Chủ Nhật, 14 tháng 2, 2016
Thứ Bảy, 13 tháng 2, 2016
BƯỚC NGOẶT CỦA KHOA HỌC
His Holiness the Dalai Lama
Tuệ Uyển chuyển ngữ
Những
thập niên cuối cùng vừa qua đã chứng kiến những tiến bộ vượt bậc của
khoa học về toàn bộ cơ thể và bộ não con người. Xa hơn nữa, với sự phát
triển những kiến thức mới về di truyền học, thần kinh học của những hoạt
động của những cơ cấu của vi sinh vật bây giờ đang đến trình độ vững
vàng ổn định nhất của những tế bào cá nhân. Điều này đưa đến những kỹ
thuật với khả năng bất ngờ trong sự vận động đúng đắn của chính nguyên
tắc cuộc sống, theo cách ấy cho phép tăng gia việc tạo nên thực tế hoàn
toàn mới của loài người như một tổng thể. Ngày nay vấn đề những cái
chung nhất của khoa học với loài người trong phạm vi rộng lớn hơn không
còn là một sự kiện hứng thú lý thuyết đơn thuần; vấn đề này phải đảm
trách một ý nghĩa cấp bách cho tất cả những ai quan tâm đến số phận tồn
tại của con người. Vì thế chúng tôi cảm thấy rằng một sự đối thoại giữa
thần kinh học và xã hội có thể có những lợi ích thâm sâu trong ấy, rằng
nó có thể giúp đào sâu thêm sự hiểu biết căn bản của điều muốn nói là,
loài người và trách nhiệm của chúng ta đối với thế giới tự nhiên mà
chúng ta chia sẻ với những chủng loại chúng sinh khác. Chúng tôi vui
mừng để lưu ý rằng như phần chung nhất rộng lớn hơn này, có một sự quan
tâm lớn mạnh của những nhà thần kinh học trong những đối thoại sâu hơn
với những sự tu tập thiền định của đạo Phật.
Mặc
dù sự quan tâm của chính chúng tôi đối với khoa học đã bắt đầu như sự
tò mò của một người trai trẻ hiếu động lớn lên ở Tây Tạng, dần dần sự
quan trọng to lớn của khoa học và kỷ thuật vì sự hiểu biết thế giới hiện
đại trở nên rõ ràng trong trí óc chúng tôi. Chúng tôi không chỉ tìm tòi
để hiểu thấu những ý tưởng khoa học đặc thù, nhưng cũng cố gắng khám
phá những quan hệ mật thiết rộng lớn hơn của những tiến bộ mới trong
kiến thức nhân loại và năng lực kỷ thuật đem đến qua khoa học. Những
phạm vi đặc thù của khoa học mà chúng tôi đã tìm hiểu nhiều năm qua hầu
hết là vật lý hạ nguyên tử, vũ trụ học, sinh vật học, và tâm lý học. Vì
sự hiểu biết giới hạn của mình trong những phạm vi này chúng tôi tri ân
đến những giờ khắc của những thời gian cởi mở bộc trực chia sẻ với chúng
tôi bởi giáo sư Carl von Weizsacker và cố giáo sư David Bohm, những
người mà chúng tôi xem như những vị thầy của mình về cơ học lượng tử, và
trong lĩnh vực sinh vật học, đặc biệt thần kinh học, bởi cố giáo sư
Robert Livingstone và Francisco Varela. Chúng tôi cũng biết ơn nhiều nhà
khoa học nổi tiếng với họ chúng tôi đã có đặc ân tham gia những cuộc
đối thoại qua sự bảo trợ của Viện Tâm Học và Đời Sống, đơn vị đã khởi
xướng những Hội Nghị Tâm Thức và Cuộc Sống bắt đầu vào năm 1987 tại nơi
cư trú của chúng tôi ở Dharamsala, Ấn Độ. Những cuộc đối thoại này đã
tiếp tục trải qua hàng năm và trên thực tế cuộc đối thoại sau cùng về
Tâm Thức và Cuộc Sống đã kết thúc tại đây, thủ đô Hoa Sinh Tân, Hoa kỳ,
vào đúng tuần này.
Ai
đấy có thể tự hỏi rằng “Một tu sĩ Phật giáo làm gì mà hứng thú sâu xa
trong khoa học như thế? Có sự liên hệ nào ở đấy giữa Phật giáo, một
truyền thống triết học và tâm linh của Ấn Độ và khoa học hiện đại? Lợi
ích nào có thể có đối với một môn khoa học kỷ cương như thần kinh học
hấp dẫn trong sự đối thoại với truyền thống thiền định hay tĩnh lự của
Phật giáo?”
