Thứ Sáu, 30 tháng 12, 2016

* PHÂN BAN NI GIỚI VÀ HỘI NGHỊ TỔNG KẾT


Sáng 30/12/2016, tại v/p 2 trung ương GHPGVN - Thiền viện Quảng Đức, phân ban Ni giới đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác Phật sự năm 2016, dưới sự chứng minh của HT. T.Đức Nghiệp, phó pháp chủ, HT. T.Thiện Nhơn - chủ tịch HĐTS T.Ư và một số chức sắc trung ương Giáo Hội. Các viên chức an ninh, nội vụ tôn giáo cũng có mặt. Gần 200 chư tôn đức Ni và đại biểu Ni giới tham dự.

Phân ban Ni giới trực thuộc Ban Tăng sự, ra đời và nổi bậc nhất qua sự kiện đại hội "CON GÁI ĐỨC PHẬT"vào năm 2010 tại Sài gòn, quy tụ hội chúng tỳ-khưu-ni và cận sự nữ Nam-Bắc tông khắp thế giới trên 200 vị về tham dự. Rồi đây, 2017 cũng sẽ chuẩn bị cuộc tao ngộ những người 
"CON GÁI ĐỨC PHẬT" tại Tỉnh Bình Dương.

Ni giới Việt Nam, qua các thời kỳ sinh hoạt nội bộ, cũng như xã hội, đã chứng tỏ tính năng động không thua chư Tăng. Tuy hoạt động như thế, nhưng về mặt tâm linh hành trì, chư Tôn đức Ni cũng đã tỏa sáng những bậc chân đức như sư bà Diệu Không, sư bà Hải Triều Âm... mà trong quá khứ, chư Thánh Ni đã làm rạng danh nữ tu trong giáo đoàn của Phật như:

•    Ni trưởng Mahā Pajāpatī Gotamī (Vị Ni trưởng thánh hạnh và gương mẫu)
•    Tỳ-khưu-ni Yasodharā (Bậc đại thần thông)
•    Thánh nữ Visākhā (Nữ đại thí chủ)
•    Tỳ-khưu-ni Khemā (Trí tuệ đệ nhất)
•    Tỳ-khưu-ni Uppalavaṇṇā (Cô gái hoa sen)
•    Hoàng hậu Sāmāvatī hiền đức và pháp sư thị nữ Khujjuttarā lưng gù
•    Tỳ-khưu-ni Dhammadinnā (Thuyết pháp đệ nhất)
•    Nữ Thánh đệ tử Uttarā và cô kỹ nữ Sirimā
•    Tỳ-khưu-ni Bhaddā Kuṇḍalakesā (Nữ đạo sĩ tóc quăn biện tài)
•    Tỳ-khưu-ni Paṭācārā (Đệ nhất thông Luật)
•    Tỳ-khưu-ni Ambapālī (Hoàng hậu kỹ nữ)
Tỳ-khưu-ni Kisā-Gotamī (Đệ nhất mặc y thô tháo)

Phải chăng, đây là điểm ưu việt mà thời kỳ các tôn giáo tại Ấn nữ giới chưa hề được chấp nhận.
                    * * * * * 

Sinh hoạt văn hóa do Ban văn hóa khởi xướng, Ni giới cũng đã thể hiện sự sáng tạo qua những gian hàng tại chùa Phổ Quang, Tân Bình. Về mặt tu học, Ni giới từng có những vị Tiến sĩ, thạc sĩ, đóng góp không nhỏ trong việc giáo dục Phật giáo trong các trường phật học và mầm non. Tuy nếp sống khiêm tốn nhưng không thiếu sự năng động. Phân Ban Ni giới cũng hoạt động không ngừng, chia nhau về các vùng miền để thăm nom, khích lệ, trao đổi công tác Phật sự Ni giới địa phương, chung tay giáo hội, và chỉnh đốn thân giới. Trong cuộc Hội thảo, báo cáo tổng kết cho biết các hoạt động thường niên như giỗ tổ Kiều Đàm Di và tưởng niệm chư vị Tổ Ni tiền bối, thăm viếng các trường hạ Ni.

Hoạt động chuyên ngành đã thống kê số lượng chư Ni và danh mục tự viện. Qua tổng kết gồm 22 đơn vị Tỉnh thành có 5.692 cơ sở và 138.084 chư Ni. Đặc biệt, trong bản tổng kết không thấy số chư Ni và cơ sở tự viện tại Thành phố trọng điểm ở Sài gòn.

Phân ban Ni giới cũng có các tiểu ban như: Giám luật & nghi lễ, tiểu ban Văn hóa, tiểu ban Từ thiện xã hội, tiểu ban Hoằng pháp, tiểu ban Phật giáo quốc tế, tiểu ban Thông tin truyền thông.

Tuy nhiên, đến nay vẫn còn 15 địa bàn các Tỉnh thành vẫn chưa thành lập được Phân ban Ni giới, trong đó có Dak nông- Quảng Bình - Hà Tỉnh - Hòa Bình- Hải Dương - Hải Phòng - Phú Thọ - Thái Nguyện - Lạng Sơn - Sơn La - Yên Bái - Cao Bằng - Tuyên Quang - Bắc Cạn - Điện Biên. Nguyện vọng đề bạt của phân ban Ni giới là chư Tăng không độ tín nữ xuất gia tu học.

Tóm lại, hội nghị Tổng kết của Phân ban Ni giới về hình thức là sinh hoạt hành chánh, nhưng về đạo cách Ni phong vẫn còn ẩn tàng những nét đặc thù của những cá nhân mà quá khứ trong giáo đoàn cũng như tín đoàn có những nữ nhân khả kính như:

- Bà Visākhā (Đại thí chủ)
- Hoàng hậu Mallikā (Nữ cận sự xuất sắc)
- Hoàng hậu Sāmāvatī (Từ ái dịu dàng)
- Thị nữ lưng gù Khujjuttarā (Đệ nhất thuyết pháp)
- Cô Uttarā (Năng lực tâm từ)
- Cô Sirimā (Kỹ nữ nổi danh)
- Bà Mẹ Mātikagama (Người hộ độ hy hữu)
- Nữ thí chủ Suppiyā (Cúng dường thịt đùi)
- Hoàng hậu Mahāyānā (Phật mẫu)
- Cô gái con người thợ dệt (Vào dòng trước khi chết)
- Cô bé Puṇṇā và nàng Sujātā (Cúng dường vi diệu)

 Phân ban Ni giới đã có mặt và sinh hoạt song hành với các Ban ngành trong hệ thống giáo hội, vẫn còn đâu đó một số chư Ni vẫn chưa được quan tâm đúng mức hỗ trợ cho họ kịp tiến với giòng chảy trong thời hội nhập hiện nay. Dẫu sao, Ni giới hiện nay vẫn là một tổ chức trong một tổ chức có nhiều thành tích đáng ghi nhận.

MINH MẪN 
30/12/2016

https://youtu.be/BzgMg5y4hVk
https://youtu.be/mb9xkFT0Upc

* KHỔ - KHỔ



Lũ lụt là chuyện thường xuyên mỗi năm giành cho quê hương xứ Quảng, người ta gọi là Thiên tai. Tùy năm, có lúc lớn có lúc nhỏ, nhưng hầu như không năm nào mà không bão lũ lụt lội. Giờ đây, vài năm trở lại, thêm một Nhân tai nữa, đó là xả đê mùa lũ; ngoài thiệt hại hoa màu, mạng sống con người không thể tránh khỏi. Những thiệt hại liên tiếp dồn dập trong năm Bính Thân nầy, người dân trong và ngoài nước đau lòng cắt ruột gom góp tiếp tế để duy trì sự sống cho những cư dân sống trong lũ.

Và cho dù không thiên tai hay nhân tai, bình thường vẫn có những đoàn từ thiện của Phật tử và các chùa luôn hướng đến những vùng sâu, vùng xa, thiếu mặc đói ăn để trợ giúp đồng bào ruột thịt. Không những trong nước mà còn qua tận biển Hồ Campuchea giúp dân mình vất vưỡng cuộc sống cơ cực không được bất cứ tiêu chuẩn nhỏ nhất của một người dân sống nhờ ở tạm nhiều đời trên đất khách.

