thần “nhập  pháp giới” của  Thiện tài đồng tử.Ngôn ngữ chỉ là phương tiện, hiểu được phương tiện của ngôn ngữ là hiểu được “ý tại ngôn ngoại” của ngôn ngữ thượng thừa.

Ai bảo Lê Sa Đà để sa đà vào hư đốn? trong sa đà đã ngộ lý vô sanh, nên, đôi lúc cũng biết “Cảm ơn”. – “Từ độ biết người ta thêm tinh tấn / ngày và đêm thao thức chuyện tử sinh / Cảm ơn tình, những phút giây hưng phấn /cảm ơn Đời,những hệ lụy vô minh”. Đấy, điên có lúc mà tỉnh cũng đôi khi, biết sa đà đôi khi còn dừng lại; Lê Sa Đà chỉ sa đà khi là chung rượu, hết sa đà chung rượu là ngữ ngôn. Vẫn ý thức được:…”Thì ra tâm vật là tương tức” ( Cảnh giới nào). Cho nên” “yêu em-mặc kệ-luân hồi / Niết bàn bỏ ngỏ / nụ cười niêm hoa / Lặng nhìn không thẹn Đạt ma / đâu là địa ngục – Đâu tòa Như Lai” (mặc kệ).

Sau bảy mươi năm dằn vật bời nghiệp tử sinh, oan gia thế sự; bức bách tù túng đời người; nghĩa vụ công dân,bổn phận gia duyên, bi quan thời cuộc, bất mãn và bất mãn,nào ngờ, vớ được mảnh ván Phật Pháp, tha hồ bơi lội như vận động viên chuyên nghiệp, đuổi bắt sóng xô…Hơn bảy mươi năm, như đủ nồng độ để nở hoa thơ văn.Khác nào Khương Tử Nha vui chơi bên sông Vị. Tuổi như thế đã xem quá muộn, nhưng cuộc tử sinh luân hồi miên viễn, thế chả phải là chín chắn tư duy?

Thi nhân họ Bùi lấy ngôn ngữ làm trò đùa tư  tưởng, Lê Sa Đà dùng ngôn ngữ thể hiện tâm tư; nói như thế chả phải là thế, cái giống nhau của họ là thế, - ”Nhất đa tương dung”, chớ vụng dại tin vào ngôn ngữ của họ để bị lạc dẫn vào nghìn trùng xa cách, mà phải cách xa để nhìn mới thấy vạn dặm dung thông.

Đời thực: “Điểm hẹn nguồn vui” “ Già hư” “Thèm” “Đồng Đế …ơi”  “ Người & ta”  “Nợ”  “Tặng”  “Vào Xuân”  “ Cảm hoài”…Tánh thiện: “Về một bút danh”  “Tịnh độ là đây”  : Hư …không!”  “Chộ”  “Chuyện nghe lõm của con Thạch sùng”  “Người về”…

Lê Sa Đà cố vùng vẫy thuờng tình để mặc vào lớp áo siêu thực mà trông cứ như rất thực. Cái khéo của bút thơ mang cả Đời và Đạo, luồn lách như đôi chân vững chải; lời thơ ý đạo có chi mô!

Nhong nhong rồi lại cứ nhong nhong!!!

MINH MẪN                                                                                                                          11/4/2021



Thứ Năm, 8 tháng 4, 2021

NGƯỜI CON BÁC ÁI

 






Sao không gọi là “Con người bác ái” mà là “người con bác ái” nhỉ?

Có lẽ người ấy xuất thân từ khốn khổ?

Có lẽ người ấy là dân quê tay lấm chân bùn?

Không sao, cho dù xuất thân thế nào, hiện giờ vẫn là ngôi sao sáng trên bầu trời Long Khánh. Người đầu tiên khởi xướng bữa ăn thường ngày cho dân nghèo với giá tượng trưng như là biếu không tại vùng đất không xa Sài Gòn là bao. Hai năm, tuy hai năm ngắn ngủi, nhưng là đoạn đường dài của những cuộc sống nhiều cơ cực; người ấy hiểu những bữa ăn cho cơ thể vận động, không chỉ vận động như cổ máy công nghiệp, dù là máy móc cũng cần xăng dầu, con người cũng thế, không chỉ là cơm mà phải có chút gì dinh dưỡng cho con người hoạt động tươi tỉnh hơn, thần khí có nhựa sống. Chính vì thế, từ thiện không có nghĩa bố thí vô trách nhiệm; thịt, cá, rau củ quả, người ấy liên tục thay món ăn để người được ăn cảm giác có bữa cơm gia đình với sự chăm sóc tận tình của những con người phát tâm làm việc thiện.

