Thứ Ba, 25 tháng 8, 2020

TIẾN VỚI ĐÔI CHẤN

 


Con người ta không thể đi một chân. Đôi chân là một cặp tương thích hỗ trợ cho việc tiến bước. Trong cuộc sống cũng thế, mọi sự việc, mọi hiện tượng từ vật thể đến tinh thần, luôn có cặp đôi tương phản lẫn nhau. Chân cần có đủ cặp để tiến bước, tại sao những cặp tương phản không giúp ta tiến bộ về nhận thức cũng như về tâm thức ?

Trong cuộc sống đời thường, con người muốn chọn cho mình cái thuận lợi nhất, cái tốt đẹp nhất, tránh né mọi bất lợi, mọi xấu ác; thậm chí trong việc giao tiếp, thích tìm bạn tốt, tránh né bạn xấu. Tục ngữ có câu: - gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Do có cái nhìn cực đoan hay được giáo dục từ bé tạo cho ta một ấn tượng cực đoan, vì thế, ta luôn gặp những bất toại khi cuộc sống luôn xuất hiện những mâu thuẩn đối cực mà Phật giáo gọi là nhị nguyên, đạo gia xem là lưỡng cực, lưỡng nghi, thế thường gọi là mâu thuẩn, đối lập…

                                                       ***

Đức tin đối với đạo Phật và những đức tin của ngoại giáo, đều là những cặp tương phản. Ngay cả đức tin đối với đạo Phật, cho rằng mình chọn đúng chánh đạo, nhưng không tìm hiểu những gì ngoài đạo Phật, tinh thần chủ quan và cực đoan sẽ nảy sanh, lắm khi đức tin gọi là chánh tín dó, trở thành mê tín khi hành xử.Ví dụ, đạo Phật sinh hoạt như một tôn giáo, bị xem là một tôn giáo nên phát sanh nhiều hình thức, pháp tướng, thanh sắc; so với các tôn giáo khác, chúng ta cũng chỉ là một tôn giáo như bao tôn giáo Thần luận; do vậy sanh ra cầu đảo, van xin, dâng cúng mong đạt thành sở nguyện. Một khi tuyệt đối sa vào tha lực, đánh mất nội lực, việc tu tập hành trì sẽ xa rời trong đời sống chân chánh của một đệ tử Đức Phật. Ngay cả trong nội giáo, có nhiều pháp môn khác nhau, tùy căn cơ thích hợp, chọn một pháp để hành trì, cũng phải tìm hiểu biết qua những pháp khác để củng cố niềm tin cho pháp hành, tránh được cực đoan, cố chấp.

Tín ngưỡng trong đạo Phật là tiêu chí để vững tiến chứ không là điểm để giao phó toàn bộ cho một tha lực.Đức tin rất cần thiết trong cuộc sống, nhưng cần có trí tuệ để nhận thức, xây dựng nền tảng vững chắc cho niềm tin. Trong kinh Hoa Nghiêm Đức Phật dạy: Đức tin là mẹ đẻ của mọi công đức. Đức Phật lại dạy: “Người có lòng tin mà không hiểu giáo lý thì dễ tăng trưởng vô minh si ám, người hiểu giáo lý mà không có lòng tin thì dễ tăng trưởng tà kiến. Cho nên “lòng tin và hiểu biết phải cùng có đủ để làm cội gốc tu hành” (Kinh Niết Bàn). Dĩ nhiên ngoài đức tin sẽ có những đối cực của đức tin. Cũng thế, phóng sanh là hạnh lành cứu vớt sinh mạng của chúng sanh đang bị tước đoạt mạng sống, thế nhưng, sau mặt tích cực đó vẫn xảy ra mặt tiêu cực, tiếp tay cho những kẻ tham lợi đánh bắt khi đặt hàng tấn cá chim, loài hải sản với nơi buôn bán.Nhắm mắt làm theo hình thức, phước trở thành tội. Giữa hai mặt tốt và xấu đó, không thể mù quáng chọn một; dùng trí tuệ giúp tránh chuộng về hình thức.

Từ thiện xã hội thể hiện tâm từ, được coi là hạnh Bồ Tát; nó không là mục tiêu cứu cánh đưa đến giải thoát;hành thiện tiềm ẩn nguy cơ cho những tâm hồn bất thiện cầu lợi. Không thiếu kẻ lạm dụng việc từ thiện để mưu lợi; kêu gọi những lòng tốt đóng góp để chiếm dụng. Vì thế từ thiện xã hội không thể nhiệt tình theo thói quen mà cũng phải hiểu mặt trái bị lợi dụng.

Cũng có những người nhiệt tâm hộ đạo, trên bước đường tu tập, muốn làm phước, lập ban hộ niệm, sẵn sàng lăn xả giúp cho người sắp lâm chung bất kể ngày đêm, bỏ công, bỏ của, bỏ thời gian để hộ niệm, nghĩ rằng sẽ giúp thần thức người lâm chung được siêu thoát. Đức Phật từng nói – cục đá chìm dưới nước, một ngàn vị sư cầu nguyện, đá không thể nổi,cọng lông tơ trên mặt nước, ngàn vị tụng lông kia cũng không thể chìm. Không có kinh nào bảo rằng trì tụng hương linh được siêu thoát. Chư Tăng thời  đức Phật và kể cả chư Tăng Theravada  ngày nay chỉ đọc những bài kệ nói đến vô thường, khổ và vô ngã trước hương linh để cảnh tỉnh nhắc nhở cho người sống chứ không tụng cầu siêu cho người chết.Thần thức chưa lìa thể xác thì chư Tăng khai thị để họ hướng về điều lành lúc cận tử nghiệp.Như thế không thể gọi là làm công tác cầu cho hương linh siêu độ, mà chỉ trợ niệm một khi hương linh có sẵn hạt giống thiện, không ngoài luật nhân quả.

                                                         ***

Trong xã hội cũng thế, những bất trẵc xảy ra thường mang đến khổ đau, bất mãn, những thuận lợi tốt đẹp cho ta niềm hoan hỷ, mãn nguyện. Dĩ nhiên không ai trong đời hoàn toàn gặp điều may mắn tốt đẹp hay xui xấu suốt đời. Xui và hên, tốt và xấu luôn là cặp tương phản của nền tảng nhân quả từ nghiệp thức. Hành giả luôn quán xét những bất trắc xấu và tốt, may mắn và tai họa…vốn là hai mặt tương phản của nhân quả. Bị tác động hai mặt để khổ đau và sung sướng mãi biến con người thành thụ động trôi lăn trong tử sanh luân hồi. chính ở trong khổ đau, phiền não mới có bài học giác ngộ;trốn chạy khổ đau bằng nhiều hình thức khác nào con vật chui đầu vào cát trốn chạy thực tại, không giải quyết được vấn đề.Trực tiếp đối diện hai mặt tương phản trong đời sống để thấy chúng là một bài học tiến hóa nghiệp thức,theo Duy thức luận thì mọi hiện tượng đều do: 
Thị chư thức chuyển biến
Phân biệt, sở phân biệt
Do thử bỉ giai vô
Cố nhất thiết duy thức

(Tất cả do thức chuyển biến Phân biệt, bị phân biệt. Do đây kia đều không, Nên tất cả là duy thức) ;

bởi vì con đường giác ngộ chỉ có trong thực tại:”Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác, ly thế mịch Bồ đề, cáp như cầu thố giác”. Thực tại nằm trong hai mặt tương phản của cuộc sống.