Mặc
dù truyền thống thiền định Phật giáo và khoa học hiện đại tiến triển từ
những gốc rể lịch sử, tri thức và văn hóa khác nhau, chúng tôi tin rằng
từ tâm điểm chúng chia sẻ phần lớn những ý nghĩa quan trọng đặc biệt
trong căn bản quan điểm triết lý và phương pháp học. Ở trình độ triết
lý, cả Phật học và khoa học hiện đại cùng chia sẻ một sự hoài nghi sâu
xa về bất cứ những khái niệm tuyệt đối nào, cho dù khái niệm như một sự
hiện hữu siêu việt, như một nguyên lý hay nguyên tố vĩnh cữu, không thay
đổi như tâm linh, hay như một hạ tầng cơ sở căn bản của thực tại. Cả
Phật học và khoa học cùng liên hệ để giải thích cho sự hiện diện và sự
tiến triển của vũ trụ và đời sống trong những quan hệ hổ tương phức tạp
của định luật tự nhiên về nguyên nhân và kết quả hay luật nhân quả. Từ
viễn tượng phương pháp học cả hai truyền thống nhấn mạnh đến vai trò
kinh nghiệm của những phương pháp thực hành. Thí dụ, trong truyền thống
khảo sát của Phật học giữa ba nhân tố xác chứng tri thức: – kinh nghiệm,
lý trí và thực chứng - nó là chứng cớ của kinh nghiệm diễn ra trước,
với lý trí đến thứ hai và cuối cùng là thực chứng. Điều này có nghĩa
rằng, trong Phật học khảo sát thực tại, tối thiểu trong căn bản, thực
chứng kinh nghiệm nên vượt lên trên uy quyền của lý thuyết kinh luận
chẳng kể là một kinh điển có thể được tôn kính sâu xa như thế nào. Ngay
cả trong trường hợp tri thức được tìm thấy ra qua lý trí hay suy luận,
giá trị của nó phải bắt nguồn một cách căn bản từ một số quán sát những
sự kiện của kinh nghiệm. Do bởi lập trường cùng quan điểm này, chúng tôi
thường khuyến cáo đến những những đồng sự Phật giáo của chúng tôi rằng
những sự hiểu biết sâu sắc thẩm tra kinh nghiệm của vũ trụ học và thiên
văn học hiện đại phải thúc đẩy chúng ta sửa đổi bây giờ, hay trong một
số trường hợp bác bỏ nhiều khía cạnh của truyền thống vũ trụ học như đã
được tìm thấy trong những kinh luận cổ xưa.
Vì
căn bản vận động chính, sự khảo sát của Phật giáo về thực tại, là yêu
cầu thiết yếu để vượt thắng khổ đau và làm hoàn hảo những tình trạng của
con người, định hướng chính yếu của truyền thống khảo sát Phật giáo đã
từng nhằm thông hiểu tâm thức con người và nhiều chức năng khác nhau của
nó. Trách nhiệm ở đây là bằng vào việc đạt đến sự thông suốt sâu xa hơn
tâm linh con người, chúng ta có thể tìm ra những phương pháp để chuyển
hóa tư tưởng của chúng ta, những cảm xúc, những xu hướng cơ bản của
chúng và vì thế một phương pháp lành mạng, tráng kiện và toàn diện đáp
ứng cho con người có thể được tìm ra. Điều thể hiện trong luận văn này
là truyền thống Phật giáo đã sáng tạo ra một sự phân loại những trạng
thái tinh thần, cũng như những kỷ năng thiền định tư duy để tinh luyện
những phẩm chất tinh thần đặc thù. Vì thế một sự trao đổi chân thành xác
thực giữa tri thức và kinh nghiệm tích tập của Phật học và khoa học
hiện đại trên một phạm vi rộng rải là lợi ích có liên quan đến tâm thức
con người, từ nhận thức và cảm xúc để thấu hiểu khả năng về sự chuyển
hóa vốn có trong não bộ con người có thể được quan tâm một cách sâu xa
và cũng như lợi ích tiềm tàng của nó. Trong kinh nghiệm của chính mình,
chúng tôi cảm thấy được bồi bổ sâu sắc do những buổi tham dự đối thoại
với những nhà thần kinh học và tâm lý học trên những câu hỏi về tự nhiên
và vai trò của những xúc tình tích cực và tiêu cực, chú ý, tưởng tượng,
cũng như tính tạo hình của não bộ. Bằng chứng thuyết phục từ thần kinh
học và y học về vai trò cốt yếu của sự tiếp xúc vật lý đơn giản cho ngay
cả sự khuyếch trương của một bộ não nhi đồng trong những tuần lễ đầu
tiên mang đến một cách mạnh mẻ sự liên hệ bản chất giữa từ bi yêu thương
và hạnh phúc con người.
Phật
giáo từ lâu đã tranh luận về khả năng đặc biệt rộng lớn về sự chuyển
hóa tồn tại một cách tự nhiên trong bộ não con người. Cuối cùng, truyền
thống đã phát triển một hệ thống rộng lớn những kỷ năng tư duy tĩnh lự,
hay những phương pháp thiền định, hướng đặc trưng đến hai mục tiêu
chính:
1- Tăng trưởng một tâm yêu thương, và
2-
Phát triển sự hiểu biết sâu sắc vào trong tự nhiên của thực tại, điều
ám chỉ như sự liên hiệp thống nhất của từ bi và tuệ trí.
Từ tâm điểm của những phương pháp thiền định này dựa trên hai kỷ năng căn bản,
1- Sự rèn luyện tinh tế chú tâm hay định lực và sự áp dụng vững vàng kiên định trên một khía cạnh, và khía cạnh kia là
2- Điều chỉnh và chuyển hóa những cảm xúc.