Nhưng rất may, tuy xứ người, các đoàn từ thiện vẫn đưa quà đến tận tay đồng bào mà không hề gặp bất cứ một cản trở khó khăn nào của chính quyền sở tại. Đất nước Việt Nam ta lại khác, hình như trở thành thông lệ mỗi năm khi có đoàn từ thiện thông báo đến vùng cần trợ giúp, nhờ chính quyền địa phương cấp xã lấy danh sách và cấp phiếu, báo cáo số lượng người khó khăn nghèo đói thường xuyên để đoàn chuẩn bị những phần quà khiêm tốn do sự đóng góp của những tấm lòng "lá rách đùm lá nát". Tuy nhiên, thỉnh thoảng vẫn có vài đại gia hỗ trợ; thế nhưng, một số địa phương vẫn gây khó khăn cho đoàn. Có những nơi, sau khi đoàn phát quà xong trở về, địa phương thu gom lại tiền và quà của dân như báo từng đăng. Phần lớn, khi đoàn mang quà đến, địa phương không cho đoàn tự tay phát đến người dân, mà phải cho vào kho của địa phương để nhà nước phát sau. Một số đoàn không đồng ý, quay xe chở hàng về, để phát nơi khác, nhưng cũng có địa phương không cho đoàn đem quà trở về mà bắt buộc phải chuyển vào kho.

Ở Sơn La, đoàn từ thiện TP HCM do một số chức sắc cao cấp như HT. T,T, HT N.N, HT L.T, đem theo một ngàn phần quà, không được phân phối, bị tịch thu để địa phương giải quyết sau. Điều lạ là trong những chức sắc cao cấp như thế, không hề phản ứng mà ngoan ngoãn chấp hành, trong khi đối với Tăng Ni, có vị lại là hung thần nhiều ám ảnh. Có những nơi quà đem đến, chính quyền kiểm tra rất kỹ từng phẩm vật. Ngoài thực phẩm, không cho đoàn biếu tặng kinh sách băng dĩa hay máy niệm Phật.

Ngày 26/12/2016, Hội từ thiện Phật giáo quận 10 do TT. Nhật Thiện cùng quý Ni sư Từ Nghiêm, Kiều Đàm, Vạn Thiện và Phật tử đi ủy lạo cho đồng bào Việt kiều bị trục xuất từ Campuchea, (vì thế, số quà và tiền mặt trên tám trăm ngàn mỗi phần). Thế nhưng, từ Sài gòn lên ngoài trăm cây số, địa phương báo cáo 200 phần, đến nơi chỉ có vài mươi người, mà không phải Việt kiều từ Campuchea như tiền trạm báo, cũng không phải người dân thuộc loại khốn khó. Hiện diện chưa tới 50 người, nhưng cứ phát hết số phiếu lại xuất hiện phiếu mới không tên tuổi lên ngoài trăm phiếu; buộc lòng đoàn ngưng phát, đem số quà còn lại về một ngôi chùa trong huyện để nơi đây hàng tháng chẩn thí cho cư dân nghèo địa phương. Khi đoàn vừa xuống hàng, nhà báo tác nghiệp đã bị một nhân viên an ninh cấm không cho chụp hình, đòi xem thẻ nhà báo, yêu cầu vào đồn công an làm việc. Dĩ nhiên đây là đòi hỏi và ngăn cấm vô lý, họ quen áp đảo với dân địa phương, thế là những người đi trong đoàn phản ứng mạnh, anh ta bèn rút lui.

Qua nhiều khó khăn cho các đoàn từ thiện đến với người dân nghèo khó, đáng ra chính quyền tạo điều kiện dễ dãi để dân được nhờ. Thế nhưng, những ánh mắt ngây thơ của trẻ con và gương mặt khắc khổ của người dân khốn khó chờ đợi nhiều giờ, đã đành nhìn những thùng hàng hoặc chở về lại, hoặc bị tịch thu vào kho, mà sau đó, không rõ dân có được chút gì để bù vào sự đói khổ thường xuyên giữa màn trời chiếu đất, giữa lũ lụt ngập tràn?

Hình như đoàn từ thiện quá quen cung cách quan liêu của một số quan chức địa phương nên chả buồn lòng, chỉ tội cho người dân luôn bị quyền lực đe dọa. Hơn 5 năm trước, tại Hồng Ngự, một Phật tử bị an ninh huyện trù dập khi mời nhà báo lên tiếng đền thờ tượng Quan Âm bị tước quyền quản lý. Thùng công đức do địa phương thu giữ. Càng xa mặt trời người dân càng câm lặng cúi đầu để an phận. Thế thì, thầy Không Tánh cũng đừng lấy làm lạ và mặc cảm là không thuộc GHPGVN nên bị làm khó khi đi cứu trợ. Dù GHPG nào cũng gặp khó khăn như nhau. Chấp nhận đến với đồng bào đang chịu tai trời ách nước đồng nghĩa chấp nhận mọi rắc rối đến với mình bất cứ lúc nào, vì tình đồng bào nghĩa nhân loại là tình thương vô điều kiện mà người con Phật cần nằm lòng để kham nhẫn khi bước vào con đường từ thiện, xả kỷ vị tha.

Chừng nào một số quan chức địa phương biết thương dân mình đang đói khổ, đang đưa bàn tay nhận sự cứu giúp của người xa lạ mà không bị gặp rắc rối; rắc rối cho dân nghèo cũng như rắc rối cho người có tấm lòng từ thiện, mà đáng ra, đó phải là trách nhiệm của chính quyền lo cho dân chứ không thể hành dân như thế. Chả lẽ nghiệp vận của dân tộc như thế sao??? Đã khổ còn chồng chất thêm cái khổ, đúng lời Phật dạy: KHỔ - KHỔ, HOẠI KHỔ, HÀNH KHỔ của một kiếp người.

MINH MẪN
29/12/2016

BÀI VIẾT THẬT HAY, THẬT ĐÚNG:

NHỮNG LỜI DẠY QUÝ BÁU CHÂN THẬT CỦA ĐỨC PHẬT

~ TU TẬP THEO CON ĐƯỜNG CỦA ĐỨC THÍCH CA TỨC LÀ TRỞ VỀ VỚI BẢN THỂ CHÂN THẬT CỦA MÌNH

~ KHÔNG PHẢI TẤT CẢ NHỮNG GÌ MÀ NHIỀU NGƯỜI ĐÃ LÀM BAO ĐỜI NÀY LÀ ĐÚNG, ĐIỀU ĐÓ CHỈ ĐÚNG NẾU NÓ MANG LẠI SỰ LỢI ÍCH, LỢI LẠC CHO BẢN THÂN & MỌI NGƯỜI.


Trước tiên đây chính là những lời của Đức Thích Ca đã dạy các Tỳ Kheo lúc Ngài còn tại thế. Ngài xác nhận Ngài chỉ là một bậc đạo sư, với vai trò chánh yếu chỉ là một người hướng dẫn, chỉ ra con đường, và các hành giả phải tự đi và tự chứng nghiệm. Khác với những hệ thống tôn giáo khác có xu hướng cầu xin các thế lực siêu nhiên, Ngài bác bỏ hoàn toàn hệ thống thần quyền mà đã từ bao đời trói buộc con người. Tu tập theo con đường của Đức Thích Ca tức là trở về với bản thể chân thực của mình. Đã biết bao thế hệ, con người bị những thứ: hình thức bề ngoài, những tưởng tượng về bản thân, những giả tạo trong đạo đức quấn lấy. Đi trên con đường đạo của Đức Thích Ca, con người gỡ những trói buộc ấy, gạt bỏ cái “ta”, sống đơn giản. Những thứ phù phiếm bề ngoài, tưởng tượng mình là một loại gì đó, bắt mình phải hành xử theo một lối nào đó hoàn toàn chỉ khiến con người xoay quần trong mớ bòng bong đó, luôn tiếp tục như vậy và không hề có sự an lạc. Ngày nào mỗi người còn đi vào các hình thức, các sự bịa đặt bề ngoài càng nhiều thì họ còn khổ đau nhiều với những thứ ấy.