Nếu thế, chả có gì phải nói, người ây có đôi tay như mọi người, nhưng thiên biến vạn hóa như một “Bồ Tát thiên thủ thiên nhãn”. Thoăn thoắt đôi tay cùng chị em trong lò lửa giữa trưa nắng, cùng với chảo mỡ, người làm bếp cũng đẫm ướt như táo quân nướng người đứng bếp. Từ sáng sớm,thực phẩm đã dọn sẵn để chế biến nhiều màu sắc đẹp mắt song song với hương vị mát lòng.Xong cơm phục vụ cho đạo quân bán vé số, buôn ve chai, lao động phổ thông, ngay cả các em sinh viên học sinh nghèo…cho những ai nhận được phiếu ăn của bếp từ thiện; người ấy xông xáo vào bệnh viện, đến các căn nhà ọp ẹp, tìm hiểu những mãnh đời bất hạnh, những nghiệp quả lâm vào bế tắt, tìm một chút ánh sáng, một lối thoát nhỏ nhoi cho bao bể khổ mênh mông một đời người.

Qua vô số đời bất hạnh, người ấy không cầm được nước mắt khi nghe người con cản mẹ bán nhà lo cho mình, con nói,” bán nhà rồi mẹ sẽ ở đâu? Nếu con mù còn có thể đi bán vé số hai mẹ con cùng sống”. Người chồng mới 23 tuổi, vợ bỏ đi để lại đứa con vừa tròn nửa tháng.Nào u não, nào viêm loét tá tràng, nào ung thư  di căn..đời người có bao nhiêu cái khổ, người ấy nỗ lực bấy nhiêu để mong tát cạn mạch sầu. Biết rằng bể khổ mênh mông không sao tát cạn bằng đôi tay bé nhỏ, nhưng tấm lòng bao la của người ấy khiến đôi chân chạy đua với thời gian, không còn nhớ mình là ai, kể cả mình vẫn là con Chúa, mang dòng máu”sứ giả tình thương” thì lòng bác ái không còn đong đếm những gì đã cưu mang.Rất may, có những tấm lòng vị tha, chung tay góp sức chia xẻ với người ấy để thấy rằng đời vẫn còn đâu đó tình người.

Bầu trời đêm hôm nào tại góc vườn khu đất Long Khánh, “Nữ hoàng Thiện nguyện” như cánh hồng bay bổng giữa thực khách Tất niên, giờ đây, hóa thân thành Thiên thần mang niềm tin đến với niềm đau của những người bất hạnh; bóng người ấy như quen thuộc trong các bệnh viện, giữa khu dân cư ọp ẹp, người ấy vẫn là người thân của những mãnh đời cô đơn. “Nữ hoàng bác ái” hay “Người con bác ái” đang đưa tay vớt những bọt bèo nghiệp khổ của chúng sanh, song song với những chuyến cứu trợ các vùng cao, vùng sâu, và…còn bao nhiêu hạnh lành người ấy chưa từng từ chối.

Người vẫn là điểm sáng trên ngôi cao!

MINH MẪN  

08/4/2021

Thứ Bảy, 27 tháng 3, 2021

TRƯỜNG CA NGƯỜI PHỤ NỮ.

Thật bất ngờ, một cuốn sách mang tựa đề: “ Phật Việt Nam – dân tộc Việt Nam”, tưởng chừng khô khốc như vùng đất đầy sỏi đá trong lãnh vực biên khảo, hay ít nữa là luận án triết sử.

Qua ba chương, chỉ dừng lại chương ba nói về Phật Việt Nam, phụ nữ Việt Nam, tác giả lược qua những phụ nữ của Ấn Độ, Trung Quốc để làm nền cho phụ nữ Việt Nam nổi bậc trên nền trời Đông Á.Nếu thế thì chả có gì đáng nói; ngòi bút biên khảo bổng dưng nở hoa trong tâm tưởng của tác giả khi nói về người mẹ. Dù mẹ  của bất cứ nơi đâu, mẹ Mỹ, mẹ Âu, mẹ Ấn, mẹ Hoa hay mẹ châu Phi cũng đều là mẹ, được Việt Nam hóa thân vào mẹ rừng, mẹ núi, mẹ sông biển, mẹ đất đai, mẹ dân tộc…vì thế, ông cha ta đã tôn vinh mẹ “thượng ngàn, mẹ thoải ( thủy),Địa Mẫu Tứ Phủ trong đó đạo thờ Mẫu tồn tại và phổ biến tại miền Bắc, nhạc “chầu văn” được biến tấu vào Thừa Thiên-Huế, vừa mang phong cách hiện đại, vừa duy trì âm điệu truyền thống.