Trong
cả hai trường hợp này, chúng tôi cảm thấy, có thể có khả năng to lớn
rộng rải cho sự cộng tác nghiên cứu giữa truyền thống thiền định tư duy
của đạo Phật và thần kinh học. Thí dụ, thần kinh học hiện đại đã phát
triển một sự hiểu biết phong phú về cơ chế của bộ não liên kết với cả
chú ý và cảm xúc. Truyền thống thiền định tư duy của đạo Phật, một mặt
cống hiến một lịch sử lâu đời của nó về sự quan tâm trong sự thực tập
rèn luyện tinh thần, cống hiến về mặt khác là những kỷ năng thực hành
thực dụng cho một định lực tinh tế, cùng sự điều chỉnh và chuyển hóa cảm
xúc. Sự gặp gở của thần kinh học hiện đại và kỷ năng thiền định tư duy
của Phật học, vì thế, có thể đưa đến khả năng của sự học hỏi về tác động
hành hoạt có chủ tâm của tinh thần trên hệ thống thần kinh của não bộ
được nhận diện như thiết yếu cho những tiến trình tinh thần đặc thù. Tối
thiểu trong sự gặp gở của nhiều ngành học thuật có thể hổ trợ để đặt
lên những câu hỏi quan trọng trong nhiều lãnh vực thiết yếu. Thí dụ, có
phải những cá nhân có một khả năng thích ứng để điều chỉnh những cảm xúc
và sự chú tâm của họ hay, như truyền thống Phật học luận bàn, khả năng
của họ để điều chỉnh những tiến trình này chịu trách nhiệm lớn lao để
thay đổi những ý kiến nảy sinh ở cấp độ tương tự của thái độ tuân thủ và
hệ thống của bộ não liên hệ với những chức năng này hay không? Trên một
lãnh vực mà truyền thống thiền định tư duy của đạo Phật có thể có một
sự cống hiến quan trọng để làm là những kỷ năng thiết thực nó phát triển
cho việc rèn luyện trong từ bi yêu thương. Với sự quan tâm đến sự rèn
luyện tinh thần cả trong chú tâm và điều phục cảm xúc nó cũng trở nên
quan trọng để đặt những câu hỏi hoặc là có bất cứ kỷ năng đặc thù nào có
thời gian cảm ứng trong định hạn có hiệu lực của chúng, vì thế những
phương pháp mới có thể được thiết lập để thích ứng những yêu cầu về tuổi
tác, sức khỏe, và những nhân tố biến thiên khác.
Tuy
vậy, một điểm cần thận trọng được kêu gọi quan tâm. Chắc chắn không thể
tránh được khi hai truyền thống khảo sát hoàn toàn khác nhau như Phật
học và thần kinh học được gặp gở với nhau trong một cuộc đối thoại đa
diện, điều này sẽ liên hệ đến những vấn đề mà thông thường đi kèm theo
để trao đổi xuyên qua ranh giới của văn hóa và thể nghiệm. Thí dụ, khi
chúng ta nói về “khoa học thiền định”, chúng ta cần một cảm giác bén
nhạy chính xác ý nghĩa nào đấy trong lời tuyên bố như thế. Trên lãnh vực
của những nhà khoa học, chúng tôi cảm thấy, thật quan trọng để cảm giác
bén nhạy đến những ý nghĩa khác nhau của một thuật ngữ quan trọng như
thiền định trong phạm vi truyền thống. Thí dụ, trong phạm vi truyền
thống thuật ngữ cho thiền định là “bhavana” trong Sanskrit hay Tạng ngữ
là “gom”. Thuật ngữ Sanskrit “bhavana” nghĩa là khái niệm tu tập, như là
tu tập rèn luyện một thói quen đặc thù hay một phương pháp sống, trong
khi Tạng ngữ “gom” có nghĩa là thói quen tu tập. Vì thế, phát biểu một
cách ngắn gọn là, thiền định trong phạm vi truyền thống Phật học đề cập
đến một sự hoạt động tinh thần có suy nghĩ thận trọng liên hệ sự tu
dưỡng quen thuộc và thông hiểu, với nó là một đối tượng được lựa chọn,
một sự kiện, một chủ đề, một thói quen, một quan điểm, hay một phương
thức sống. Nói một cách rộng rải hơn, có hai chủ đề của thực tập thiền
định:
1- Tập trung trên sự tĩnh lặng của tâm.
2- Tập trung trên những tiến trình nhận thức của hiểu biết.
Cả
hai được đề cập đến như: a- Thiền tập định tâm và b- Thiền tập biện
giải hay phân tích. Trong cả hai trường hợp, thiền tập có thể mang nhiều
hình thức khác nhau. Thí dụ, nó có thể mang hình thức như lấy một thứ
gì đấy làm đối tượng nhận thức của một người, như thiền định trên sự vô
thường, tạm bợ, hay nhất thời của một đời người. Hay nó có thể mang hình
thức của việc trau dồi một trạng thái tinh thần đặc thù, chẳng hạn như
từ bi yêu thương bằng sự phát triển một sự thành tâm, vị tha, thương cảm
để làm nhẹ bớt khổ đau của những người khác. Hay, nó có thể mang hình
thức của quán tưởng, khám phá khả năng của con người để phát sinh tâm
thức quán chiếu, điều này có thể được sử dụng trong nhiều phương pháp
khác nhau để trau dồi sự cát tường của tâm thức. Vì thế thật thiết yếu
để nhận thấy hình thức nào của thiền tập mà một người có thể khảo sát
khi liên hệ trong sự cộng tác nghiên cứu và do vậy sự phức tạp của những
sự thực hành thiền tập được học hỏi là phù hợp với sự thích thú phức
tạp tế nhị của nghiên cứu khoa học.