Phật giáo khác với học thuyết Duy vật là tìm giải thoát ngay trong quy luật tương phản, mâu thuẩn, từ mâu thuẩn để hiểu được bản chất tương đối của ảo thức, vượt khỏi sự chi phối của mâu thuẩn; Trong lúc Duy vật lúng túng lẫn quẩn trong mâu thuẩn khi nhận thức rằng: “Một hợp thể luôn có hai mặt mâu thuẩn lẫn nhau, giải quyết mâu thuẩn này thì mâu thuẩn khác phát sanh”. Nghĩa là trong xã hội luôn phát sanh mâu thuẩn, không thể dứt trừ thì con người trong xã hội luôn bị khổ đau. Duy vật y cứ hiện tượng xã hội, giải quyết hiện tượng này thì hiện tượng khác phát sanh; Phật giáo muốn giải quyết mọi bất toàn, phải giải quyết ngay chính tâm thức, không đổ thừa do xã hội hay do một đấng quyền năng quyết định.Theo Duy thức thì: Do chư nghiệp tập khí
      Nhị thủ tập khí câu
      Tiền dị thục ký tận
      Phục sanh dư dị thục

(Do tập khí các nghiệp Cùng tập khí hai thủ Nên dị thục trước hết Lại sanh dị thục sau)

Tuyệt đối tận cùng của Phật giáo là “vô ngã” đã là vô ngã thì làm gì có cái mà: C.Mác đã viết: “Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng như nó. là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”. Quan niệm này không phù hợp với đạo Phật khi giáo lý nhà Phật quan niệm chính con người là chủ đạo giải quyết mọi bất toàn (kể cả sung sướng và khổ đau) trong cuộc sống.

Một hành giả đạo Phật không chấp thủ một phía. Không thể bỏ khổ tìm vui; không phủ nhận cái này để chấp nhận cái kia.Luôn nhìn mọi hiện tượng cả hai mặt, vì chính hai mặt là một vấn đề. Trong Đạo gia, lưỡng nghi là một tổng thể của âm và dương; âm triêu dương trưởng hoặc dương triêu âm trưởng chứ không thể triệt tiêu một trong hai cực. Sự phát triển, tiến hóa do lưỡng nghi vận hành đồng bộ; khi âm thạnh dương suy là hiện tượng tiêu cực phát sanh, ngược lại dương thạnh âm suy là hiện tượng tích cực quá đà, âm dương quân bình thì mọi sự ổn cố.Mọi chuyển biến của lưỡng nghi gọi là dịch

                                                  ***

Nhiều người đến với đạo Phật mục đích tu tập để sửa mình, tu tâm, tu tánh, tu tướng đều lệch hướng, thật tế đạo Phật không dạy tu để sửa, vì có tu có sửa là có cái ngã để tu để sửa. Chủ yếu giúp con người nhận thức được hai mặt mâu thuẩn trong cuộc sống, để khỏi bị chi phối luật nhị nguyên đó; với nhận thức bằng trí tuệ  mới đưa đến giải thoát mọi khổ đau.Khi thâm nhập vào mọi hiện tượng trong đời sống tức đã thâm nhập pháp giới tạng để tiến dần đến giải thoát.

Thế thường con người đứng một phía gọi là nhất nguyên. Thuyết nhất nguyên duy vật được phát triển bởi Mác và Ăngghen cho rằng toàn bộ hiện thực khách quan, về bản chất là vật chất, ý thức chỉ là kết quả của sự phát triển và sự phản ánh của vật chất vận động .Thuyết nhất nguyên duy tâm cho rằng mọi cái đều do ý niệm tuyệt đối sáng tạo ra.Thuyết nhất nguyên khác biệt với thuyết nhị nguyên - Đã đứng một phía thì không giải quyết được thực tại, vì thực tại luôn là hai mặt đối nghịch lẫn nhau. Ví dụ thuyết duy vật quan niệm vật chất có trước và chi phối ý thức, nhưng duy tâm đã có mặt trước duy vật rất lâu.

Duy vật hay duy tâm, duy linh hay duy thần..đều là hai cực của nhị nguyên. Trước vấn nạn giữa duy vật và duy tâm thì Kant đi đến thuyết bất khả tri, nhưng theo các nhà duy vật thuyết bất khả tri không sớm thì muộn cũng đi đến duy tâm.

Kết: Như đã phân tích trên, Phật giáo luôn dung hợp hai mặt của một vấn đề để hiểu được thực tướng bằng tuệ giác mới không kẹt trong nhị nguyên,mâu thuẩn. Tiến hóa từ nhị nguyên.Ngược lại, do chủ quan phiến diện,một số học thuyết đã có quan điểm như:

Với C.Mác, tôn giáo như là “vầng hào quang” ảo tưởng, là những vòng hoa giả đầy màu sắc và đẹp một cách hoàn mỹ, là ước mơ, là niềm hy vọng và điểm tựa tinh thần vô cùng to lớn cho những số phận bé nhỏ, bất lực trước cuộc sống hiện thực. Tôn giáo chỉ là những “bông hoa giả” tô điểm cho một cuộc sống hiện thực đầy xiềng xích. Nhưng nếu không có những “bông hoa giả” ấy thì cuộc sống của con người chỉ còn lại “xiềng xích” mà thôi. Và nếu không có thứ “thuốc giảm đau” ấy thì con người sẽ phải vật vã đau đớn trong cuộc sống hiện thực với đầy rẫy những áp bức, bất công và bạo lực.

Pascal phán:

-Nếu bạn tin vào Chúa và Chúa tồn tại, thì cái lợi của bạn sẽ là hạnh phúc vĩnh cửu.
-Nếu bạn tin vào Chúa, còn Chúa không tồn tại thì bạn không mất gì.
-Nếu bạn phủ định sự tồn tại của Chúa, và Chúa thật sự tồn tại thì bạn đánh mất khả năng có hạnh phúc vĩnh cửu.
-Nếu bạn phủ định sự tồn tại của Chúa và Chúa không tồn tại, bạn không có lợi gì.

Mọi người có quyền tự do chọn lựa trước những bất cập trong cuộc sống khi mình gặp phải.

 

MINH MẪN

25/8/2020.

 

Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2020

TU VÀ HÀNH



Thông thường hai chữ tu hành đi đôi với nhau; sử dụng quá quen nên hiểu một cách chung chung, đã giảm tầm mức quan trọng mà tự thân nó mang một ý nghĩa sâu sắc.
Tu, thường được hiểu là sửa sai, chỉnh đốn, tu bổ, làm mới…
Trong Phật giáo, Tu có nghĩa là thay đổi tánh hư tật xấu theo khung giới cơ bản, tránh xa mọi tệ nạn cám dỗ.Loại bỏ mọi tánh phàm tục, để tự trong sạch đời sống cá nhân, hướng đến cuộc sống cao thượng.

Giới luật là khung rào, là thước đo cho mọi hành vi, ý tưởng và lời nói theo chuẩn mực thánh thiện. Giới có giới  tại gia, giới xuất gia, luật Tứ phần, Bồ tát giới, Thập thiện…Ngoài giới luật, còn có thập kiết sử, sở tri chướng phân tích trạng thái tâm thất niệm loạn tưởng; có nhiều phương cách dẫn tâm váo chánh niệm; hướng dẫn nếp sống theo tám con đường chánh“Các Tỳ-kheo, đây là chân lý cao cả về con đường đưa đến khổ diệt: chính là con đường Tám nẻo cao cả, tức là Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định”
37 phẩm tợ đạo như:Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát thánh đạo phần.