Tứ phủ bao gồm:

  • Thiên phủ, Mẫu Đệ Nhất (Mẫu Thượng Thiên) cai quản bầu trời, làm chủ các quyền năng mây mưa, gió bão, sấm chớp. Thần chủ đứng đầu trong Tứ Phủ.
  • Nhạc phủ, Mẫu Đệ Nhị (Mẫu Thượng Ngàn) trông coi miền rừng núi, ban phát của cải cho chúng sinh.
  • Thuỷ phủ , Mẫu Đệ Tam (Mẫu Thoải) trị vì các miền sông nước, giúp ích cho nghề trồng lúa nước và ngư nghiệp.
  • Địa phủ , mẫu đệ tứ, (Mẫu Địa) quản lý vùng đất đai, là nguồn gốc cho mọi sự sống.

Ngoài hệ thống “cộng đồng Tứ phủ” chính thống, còn vô số chi nhánh trực hệ các cô cậu nằm trong Tứ phủ, phần lớn đồng cô.Như vậy, chứng tỏ ông cha ta đã xem “mẫu hệ” là nồng cốt trong cộng đồng xã hội.

Lượt qua quá khứ Việt tộc, Chế độ mẫu hệ tồn tại ở cộng đồng người Chăm và một số dân tộc vùng cao thuộc Tây Bắc, Tây Nguyên. Ở Việt Nam, đã có bằng chứng về sự tồn tại của chế độ mẫu hệ trong văn hoá Bắc Sơn, thuộc sơ kỳ đồ đá mới, niên đại khoảng 8.000 năm trước. Với các di chỉ được phát hiện ở Hoà Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Ninh Bình, Quảng Bình…

Trước hết, huyết thống của Lạc Long Quân là được tính theo dòng mẹ. Cho nên mới có chuyện Lạc Long Quân, vốn là cháu ngoại của Động Đình Quân tức Thần Long hay Rồng Thần cai quản vùng hồ Động Đình ở phía Nam Trường Giang, nói với Âu Cơ: “Ta là giống rồng, nàng là giống tiên…”. Kế đó, tất cả các vị vua huyền thoại của thời lập quốc, từ Kinh Dương Vương Lộc Tục đến Lạc Long Quân Sùng Lãm và Hùng Vương, đều được lên ngôi trị vì trên địa bàn của mẹ mình ở phương Nam. Phối hợp các kết quả khảo cổ học, dân tộc học và truyền thuyết, chúng tôi cho rằng có cơ sở để đặt ra giả thuyết: trong giai đoạn đầu từ khi nền nông nghiệp lúa nước ra đời (khoảng hơn 4.000 năm trước) cho đến khi nhà nước Văn Lang thành lập (khoảng 2.700 năm trước), cư dân Việt-Mường là một cộng đồng mẫu hệ;Chế độ mẫu hệ cũng để lại dấu tích trong truyền thuyết họ Hồng Bàng nói về sự hình thành dân tộc Việt và nhà nước Văn Lang. Bóc tách lớp vỏ phong kiến được khoác lên truyền thuyết, hoàn toàn không khó để thấy rằng trước thời đại Hùng Vương, người Lạc Việt có thể vẫn còn theo mẫu hệ. Hiện nay, chế độ mẫu hệ vẫn còn phổ biến ở các tộc người thuộc ngữ hệ Nam Đảo (Austronesian) như Jarai, Êđê, Chăm, Raglai, Churu, cư trú ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, và ở các tộc người thuộc ngữ hệ Nam Á (Austro-Asiatic) như M’nông, K’ho, cư trú ở Nam Tây Nguyên liền kề với các tộc người Nam Đảo.

(TS. LÝ TÙNG HIẾU (Khoa Văn hoá học, Trường Đại học KHXH & NV TP.HCM).

Không riêng Viêt Nam, trên thế giới vẫn có những bộ tộc theo chế độ mẫu hệ như:

Cherokee, Choctaw, Sicewa, Seneca, Minotoan Gitksan, người Haida, Hopi, Iroquois, Lenape, người Navajo và Tlingit của Bắc Mỹ; người Kuna của Panama; Kogi và Carib của Nam Mỹ; người Negeri Sembilan, Malaysia; người Kuna của Panama; người Kogi,Minangkabau ở Tây Sumatra, Indonesia và Negeri Sembilan, Malaysia; Trobrianders , Dobu và Nagovisi của Melanesia; Nairs của Kerala và Bunt của Karnataka ở phía nam Ấn Độ; Khasi , Jaintia và Garo của Meghalaya ở đông bắc Ấn Độ; Ngalops và Sharchops của Bhutan; Hồi giáo và Tamils ở phía đông Sri Lanka; Mosuo của TrungQuốc; Kayah củaĐôngNamÁ, Picti của Scotland, Basque của Tây Ban Nha và Pháp; Ainu của Nhật Bản, Akan bao gồm cả Ashanti của Ghana; hầu hết các nhóm này gọi là "vành đai mẫu hệ" của miền trung nam châu Phi; Tuareg ở phía tây và bắc . 