Con đường Đức Phật Thích Ca đã đi qua là con đường gỡ bỏ tất cả những ràng buộc thế gian, gỡ bỏ tất cả các hình thức bề ngoài, gỡ bỏ tất cả các suy tưởng không cần thiết để đi đến an lạc ngay trong đời sống này. Ngài không chủ trương sau khi chết sẽ đi về đâu, và có những cõi nào hay không. Bản chất của khổ chính là “có”, vì “có” nên mới giữ gìn, vì có những điều kiện ham muốn nên mới còn khả năng ham muốn, vì “có” nên mới lo lắng. Hễ có vui thì sẽ có buồn, hễ có sướng thì sẽ có khổ: một người lúc bình thường thì hưởng những thú vui xác thịt (ăn, uống, quan hệ giới tính...) nhưng lúc đau bệnh lại thì việc có thân xác là một thảm họa. Có nhiều người đau đớn tới lúc chết, vậy mới biết mang thân nên mới khổ vì thân, còn thân chính là còn nơi để những đau khổ xác thịt và tinh thần xảy ra. Lại có những người tự phụ về nhan sắc của mình, để rồi khi nó mất đi họ lại phiền sầu phiền não.

Con người có những bản tính chân thật, vậy mà họ cứ chạy theo những thứ bề ngoài để rồi mang rắc rối, ưu phiền vì nó. Khi đói con người liền nghĩ tới ăn, khi khát liền nghĩ tới uống, khi đau buồn thì cần người an ủi. Đó, chân thật là đó, chứ cần gì phải bịa ra muôn hình muôn vẻ bề ngoài, đâu phải vì tôi là gia đình giàu có nên tôi phải ngồi trong những quán ăn sang trọng thì mới ngon miệng. Mặc dù những cảm xúc của con người là có thực: sự ngon, dở, sung sướng... nhưng những thứ ấy tồn tại không lâu bền và thường hằng biến đổi, chính vì vậy đừng cố bám víu để tìm lại những cảm xúc ấy. Hãy “đói thì ăn, mệt thì ngủ”, ấy mới chính là đạo. Chính vì mọi thứ đều biến đổi nên Đức Phật không bám víu vào những thứ ấy, chính vì vậy cuộc đời Ngài luôn thảnh thơi và không mang bất cứ ưu phiền nào. Nhận biết mọi sự trên thế gian là “vô thường” và không bám víu vào nó là bước căn bản và quan trọng để con người thoát khỏi những khổ đau ràng buộc.

Những ai đi theo con đường của Đức Thích Ca tức là đi theo con đường của chính mình. Đó là con đường gỡ bỏ mọi sự ràng buộc, gỡ bỏ mọi sự bám víu, gỡ bỏ mọi nhân duyên để tránh phiền não. Một người hiểu đạo là một người điều khiển được cảm xúc mình, làm chủ nó, vì một khi ý nghĩ nổi lên ta liền nhận ra ý nghĩ đó có mang lại lợi ích gì cho bản thân và mọi người hay không. Chính vì việc làm chủ, phân biệt được ý niệm nào lợi lạc hay không lợi lạc mà Phật Tử sẽ chọn lựa và thực hiện. Đức Thích Ca không bắt Phật Tử làm theo những gì Ngài nói. Ngài không dạy điều đó, ngài chỉ dạy mỗi người hãy nghe những lời Ngài nói, hãy phân tích những hướng dẫn đó có tốt, có lợi lạc cho bản thân mình hay không. Nếu có, hãy thực hiện những điều ấy với một tấm lòng chân thực. Cũng tương tự như vậy, trước khi làm điều gì mỗi người hãy ngừng lại vài phút. Những điều gì mang lại lợi lạc thì làm, còn không thì nhất quyết không làm.

TU VÀ SỰ CỞI BỎ BẢN NGÃ

Tu là gì? Trước hết tu là tu sửa bản thân. Sao gọi là tu sửa? Ta vẫn là ta nhưng bao nhiêu năm nay vì không phân biệt được điều gì mang lại lợi lạc, không nhận biết được mọi sự là vô thường nên ta bị cuốn vào vòng xoáy cuộc đời, làm những việc mà chúng ta không lường hết hậu quả. Bây giờ thì ta đã biết, đã phân biệt được sự nên hay không nên, vì vậy những điều gì trước đây sai khác với điều đó thì ta hãy ngừng lại. Sau khi ngừng không làm những điều sai trái như trước kia, ta phải tiếp tục làm những việc ngược lại. Đó, tu chính là như vậy, trước kia ta đã sát sanh quá nhiều thì bây giờ ta không sát sanh nữa, ngược lại ta còn tích cực phóng sanh. Trước kia ta quá keo kiệt bủn xỉn không giúp đỡ ai thì nay ta phải thường xuyên giúp đỡ mọi người, bố thí người nghèo. Điều quan trọng là ta hãy làm những hành động ấy với một tấm lòng chân thực, chứ không phải vì tôi muốn đề cao tên tuổi mà tôi làm từ thiện cho mọi người biết, không phải vì tôi phóng sanh vì muốn lấy lòng một ai đó. Những người làm như vậy không phải tu, họ chỉ đang làm việc đó vì một mục đích cho bản thân mà không nhằm mục đích an lạc.

Nói về việc sát sanh, những loài sinh vật trên quả địa cầu này không có loài nào là không ham sống cả, không có loài vật nào muốn con người ăn nuốt chúng cả. Ai cũng biết bất kỳ một loại động vật nào cũng biết quẫy vùng, gào thét khi bị con người giết hại. Những hình ảnh đó chúng ta thấy hàng ngày trước mắt, thử hỏi nếu chúng ta ở vị trí của chúng thì như thế nào. Có ai muốn mình bị sát hại hay không? Dĩ nhiên là không. Bản thân mình không muốn mình bị sát hại vậy mà chính chúng ta luôn sát hại các loại động vật (thậm chí là con người với nhau) với lý do “vật dưỡng nhân” thì thật không công bằng. Nếu vật là để dưỡng nhân thì con người để dưỡng cái gì? Con người có lý trí, có tình cảm, chúng ta cảm nhận được sự đau đớn của chúng, chúng cũng là sinh vật, chúng cũng có tình mẫu tử. Vậy thì quyền được sống không phải chỉ dành riêng cho con người, nó cũng dành cho tất cả các chủng loại sinh vật. Hãy dừng lại ngay từ bây giờ, hãy biết yêu thương chúng như yêu thương con người.

Trên con đường tu tập, phương cách tốt nhất mà Đức Thích Ca đã chỉ ra là phải dẹp bỏ hoàn toàn bản ngã: hãy xem thân này không phải là thân của ta, tướng này không phải là tướng của ta. Vì thân này không phải thân ta nên ta không khổ đau khi nó già yếu, tàn phai... Chỉ khi người ta dẹp bỏ được bản ngã thì người ta mới ngừng việc xây dựng cho mình những hình thức bề ngoài, những tưởng tượng vô bổ, những kiến tạo không lợi lạc. Tất cả những kiến tạo không lợi lạc, những sự bày vẽ bề ngoài hoàn toàn không mang lại sự an lạc trong thân tâm. Để đạt được sự an lạc, cần thiết phải tĩnh tâm và thiền định.

Đối với Đức Thích Ca, việc lạy Ngài cũng chính là lạy bản thân mình. Đức Thích Ca tượng trưng cho sự gỡ bỏ những ràng buộc, sự giải thoát khỏi các phiền não. Ta lạy Ngài có khác chi ta đang lạy hạt giống giải thoát trong bản thân mình. Thân này do tứ đại kết hợp thành, thì rốt cục hàng tỷ thân khác trên quả đất này đều chung một nguồn gốc. Việc quỳ lạy là một sự thể hiện sự tôn kính, nhưng khi chúng ta quỳ lạy tượng của Ngài chúng ta cũng phải hiểu rằng ta đang quỳ lạy chính những đức hạnh cao cả của ngài mà chúng ta đang noi theo. Có rất nhiều người hiểu sai và thực hiện sai việc này, họ quỳ lại các tượng đất mà trong lúc quỳ lại họ lại cầu xin một điều gì đó. Họ nghĩ Đức Phật là một thế lực siêu nhiên có thể thỏa mãn những ước muốn ấy. Không phải, nếu quan niệm như vậy thì họ đã sai, đức Thích Ca chỉ là đạo sư cho chúng ta trên con đường giải thoát. Hơn nữa không lẽ Đức Thích Ca sẽ cho chúng ta đạt được một ước muốn chỉ vì chúng ta “hối lộ” bằng việc cầu xin, cúng hoa quả. Đức hạnh chỉ đạt được nếu thực hiện những việc thiện với một hồn chân thực, không cầu cạnh.