Một
lĩnh vực khác nơi mà một viễn cảnh quan yếu được đòi hỏi trong phần của
những khoa học gia là khả năng phân biệt giữa những khía cạnh KINH
NGHIỆM của tư tưởng Phật học và quán chiếu tư duy trên một phương diện,
và phương diện kia là TRIẾT LÝ và tính chất siêu hình liên hệ với những
phương pháp thực tập thiền định. Nói cách khác, đúng như chúng ta phải
phân biệt trong sự tiếp cận của khoa học giữa giả thuyết, những kinh
nghiệm quán sát dựa trên những thử nghiệm, và sự giải thích kết quả
trong cùng một cách nó thật thiết yếu để phân biệt giả thuyết, những
điểm đặc trưng có thể thẩm tra lại dựa theo kinh nghiệm của những trạng
thái tinh thần, và những diễn giải triết lý kết quả trong Phật học. Cách
này cả hai phía trong cuộc đối thoại có thể tìm ra một cơ sở phổ biến
của những thực tế có thể quán sát theo kinh nghiệm về tâm thức con
người, trong khi không rơi vào sự chủ quan làm giảm bớt cơ cấu giá trị
nghiên cứu, tập luyện hay tu dưỡng của phía kia. Mặc dù những tiền giả
thuyết triết lý và những diễn giải nhận thức kết quả có thể khác nhau
giữa hai truyền thống khảo nghiệm này, bao lâu khi những kinh nghiệm
thực tế được quan tâm, những thực tế phải được duy trì như những thực
tế, không kể là chúng ta chọn cách nào để diễn tả chúng. Bất cứ những sự
thật nào về tự nhiên chung cuộc của nhận thức – cho dù cuối cùng nó có
thể giảm bớt hay không giảm bớt những tiến trình vật lý – chúng tôi tin
tưởng ở đấy chúng ta có thể chia xẻ được những kinh nghiệm hiểu biết
thực tế về nhiều khía cạnh khác nhau của những nhận thức, tư tưởng và
cảm xúc của chúng ta.
Với
những sự quan tâm thận trọng này, chúng tôi tin tưởng, một sự cộng tác
gần gũi giữa hai truyền thống khảo nghiệm này có thể cống hiến thật sự
đến việc mở rộng sự hiểu biết của con người về thế giới phức tạp của
kinh nghiệm chủ quan nội tại mà chúng ta gọi là tâm. Lợi ích của những
sự cộng tác đang bắt đầu được chứng minh, giải thích và làm thấy rỏ.
Theo những báo cáo sơ bộ, những tác động ảnh hưởng của tập luyện tinh
thần, như thực hành tỉnh thức đơn giản trên một căn bản thông thường hay
trau dồi tâm nguyện từ bi yêu thương như được thuyết minh trong Phật
học, đem đến sự thay đổi đáng kể trong não bộ con người có tương quan
đến những trạng thái tinh thần tích cực có thể được đo lường. Những khám
phá gần đây trong thần kinh học đã chứng minh sự tạo hình bẩm sinh của
não bộ, cả hai hình thức về những mối quan hệ của việc phân chia tế bào
thần kinh và sản sinh tế bào thần kinh, như một kết quả của sự hướng đến
những kích thích ngoại tại, như sự luyện tập vật lý tự giác và sự làm
phong phú thêm cho môi trường. Truyền thống thiền định tư duy Phật học
có thể giúp để mở rộng lãnh vực thẩm tra này của khoa học bằng việc đề
xuất những phương pháp luyện tập tinh thần mà nó cũng liên quan thích
hợp đến việc tạo hình của não bộ. Nếu nó hóa ra, như truyền thống Phật
học hàm ý, sự thực tập tinh thần có thể ảnh hưởng đáng kể trong việc
phân chia tế bào thần kinh và những thay đổi thần kinh trong bộ não,
điều này có thể có sự quan hệ mật thiết sâu xa. Âm vang của những nghiên
cứu như thế không đơn giản chỉ để mở rộng kiến thức chúng ta về tâm
thức con người; nhưng, có thể một cách quan trọng hơn, chúng có thể có
tầm quan trọng to lớn hơn cho sự hiểu biết của chúng ta về giáo dục và
sức khỏe tinh thần. Tương tự thế, bất kỳ lúc nào, như những xác nhận của
truyền thống Phật học, sự tự nguyện tu dưỡng trau dồi từ bi yêu thương
có thể dẫn đến sự thay đổi căn bản trên quan điểm của cá nhân, hướng đến
sự thấu cảm rộng lớn hơn đối với những người khác, điều này có thể có
quan hệ mật thiết và ảnh hưởng sâu xa rộng rải cho xã hội.
Cuối
cùng, chúng tôi tin tưởng rằng sự cộng tác giữa thần kinh học và truyền
thống thiền tập của Phật học có thể tỏa ra ánh sáng mới mẻ trên vấn đề
quan trọng sinh động cho bộ mặt chung của đạo đức học và thần kinh học.
Bất chấp nhận thức nào mà người ta có thể có về quan hệ giữa đạo đức học
và khoa học, trong thực hành thật sự, khoa học đã tiến triển chính yếu
như một sự khám phá, một sự tập luyện, một môn học của kinh nghiệm với
một thái độ trung lập về đạo đức và quý trọng tự do. Nó đã được nhận
thức một cách thiết yếu như một phương thức để thẩm tra mà trong ấy cho
chúng ta những kiến thức chi tiết của thế giới kinh nghiệm và những định
luật căn bản của tự nhiên. Chỉ từ quan điểm khoa học, việc tạo nên vũ
khí nguyên tử thật sự là một thành quả đáng kinh ngạc. Tuy thế, vì sự
sáng tạo này có khả năng bắt loài người phải chịu quá nhiều khổ đau với
những cái chết và sự tàn phá không thể tưởng tượng, chúng ta phải lưu ý
nó như tiêu cực, hay hủy diệt, hay không xây dựng. Sự đánh giá đạo đức
điều đó phải được quyết định trên những gì tiêu cực và những gì tích
cực. Cho đến gần đây, điều tiếp cận này tách biệt đạo đức và khoa học,
với sự thấu hiểu rằng khả năng con người để suy nghĩ phù hợp đạo lý tiến
triển song song cùng với kiến thức con người, dường như đã thành công.