Châu Phi (Bộ tộc Akan của Ghana)  Ấn Độ (Bộ lạc Khasi) Namibia (Quần đảo Owambos) Trung Quốc (bộ tộc Mosuo) Indonesia (Minangkabau)   Đài Loan  (Cộng đồng người Amis)  Thái Lan (Dân tộc Lào) (nguồn Wikipedia)

Trong những năm gần đây, các nhà sinh học tiến hóa, nhà di truyền học và nhà nghiên cứu sinh vật học đã đánh giá lại các vấn đề, nhiều trích dẫn di truyền và bằng chứng khác cho thấy mối quan hệ họ hàng thời kỳ đầu của con người có thể là mẫu hệ. Không phải vô cớ tượng Nữ thần Tự Do tại New York do Pháp tặng Mỹ,vào năm 1886 tại sao không tạc Nam thần mà là Nữ thần?

                                                     ***

 Như vậy từ xa xưa, cha ông ta đã biết tôn vinh phụ nữ; một phụ nữ đã làm nên lịch sử thuở bình minh của dân tộc như  hai bà Trưng.Một phụ nữ đầu tiên trong lịch sử nhân loại chống ngoại xâm, luôn đặc biệt hơn những phụ nữ chấp chính trên ngai vàng xưa kia và tham chính hiện nay như Theresa Mary May, Margaret Thatcher, Thái Anh Văn, kamala Harris, nữ Thủ tướng Indira Gandhi, Võ Tắc Thiên…

So sánh lịch sử  phụ nữ thế giới, tác giả tôn vinh chiến công hiển hách của hai bà, đồng thời đủ luận cứ bênh vực sự thất bại của hai bà sau ba năm chấp chính làm nên công tái tạo.

Từ đó, tác giả suy tôn bản chất phụ nữ Việt Nam: “ Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, có không biết bao nhiêu vị nữ lưu mới hôm qua còn là một phụ nữ đoan trang, thùy mị, mà hôm sau đã trở thành dũng tướng nơi đầu sóng ngọn gió của tổ quốc, xông pha nơi chiến trường, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, lấy xương máu của mình tô điểm cho giang sơn Đại Việt.”

“Nơi chiến trường,Mẹ hiện thân thành dũng tướng đi trong gươm đao bom đạn;ở nhà,Mẹ là nội tướng chăm lo cho mái ấm gia đình, cho chồng con.Khi người chồng lên đường bảo vệ tổ quốc, Mẹ ngày đêm mong mỏi, kiên trinh chờ đợi. Dù chồng đã hy sinh,Mẹ vẫn bồng con đứng đợi chồng về, quên thời gian, quên sự hủy diệt của vô thường…Hòn vọng phu là tượng đài về Mẹ Việt Nam…”

Như suối nguồn tuôn chảy, tác giả miên man ca tụng về phụ nữ Việt Nam, ca tụng về Mẹ, nói về Mẹ, chẳng những thế, còn dẫn chứng câu nói của Herman Hersse:”không có mẹ,ta sẽ không biết yêu. Không có mẹ ta sẽ không biết chết”. Từ đó, tác giả nói rằng:” Mẹ sinh ra đời không phải để được yêu mà là để yêu, để thương.Yêu thương tổ quốc, cha mẹ, chồng con”…

Từ những phẩm chất tôn quý của người phụ nữ, đại biểu người Mẹ, hóa thân Mẹ thành những Phật Việt như Phật bà – Phật Phấp Vân trong Tứ Pháp Phật thế kỷ II và Phật Bà chùa Hương thế kỷ XVIII.

…”Với ý nghĩa đó, hệ thống Tứ Pháp Phật: Phật Pháp Vân, Phật Pháp Vũ, Phật Pháp Lôi,Phật Pháp Điện: Phật Việt Nam được hình thành…Phật Pháp Vân, vị Phật nữ tính, hay còn gọi là Phật bà, Phật mẫu”…

Nếu xem các nữ Thần là Phật Việt, thì phải hiêu rằng đây là Phật giáo nội sinh hòa nhập tín ngưỡng bản địa, không còn phân biệt trọng Nam khinh Nữ, đó là tính bình đẳng của Phật giáo- không có Phật Nam Phật Bắc thì không có Phật Nữ Phật Nam.