Người Phật tử sơ tâm đến với Đạo, chỉ cần thọ Tam quy, trì ngũ giới, sau thời gian học hỏi, tìm hiểu kỷ về đời sống của một tín đồ chân chánh, phát tâm thọ trì thêm Bồ tát giới, hành Thập thiện nghiệp…để thân – khẩu – ý đi dần vào chánh nghiệp
Tu trong ba phạm vi: Thân – khẩu – ý
Thập là mười việc thiện được thực hiện qua thân (3), khẩu (4) và ý (3).
Theo kinh Thập thiện nghiệp, lợi ích bao gồm:

Thân : Không sát hại sinh vật: lợi ích –
a) Tất cả chúng sinh đều kính mến
b) Lòng từ bi mở rộng đối với tất cả chúng sinh 
c) Trừ sạch thói quen giận hờn
d) Thân thể thường được khỏe mạnh
đ) Tuổi thọ được lâu dài
e) Thường được Thiên thần hộ trợ
ê) Ngủ ngon giấc và không chiêm bao giữ
g) Trừ hết các mối oán thù
h) Khỏi bị đọa vào ba đường ác.
i) Sau khi chết, được sanh lên cõi Trời.

Thân: KhôngTrộm cướp: lợi ích :
a) Tiền của có dư không bị nạn giặc giả cướp mất, chánh quyền tịch thâu, không bị nạn lụt trôi, lửa cháy và con cái phá tán.
b) Được nhiều người tin cậy
c) Không bị lừa dối, gạt gẫm.
d) lòng ngay thẳng của mình được mọi người khen ngợi
đ) Lòng được an ổn, không lo sợ vì sự tổn hại gì cả
 e) Khi chết rồi được sanh lên cõi Trời.

Thân không tà dâm, không quan hệ tình dục bất chính . Lợi ích:
a) Sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) đều được vẹn toàn
 b) Đoạn trừ hết những sự phiền não, quấy nhiễu.
 c) Không ai dám xâm phạm vợ chồng con cái
 d) Được tiếng tốt, người đời khen ngợi.

Khẩu : Bất vọng ngữ nghĩa là không dối gạt người, không nói lời không chân thật. phải nói trên sự thật.
1.     Bất lưỡng thiệt không nói lưỡi đôi chiều, đâm bị thóc, thọc bị gạo.
2.     Bất ác khẩu. không nói lời hung dữ, văng tục, chửi thề, nói lời độc địa
3.     Bất ỷ ngữ không dùng lời phù phiếm, nói những chuyện không mang lại lợi ích.
Đem lại lợi ích:
 a) Miệng thường thơm sạch
  b) Thế gian và nhân, thiên đều kính yêu
  c) Lời nói không lầm lộn và vui vẻ
   d) Trí tuệ thù thắng, không ai hơn
   đ) Được hưởng lạc thú như ý nghuyện và ba nghiệp đều sạch.

  Ý không tham (tham ngũ dục lạc, sắc, danh, lợi, ăn, ngủ) đem lại lợi ích:
  a) Ba nghiệp (thân, khẩu, ý) được tự tại, vì nhân các căn đều đầy đủ
 b) Của cải không mất mát, hay bị cướp giựt
 c) Phúc đức tự tại
 d) Những sự tốt đẹp sẽ đến với mình, mặc dù mình không mong ước.

Ý Không sân.
 a) Không khổ não
 b) Không giận hờn
 c) Không tranh giành
 d) tâm nhu hòa ngay thẳng
 đ) tâm từ bi như Phật 
  e) Thường làm lợi ích yên ổn cho các chúng sanh 
  f) Thân tướng trang nghiêm, chúng sinh đều tôn kính
  g) Có đức nhẫn nhục, được mau sanh lên cõi Phạm Thiên

. Ý không si mê tà kiến (không hiểu biết chân thật- hiểu biết lầm lạc, không tỉnh táo sáng suốt- nghiện ngập, mê ngủ).
a) Được ý vui chơn thiện và bạn chơn thiện
b) Tin sâu nhân quả, thà bỏ thân mạng chớ không làm ác.
c) Chỉ quy y Phật, chứ không quy y thiên thần và ngoại đạo
d) Tâm sanh ngay thẳng, chánh kiến
đ) Sanh lên cõi trời, khỏi bị đọa vào ba đường ác
e) Phúc huệ không lường, thường tăng lên mãi
ê) Dứt hẳn đường tà, chăm tu đạo chánh
g) Không lòng chấp ngã, bỏ hết ác nghiệp
h) Yên ở vào nơi chánh kiến
i) Khỏi bị nạn dữ

Nói chung tu là sửa căn cứ theo giới luật được thọ trì.
Hành:Ngoài vấn đề thực hiện giới luật, chữ Hành bao gồm việc hành trì một pháp môn để tâm linh được tiến hóa, thăng hoa. đưa đến giác ngộ giải thoát.Giáo lý thực hành không chỉ dành riêng cho Tăng sỹ; người tu tại gia có chí hướng và năng lực cũng có thể hành trì một pháp môn thích hợp với căn cơ của mình; không nhất thiết nơi rừng núi hay thị thành, miễn giữ tâm an định, không bị chi phối bởi ngoại cảnh;Ngài Xá Lợi Phất nói: "Một người có thể sống trong rừng miệt mài với sự tu tập khổ hạnh, nhưng cũng có thể đầy những tư tưởng xấu xa, bất tịnh, một người khác có thể sống trong làng mạc hay thị thành ,không thực hành kỷ luật ép xác nhưng tâm người đó có thể trong sạch không có cấu bẩn. Trong hai người ấy, Ngài Xá Lợi Phất bảo người sống trong sạch giửa làng mạc thị thành nhất định là cao cả hơn người sống trong rừng nhiều". Như vậy Phật tử tại gia cũng vẫn được" thừa tự pháp " như bậc xuất gia.