Nếu muốn bày tỏ sự tôn kính với Đức Thích Ca, xin đừng quỳ lạy họ, hãy thực hiện những điều Ngài đã làm, những hạnh Ngài đã giữ, những điều ngài đã dạy với một sự suy xét cẩn thận. Đức Phật dạy con người đừng làm vì si mê. Không phải ta làm theo Đức Phật chỉ bởi vì ông ta đã giải thoát được, đã đạt được những thần thông. Hãy làm theo những lời dạy ấy với một sự hiểu biết rõ ràng. Đừng làm những điều gì chỉ bởi bao đời nay người ta đã làm. Đừng làm những điều gì chỉ bởi những điều ấy được cho là đúng, là hiển nhiên. Không phải tất cả những gì mà nhiều người đã làm bao đời này là đúng, điều đó chỉ đúng nếu nó mang lại sự lợi ích cho bản thân và mọi người, cũng như mang lại sự an lạc. Rốt cục cũng không có đúng và sai, đúng và sai chỉ là những từ ngữ để phân biệt của con người. Cái cốt lõi là nhân quả, hễ có nhân thì sẽ có quả, mà nhân nào thì quả nấy. Người Phật Tử phải hiểu được những việc mình làm để có thể xác định được nhân quả, nếu những quả nào mang lại lợi lạc thì hãy làm.

HAI CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT ĐẠO

Đạo Phật chia thành hai con đường chính: xuất thế và nhập thế. Đường mà Đức Thích Ca đã đi tức là con đường thứ nhất. Cội nguồn của việc cứ mãi quanh quẩn ở thế giới loài người là do những duyên nghiệp với thế giới loài người còn nhiều. Hễ ai còn ham thích, còn muốn trả thù, còn muốn tạo dựng sự nghiệp, còn muốn kết duyên nam nữ thì thần thức người ấy con tiếp tục đầu thai ở cõi con người. Mà còn ham tức còn khổ, còn ràng buộc, còn phiền não. Các mối quan hệ duyên nghiệp của con người càng ngày càng sinh ra nhiều hơn cho tới khi nào người ta ngừng lại, cắt đứt việc gieo duyên – gây nghiệp và thực hiện những điều ngược lại. Vì sự luân hồi của các thần thức nên chỉ có một con đường thoát khỏi nó: ngừng gây ra các duyên nghiệp mới và trả hết những duyên nghiệp cũ. Điều đó cũng tương tự với những cõi khác, chính vì thế mà Đức Thích Ca không hề bị cám dỗ bởi quyền lực, bởi dục tình, bởi sự đẹp đẽ của các các cõi thiên. Thậm chí với những thần thông, ngài cũng chỉ dùng nó như là các phương tiện để tu tập và truyền đạo.

Đức Thích Ca đã đi đúng con đường xuất thế, cắt bỏ tất cả ràng buộc. Ngài lúc ấy cũng giống như một con thuyền đã cắt bỏ dây neo, tự do trôi trên biển cả mênh mông.

Con đường thứ hai chính là con đường nhập thế của đạo Phật, con đường mà ngài đã dạy cho hàng Phật tử tại gia. Dù là nhập thế hay xuất thế thì mục đich của Phật Pháp vẫn là giải trừ các đau khổ và phiền não. Thời Đức Thế Tôn còn sống, ngoài các Tỳ Kheo trong tăng đoàn, Ngài còn hướng dẫn cho những người vì những điều kiện nhất định không thể theo tăng đoàn những phương pháp tu tập riêng. Tu đâu phải là vô chùa, tu đâu nhất thiết phải lánh đời, tu là tự bản thân mình. Hễ người nào làm chủ được hành vi, cảm xúc là người đó có thể tự tại thong dong ngay giữa cuộc đời này. Một chủ xưởng – người đảm bảo nuôi sống hàng trăm người thì không thể nhất thời mà bỏ tất cả để theo tăng đoàn khi chưa người nào làm chủ được hành vi, cảm xúc là người đó có thể tự tại thong dong ngay giữa cuộc đời nàycó người nào có khả năng tiếp tục việc mình đang làm. Trong trường hợp này Phật Pháp trở thành một phương tiện để an lạc, giúp Phật Tử cân bằng giữa đời sống xã hội và đời sống tu tập.

Chính vì vậy người Phật tử và không phải Phật Tử cần phải hiểu rõ con đường mà Đức Thích Ca đã đi, đã dạy để tránh sa vào thần quyền, những rườm rà bày vẽ bề ngoài. Xin hãy đừng lạy, đừng tán dương Ngài ngoài miệng, xin hãy thực hiện những gì mà Đức Thích Ca đã làm. Đó mới chính là tu tập vậy. 