                                                       ***

Trong một thời khắc tổ quốc lâm nguy, giặc đến nhà đàn bà cũng đánh thì tinh thần trách nhiệm thế tục cũng như tính dẳng giác trong Phật giáo chỉ còn giá trị chung là con người, khả năng con người trước trách nhiệm và khả năng thăng hoa. Tác giả tuôn trào cảm xúc trước đặc tính cao đẹp của phụ nữ Việt Nam, đủ đánh bạt ý tưởng trọng nam khinh nữ ăn sâu trong xã hội, đồng thời nói lên tính bình đẳng trong giáo lý nhà Phật.. Phải chăng, đó là lý do để tác giả dồi dào cảm xúc trong chương III nói đến hai Bà Trưng, và Phụ nữ Việt Nam luôn tồn tại những đặc tính ưu việt?

MINH MẪN                                                                                                       

 27/3/2021

 



 

Thứ Sáu, 26 tháng 3, 2021

HÀNH GIẢ - HÀNH TRẠNG và HÀNH TRÌ

Nếu không xem Phật giáo là một tôn giáo, những ai đến với Đạo Phật, được xem là một hành giả chọn con đường tiến đến giải thoát, bởi vì, ngoài đẳng cấp Nhân-Thiên, là hành trạng tô bồi thiện nghiệp cho quả vị phước báu, vẫn còn trôi lăn trong tam giới.

                                                  ***

Hầu hết, căn cơ đại chúng thường chỉ nương tựa vào tha lực, vì thế, van xin, cầu nguyện, bái vọng… biến Phật giáo thành một tôn giáo nhiều lễ nghi phức tạp; duy chỉ có Phật giáo Bắc tông, ảnh hưởng lễ tục Nho gia và đức tin truyền thống địa phương, dĩ nhiên vẫn tốt hơn “nhất xiển đề”, từ đó biết tạo thiện nghiệp, bố thí, phóng sanh, làm lợi ích cho xã hội; nhân tốt hữu lậu tất sanh phước hữu lậu, không thể cầu toàn giải thoát nếu không thực hiện sâu vào hoán chuyển tâm thức.

“Phước Trí nhị nghiêm” là hạnh nguyện Bồ Tát đạo. Hành thiện mà không tu huệ, đó là quả vị “Nhân Thiên”, kết quả giàu sang, sung túc vật chất, chưa thể đi đến giải thoát. Chuyên hành trì tuệ giác mà thiếu vun bồi gốc rễ phước báu, danh từ chuyên môn gọi là “càn huệ địa”, vùng đất tuệ giác khô khốc như hoa mọc trên đất nắng hạn. Có những hành giả chuyên tu miên mật, ít được cúng dường, đây là kết quả thiên về tu huệ bỏ quên hành phước.

Chúng ta đang nói về những hành giả cưu mang công hạnh Bồ Tát đạo, đang thâm nhập vào thế gian, vừa hành trì mật pháp, vừa tế độ nhân sinh.Phẩm nhập pháp giới trong kinh Hoa Nghiêm,nói về công hạnh của Thiện Tài đồng tử cầu pháp 53 vị Thánh hạnh, từ Thánh quả đến tục đế, có nghĩa từ hữu hình đến vô hình, từ tục đế đến Thánh đế đều cầu học, thâm nhập mọi lãnh vực; học đủ tất cả về sắc pháp, tâm pháp và phương pháp hành Bồ Tát đạo. Trong đó, có cả ngũ minh:Thanh minh,Công xảo minh, Y Phương Minh, Nhân Minh, Nội Minh.
Hai vị chủ đạo hướng dẫn cho Thiện Tài đồng tử là Bồ Tát Văn Thù tiêu biểu cho trí tuệ và Bồ Tát Phổ Hiền tiêu biểu cho  đại nguyện.

Pháp giới không chỉ là hiện tượng vũ trụ, còn là pháp tánh, là chân như, là bản thể tánh giác, là pháp thân thường tại.Hành giả thâm nhập pháp giới là nhập vào tánh giác, đi từ tục đế tiến đến chân đế. Kinh Kim Cang nói “Như Lai, tức vô sở tùng lai, diệt vô sở khứ, cố danh Như Lai”.đó là pháp tánh.
“Phóng chi tắc cai la thế giới, thu chi tắc tế nhập vi trần” (Buông ra thì trùm khắp pháp giới, thâu lại thì nhỏ hơn vi trần), nên pháp giới là tâm của vũ trụ, đồng thới cũng là tâm của con người. Theo Kinh Hoa Nghiêm: 1. Sự vô ngại pháp giới: 2. Lý vô ngại pháp giới: 3. Lý sự vô ngại pháp giới.sự sự vô ngại pháp giới. Lý và sự là phản ánh tâm thức, tâm thức căn bản vô hinh vô tướng, do đó lý sự đều vô chướng ngại trên đạo lộ hành trì. Pháp giới là đối tượng phóng tâm của thức, Duy thức gọi là “Tam thế duy tâm, vạn pháp duy thức”