 Đức Phật chỉ đưa ra giải pháp, còn việc thực hiện hay không do chính chúng ta.  Người có tâm hướng thượng, không chỉ là  một tín đồ sùng Phật mà phải là người hành trì để đi đến quả vị giác như chư Phật.
. Đức Phật xác định: " Các người nên làm công việc của mình, vì các đức Như Lai chỉ dạy con đường mà thôi " .
Tiến trình tu tập các quả vị gồm năm giai tầng gọi là ngũ thừa, gồm:
Nhân thừa: Nếu muốn ứng dụng nhân thừa việc trước tiên phải phát tâm quy y Tam bảo, đây chính gieo duyên với Phật, Pháp, Tăng trong nhiều đời. Xây dựng cho con người có một nhân cách hoàn thiện 
 Thiên thừa: Con đường sanh lên cỏi trời nếu người đó thực hiện mười pháp thiện (thập thiện) gọi thông thường là Thập thiện nghiệp đạo được chia làm 2 phần:  tiêu cực và tích cực.
Thinh văn thừa: Đây Pháp nền tảng giáo lý đạo Phật nó đưa hành giả từ phàm đến thánh,.
Duyên giác thừa: Đây là con đường của hành giả tu theo 12 nhân duyên ( thập nhị nhân duyên) bao gồm: Vô minh, hành , thức, danh sắc, lục nhập, xúc,thọ, ái, thủ, hữu , sinh, lão, tử. Do thấu rõ lý duyên sinh của mọi pháp nên hành giả đạt được qủa Duyên giác . Đây là con đường chấm dứt sự khổ đạt được qủa vị Niết Bàn.
 Bồ tát thừa: Đây là con đường thực hành Bồ tát hạnh  con đường độ tha .
                                          ***
Tóm lại; Tu và hành tuy một mà hai, có thể nói hai trong một, vì tu sửa mà không hành trì một pháp môn như chim thiếu cánh; Hành trì mà không giữ giới lạc vào tà giáo. Tinh tấn là luôn quán xét lại đời sống giữa tu và hành của chúng ta , nếu muốn thoát ly sanh tử.
Như Lai đã đến tuổi. Đời sống của Như Lai quả là ngắn ngủi. Rời các con Như Lai sẽ ra đi. Như Lai đã tự mình làm chỗ nương tựa cho mình. Hỡi các Tỳ-kheo, hãy tinh tấn, giữ tâm niệm và sống đời đạo hạnh. Hãy giữ gìn tâm các con bằng những tư tưởng có chiều hướng tốt. Những ai kiên trì, cố ghép nếp sống của mình trong những khuôn khổ dạy trên sẽ bước ra khỏi con đường phiêu bạt vô định của đời sống và chấm dứt khổ não”
Các Tỳ-kheo, đây là chân lý cao cả về khổ nhân: chính ái dục dẫn đến tái sanh, cùng kết cấu với hỷ và tham, tìm kiếm thú vui nơi này, chỗ khác. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.

MINH MẪN
19/7/2020



Thứ Năm, 9 tháng 7, 2020

MÓN QUÀ CUỘC SỐNG.



Mùa Hạ miền Trung nắng cháy da, miền Nam bất chợt những cơn mưa, tạo hóa cố dấu cái gì đó như kẻ đang thẹn thùng giả vờ tươi cười; lòng đang sầu não miệng vẫn nở hoa, cũng thế, đang mưa trút hết nỗi lòng lại thả vài tia nắng, cứ như ướt đẫm phố phường không do từ trên cao trút xuống, một sự thay đổi tánh nết thật kỳ lạ.
                                                        ***
Trong căn phòng chật hẹp như  được bao bọc bởi bàn tay của mụ phù thủy, mưa từ ngoài mà lòng vẫn thấm đượm miên man bảng lảng mây trời. Hắn mang tên của con người do cha mẹ bổng chợt hứng thú ghi trên mảnh giấy khai sinh; tên thật lạ mà suốt cuộc hành trình đời người hắn chưa bị đụng hàng. Có lẽ cái tên báo hiệu nhiều chông gai trắc trở như món quà tạo hóa đặt sẵn trên vai từ lúc mở mắt chào đời đến gần miệng hố gửi thây! Nhà Phật gọi là Nghiệp!

Cha mẹ - tình thương – anh em ruột thịt là những mặt hàng cao giá chưa bao giờ với tới. Lầm lủi kiếp sống chuột rúc, hắn tuổi con chuột cũng phải. Dưới ánh sáng mặt trời, sinh hoạt con người như mắc cửi, hắn mần mò như tìm kiếm một vật đánh rơi; không bon chen cạnh tranh; an phận cây liễu rũ trong sân chùa, cho dù chuông mõ trống chiêng khuấy động, liễu vẫn lặng lờ rũ cành muốn ngủ quên mọi sự thế.Cung cách đối xử trong gia đình như mũi dùa rèn gọt hắn trở nên khiêm hạ, vô cảm.Thời gian thoát ly lặng chìm trong xã hội, nhìn lại bầy em như lũ sinh vật được sản xuất theo khuôn đúc của hệ thống dây chuyền, chúng không khôn lớn hơn loài cỏ dại, do sự bảo bọc kỹ càng của tình mẫu tử ngàn đời từ bất cứ sinh động vật nào. Hắn là một ngoại lệ, cố vươn cao như  thân liễu, thẳng tắp như  cây trúc.Chính vì vậy cuộc sống bị vùi dập như con giun dưới gót giày vô tình của kẻ bước qua!

Ông Trời, nếu có, cũng lạnh lùng như cơn gió lùa qua đồng nội, lùa hắn vào bốn bức tường cô đơn lạnh lẽo đúng cái tuổi đầy nhiệt huyết lớn khôn. Cầm mảnh giấy như con chim thoát khỏi lồng son, cái lồng không đẹp như tranh vẽ nhưng tô trét lộng lẫy bằng mỹ từ hào nhoáng; hắn lại cô đơn tái nhập xã hội, lang thang đường đời như kẻ thừa thải không đáng có thêm một bóng hình loạn ảnh nhân gian. Thường bữa cơm thí của chùa, trời vội phủ màn đêm che chắn tấm thân trên công viên ghế đá, dưới gầm cầu làm quen với muỗi mòng, chuột bọ. Bổng chốc, cơn mơ cuộc đời được chiếu rọi le lói ánh quang minh, người phụ nữ quen quen lạ lạ từ thuở khai thiên lập địa trãi tấm lòng phủ trọn đời hắn, tưởng chừng số độc đắc cũng có lúc thần Tài vô tình ghế thăm, nửa đời người trắng tay như thế cũng nhuốm mùi hạnh phúc. Hai mái đầu chưa pha sương nhưng cọng tóc cũng thiếu sự mềm mại, chung tay góp gạo thành cơm, hình thành tổ tò vò bên cạnh tổ đại bàng huyết thống. Được trui rèn suốt 10 năm lao động, hắn nỗ lực xây dựng tổ ấm trước cửa hoàng hôn. Từ bùn đen, nụ sen nẩy nở đóa hoa tuyệt dịu rạng rỡ hướng trời Tây, hoa đã nở và hoa đang ở xa tầm tay bảo bọc.
                                                     ***
Như túi rỗng, đời hắn là kiếp nhân sinh không đáy để lưu giữ cái tình, cái tiền, cái danh hay bất cứ cái gì ngoại trừ cái nghiệp duyên đọa đày hằn vết trên khóe sầu thiên cổ.Học đòi vẽ vời bằng ngọn bút hư danh, góp công trả ân một thời cơm độn sắn khoai nhà chùa bố thí; tuổi xế chiều đang là mầm non của Diêm vương, thế cũng an phận một kiếp người, nhưng Phật dạy, vô thường, mọi sự đều phải thay đổi, chỉ có đổi thay không bao giờ thay đổi. Một ngày vui thiên hạ là ngày lạ của đời hắn, những tưởng tuổi xế chiều trời ban cho nguồn sống an lành, trên bảy mươi năm bầm dập nghiệp quả như thế vẫn chưa vừa lòng con tạo?
                                                          ***
Cố vực dậy người đàn bà to xương, thân già gắng gượng, đưa bà lên giường,không hề nhúc nhích, bà té nằm dưới đất từ nửa đêm đột quỵ. Mười ngày chạy chữa sớm khuya, mái tóc bạc phủ cặp mắt lừ đừ như tằm bị rút ruột.Cứ như vòng kim đồng hồ cố định, nửa khuya về sáng mùi uế khí thải từ tấm thân bại liệt, cha sanh mẹ đẻ lần đầu tiên phục vụ bệnh nhân, mùi xú uế bám theo mọi lúc mọi nơi như  từng quen thuộc hương đồng cỏ nội. Kẻ đuối nước thế nào, người chăm bệnh đuối sức gục ngã trước bệnh nhân nếu kéo dài vô hạn cũng như thế. Người bạn đời nằm đó với gương mặt nhuốm buồn xanh xao, tóc rối bời, áo quần xộc xệch. Thay bỉm thường xuyên mà trây trét vẫn còn trét trây như bé nằm nôi.Con Lucky khịt khịt đánh hơi lạ, thỉnh thoành chống hai chân lên giường nhìn, liếm như cố đánh thức người dậy cho chúng ăn hằng bữa.
 Trời buồn trời mưa không dứt, quần áo không kịp khô thay liên tục mỗi ngày. Nền nhà cũng sạch bóng để thầy thuốc, bạn bè không phát hiện khai khái trong kiếp ngũ trược ác thế nhân sinh .
                                                      ***
Xe Daihatsu gói gọn chiếc giường bố, bệnh nhân liếc nhìn mọi người như giả biệt một vùng quê nuôi lớn bảy mươi năm qua.Nhà thờ ông bà Tô tiên đớn đau chia tay. Một ngôi nhà,từng lưu nhân ảnh cha mẹ, con cái, giờ đây ba ngả xa nhau; Kẻ tận trời Âu, người về trại dưỡng lão miền quê ngoại thành; hắn tiếp tục gánh vác phần còn lại trên tấm thân mòn mỏi cho trọn nghĩa tình trong ngôi nhà thừa kế của người bạn đời. Trách nhiệm, tình thương đều là nghĩa vụ gắn kết thường xuyên trên con đường cách ly miễn cưỡng. Con đường phía trước sẽ về đâu như áng mây vô định!
Những cái nhìn thương cảm, những tiếng thở dài của bà con chòm xóm tiển đi. Tình cảm đó cũng nhạt nhòa nhanh như bông tuyết đậu trên nhánh lá trước ngọn gió Đông. Kiếp người cũng thế, vui chưa thắm mà buồn tràn đầy chát chua; Một ngày trôi qua, mạng sống giảm dần như cá ít nước, Tổ Quy Sơn cảnh báo, mấy ai nằm lòng khi cám dỗ bao quanh!
                                                     ***
Trời vừa chợt mưa lại nắng, cứ giả vờ như sự vô tình; hắn cũng ra vẻ khỏe mạnh để che giấu sự mòn mỏi tuổi già. Kiếp bất hạnh đeo mang như đeo khối đá làm vật trang sức; vẫn phải sống, vẫn phải khỏe cho trọn nghĩa đời người; dẫu sao vẫn còn cưu mang tình nghĩa quý thầy, còn thắm đượm bạn bè đồng đạo.
Nét hoa nào không sắc cho dẫu ruột héo dần bên trong. Chướng duyên, âu đó cùng là món quà cuộc sống để tiến hóa kiếp người.