Nguyễn Quốc Bửu

Thứ Năm, 29 tháng 12, 2016

KHÔNG ĐẾN MỘT NƠI NÀO

~ Nguyễn Duy Nhiên

Pico Iyer là một tác giả rất nổi tiếng trên thế giới, ông chuyên viết về du hành (travel writer). Bạn nghĩ nơi nào mà ông thích được đi đến nhất? Ông Iyer nói: không đi đâu hết.
    Có lẽ trong chúng ta, ai cũng muốn đi đến một nơi nào có nhiều điều hay lạ, hoặc một nơi mà mình có thể được thật sự nghỉ ngơi, giúp ta cảm thấy tươi mới lại và cảm nhận sự sống sâu sắc hơn. Và theo như ông Iyer, một người đã từng đi khắp nơi trên thế giới, và cũng là một nhà văn chuyên viết về du hành, thì thật ra ta không cần phải đi đâu hết, vì nơi ấy cũng đang chính là bây giờ và ở đây.
    Trong một tác phẩm mới nhất, The Art of Stillness, ông Iyer có viết về những tuệ giác sâu sắc mà sự tĩnh lặng, ngồi yên có thể mang lại cho chúng ta. Trong thời đại mà chúng ta lúc nào cũng đi đây đó, luôn muốn tìm đến một nơi chốn xa lạ hoặc một thú vui nào đó, câu trả lời của ông giúp ta có dịp nhìn lại cuộc sống bận rộn và vội vã của mình. Xin chia sẻ với bạn khám phá này của ông Pico Iyer.
Là một nhà du hành
“Cả đời tôi là một nhà du hành, a traveller. Từ khi còn là một đứa bé, tôi đã thuyết phục ba mẹ tôi rằng, cho tôi đi học nội trú ở Anh rẻ tiền hơn là theo học ở một ngôi trường nổi tiếng gần nhà, ở California. Và vì vậy mà từ lúc mới chín tuổi, mỗi năm tôi đã nhiều lần đi phi cơ một mình băng ngang qua Bắc cực, chỉ để đi đến trường.
    Và càng được du hành tôi lại càng thêm yêu thích. Vì vậy mà ngay sau khi mới ra Trung học, lúc vừa được 18 tuổi, tôi đã xin một công việc lau bàn để có tiền đi thăm các nơi trên những lục địa khác nhau.
     Rồi việc chắc chắn phải xảy ra, tôi trở thành một người chuyên viết về du hành, để công việc và niềm vui của mình được trở thành một.
    Và tôi cảm nhận rằng, nếu như mình có may mắn được bước đi một mình trong những ngôi đền thờ tĩnh lặng với những ngọn nến thắp sáng ở Tây tạng, hay lang thang trên những bãi biển ở Havana với tiếng nhạc dập dìu chung quanh, tôi có thể mang những âm thanh ấy và bầu trời trong xanh, và ánh nắng lấp lóa trên đại dương xanh thẩm, về chia sẻ lại với những người bạn ở nhà, cũng như mang một sự kỳ diệu và trong sáng lại cho chính cuộc đời mình.
Không cần phải đi đến đâu
Điều đầu tiên mà chúng ta ai cũng biết, là khi đi du hành không có nơi nào là kỳ diệu hết, trừ khi ta có một cái nhìn đúng đắn. Nếu bạn mang một người nóng tánh đến Himalayas, anh ta sẽ bắt đầu phàn nàn, kêu ca về chuyện ăn uống. Và tôi khám phá ra một điều này, là cách hay nhất giúp ta phát khởi một cái nhìn sâu sắc và biết tán thưởng, nghe cũng hơi lạ, là bằng cách không đi đến đâu hết, chỉ cần ngồi cho yên.
    Giữa cuộc sống vội vã này, có lẽ chúng ta ai cũng cảm thấy mình cần phải dừng lại để nghỉ ngơi. Nhưng theo tôi thì thật ra đó cũng là một cách duy nhất để cho ta có dịp xem lại cuốn slideshow về kinh nghiệm cuộc đời mình, để có thể hiểu sâu sắc hơn về quá khứ và tương lai. Và tôi cũng ngạc nhiên khi khám phá rằng, không đi đâu hết cũng thú vị và hấp dẫn như khi được đi du hành đến Tây tạng hay Cuba vậy.
    Và không đi đâu hết, chỉ đơn giản có nghĩa là ta bỏ ra vài phút mỗi ngày, hay vài ngày trong mỗi mùa của năm, hay có người bỏ ra vài năm trong cả đời mình, để có thể ngồi yên và thấy ra được những gì thật sự thúc đẩy ta, biết được hạnh phúc chân thật của mình nằm ở nơi đâu. Và nhớ rằng, kiếm sống (making a living) và xây dựng cuộc sống (making a life) hai việc ấy đôi khi lại hoàn toàn nghịch hướng với nhau.
Do ở sự tiếp nhận của mình
Và dĩ nhiên điều này cũng đã được các bậc hiền nhân trong mọi truyền thống, qua bao thế kỷ, nói với chúng ta rồi. Hơn 2,000 năm trước đây, các triết gia Stoics đã nhắc nhở rằng, không phải kinh nghiệm làm nên cuộc sống này, mà do chúng ta tiếp nhận chúng như thế nào.
    Ví dụ có một trận bão lớn kéo ngang qua vùng bạn ở và làm xập đổ hết tất cả. Một người thì cảm thấy hoàn toàn bất lực và tuyệt vọng. Còn một người khác lại cảm thấy tự do hơn, thấy rằng đây là cơ hội cho họ bắt đầu lại một cuộc đời mới. Không có gì là chỉ có tốt hay xấu, như văn hào Shakepeare nói với chúng ta trong “Hamlet”, mà tất cả đều do ở sự suy nghĩ của mình tạo nên mà thôi. Và vì vậy mà tôi nghĩ nếu như ta thật sự muốn thay đổi đời mình, thì có lẽ ta nên bắt đầu trước hết bằng cách thay đổi cái nhìn trong tâm ta.
    Và như tôi nói, điều này cũng không có gì là mới mẻ hết, Shakespeare và triết gia Stoics cũng đã nói đến từ mấy thế kỷ về trước. Nhưng có điều là Shakepeare không phải đối diện với 200 emails mỗi ngày. Còn các triết gia Stoics thì cũng đâu phải lên Facebook. Chúng ta đều biết rằng trong cuộc sống nhiều đòi hỏi này, thì một trong những điều bị đòi hỏi nhiều nhất là chính chúng ta. Bất cứ ở nơi đâu, bất cứ khi nào ngày hay đêm, xếp của ta, những tin nhắn rác, ba mẹ ta, đều có thể tìm đến ta được.
     Các nhà xã hội học có đủ dữ kiện để tuyên bố rằng, trong những năm gần đây người Mỹ làm việc ở công sở ít giờ hơn 50 năm về trước, nhưng lại cảm thấy mình phải làm việc nhiều hơn. Chúng ta có thêm những thiết bị công nghệ giúp tiết kiệm thời gian hơn, nhưng thời giờ mình có dường như lại càng ít đi hơn. Ngày nay, chúng ta có thể dễ dàng kết nối được với một người ở xa tận cùng trái đất, nhưng đôi khi trong quá trình đó ta lại đánh mất đi sự kết nối với chính mình.
Sự sáng tạo cần một không gian
Và một trong những điều làm tôi ngạc nhiên nhất là khám phá ra rằng, chính những người đã cung cấp những phương tiện giúp ta có thể đến được khắp mọi nơi, lại là những người không có một ý định đi đâu hết. Nói một cách khác, chính những người đã sáng tạo ra những kỹ thuật giúp chúng ta vượt thoát ra các giới hạn xưa cũ, lại là những người rất ý thức về sự cần thiết của những giới hạn, cho dù đó là trong lãnh vực của công nghệ.
Có lần tôi đến trung tâm Google headquarters, tôi chứng kiến được tận mắt những điều mà nhiều bạn đã nghe nói đến, như là bên trong có những căn nhà xây trên cây, có những chiếc trampolines, và nhân viên được lấy 20% giờ làm việc của mình để không làm gì hết, cho trí tưởng tượng rong chơi.
    Nhưng điều tạo ấn tượng cho tôi nhất là một anh làm việc ở đó, một Googler, kể cho tôi nghe là anh đang chuẩn bị mở một chương trình đào tạo cho các bạn trong sở trở thành huấn luyện viên yoga. Một Googler khác chia sẻ rằng anh ta đang viết một quyển sách về “công cụ tìm kiếm của tâm hồn”, inner search engine, và khoa học ngày nay đã chứng minh được rằng ngồi yên, hay thiền tập, không những chỉ mang đến cho ta sức khỏe tốt, trí óc minh mẫn, mà còn làm tăng trưởng trí tuệ cảm xúc (emotional intelligence) của mình nữa.
    Tôi có một người bạn khác sống ở vùng công nghệ Silicon Valley, anh ta tên là Kevin Kelly người sáng lập ra tờ Wired magazine, một tạp chí chuyên môn về những kỹ thuật mới. Trong quyển sách gần đây, anh Kelly viết về những công nghệ mới, mà trong khi nhà anh không hề có một chiếc điện thoại smart phone, hay một máy tính xách tay, hay một màn hình tivi. Và cũng giống như những người bạn khác trong vùng Silicon Valley, anh cố gắng tuân theo những ngày nghỉ mà họ gọi là Intenet Sabbath, không lên mạng internet. Mỗi tuần, trong vòng 24 hay 48 tiếng, họ hoàn toàn không lên mạng hay đọc email.
    Tôi thấy có một điều mà công nghệ ngày nay chưa hề cung cấp được cho chúng ta, là làm sao để sử dụng chúng một cách sáng suốt.
Hạnh phúc cần khoảng trống thời gian
Và chúng ta đều biết rằng một trong những điều xa xỉ và đắt giá nhất trong cuộc sống ngày nay là khoảng trống. Trong các bài nhạc, chính những khoảng nghỉ, dấu lặng, đã mang lại cho bản nhạc ấy sự hay đẹp và sự biểu hiện của nó.  Và là một nhà văn, tôi cũng thường cố gắng thêm vào nhiều khoảng trống trên trang viết, để độc giả có thể hoàn tất ý nghĩ của tôi, của câu văn, và giúp cho trí tưởng tượng của họ có một không gian để thở.
Nói về phương diện vật chất, lẽ dĩ nhiên, khi người ta có đủ tài vật, họ sẽ nghĩ đến việc tìm một nơi xa xôi, một căn nhà nghỉ mát ở vùng quê yên tĩnh.  Tôi thì không bao giờ có điều kiện ấy, nhưng tôi nhớ rằng bất cứ khi nào mình muốn, tôi vẫn có thể có một căn nhà nghỉ mát trong thời gian, nếu không là trong không gian, bằng cách lấy một ngày nghỉ.
    Và việc ấy cũng không phải là dễ, vì trong ngày nghỉ ấy tôi lại bỏ phần lớn thì giờ lo lắng về những công việc chồng chất, sẽ đổ xuống cho tôi vào ngày hôm sau. Đôi khi tôi nghĩ rằng mình có thể bỏ ăn thịt, hay uống rượu vang, hay tình dục, chứ không thể nào bỏ qua một cơ hội để xem email được.
    Và những lần tôi lấy ba ngày nghỉ để đi tìm tĩnh lặng, thì tôi lại cảm thấy tội lỗi khi bỏ lại sau lưng người thân của mình, những email quan trọng của sở làm, hoặc bỏ lỡ một tiệc sinh nhật của bạn bè. Nhưng khi về đến một nơi chốn tĩnh lặng, tôi chợt hiểu rằng nhờ trở về nơi này mà tôi có lại được sự tươi mát, sáng tạo, và niềm vui để mang về chia sẻ với người thân, với sở làm hay bạn bè của mình. Còn nếu không, thì thật ra tôi chỉ dối lừa và tiếp tục đổ lên cho họ những mệt mỏi, lo âu hay xao lãng của mình, chúng chẳng có gì là hay đẹp hết.
Giúp ta đối diện với những bất ngờ
Vì vậy vào năm 29 tuổi, tôi quyết định từ bỏ hết tất cả, bỏ một công việc và một nơi ở rất tốt ở New York, để dọn về một con phố nhỏ tại Kyoto, Nhật bản. Nơi này không hiểu sao đã có một sức thu hút rất đặc biệt đối với tôi. Khi còn bé, tôi vẫn thường nhìn những bức tranh vẽ về Kyoto và cảm thấy như nó rất quen thuộc với mình. Như bạn biết, thành phố Kyoto rất đẹp, bao quanh bởi những ngọn đồi, có hơn 2,000 ngôi chùa cổ, nơi đây người ta đã ngồi yên trong tĩnh lặng hơn 800 năm, hoặc xa xưa hơn nữa.
    Nhà của tôi là một căn hộ hai phòng, ở một nơi hẻo lánh, không xe đạp, không xe hơi, không một đài TV mà tôi có thể hiểu được. So với New York thì nơi đây không phải là một nơi lý tưởng để phát triển cho sự nghiệp nhà văn, làm báo của mình. Nhưng nó giúp cho tôi có được một điều mà tôi trân quý nhất, đó là ngày tháng và thời gian. Tôi vẫn chưa từng bao giờ dùng đến điện thoại di động ở nơi đây. Dường như tôi cũng không bao giờ cần phải nhìn đến đồng hồ. Mỗi buổi sáng thức dậy, một ngày trải dài trước mặt tôi như một cánh đồng rộng mở.
    Và rồi sẽ có ngày khi cuộc sống quẳng đến trước mặt ta những bất ngờ đáng sợ, mà chắc chắn không phải chỉ một lần, khi vị bác sĩ bước vào phòng của tôi với một nét mặt tuyệt vọng, hay khi một chiếc xe bất ngờ cắt ngang trước mặt tôi trên xa lộ, tôi biết trong tận xương tủy rằng, chính những thời gian tôi bỏ ra không đi đâu hết sẽ giúp cho tôi được vững vàng trong giờ phút ấy, chứ không phải những lúc tôi chạy loanh quanh ở Bhutan hay vùng Easter Island.
Tìm lại cho mình những khoảng trống
Tôi thấy ngày nay có nhiều người bắt đầu có ý thức sửa đổi, và mở thêm những khoảng trống mới trong cuộc sống của họ. Có người khi đi đến những khu nghỉ mát, vừa tới nơi họ gửi hết điện thoại di động, máy tính xách tay của mình ở lại bàn tiếp tân. Có những người quen của tôi, mỗi tối trước khi đi ngủ, thay vì lên mạng đọc qua những email, hay xem những YouTube của bạn bè gửi, họ chỉ tắt đèn và lắng nghe nhạc. Họ chia sẻ rằng mình ngủ ngon hơn và thức dậy cảm thấy tươi mới hơn.
    Tôi sẽ mãi mãi là một nhà du hành, vì cuộc sống sinh kế của tôi phụ thuộc vào nó. Một trong những cái hay đẹp của sự du hành là nó cho phép ta mang một sự tĩnh lặng vào giữa những chao động của thế giới chung quanh.
    Có lần tôi bay từ Frankfurt, Đức, một cô thiếu nữ người Đức bước vào và ngồi xuống cạnh bên tôi. Cô ta nói chuyện thân mật với tôi chừng 30 phút, và rồi cô quay lại ngồi yên trong suốt 12 tiếng. Cô ta không hề mở tivi lên xem, cô không mở sách ra đọc, cô cũng không hề ngủ, chỉ ngồi yên đó. Và như có một cái gì đó trong sáng và tĩnh lặng ở nơi cô, mà tôi có thể cảm nhận được ngay trong chính mình.
Không cần phải đi đâu