Do giả thuyết ngã pháp
Hữu chủng chủng tướng chuyển
Bỉ y thức sở biến
Thử năng biến duy tam

(Do giả thiết ra ngã và pháp, mà có các hiện tượng sai khác. Tất cả hiện tượng  đó đều do thức chuyển biến phát sinh. Thức năng biến nầy có ba loại: thức Dị thục, thức Tư lương, và thức Phân biệt các đối tượng

Ý thức thường hiện khởi
Trừ sanh vô tưởng thiên
Cập vô tâm nhị định
Thùy miên dữ muộn tuyệt

(Ý thức thường hiện khởi, chỉ trừ khi sinh lên cõi trời Vô tưởng, khi nhập vào Vô tưởng định và Diệt tận định, lúc ngủ mê, và khi bị chết giấc (năm trường hợp trên đây ý thức không hiện khởi tác dụng).

 Thị chư thức chuyển biến
Phân biệt, sở phân biệt
Do thử bỉ giai vô
Cố nhất thiết duy thức

 (Do các thức chuyển biến sinh khởi ra năng phân biệt và sở phân biệt; chính các pháp nầy đều không, cho nên tất cả là Duy thức.)

Vì thế Thiện Tài đồng tử đầu tiên gặp Bồ tát Văn Thù tức đầu tiên khởi sự hành trì là “căn bản trí, tức trí tuệ .Được hướng dẫn thông qua mọi thể trạng chân và tục đế, sau đó Thiện Tài đồng tử đến bái lễ đức Quán Âm, khởi phát tâm đại bi phổ quát. Đây là tâm từ căn bản của mọi hành giả cũng như chư Thánh giả. Khi hành giả kinh qua mọi cảm nghiệm trong cuộc sống, chọn một pháp hành để hướng nội”nội quang phản chiếu”; dùng trí tuệ hướng vào nội hành để lắng nghe mọi cảm thức, mọi hạt giống tham dục , mọi kiết sử, hóa giải nghiệp thức bằng sóng âm tự tánh hay còn gọi là âm thanh nội tại; khi âm lực phát triển thì mọi cảm thức, mọi chủng nghiệp dần bị bào mòn đến khi căn bản thức biến thành bạch tịnh thức, thì trí tuệ còn gọi là ánh quang minh phát sinh. Ánh sáng của tuệ giác hay âm thanh nội tại cuối cùng là một. Đạo gia gọi là “vạn thù quy nhất bản”, đây chưa phải là điểm cuối khi chúng còn là một; vấn đề đặt ra là “nhất quy hà xứ?” Còn trụ lại một là còn điểm vướng của tâm thức
Kinh Hoa Nghiêm nói đến 10 loại thân là nói đến hiện tượng và bản thể.


1. Chúng sanh thân 
2. Quốc độ thân
3. Nghiệp thân
4. Thanh Văn thân
5. Duyên Giác thân                                                                                                   6. 6 Bồ Tát thân                                                                                                                                  7. Như Lai thân
8. Trí thân
9. Pháp thân
10.  Hư không thân: Thế giới thường tịch quang hay Tỳ Lô Giá Na thân.

Trong tiến trình hành trì của Bồ tát đạo đạt đến giải thoát, phải kinh qua lắm trạng huống là:

Hoan hỷ địa (tâm ý hoan hỷ) 2. Ly cấu địa (xa lìa phiền não) 3. Phát quang địa (trí tuệ chói sáng) 4. Diệm tuệ địa (trí tuệ rực rỡ) 5. Cực nan thắng địa (vô cùng khó khăn mới đạt được) 6. Hiện tiền địa (chân như hiển hiện) 7. Viễn hành địa (đi xa) 8. Bất động địa (không lay động) 9. Thiện tuệ địa (trí tuệ diệu dụng) 10. Pháp vân địa (mây pháp che khắp cả muôn loài chúng sinh).

Sở dĩ Kinh Hoa Nghiêm phân tích tỉ mỉ là biểu thị trạng thái tâm từ tục đế đến chân đế. Từ tướng đi vào tánh. Vì thế Văn Thù là trí tuệ,Phổ Hiền là công hạnh. Tướng tánh viên thông, nhất đa tương dung.