MINH MẪN
09/7/2020

Thứ Tư, 24 tháng 6, 2020

HỘI NGỘ CỐ HƯƠNG


.
Huế ngọt ngào, Huế yêu thương, Huế dịu dàng âm ba vang vọng của người con sông  Hương núi Ngự; cho dù người ấy là ai, bồng bềnh sóng tóc bạc đầu hay mượt mà xanh đen dậy thì, âm điệu chảy nhẹ như hơi thở, làm sao phân biệt được tiếng nói hay dòng chảy của con nước lặng lờ!

Mùa an cư truyền thống như lớp ngủ Đông động vật Bắc cực, chư Tăng hội tụ trầm lắng dưới mái cổ tích “không môn”, một Phật Ân chưa phải là cổ, nhưng cũng không gọi là mới tuy chưa tròn 20 năm với tuế nguyệt phong ba; Mãnh đất cằn cổi cho nhiều cây trái mật ngọt, cho ra đời lắm đệ tử nhân cách trượng phu; xây dựng trên công lao của một bậc từng vào tù không tội, từng chết lâm sàng trên nương rẫy sắn khoai  bởi đọt mỳ chống đói. Đôi tay trắng thuở đất trời phân kỳ, với trí tuệ un đúc nghị lực kiên cường để xuất hiện nét cổ kính mái chùa không tường không vách, không cửa đóng then cài; vườn tượng ẩn minh dưới rừng cây ủ bóng. Vùng hoang sơ thổ mộ biến thành Già lam kính cẩn.

Huế từ đâu vọng về lũ lượt ríu rít mượt mà các cô các cậu, các ông các bà như từng quen nhau từ thuở đất trời chưa ly dị. Nhộn nhã chào hỏi tình đồng hương trên đất khách. Cúng dường trường Hạ vẫn là tập quán cưu mang của những người sâu nặng Tam bảo, nữ sỹ sông Hương tha phương lập nghiệp, nghiệp bệnh toàn thân mà vẫn thân chinh cẩn bái các tôn sư trong mùa mít chín. Tuy là cọng bún thiu nhưng ai bảo âm giọng kia thiếu nhựa sống? Ôi thôi, trên 60km đường trường, xe lăn bánh thoăn thoắt bao nhiêu, giọng hồ hởi phấn khởi được dịp tràn ngập bấy nhiêu, như chưa từng được nói, 6 người còn lại bị lấn sân tắt đài, chìm sâu vào mộng mị.

Trùng vào dịp tiên thường của đại lão Hòa thượng vừa viên tịch 49 ngày, chư Tăng câu hội nhộn nhịp khác thường, trong không khí khác thường vẫn xuất hiện cái bình thường của đoàn cúng dường trường Hạ hàng năm, các cây mít sau chùa bị khuấy động bởi những bàn tay búng khẽ từng em, bao bì được nữ sỹ chuẩn bị sẵn thật chu đáo. Việc bình thường hàng năm mùa an cư mít, vẫn ẩn tàng không bình thường khi thu hoạch chưa đầy ba bao như mọi năm, thế nhưng, vẫn có những múi mít thơm lừng khi xe lăn bánh.

Phu quân nữ sỹ có tên thật đen nhưng cuộc đời chưa bao giờ đen; Luôn là chuyên gia kiểm tra mít như từng kiểm tra bệnh nhân trước khi gây mê theo nghề nghiệp, ấy thế mà có những em mít non đánh lừa kinh nghiệm của chàng “đen”, lặng lẽ nằm im trong bao đến khi bị phát hiện về đến nhà.
                                                       ***
Bạn đồng hành nhìn vị tu sỹ như vừa phát hiện một quê hương thuở bé; đồng hương, đồng bạn, cùng xóm…bao kỷ niệm ấu thời tràn ngập trên hai khuôn mặt của hai cuộc đời trái ngược, họ kéo nhau vào chỗ cách biệt để hàn huyên ôn cố. Chuyến xe tình cờ đưa họ đến với nhau thật tình cờ; cũng chuyến xe này năm xưa, đưa nữ sỹ gặp nhau một kẻ từng yêu thơ nữ sỹ trên cao nguyên Lâm Đồng; như hai thỏi nam châm,tuy chưa từng biết mặt, họ riu rít ôm chầm lấy nhau, xô giạt mọi người ngẩn ngơ giữa sương lạnh vùng cao. Người “môi giới” chưa nhận được lời tri ân “môi giới”, họ vờ quên như cố quên con nợ đời thường. Chiêc xe  bảy chỗ thật có duyên kết hợp, nếu là xe hợp đồng cưới hỏi lẽ nào không phát đạt làm ăn!
                                                  ***
Món ăn Huế do nguời Huế nấu, người Huế ăn trầm trộ khen ngon. Không phải vì óc địa phương, nhưng chùa Huế vẫn quy tụ dân Huế, tu sĩ Huế, Phật tử Huế, cũng thế, chùa Bẵc hay chùa Nam như gạo nếp tẻ rặt mùi nếp tẻ, không lẫn vào đâu. Món bánh canh điểm tâm sáng, bánh bèo, chè đậu xanh cơm trưa, đậm đà hương vị cố đô, đám lữ khách  hảo hương vị như từng hảo“hảo mít”.