Hiện
nay, chúng tôi tin tưởng rằng loài người đang ở một bước ngoặc quan
trọng. Những tiến bộ cơ bản đã xảy ra trong thần kinh học và đặc biệt
trong di truyền học vào cuối thế kỷ hai mươi đã hướng chúng ta đến một
kỷ nguyên mới của lịch sử loài người. Kiến thức của chúng ta về não bộ
và thân thể con người ở cấp độ tế bào và di truyền học, với kết quả của
những tiềm năng quan trọng của kỹ thuật đã cống hiến cho di truyền học,
đã tiến đến một trình độ mà đạo đức thử thách với những tiến bộ khoa học
này là rất lớn lao. Nó cũng quá hiển nhiên rằng sự tư duy đạo đức đơn
giản đã không thể bắt kịp nhịp bước với tiến trình nhanh chóng như thế
trong sự thu hoạch về kiến thức và năng lực của chúng ta. Tuy thế, những
ngành của những khám phá mới này và những áp dụng của chúng đến nay đạt
được chứng tỏ chúng liên hệ đến ngay chính nhận thức tự nhiên của con
người và sự bảo tồn duy trì loài người. Vì thế chúng ta không còn phải
chấp nhận quan điểm rằng trách nhiệm của chúng ta như một xã hội chỉ đơn
giản là những kiến thức khoa học và những năng lực nổi bật của kỷ thuật
vượt trội hơn nữa và rằng sự lựa chọn những gì để hành động với kiến
thức và năng lực này nên được giao phó trong những bàn tay của cá nhân.
Chúng
ta phải tìm ra phương thức có liên quan tới chiều hướng của sự phát
triển khoa học đặc biệt trong khoa học đời sống. Bằng sự viện dẫn những
nguyên tắc đạo đức căn bản, chúng tôi không bênh vực một sự hiệp nhất
đạo đức tôn giáo và sự thẩm tra của khoa học. Tốt hơn, chúng tôi nói về
những gì chúng tôi gọi là “đạo lý muôn thuở” nó bao trọn những nguyên
tắc đạo đức chính yếu, như là từ bi yêu thương, bao dung, một ý nghĩa ân
cần, quan tâm đến kẻ khác, cùng trách nhiệm trong việc sử dụng kiến
thức và năng lực – những nguyên tắc vượt lên trên những ngăn cách giữa
những người tín ngưỡng cùng những người không tín ngưỡng, và những tín
đồ của tôn giáo này với tôn giáo khác. Một cách cá nhân chúng tôi muốn
tưởng tượng những hành động của tất cả loài người, kể cả khoa học, như
những ngón tay trên một bàn tay. Vì thế cho đến khi nào một ngón tay của
những ngón tay vẫn được nối với bàn tay của sự thông cảm và vị tha căn
bản của con người, chúng sẽ tiếp tục phục vụ cho sự cát tường của loài
người. Chúng ta đang thực sự sống trên một thế giới. Kinh tế hiện đại,
truyền thông điện tử, du lịch quốc tế cũng như những vấn đề của môi
trường, tất cả nhắc nhở chúng ta căn bản hằng ngày sự liên đới thế giới
ngày nay đã trở nên sâu xa như thế nào. Những cộng đồng khoa học đóng
một vai trò sinh động quan trọng đầy sức sống trong thế giới liên đới
tương thuộc này. Vì bất cứ lý do lịch sử nào, hiện nay những khoa học
gia thụ hưởng một sự tôn trọng và tín nhiệm lớn lao trong xã hội, nhiều
hơn hẳn những môn học tu luyện, kỹ luật, triết lý, và tôn giáo của chính
chúng tôi. Chúng tôi kêu gọi đến những khoa học gia là hãy mang vào
trong việc làm chuyên môn của họ tiếng gọi của những nguyên tắc đạo đức
căn bản mà tất cả chúng ta cùng chia sẻ như những con người.