                                                   ***

Hành giả vẫn sống trong đời mà không bị  đời lôi kéo, bởi thế gian pháp tức Phật pháp. Thâm nhập vào đời “nhập pháp giới” của Thiện tài đồng tử là hạnh tu tích cực, vừa độ đời, vừa chuyển hóa nghiệp thân; tiếp nhận mọi thế sự mà không nhiễm sự thế; Phải chăng, đó là pháp hạnh nội quán, luôn lắng nghe nội tại cũng như lắng nghe niềm thống khổ của chúng sanh, sau khi tiếp nhận sự giáo hóa của 53 vị giáo thọ, Thiện Tài đã đến với hạnh Quan Âm là đoạn đường hành trì quyết định của một hành giả để thoát khỏi tam đồ ác đạo, nhân quả luân hồi?

MINH MÂN                                                                                                             26/3/2021





Thứ Ba, 23 tháng 3, 2021

AI VỀ ???


Con đường đó, đất đỏ Bazan dẫn đầu 10% diện tích toàn quốc, cho cây cối xanh tươi và lôi cuốn dân cư miền ngoài chọn nơi đây làm quê hương thứ hai để cuộc sống phong phú hơn, ấm no hơn. Năm tỉnh Tây nguyên, đa phần miền Trung, sau 1975 thêm một số di dân phía Bắc, nhưng riêng Buôn Mê quy tụ giới trí thức Phật giáo một cách tình cờ, lạ kỳ như rồng gặp mây. Chả ai bảo ai, chả ai tìm đến ai, bổng một sớm nắng lên, phủ ấm khí lạnh rừng xanh,nhìn mặt nhau, nhận ra nhau là anh em đồng Đạo cùng sinh hoạt dưới mái chùa đơn độc, mái chùa duy nhất do cư dân miền Trung tạo lập, làm điểm tựa tâm linh, dần sau đó, lô nhô vài thảo am lớn dần thành ngôi Tam Bảo lan tỏa khắp núi rừng Buôn Mê; rồi đoàn thể áo lam,rồi đạo tràng tu tập, rồi văn hóa Phật giáo thành hình bởi những tâm đạo, những trí thức, những nhạc sĩ, văn nhân, làm thành vùng đất văn hóa Phật giáo gương mẫu miền cao Trung nguyên; trong đó, Vô Ưu trở thành tiếng nói đại biểu cho năm tỉnh, có một vị trí xứng tầm suốt hơn 20 năm tồn tại.

                                                ***

Chưa có tạp chí Phật giáo nào trong nước lan tỏa khắp phố thị, nhất là Sài Gòn, đủ sức cuốn hút chư tôn đức, văn nghệ sĩ Phật giáo tại vương quốc “hòn ngọc viễn Đông” để ngày xưa đoàn Trung Tâm VHVNPG Nhất Chi Mai & VNSPG phải lê gót lên dự “18 năm Vô Ưu” năm nào,  tồn tại và phát triển.

Vô Ưu bấy giờ vỏn vẹn BBT đếm trên đầu ngón tay, do anh Tạ Nam Trân “chủ soái”. Giờ đây, Phan Bá Sĩ, Lê Tất Sĩ, Nguyễn Tiến Thảo, Trịnh Dung, Thu Cúc…dưới sự điều hành, chủ biên  TT T Giác Phổ, chung tay cho Vô Ưu trở thành Phù Đổng, vươn vai ngút ngàn tận mây xanh; chả những thế, được TT T Chành Tài, viện chủ tu viện Phước Hoa, Long Thành hậu thuẩn, khích lệ, đôi lúc bao tiêu khi Vô Ưu bị “bội thực”.

Nhân ngày chung thất trai tuần của cố nhạc sĩ Phật giáo Hằng Vang. Kỷ niệm 80 năm của lão tướng chủ soái Vô Ưu, đoàn Trung Tâm VHVNPG Nhất Chi Mai & VNSPG, do TT Huyền Lan tổ chức, lên vùng đất Bazan tỏ tình thâm ân pháp hữu với hai sự kiện lớn, thêm những nghĩa cử đối với nhạc sĩ Phật giáo lão thành Phan Phan Nguyễn, các cộng tác viên Vô Ưu và những thân hữu đạo tình gắn kết Phật sự như đất đỏ Bazan khắn khít với hoa màu nuôi sống dân cư.