Đoàn chia tay lão Hòa thượng như chia tay người anh thân thiết, lão ta có một phong thái phóng khoáng lạ thường, có lẽ bao năm nhuốm tình đồng đội của Gia Đình Phật Tử, Hướng đạo Phật tử, biết hòa nhập, biết xóa nhòa ranh giới giữa tu sĩ và tín đồ; Có người xa lạ đến tìm, đối diện mà không tin ngài là HT;đôi lúc lo cho chư Tăng và phật tử điểm tâm, lão xuống bếp tìm thức ăn còn lại, chễm chệ như ông vua Táo bên bếp lửa hồng, thật vô tư  bình dị. Tuy chùa đã có trụ trì, lão tu sỹ vẫn đích thân kiểm tra đốc thúc từng nhân sự khi chùa có tang đám ma chay.Hình ảnh của lão đậm nét trong mọi giới đã từng đến chùa, các đoàn thể GĐPT không xem ngài là vi Hòa thượng mà xem là đàn anh trong cùng  màu áo lam sương khói.
                                                           ***
-Anh có đi chung với chị NGTC?
-Dạ, không, chị ấy đi, ngồi sau.
Giọng trả lời ởm ờ hàng hai làm nữ sỹ NGTC phát điên, thầy trụ trì tu viện Phước Hoa cũng tưởng nhầm xe đi hai chiếc.
- Anh có đến chùa?
- Dạ đang đến cúng dường tượng Di Lạc bằng gỗ xá xị cho tu viện.
- Vậy tôi đợi – thầy trụ trì tu viện Phước Hoa nói.

Tội trời đến thế, mùa an cư mà để thầy trụ trì bỏ nghỉ trưa đón đoàn. Chả hiểu thế nào cho đúng cái đoàn trời thần đất lỡ này, không như những tín đồ đến bái lễ cung kính ra vẻ ngôi thứ; chưa đến ngày đi mà đã điện ra điều kện xin ăn món khoái khẩu.Mọi khi sư bà thường cho ăn bún, giờ xin đổi món bánh xèo. Người tính không bằng trời tính, bánh xèo chả có mà có cả nồi cháo nấm mối ngọt lịm,loại thổ sản quý hiếm đắc hơn vàng, một ký 500 ngàn nhưng đâu phải lúc nào cũng có.Đến để ăn, đi còn mang về những đặc sản do công sức điệu chúng canh tác. Thầy vẫn chu đáo như sự chu đáo quà cáp hàng năm vào những dịp lễ, hàng chục anh chị em văn nghệ sỹ được thầy quan tâm, hiểu từng tâm tánh, từng nhu cầu mỗi người. Một tu sĩ trung niên với tâm hồn nghệ sỹ, làm bóng mát hàng năm cho anh chị em văn nghệ quy tụ, vẫn điều hành điệu chúng trong tu viện  rập khuôn nề nếp. Có ba điêm trong thiền môn ươm mầm cho hồn thơ, văn. nhạc, họa… Phật giáo tồn sinh. Một Hòa thượng trên 80 vẫn muợt mà văn bút cùng anh chị em văn nghệ, chùa Phi Lai Biên Hòa. Một bóng mát, tụ điểm sinh hoạt tại tu viện Phước Hoa Long Thành; một thầm lặng nhưng kiên cố như núi Ngũ hành tại chùa Quán Thế Âm, Đà Nẵng, vùng đất thiêng làm điểm tựa cho du sỹ mỏi cánh ẩn thân,điểm ghi dấu lễ hội văn hóa mỗi độ Xuân về để Nguyễn Nhã Tiên và anh em vung bút dệt thơ.
                                                         ***
Ai bảo tu hành cách ly nhân thế như sâu ẩn mình trong tổ kén? nhập thế là vậy, cốt cách hạnh tu vẫn chưa từng phai mờ trong giới luật; đóng góp hương vị cho đời mà vẫn ngọt lịm hương thơm. Xuất thế hay nhập thế đều là diệu dụng của Phật pháp. Mùa mít chín đi cúng dường trường Hạ cũng là một diệu dụng. Khi ra về, trên tay từng người nặng trĩu quà của đất trời bao tháng ngày ấp ủ nở hoa, cũng là một diệu dụng chơn thường – thế gian pháp tức Phật pháp!

Hội ngộ cố hương hay hội ngộ mùa mít năm sau, cũng thế thôi?

MINH MẪN
24/6/2020

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2020

RA MIỀN TRUNG TẮM NẴNG – VÀO SÀI GÒN GỘI MƯA



Một tối đẹp Hạ, vị tu sĩ tọa đàm với dăm ba anh em lún phún tóc tiêu, có gã bồng bềnh sương pha che khuất cặp kính lão, có gã  dấu kín hồn thơ chảy mượt tóc thề dưới cái mũ ngàn năm ghi dấu, có gã nhạt hòa nét bút pha sơn không lộ diện trong ánh mắt ngẩn ngơ từ kiếp lạ…mỗi gương mặt phưởng phất một giòng sống sung mãn nội tâm, nhưng riêng vị tu sĩ, một vị thế y báo của Tiên giới, nhưng nhân cách của người chịu chơi “lục diệu pháp môn” hòa quang đồng trần nhi bất đồng vị.Trần không phải trụi, ngữ ngôn như hạt sương tụ trên cánh sen, biểu đạt cho đối tượng hiểu ý mà không vướng lời. Giao bôi vài tuần trà, vầng mây vô tình vướng lại hình ảnh một đối tượng phương xa, mượn sóng âm kỷ nghệ, vị tu sỹ dạt dào tình cảm, mượn mây trời đón khách viễn phương trở về “cố quận”.