Chúng ta như những người đứng sát cạnh bên một màn hình thật lớn, nó ồn ào, nó đông đúc, và liên tục biến đổi theo từng giây. Tấm màn hình đó là cuộc sống của mình. Chỉ khi nào ta biết bước lùi lại một chút, rồi lùi thêm chút nữa, và đứng yên, mà ta có thể bắt đầu thấy được ý nghĩa của những gì xảy ra, và thấy được tấm ảnh đó một cách toàn diện. Và có vài người đã làm được điều ấy dùm cho chúng ta, bằng cách không cần đi đến một nơi nào hết.
Vì vậy, trong thời đại của gia tốc và gấp rút này, không có gì vui sướng cho bằng được bước chậm lại. Và trong thời đại đầy những xao lảng, không có gì quý giá cho bằng biết chú tâm. Và trong thời đại mà người ta lúc nào cũng di động, đi đây đó, không có gì cần thiết và quan trọng cho bằng được ngồi yên.
    Và trong lần nghỉ tới, bạn có thể đi chơi ở Paris hay Hawaii, hay New Orleans, tôi tin chắc rằng bạn sẽ có một thời gian tuyệt vời. Nhưng nếu như bạn muốn khi trở về nhà mang theo niềm vui sống, tràn đầy niềm tin mới, và trân quý cuộc đời hơn, tôi nghĩ bạn hãy thử xét đến việc này là mình không đi đâu hết.”

NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT QUAN TRỌNG VỚI TÔN GIÁO KHÁC.

Dao Phat co 3 dieu can ban :
- Nhan qua,Luan hoi-Thanh,tru,hoai,khong.(ket cau con nguoi,vu tru)
- Kho, tap, diet ,dao.( nhan dinh , tu tap)
- Giac ngo giai thoat.(Phat)

Phật giáo, NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT QUAN TRỌNG VỚI TÔN GIÁO KHÁC.