Science at the Crossroads
By Tenzin Gyatso, the Dalai Lama
CHÙA BÁI ĐÍNH
Ngôi chùa nhiều kỷ lục nhất Việt Nam
Là quần thể lớn và sở hữu nhiều kỷ lục nhất Việt Nam, chùa Bái Đính được xem là một trong những điểm đến tâm linh thu hút rất đông khách mỗi dịp xuân về.Chùa Bái Đính nằm ở cửa ngõ phía tây khu di tích cố đô Hoa Lư, thuộc xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Với diện tích 539 ha, chỉ 27 ha trong số này là khu chùa Bái Đính cổ. Phần còn lại gồm khu chùa Bái Đính mới (80 ha) và các công viên văn hóa, học viện Phật giáo, nơi đón tiếp, bãi đỗ xe, hồ phóng sinh…Vào những ngày đầu xuân, chùa rất đông khách và nhộn nhịp. Bạn sẽ được chiêm ngưỡng những pho tượng khổng lồ như bộ Tam Thế bằng đồng lớn nhất Việt Nam, pho tượng Phật Thích Ca bằng đồng cao và nặng nhất... Ngoài ra, nơi đây cũng lưu giữ nhiều viên ngọc xá lợi, báu vật quý của Phật.Hàng trăm bức tượng La Hán được đặt dọc theo lối đi vào và ra khỏi chùa. Khi đi ngang qua mỗi bức tượng, nhiều người thường dùng tay chạm vào để mong cầu những điều tốt đẹp trong cuộc sống.Kiến trúc chùa nổi bật với những hình khối lớn, hoành tráng mang đậm dấu ấn Việt Nam, được sử dụng bằng nhiều nguồn nguyên liệu chính ở địa phương như: đá xanh Ninh Bình, gỗ tứ thiết, ngói men Bát Tràng...Điều khác biệt nhất ở kiến trúc chùa thể hiện ở vòm mái màu nâu sẫm cong vút hình đuôi chim phượng. Các chi tiết trang chí mang đậm dấu ấn của các làng nghề truyền thống nổi tiếng ở Việt Nam.Chùa có các điểm tham quan chính như: cổng Tam Quan, tháp chuông, các điện Quan Âm, Pháp Chủ, Tam Thế. Để đến một điểm tham quan, bạn phải đi qua một đoạn đường khá dài, đa số là các bậc thang. Điều này như một cách để thể hiện lòng kiên nhẫn và tâm nguyện được đặt chân đến chốn thanh tịnh của con người.Với nhiều kỷ lục, khu tâm linh núi chùa Bái Đính đã trở thành nơi du xuân lý tưởng. Khách đến từ nhiều nơi khác nhau, có cả khách nước ngoài, nhưng hầu hết họ đều đến chiêm bái và cầu mong những điều tốt đẹp, bình an cho gia đình, người thân và bạn bè.Du khách đến đây sẽ được dịp nghe lại những sự tích, câu chuyện về lịch sử của ngôi chùa và của quần thể này từ những nhân viên hướng dẫn.Khi đặt chân lên đến điện Tam Thế, bạn sẽ có cơ hội ngắm nhìn bức tranh thiên nhiên trữ tình và thơ mộng của toàn khu Tràng An. Hình ảnh những ngọn núi đá vôi được phủ xanh thấp thoáng trong những làn mây sẽ để lại trong bạn những ấn tượng khó quên.Du khách có thể về Ninh Bình (cách Hà Nội 93 km) thông qua nhiều phương tiện khác nhau như tàu hỏa, xe buýt, ôtô riêng hoặc xe máy.Vé tham quan Bảo tháp là 50.000 đồng/người, xe điện là 30.000 đồng/ người/chiều. Chùa mở cửa từ 6h tất cả các ngày trong tuần và thường đóng cửa lúc 21h, khi khách bắt đầu vắng. Đặc biệt, vào mỗi dịp Tết, chùa tổ chức lễ hội chùa Bái Đính diễn ra từ chiều mùng 1 Tết, khai mạc vào mùng 6 Tết và kéo dài tới hết tháng 3 âm lịch.Phong Vinh
Hành tây
Khắc tinh của mỡ trong máu(Cholesterol)
Nếu
chỉ dựa vào tính kháng sinh để tán dương củ hành đúng là nhìn củ hành qua lớp
vỏ. Nhiều kết quả nghiên cứu trong 2 thập niên gần đây cho thấy củ hành là khắc
tinh của chất mỡ trong máu.
Khác
với cơ chế tác dụng thông thường của nhiều loại thuốc chống mỡ trong máu theo
kiểu giảm thiểu cholesterol một cách thụ động, nghĩa là đợi đến lúc cholesterol
đã thao túng “thị trường” mới bắt đầu có biện pháp “chế tài”, củ hành có tác
dụng rốt ráo hơn nhiều thông qua ảnh hưởng trực tiếp trên chức năng biến dưỡng
chất béo của lá gan.
Ngoài
ra, hành tây còn giúp mật độ xương và mô liên kết được gia cố
Các
nhà nghiên cứu cho rằng hành tây có thể giúp tăng cường mật độ xương và có thể
mang đến nhiều lợi ích đặc biệt cho phụ nữ trong độ tuổi mãn kinh, vốn thường
đối mặt với tình trạng suy giảm mật độ xương.
Bên
cạnh đó, hàm lượng sulfur cao trong hành tây còn hỗ trợ trực tiếp cho mô liên
kết, do nhiều thành phần cấu tạo trong mô liên kết cần sulfur để duy trì hiện
diện và thực hiện chức năng của mình.
Trong
hành có chứa một hợp chất có thể ngăn ngừa các hoạt động phá vỡ xương. Đặc biệt
nó có lợi cho những phụ nữ có nguy cơ bị loãng xương khi họ đi qua thời kỳ mãn
kinh.
Giảm nguy cơ ung thư : Hành tây có thể làm giảm nguy cơ mắc nhiều bệnh ung thư, bao
gồm đại trực tràng, thanh quản, buồng trứng… ngay cả khi bạn chỉ hấp thu một
lượng vừa phải.
Vì
vậy, để có được đầy đủ lợi ích chống ung thư của hành tây, bạn nên đưa nó vào
thực đơn của mình. Hành có khả năng ngăn ngừa ung thư dạ dày do thành phần
nhiều sulfide.
Người
Hà Lan ăn nhiều hành tây (nửa củ mỗi ngày) có tỷ lệ mắc ung thư dạ dày thấp hơn
hẳn so với người không bao giờ ăn.
Các bệnh về hô hấp: Tổ chức y tế Thế giới WHO thừa nhận hành củ giúp làm giảm các
triệu chứng như ho, hen suyễn, tắc nghẽn và viêm đường hô hấp.