Những văn nghệ sỹ Quảng Đà luôn nhiệt tinh như ruộng nước cho lúa đơm bông, dù nắng Hạ, màu xanh cỏ cây vây quanh ruộng đồng ấp ủ dòng tươi mát cho cuộc sống, cũng thế, góp mặt khách viễn phương không làm cho phố phường thêm chật hẹp, nhưng giúp hồn người rộng mở thêm vui bên tách cà phê  Cố Quận – Sơn Trà – Đà Nẵng, của nàng thơ Vô Biên từng vướng chân một lãng tử Nhã Tiên.
 Núi Ngũ Hành, ngôi chùa Quán Thế Âm khiêm tốn nép sát thân đá được đất trời che chở nguồn sinh lực, vùng linh địa giành cho lễ hội hàng năm,tĩnh mịch lạ thường.Nơi kia, bốn ngọn núi dập dìu lữ khách ngao du. Đâu đó nói rằng, chùa Quán Thế Âm ướp từng mầm sen văn hóa cho hồn nghệ sỹ nở hoa, làm sao chào đón các bước chân du khách háo hức tìm tòi làm giao động nguồn suối tâm linh diệu vợi.Khác lạ hơn nhiều nơi,các quý ông đông hơn quý bà siêng năng phủ phục dưới bệ Tam Bảo chân thành hành trì miên mật.Địa linh chỉ dung chứa dòng hướng thiện tâm linh và văn hóa, nghệ thuật phục vụ cho Phật pháp. Hoa có hương có mật thì ong mới tề tựu, cùng thế, hương giới đức đã rộng đón những tín tâm và nghệ sỹ cho hồ sen ngát hương hạnh đức; mạnh thường quân, kẻ tâm phúc, người tài năng tự nguyện quy phục góp tay cho cảnh giới thêm hương.
                                                       ***
Như dòng chảy truyền thống, tiếng kẻng rề rè báo hiệu công phu khuya, chim chóc cũng phải thức hòa nhịp tiếng gáy chim cu,tiếng gù bồ câu, tiếng than thở ngàn đời của tắc kè núi cố kéo cảnh vật về lại thuở ban sơ. Màu xanh núi non không chìm khuất màu vàng y hậu chư Tăng”trú dạ lục thời” trong mùa kiết Hạ. Thợ thầy vẫn tô xây, chư Tăng vẫn nghiêm trang hành hoạt như đàn ong kiên nhẫn làm nhiệm vụ.Chùa Ni  gần núi Duy Xuyên, sáng sớm như hiu quạnh bị lãng quên nơi góc quê buồn, thanh vắng, yên tĩnh được vây quanh cây trái xanh mượt; Mặt trời chưa về đỉnh, tiếng kẻng “thu quân” các ban bệ lao tác từ đâu hội tụ, chuông mõ âm điệu du dương trên quả đường; chư Ni cũng hòa nhập đời sống nông Thiền của Tổ Bách Trượng. Dù là Ni quê, hayNi cầm mãnh bằng tốt nghiệp Cao đẵng Phật học, đều hoan hỷ như gương mặt chưa từng nhiễm bụi, thu mình với nề nếp Thanh quy.Quên ngày tháng như quên thế sự. Cây mè cây mít cây mơ đợi mùa bội thu lúa mới, thầy trò nói chuyện vụ mùa như mây tâm sự với mưa; biển Đông, chiến tranh, dịch bệnh là những điều xa lạ trong tâm hồn trắng trong của những nữ tu miền núi.
                                                             ***
Đoàn Quý Toàn,  Bùi Toàn, Hồ Công Khanh, Nguyễn Nhã Tiên, Xuân Sơn, Phạm thư  Cưu,Tâm Nhiên..còn bao nhiêu cánh thơ, hồn nghệ sĩ phủ mát bầu trời Quảng Đà chưa đủ duyên hộ ngộ, nhưng đã hội ngộ dưới bóng mát của một tu sỹ Đạo Đời viên dung; Trung niên, nhiệt tình,bao dung, im lặng, tầm nhìn rộng, tay với xa, chân đi các nẻo tinh cầu để thu ngắn nền văn hóa nhân loại vào tàng thư các , bảo tàng cổ vật, đem niềm đam mê cho những tâm hồn ngưỡng vọng.Bên cạnh đó, một nhân cách kỳ đặc được mệnh danh là tự điển sống, kim cổ dung thông, một sư huynh của ngài trụ trì, trên ba mươi năm chưa ra khỏi chùa, luôn trầm mặc đối diện với chính mình, như một hư vô trầm mịch,  được gọi là Tuyết sơn, khác hơn một Đạt Ma cửu niên diện bích; Thiền sư gầy nhưng nội lực sung mãn, mắt sáng, nhận thức uyên áo, ngôn ngữ vượt rào cản lý luận thường tình.Chùa Quán Thế Âm có hai trụ cột vững vàng, một ngoại giao, một nội ứng làm thế tựa cho tứ chúng đồng tu.Còn bao cái đặc sắc tàng ẩn mà chưa được biết! khác với những đặc sắc Thành phố Đà Nẵng lộ diện hiển nhiên một bộ mặt đổi mới hoàn toàn, dáng vẻ thanh lịch nhộn nhã, kết nối hai bờ bởi cầu rồng thế kỷ.Hội An, Duy Xuyên, Hòa Vang đều trở thành phố thị nhộn nhịp, còn lưu chút gió núi hương  đồng từ Trường sơn mờ xa.
                                                                   ***
Một tuần an trú mùa Hạ, được nhiều mãn túc an lành. Niềm ưu ái của thầy trụ trì như được gội nhuần tươi mát giữa cái nắng vàng hanh Đà thành. Về lại nơi chôn nhau cắt rốn trên nửa thế kỷ xa cách; thơm gió biển, thơm núi xanh, thơm đồng lúa làng mạc còn vương vấn hồn quê; thơm cả tình người, rồi cũng phải chia tay cái nẵng miền Trung về gội mưa mùa Hạ miền Nam Tổ quốc.

MINH MẪN
17/6/2020

Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2020

CHUYỂN HÓA



Trong thuật ngữ nhà Phật, không có tử tiêu diệt, triệt tiêu, loạt trừ, khống chế, áp đặt, cấm đoán…

Trước những tập khí, bản chất xấu, nhân xấu, người học Phật cần nhận thức rõ những tính chất tiêu cực làm cản trở bước thăng tiến tâm linh, có nhiều hình thức và pháp môn để chuyển hóa những hạt giống đó mà không sử dụng những ngôn từ hoặc hình thức mang tính bạo lực.

Từng cá thể tự thân có thể  hoán chuyển nếu ý thức tầm quan trọng của năng lượng tiêu cực đưa chúng ta vào môi trường xấu, tất cả những hạt giống xấu trong tâm thức đều mang năng lượng âm, bản chất trì trệ,bạo động,hủy diệt, lười biếng, tham dục, sát hại, sân si, kiêu ngạo, ganh tỵ, buồn phiền, tiêu cực…đều là những chướng duyên cho người cầu tiến tâm linh. Một hành giả tâm linh luôn buông xả những trạng thái tâm bất định.
Mỗi pháp hành đều có một số nguyên tắc xả tâm, bởi vì tâm là một tổ hợp của những vọng tưởng. Cái tưởng còn mang thân phàm, ý phàm đều là vọng, do vọng tưởng mà thân hành, khẩu hành, ý hành biến chúng thành vòng tròn trôi lăn miên viễn trong sáu cõi ba đường.

Nói một cách thực tiễn, thiền sinh sau khi rời xa nghi thức tôn giáo, tiến lên một nấc để vào lãnh vực tâm linh hướng đến chân lý giải thoát, thì mọi sự ràng buộc nghi thức đều được rũ bỏ.Cho dù tham muốn tu tập, tâm hướng thiện, tâm mong cầu lợi tha thuộc hành thiện trong Tôn giáo, cũng là một chướng duyên, một rào cản  trên bước đường giải thoát tâm linh và tâm linh giải thoát. Giới luật là phương tiện ngăn ác tác thiện để thanh tẩy thân tâm trên bước đường hướng thiện, nhưng là một trong những nhân tố cản trở khi bước vào không gian chân lý; chân lý không còn tôn giáo dù tôn giáo là phương tiện bước đầu giúp chúng ta tiến đến chân lý giải thoát.Một khi hành giả thuần thiện thì không cần có giới tướng, vì giới luật đối trọng việc thất thoát đạo hạnh, phạm điều phi pháp do Tôn giáo quy định, hay quy ước của xã hội. Khi bản thân thuần thiện thì giới tánh đã là luật nghi tự thân.