Tuệ Uyển chuyển ngữ

dao-phat
NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT QUAN TRỌNG VỚI TÔN GIÁO KHÁC
1- Không có một đấng Thượng Đế toàn năng trong Đạo Phật. Không có ai đưa ra sự tưởng thưởng hay trừng phạt trong một Ngày Phán Xét giả định.
2- Đạo Phật hoàn toàn không phải là một tôn giáo trong phạm vi của một đức tin và thờ phượng do lòng trung thành một thế lực siêu nhiên.
NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT QUAN TRỌNG VỚI TÔN GIÁO KHÁCMAJOR DIFFERENCES FROM OTHER REGILIONS
1- Không có một đấng Thượng Đế toàn năng trong Đạo Phật. Không có ai đưa ra sự tưởng thưởng hay trừng phạt trong một Ngày Phán Xét giả định.1. There is no almighty God in Buddhism. There is no one to hand out rewards or punishments on a supposedly Judgement Day.
2- Đạo Phật hoàn toàn không phải là một tôn giáo trong phạm vi của một đức tin và thờ phượng do lòng trung thành một thế lực siêu nhiên.2. Buddhism is strictly not a religion in the context of being a faith and worship owing allegiance to a supernatural being.
3- Không có khái niệm cứu rỗi trong Đạo Phật. Một Đức Phật không phải là một đấng cứu rỗi bằng năng lực cứu độ cá nhân của Ngài. Mặc dù người Phật tử quy y với Đức Phật như bậc hướng dẫn vô song, bậc chỉ con đường của tịnh hóa, nhưng người Phật tử không như đầu phục như nô lệ. Người Phật tử không nghĩ rằng người ấy có thể đạt đến sự tịnh hóa chỉ đơn thuần bằng việc quy y với Đức Phật hay chỉ bằng việc có niềm tin trong Ngài. Không phải vì năng lực của Đức Phật mà rửa sạch sự ô nhiễm của kẻ khác.3. No saviour concept in Buddhism. A Buddha is not a saviour who saves others by his personal salvation. Although a Buddhist seeks refuge in the Buddha as his incomparable guide who indicates the path of purity, he makes no servile surrender. A Buddhist does not think that he can gain purity merely by seeking refuge in the Buddha or by mere faith in Him. It is not within the power of a Buddha to wash away the impurities of others
4- Một Đức Phật không phải là một hiện thân của thần linh/ Thượng đế (như một số tín đồ Ấn Giáo tuyên bố). Mối quan hệ giữa Đức Phật và đệ tử của Ngài và tín đồ là của một vị thầy và học nhân.4. A Buddha is not an incarnation of a god/God (as claimed by some Hindu followers). The relationship between a Buddha and his disciples and followers is that of a teacher and student.
5- Sự giải thoát tự ngã là trách nhiệm của tự thân. Đạo Phật không kêu gọi một đức tin mù quáng vô điều kiện đối với tất cả mọi tín đồ Đạo Phật. Nó đặt nặng yếu tố tự chủ, tự giác và phấn đấu cá nhân.5. The liberation of self is the responsibility of one’s own self. Buddhism does not call for an unquestionable blind faith by all Buddhist followers. It places heavy emphasis on self-reliance, self discipline and individual striving.
6- Quy y với Ba Ngôi tôn quý là Phật, Pháp và Tăng; không có nghĩa là tự đầu hàng hay hoàn toàn nương tựa vào một sức mạnh ngoại tại hay một phía thứ ba cho việc hổ trợ hay cứu rỗi.6. Taking refuge in The Triple Gems i.e. the Buddha, the Dharma and the Sangha; does not mean self-surrender or total reliance on an external force or third party for help or salvation.
7- Giáo Pháp (giáo lý Đạo Phật) tồn tại bất chấp có một Đức Phật hay không. Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni (Đức Phật lịch sử) khám phá và chia sẻ giáo lý/ lẻ thật phổ quát với tất cả chúng sanh. Ngài không phải là đấng sáng tạo ra những giáo lý như vậy cũng không phải là sứ giả của một Thượng Đế toàn năng trao truyền những giáo lý như vậy cho người khác.7. Dharma (the teachings in Buddhism) exists regardless whether there is a Buddha. Sakyamuni Buddha (as the historical Buddha) discovered and shared the teachings/ universal truths with all sentient beings. He is neither the creator of such teachings nor the prophet of an almighty God to transmit such teachings to others.
8- Nhấn mạnh một cách đặc biệt trong Đại thừa Phật giáo là tất cả chúng sanh có Phật tánh/ bản thể. Một người có thể thành một Đức Phật (một chúng sanh siêu việt Giác Ngộ) qua một tiến trình tu tập nếu người ấy thực hành một cách cần mẫn và đạt đến sự tịnh hóa của tâm thức (hoàn toàn không còn vọng tưởng hay phiền não).8. Especially emphasized in Mahayana Buddhism, all sentient beings have Buddha Nature/ Essence. One can become a Buddha (a supreme enlightened being) in due course if one practises diligently and attains purity of mind (ie absolutely no delusions or afflictions).
9- Trong Đạo Phật, mục tiêu tối hậu của tín đồ/ hành giả là Giác Ngộ và/ hay giải thoát khỏi vòng luân hồi; thay vì đi đến một Thiên đàng ( hay thế giới chư thiên trong phạm trù của vũ trụ quan Phật giáo).9. In Buddhism, the ultimate objective of followers/practitioners is enlightenment and/or liberation from Samsara; rather than to go to a Heaven (or a deva realm in the context of Buddhist cosmology).
10- Nghiệp và nghiệp lực là viên đá nền tảng của giáo lý nhà Phật. Chúng được giảng nghĩa rất kỷ lưởng trong Đạo Phật. Nghiệp liên quan đến một khái niệm siêu hình quan trọng liên hệ với hành động và những hệ quả của nó. Quy luật về nghiệp này giải thích vấn nạn của những khổ đau, bí ẩn của điều được gọi là số mạng và tiền định của một số tôn giáo, và ở trên tất cả sự bất bình đẳng hiển nhiên của loài người.10. Karma and Karma Force are cornerstones in Buddhist doctrines. They are expounded very thoroughly in Buddhism. Karma refers to an important metaphysical concept concerned with action and its consequences. This law of karma explains the problem of sufferings, the mystery of the so-called fate and predestination of some religions, and above all the apparent inequality of mankind.
11- Tái sanh là một giáo lý chìa khóa khác trong Đạo Phật và nó liên hệ mật thiết với nghiệp. Có một sự khác biệt vi tế giữa tái sanh và đầu thai như được giải thích trong Ấn giáo. Đạo Phật phủ nhận lý thuyết về một sự đầu thai của linh hồn thường còn, cho dù nó được tạo ra bởi thượng đế hay hiện thân từ một bản thể thần linh.11. Rebirth is another key doctrine in Buddhism and it goes hand in hand with karma. There is a subtle difference between rebirth and reincarnation as expounded in Hinduism. Buddhism rejects the theory of a transmigrating permanent soul, whether created by a god or emanating from a divine essence. 
12- Từ ái (sankrit: Maitri, pali: Metta) và Bi mẫn (karuna) đối với tất cả chúng sanh kể cả thú vật. Đạo Phật cấm chỉ triệt để việc giết hại súc sanh để cúng tế dù cứ lý do gì. Việc ăn chay được khuyến khích nhưng không bắt buộc.12. Maitri or Metta in Pali (Loving Kindness) and Karuna (Compassion) to all living beings including animals. Buddhism strictly forbids animal sacrifice for whatever reason. Vegetarianism is recommended but not compulsory.
13- Tầm quan trọng của việc Không dính mắc – hành xả. Đạo Phật vượt khỏi hành động tốt và biểu hiện tốt. Hành giả không được dính mắc với những hành vi tốt hay ý tưởng làm việc tốt; bằng khác đi chỉ là một hình thức khác của tham chấp.13. The importance of Non-attachment. Buddhism goes beyond doing good and being good. One must not be attached to good deeds or the idea of doing good; otherwise it is just another form of craving.
14- Trong Đạo Phật, có sự quan tâm cho tất cả chúng sanh (đối với con người, như trong những tôn giáo khác). Người Phật tử nhìn nhận sự tồn tại của thú vật và những chúng sanh trong các cõi khác của vòng Luân Hồi.14. In Buddhism, there is consideration for all sentient beings (versus human beings, as in other religions). Buddhists acknowledge/accept the existence of animals and beings in other realms in Samsara.