Trong
y học của người Trung Hoa, hành được sử dụng để điều trị đau thắt ngực, ho,
nhiễm khuẩn, và các vấn đề về thở. Tại nhiều nước, xi-rô có nước ép hành dùng
để chữa ho và hô hấp cho trẻ em.
Mỗi
ngày bạn nên uống 3-4 thìa cà phê hỗn hợp nước ép hành và mật ong để làm tiêu
đờm và ngăn chặn sự tạo đờm trong cơ thể. Hỗn hợp này cũng là vị thuốc để chống
lại bệnh cảm lạnh thông thường.
Tim mạch hưởng lợi: Có nhiều bằng chứng cho thấy hợp chất sulfur trong hành tây giúp
ngăn ngừa sự đông máu và tình trạng các tế bào tiểu cầu kết dính với nhau, có
thể khiến mạch máu bị tắc nghẽn.
Chất
này cũng có thể làm giảm hàm lượng cholesterol và triglyceride trong máu, đồng
thời cải thiện chức năng màng tế bào trong các tế bào hồng cầu. Nhìn chung,
công dụng tổng thể của hành tây là đẩy lùi nguy cơ xảy ra cơn đau tim.
Viêm nhiễm bị khống chế: Hành tây có vai trò quan trọng trong các phản ứng chống viêm
nhiễm.
Theo
đó, một phân tử sulfur đặc trưng trong hành đã được chứng minh có thể ức chế
hoạt động của đại thực bào, vốn là các tế bào có khả năng gây ra những phản ứng
viêm nhiễm trên quy mô lớn.
Ngoài
ra, các chất chống ô xy hóa trong hành tây còn có tác dụng kháng viêm. Những
chất chống ô xy hóa này ngăn chặn quá trình ô xy hóa các a xít béo trong cơ
thể.
Khi
nồng độ a xít béo bị ô xy hóa trong cơ thể duy trì ở mức thấp, cơ thể sẽ ít sản
sinh các phân tử gây viêm, nhờ vậy nguy cơ viêm nhiễm luôn nằm trong tầm kiểm
soát.
Tốt cho huyết áp: Tại Nga các nghiên cứu cũng nhận thấy hành tây có tác dụng
làm hạ huyết áp nhờ chứa chất prostaglandin (prostagladin A, PG) và thành phần
hoạt tính fibrin nên có thể kích thích hoạt động hòa tan máu, chống lại những
chất gây tăng áp trong cơ thể.
Mặt
khác, các chất này còn thúc đẩy sự bài tiết muối Natri (một loại muối gọi
nước), do đó làm hạ huyết áp. Các nhà khoa học Nga đã chứng minh rằng, chỉ cần
một lượng nhỏ nhất chất prostaglandin trong cơ thể người đã có tác dụng điều
hòa huyết áp và các thành phần của máu, ngăn ngừa sự tạo thành huyết khối.
Chữa sẹo thâm hiệu quả: Rửa sạch hành tây, bỏ lớp ngoài cùng cho sạc sau đó bạn dùng
dao thái nhỏ hành tây ra từng nhát mỏng và bỏ vào nghiền dập nó đi. Sau đó, bạn
lấy và đắp lên vị trí bị sẹo thâm. Nên để khoảng thời gian là 45 phút đến 1
tiếng để những tinh chất trong hành tây được da hút vào và sẽ giúp bạn nhanh
chóng chữa sẹo thâm.
NguyenDacSongPhuong
Thứ Sáu, 12 tháng 2, 2016
NHÌN LẠI MỘT NGÀY QUA
- Thích Tánh Tuệ

Namo Sakya Muni Buddha
TU HÀNH CHÍNH LÀ LUÔN PHẢN TỈNH
Có lần Đức Phật nói:
"Này, La Hầu La, con nghĩ thế nào? Mục đích của cái gương là gì?".
La Hầu La trả lời: "Bạch Thế Tôn, mục đích là để phản tỉnh"
- "Cũng vậy, Đức Phật dạy: "Này La Hầu La,
- Sau khi phản tỉnh nhiều lần, con hãy tu hành Thân nghiệp,
- Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy tu hành Khẩu nghiệp,
- Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy tu hành Ý nghiệp".
Nếp sống đạo là nếp sống luôn luôn có phản tỉnh, không buông trôi, không phóng túng. Cái gương mà Đức Phật nói không phải là cái gương soi mặt, mà là cái gương tâm hồn soi chiếu lại mọi ý nghĩ, lời nói và việc làm của mình có hợp hay không với nếp sống đạo; nếp sống Phật giáo, tức là như lời Phật dạy La Hầu La, có hại hay không có hại đối với mình; đối với người, có lợi hay không có lợi, đối với mình và đối với người, đem lại hạnh phúc hay là gây ra đau khổ bất hạnh cho mình và cho người.
Vì sao Đức Phật lại khuyên chúng ta phải phản tỉnh nhiều lần? Đó là do quá trình diễn biến của nghiệp, là giai đoạn dụng tâm, cũng gọi là tác ý. Thông thường, chúng ta gọi là ý muốn.
Ngay trong giai đoạn ý muốn này, chúng ta cũng phải phản tỉnh, phải xét xem muốn như vậy là đúng hay không đúng, hợp hay không hợp với nếp sống đạo, nếp sống Phật giáo, có lợi lạc cho mình và cho người hay không, đem lại hạnh phúc hay là gây ra đau khổ, cho mình và cho người hay là cho cả hai..