Anh chị em miền cao rất ư hiếu khách,  gia đình cố nhạc sĩ Hằng Vang và Tạ gia trang vô cùng hậu hỷ đoàn, chẳng những đầy cái bụng mà còn no lỗ tai do đàn con của cố nhạc sĩ ngẫu hứng vang ca nhạc khúc “gia tài của ba”. Họ say sưa như chưa bao giờ được trổ tài nghiệp dư, ôi, những con công khoe sắc giữa trưa hè…rồi quà cáp đáp đền ân nghĩa; ngỡ chừng quà kỷ niệm từ Sài Gòn lên, sẽ nhẹ xe lúc về, trái lại, xe vẫn đầy không khác lúc đi lên. Gia đình cố nhạc sĩ tặng đoàn bao ca khúc, thì đoàn cũng tặng lại buổi buffet tại Tạ gia trang. Con chim Họa Mi của Vô Ưu (Thu Cúc) với tài nghệ chuyên nghiệp của nhạc sĩ kiêm ca sĩ, nhạc ngoại lẫn nhạc nội đã làm sinh khí bữa tiệc ấm hẳn lên. Thợ Lặn của Phước Hoa  (Tâm Tuệ), ngàn năm một thưở, cao hứng thế nào cũng góp phần nhạc khúc của đứt (đứt khúc) và Võ Lâm Chi (Chi Hải sản) cũng mạnh dạn hơn cả lúc chào hàng cho công ty. Nhà thư pháp Thụy Quang (trung tâm rắc rối) bảo là hai con cóc nay đã khai khẩu, có lẽ đời sắp tới thời Hoàng Kim chăng? Cái anh chàng nhạc sĩ kiêm nhạc công cứ phải rà tông như cua bò đua với rùa trên bãi cát, Giác An không cần nói lái mà phải tội, do tính lề mề chuyên trễ hẹn nên được  bí danh”có gì mà phải vội”. Tuy thân tình với “”đại tướng” Đặng Công Ninh, vẫn bị Đại tướng phê bình cực gắt, thế mà tính nào tật đó, thật dễ thương! Buổi lễ mừng thọ 80 năm của anh Tạ, cô “sữa non” (Đỗ thị Yến Linh) chuồn khỏi cao nguyên đất đỏ ví số đỏ hơn đất cao nguyên khi nghe tin người nhà sớm bỏ trần gian  đoàn tụ với ông bà.Anh chàng “pháp Hoa kinh” ( Chúc Linh), cũng góp vui nhạc phẩm chuyên đề kinh Pháp Hoa mà chàng ta đang đầu tư công sức tán dương. Cây tre miễu nuôi lớn nhờ thơ (Hạnh Phương) mủm mỉm, thỏ the như gái đôi mươi đã làm cộng đồng mạng ngỡ chừng ni cô tuổi tròn trăng, cứ rù rì trọ trẹ đâu đó trên bàn tiệc.Cái anh chàng “nhấp nháy” Quang Hải phải lăng xăng suốt để chớp vài kiểu chuyên nghiệp, không cần ăn, chỉ cần chớp.Còn phu nhân của chàng “nhấp nháy” là cô “yêu meo”, đến nhà Trịnh Dung thấy mèo như vớ phải của, không cần chủ đồng ý hay không, cứ ôm nựng cho đến khi con bé không chịu nỗi, vùng vẫy mới buông tha. Con “bé ròm” (Bich Tiên) say mê muốn thành nhà báo chuyên nghiệp, phải suốt ngày ôm máy quay chỉa về thiên hạ. Đấy, đoàn văn nghệ sĩ Phật giáo thành phố SG, trung tâm văn hóa văn nghệ Phật giáo Nhất Chi Mai đã nổi danh trong chuyến về miền gió hú năm 2021. Chả biết, rồi đây, 2 năm nữa kỷ niệm Vô Ưu 25 năm, đoàn sẽ nổi danh kiểu nào nữa, nhưng dù kiểu nào thì TT viện chủ và nữ thí chủ công ty Hán Linh phải nai lưng gánh nợ.

                                                    ***

Một chuyến đi được TT Huyền Lan hoạch định tỉ mỉ đầy tình nghĩa, không bỏ sót ai trong BBT Vô Ưu, cộng tác viên, nhạc sĩ có công với Phật Giáo. Giao kết với chư Tôn đức trong Giáo hội Buôn Mê, đã gắn kết thâm tình đạo nghĩa người con Phật vùng cao với văn nghệ sĩ PG Sài Gòn, trung tâm văn hóa văn nghệ Phật giáo Nhất Chi Mai. Ngoài thâm tình đạo nghĩa, những món quà vô giá đến từng nơi đều lưu dấu Phước Hoa. Ước gì mỗi tháng có một chuyến đi dài ngày như thế, cho dù phải đem thế chấp sổ đỏ tu viện Phước Hoa, anh em cũng hả dạ, sáng mắt ta, tối mắt người…

MINH MẪN                                                                                                                    24/3/2-21  

  ( KỶ NIỆM CHUYẾN ĐI VỀ MIỀN ĐẤT ĐỎ CÓ GIÓ HÚ QUANH NĂM)