15- Không có khái niệm thánh chiến trong Đạo Phật. Giết hại là phạm một giới đạo đức then chốt trong Đạo Phật. Phật tử bị cấm chỉ triệt để việc giết hại người khác nhân danh tôn giáo, một lãnh tụ tôn giáo hay viện cớ tôn giáo hay lý do trần tục.15. No holy war concept in Buddhism. Killing is breaking a key moral precept in Buddhism. One is strictly forbidden to kill another person in the name of religion, a religious leader or whatsoever religious pretext or worldly excuse.
16- Khổ đau là một nền tảng khác của Đạo Phật. Đó là chân lý thứ nhất trong Tứ Diệu Đế. Khổ đau được phân tích và giải thích rất tỉ mỉ trong Đạo Phật.16. Suffering is another cornerstone in Buddhism. It is the first of the Four Noble Truths. Sufferings are very well analysed and explained in Buddhism.
17- Ý tưởng về nguyên tội hay tội tổ tông không có vị trí trong Đạo Phật. Cũng thế, nguyên tội không nên bị đánh đồng với khổ đau.17. The idea of sin or original sin has no place in Buddhism. Also, sin should not be equated to suffering.
18- Giáo lý Đạo Phật nói về sự không có khởi đầu và không kết thúc (vô thỉ và vô chung) đối với sự tồn tại của con người hay sự sống. Hầu như không có sự quan tâm đến nguyên nhân đầu tiên – hay như đầu tiên con người hình thành như thế nào? (Vì chúng ta sẽ đòi hỏi nguyên nhân của nguyên nhân đầu tiên …)18. Buddhist teachings expound no beginning and no end to one’s existence or life. There is virtually no recognition of a first cause — e.g. how does human existence first come about? (Because we will ask for the cause of the first cause…).
19- Giáo pháp cung ứng một giải thích rất chi tiết về giáo lý vô ngã (sankrit: anatman, Pali: anatta), nghĩa là không có thực thể linh hồn (cho dù trong một kiếp sống hay nhiều kiếp sống).19. The Dharma provides a very detailed explanation of the doctrine of anatman {anatta in Pali} or soullessness , i.e. there is no soul entity (whether in one life of many lives).
20- Đức Phật là toàn giác toàn tri nhưng không toàn năng. Ngài có thể thực hiện vô lượng công đức nhưng có 3 việc Ngài không thể làm (không thể dứt hết nghiệp chướng của chúng sanh, không thể dứt hết khổ đau của chúng sanh, không thể độ tận chúng sanh). Cũng thế, một Đức Phật không tự nhận là một đấng tạo ra những sự sống hay vũ trụ.20. The Buddha is omniscient but he is not omnipotent. He is capable of innumerable feats but there are three things he cannot do. Also, a Buddha does not claim to be a creator of lives or the Universe.
21- Bát nhã (Prajna [Sankrit], Panna [Pali]) Tuệ trí Siêu việt chiếm vị trí chính yếu trong giáo lý Đạo Phật. Đức Thế Tôn Thích Ca giảng dạy khái niệm Bát nhã trong gần 20 năm cho giáo đoàn. Nó được dạy để cân bằng từ bi và tuệ trí nghĩa là cảm xúc (đức tin) với nhân tố căn bản (chánh kiến/ lẻ thật/ luận lý).21. Prajna [Panna in Pali] or Transcendent Wisdom occupies a paramount position in Buddhist teachings. Sakyamuni Buddha expounded Prajna concepts for some 20 years of his ministry. One is taught to balance compassion with prajna i.e.emotion (faith) with rationale (right understanding / truth / logic). 
22- Truyền thống và hành thiền trong Đạo Phật tương đối quan trọng và mạnh mẽ. Trong khi tất cả mọi tôn giáo dạy một số hình thức hay sự đa dạng của thiền định / nhất tâm thiền (chỉ), thì chỉ có Đạo Phật nhấn mạnh thiền quán/ thiền phân tích (Tuệ minh sát) như một khí cụ đầy năng lực để giúp hành giả trong việc tìm kiếm giải thoát hay Giác Ngộ.22. The tradition and practice of meditation in Buddhism are relatively important and strong. While all religions teach some forms or variations of stabilising/single-pointedness meditation, only Buddhism emphazises Vipassana (Insight) meditation as a powerful tool to assist one in seeking liberation/enlightenment.
23- Giáo lý Tánh không hay Sunyata là đặc biệt của Đạo Phật và nhiều khía cạnh của nó được giải thích cặn kẻ trong giáo lý Đạo Phật phát triển. Một cách tóm lược, giáo lý này thừa nhận bản chất siêu việt của Thực tại Cứu kính. Nó tuyên bố thế giới hiện tượng là trống rỗng mọi giới hạn của diễn tả và rằng mọi khái niệm của thế giới nhị nguyên bị xóa tan.23. The doctrine of Sunyata or Emptiness is unique to Buddhism and its many aspects are well expounded in advanced Buddhist teachings. Briefly, this doctrine asserts the transcendental nature of Ultimate Reality. It declares the phenomenal world to be void of all limitations of particularization and that all concepts of dualism are abolished.
24- Nhân duyên [Paticcasamuppada: Pali] hay Duyên khởi là một giáo lý then chốt khác của Đạo Phật. Giáo lý này giải thích rằng tất cả mọi hiện tượng tâm lý và vật lý cấu thành sự tồn tại cá thể là phụ thuộc lẫn nhau và điều kiện cần thiết hổ tương với nhau; điều này đồng thời diễn tả những gì làm chúng sanh bị vướng mắc vào vòng luân hồi.24. Conditioned Arising [Paticcasamuppada in Pali] or Dependent Origination is another key doctrine in Buddhism. This doctrine explains that all psychological and physical phenomena constituting individual existence are interdependent and mutually condition each other; this at the same time describes what entangles sentient beings in samsara.
26- Khái niệm về địa ngục trong Đạo Phật cũng rất khác biệt với nhưng tôn giáo khác. Nó không là một nơi cho kiếp đọa đày vĩnh viễn như cái nhìn của những tôn giáo thờ ‘đấng tạo hóa toàn năng’. Trong Đạo Phật, nó chỉ là một trong sáu cõi Luân hồi [chỗ tệ hại nhất của ba thế giới khổ đau không ai muốn]. Cũng thế, hầu như có vô số địa ngục trong vũ trụ quan Phật giáo như có vô số cõi Phật.25. The concept of Hell(s) in Buddhism is very different from that of other religions. It is not a place for eternal damnation as viewed by ‘almighty creator’ religions. In Buddhism, it is just one of the six realms in Samsara [i.e. the worst of three undesirable realms]. Also, there are virtually unlimited number of hells in the Buddhist cosmology as there are infinite number of Buddha worlds.
26- Vũ trụ quan Phật giáo là khác biệt rõ ràng với những tôn giáo khác vốn thường nhìn nhận chỉ có thái dương hệ (Trái Đất) này như trung tâm của Vũ trụ và hành tinh duy nhất có sự sống. Quan điểm của Đạo Phật về một thế giới Phật (cũng được biết như Ba Nghìn Đại
Thiên thế giới) là có hàng tỉ thái dương hệ. Bên cạnh đó, giáo lý Đại thừa Phật giáo giải thích rằng có những hệ thống thế giới hiện tại như Tịnh độ của Đức Phật Di Đà và Đức Phật Dược Sư.
26. The Buddhist cosmology (or universe) is distinctly different from that of other religions which usually recognise only this solar system (Earth) as the centre of the Universe and the only planet with living beings. The Buddhist viewpoint of a Buddha world (also known as Three Thousand-Fold World System) is that of one billion solar systems. Besides, the Mahayana Buddhist doctrines expound that there are other contemporary Buddha worlds like Amitabha’s Pure Land and Bhaisajyaguru’s world system.
27- Luân hồi là một khái niệm nền tảng trong Đạo Phật và nó đơn giản là ‘những chu kỳ tồn tại bất tận’ hay những vòng sinh tử không ngừng của sáu cõi luân hồi. Hình thức tái sanh theo chu kỳ chỉ chấm dứt khi một chúng sanh thành tựu Niết bàn, có nghĩa là sự cạn hết nghiệp chướng, dấu vết thói quen, nhiễm ô và vọng tưởng. Tất cả những tôn giáo khác giảng rằng chỉ có một thiên đàng, một trái đất và một địa ngục, nhưng quan điểm này rất giới hạn so với vòng luân hồi của Đạo Phật nơi mà thiên đàng chỉ một trong sáu cõi luân hồi và nó có 28 cấp độ/ tầng.27. Samsara is a fundamental concept in Buddhism and it is simply the ‘perpetual cycles of existence’ or endless rounds of rebirth among the six realms of existence. This cyclical rebirth pattern will only end when a sentient being attains Nirvana, i.e. virtual exhaustion of karma, habitual traces, defilements and delusions. All other religions preach one heaven, one earth and one hell, but this perspective is very limited compared with Buddhist samsara where heaven is just one of the six realms of existence and it has 28 levels/planes.
Tuệ Uyển chuyển ngữ
Ẩn Tâm Lộ, Thursday, December 15, 2016