Danh lợi phù hư
- Người tu hành thì lánh xa danh lợi.
Họ xem phú quý như những giọt sương giữa khóm hoa.
Họ xem công danh như hơi nước trên mái ngói,
trong khoảnh khắc sẽ tan biến mất dấu tích.
Nếu bạn muốn trắc nghiệm xem người nào đó có tu hành
hay không thì hãy xem việc làm, hành động của người đó có nhắm
về danh với lợi chăng.- Ðừng nên bị những tướng hư giả làm điên đảo.
Pháp Ngữ của Hòa Thượng Tuyên Hóa

Sống An Vui
Cuộc đời ni ngắn lắm
Đừng bận lời thị phi
Thấy điều chi có ích
Lặng lẽ làm, rồi đi !
Ai gieo mầm san sẻ
Gặt hái về yêu thương
Người gieo nhân ích kỷ
Quả chín, buồn cô đơn.
- Cứ ôm hoài sầu hận
Chỉ khiến mình ta đau,
Người vẫn cười hể hả
Còn ta tóc bạc màu.
Lá thời gian rớt vội
Tháng ngày như bóng mây
Trách chi ai lầm lỗi
Phiền chi, đời đổi thay!
Cuộc đời ni buồn lắm
Đừng tiết kiệm nụ cười!
Sống từ hòa, cởi mở
Đón thanh bình muôn nơi.
Cuộc đời này đẹp lắm!
Tiếc chi ngày đã qua
Hiện tại luôn tươi thắm
Với cõi lòng bao la... 
Như Nhiên (T Tánh Tuệ)

Thứ Tư, 10 tháng 2, 2016
THẤY THƯƠNG QUÁ:
MÈO ĂN CHAY, CHÓ CẦU NGUYỆN
|
Chú
Mèo Phật Tử tại Nam Hàn. Thầy Hằng Thất nói về một chú mèo ăn chay và
thường chiêm ngưỡng tượng Phật suốt 4 tiếng đồng hồ tại một ngôi Chùa ở
Nam Hàn, phim thâu hôm Chủ Nhật 27 tháng 8, 2010 tại Chùa Kim Thanh.
Chú
Mèo dễ thương quá, có thể kiếp sau chú mèo sẽ được làm người. Mèo là
loài vật hiếu sát, thích ăn thịt cá nhưng khi người ta đưa thịt cá đến
thì chú mèo này lại bỏ chạy, và ngồi trước bàn Phật suốt ngày để ngồi
thiền nghe kinh thật là một tấm gương cho chúng ta noi theo.
Chó
Cũng Biết Cầu Nguyện. Đó là chú chó một tuổi rưỡi có tên Conan, đang
ngụ tại thiền đường Shuri Kannondo ở Okinawa, tây nam Nhật Bản.
Mỗi ngày chú chó thuộc giống Chihuahua trắng đen này đều dự lễ cầu nguyện cùng với chủ, thiền sư Joei Yoshikuni.
Khi
cầu nguyện, Conan ngồi thẳng trên hai chân sau và chắp hai chân trước ở
ngực, đầu hướng về bàn thờ rất nghiêm túc. Du khách từ các nơi đã tìm
đến thiền đường để chụp hình chú chó độc đáo này.
Bất
kỳ tín đồ phật tử nào ghé thăm ngôi đền Shuri-kannondo ở thành phố
Naha, Nhật Bản đều kinh ngạc khi nhìn thấy một chú chó biết chắp móng
vuốt y chang con người đứng cầu nguyện bên cạnh nhà sư.
Trong
ảnh là Conan - chú chó nhỏ 18 tháng tuổi với bộ lông dài, mượt đứng
khấn vái trong lúc chủ của mình lầm rầm đọc kinh. Conan thường có thói
quen cầu nguyện như vậy trước lúc đi dạo hoặc trước giờ ăn.
Chủ
của Conan cho biết chú ta được đặt tên theo tiểu thuyết gia lừng danh
Arthur Conan Doyle chứ không phải theo nhân vật Conan trong bộ phim
“Conan the Barbarian” (Chiến binh cuồng nộ) mà người ta thường nghĩ
tới.
|
CON LÀ AI? THẦY LÀ AI?
~ Thích Tánh Tuệ
- Bạch thầy, con là ai ?
- Con là một đứa con lai,
Nửa lai đức Phật, nửa lai Ta bà.
Con là nửa trái me già,
Nửa kia còn lại thì là... chôm chôm.
Cuộc đời con thích ôm đồm,
28 ngày mặn, 2 hôm muối mè.
Bữa thì mặt áo hoa hòe,
Đến ngày vía Bụt... ấp e Lam hiền.
Nửa mê cái cảnh chùa chiền,
Nửa mê đi shop, mê tiền, mê yêu...
Con là thập cẩm, đủ điều,
Nửa thương đức Phật, nửa... thương nhiều "người ta".
THẾ THẤY LÀ AI?
Thầy là một cái chổi chà,
Quét chùa cho sạch... quét ra ngoài đường.
Quét chợ, rồi quét phố phường,
Quét cả vui, buồn mới rụng sáng nay.
Quét lòng thế nhiễm đắm say,
Quét cho tàn cuộc mộng này mới ngưng!
Quán đời, thầy chỉ người dưng,
Chỉ là hạt bụi đường trần rong chơi.
Chừng nào con được thảnh thơi,
Thầy trao nghề Quét... cho đời nó thong dong.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)