Những pháp hành đi vào chân lý cũng còn tùy thuộc mỗi cung bậc cá biệt. Có vô số pháp hành, từ  Trường sinh học nhân điện của yoga, đến  pháp Thủy Hỏa ký tế của Tiên đạo, Pháp luân đại pháp của thầy Lý Hồng Chí, pháp ức chế tâm của thoại đầu, công án đến pháp xả tâm của một bộ môn thuộc nhánh Vipassana, Tứ niệm xứ, pháp quán tưởng 12 nhân duyên, tứ diệu đế…Có pháp dùng âm lực chữ “OM” (aum) để tạo chấn động lực vũ trụ tác động khai mở luân xa; có pháp dùng ánh sáng tác động vào thần nhãn (con mắt thứ ba) xuyên qua tuyến yên (Vị trí củaTuyến yên hay còn gọi là tuyến não thùy là một tuyến nội tiết có kích thước bằng hạt đậu và khối lượng 0.5g (0.018 oz) nằm ở sàn não thất ba, trong hố yên của thân xương bướm. Đây là một tuyến quan trọng giữ vai trò chỉ đạo hoạt động của hầu hết các tuyến nội tiết khác. (Vinmec).     
                     
  Ngoài nhiệm vụ tiết ra nhiều loại hormon khác nhau, tác động đến các bộ phận khác nhau của cơ thể.Tuyến yên còn được chuyển hóa bởi năng lượng tâm linh, tác động khai mở con mắt thứ ba khi công năng tu tập của hành giả đạt đến mức thượng thừa.                                                                                                                                                                          
Đành rằng Tuyến yên và tuyến tùng liên kết hỗ tương để quyết định hoạt động và chuyển hóa cơ chế vật lý trong nhân thể, nhưng một khi tâm thức chủ động hướng thượng và hướng thiện thì tuyến yên và tuyến tùng vẫn bị tác động ngược, nghĩa là vẫn bị chi phối bởi ý lực để tâm thức được thăng hoa.

Mọi vật thể kể cả con người đều là dạng năng lượng quang hợp; năng lượng quang hợp qua hai dạng thức : âm thanh và ánh sáng. Con người lúc cận tử,  nghiệp nhẹ thường xuất hiện ánh sáng; những người chết lâm sàng khi tỉnh lại thường kể về ánh sáng lúc thần thức xuất ra khỏi xác.
“Pam kể, cô thấy mình bị cuốn về một con đường đầy ánh sáng, nơi cô nhìn thấy người thân đã khuất của mình. Trường hợp “thoát xác” của Pam Reynolds là một ví dụ điển hình cho hàng nghìn mô tả về hiện tượng bí hiểm này “ (https://khoahocdoisong.vn/)

Nó xảy ra trong thời gian ngắn, thường bắt đầu với cảm giác đi vào đường hầm tối đen với ánh sáng rực rỡ phía cuối, giống trạng thái cận kề cái chết.
“Bà Sương,ngày 2/7, vào khoảng 8 giờ tối, đột nhiên trong người cảm thấy khó chịu, bà vội vào giường nằm, bỗng thấy chân tay lạnh dần. Lúc đó bà có cảm tưởng máu trong người đặc lại, tim đập loạn, hơi thở nặng nhọc, đầu tê dần, lưỡi cứng lại không còn cử động được nữa.

Trong lúc đau đớn, hấp hối ấy, bà bỗng thấy một vầng sáng tròn đường kính khoảng 2 thước hiện ra trên đầu như chong chóng, có một sợi dây nhỏ màu xám, nối liền vầng sáng đến đỉnh đầu bà, vầng sáng càng quay nhanh, bà càng mệt, hơi thở gần như đứt đoạn, rồi vầng sáng và sợi dây bỗng biến mất. Lúc ấy, bà thấy tự nhiên khỏe lại, liền đứng dậy nhẹ nhàng, ngó thấy xác mình đang nằm bất động. Bấy giờ, bà mới biết mình là một chơn linh đã xuất khỏi xác.”   (doanh nghiệp việt nam).

Nghĩa là, mỗi cá nhân đều thủ đắc một quang lực, người bình thường là một vầng sáng  không rõ ràng, tâm thức, sức khỏe tác động hệ năng lượng sinh học tỏa nhiệt quanh cơ thể. Bậc minh sư, hành giả chứng đắc, thường tỏa ánh sáng quanh cơ thể; thiền sinh trong quá trình hành trì miên mật cũng có một năng lượng tương tự nhưng nhạt hơn, đôi khi quang năng ngắn hơn do tâm thức hành trì gián đoạn hoặc nghị lực yếu kém.
Một khi quang năng sinh học tỏa sáng thì năng lượng âm bị giảm thiểu, đến khi năng lượng sinh học tiến đến năng lượng sinh thức thì quang năng đã chủ động phần lớn ý tưởng, thân hành, mọi hành động, lời nói, ý tưởng đều thanh tịnh, hạt giống bất thiện sẽ không còn hoặc tối thiểu như bóng dáng của ảo ảnh bất chợt.

Một hành giả nhập vào đại định, lúc bấy giờ hành giả thủ đắc một năng lượng siêu thức, thân hành, khẩu hành và ý hành thoát khỏi quy luật nhân quả; làm mà không làm, nói mà không nói…vượt mọi ý niệm pháp chấp, ngã chấp. Năng lượng siêu thức là một quang năng tự thân, là ánh sãng tuệ giác, là năng lực từ bi, trí tuệ và từ bi là một.
Mọi pháp hành dù thấp hay cao, mục tiêu đều tiến đến giải thoát; do trình độ bất đồng, hành trì bất đồng đưa đến kết quả bất đồng, quả vị bất đồng. Hạt giống nghiệp thức tiềm ẩn trong tạng thức vẫn phải được chuyển hóa do năng lực hành trì.

Trình độ sơ cơ, dùng pháp sám hối, chuyên trì danh hiệu, mật niệm thần chú, bố thí trì giới, đúc chuông tạc tượng, xây chùa…để tăng trưởng thiện nghiệp, hóa giải chướng duyên, tránh phạm nghiệp xấu.

Trình độ hành giả chuyên sâu, nội quán thiền định, phát triển năng lượng dương, tức năng lượng tich cực, năng lượng khẳng định sẽ chiêu nạp năng lượng thanh khiết từ vùng ngoại biên, hệ thần kinh được nguồn sinh lực nội thân dồi dào hỗ trợ, ánh sáng trí giác càng phát triển dần đưa đến tuệ giác, tự tánh vô lượng quang là nguồn trí tuệ vô biên, là minh sư nội tâm,là nguồn sáng nội tại sẽ chuyển hóa mọi nghiệp lực vô thủy.
                                                               ***
Bản chất tự tánh là một quang năng hiệu ứng hai dạng âm thanh và ánh sáng. Tâm giao động hướng đến năng lượng âm thường bị kích động, đau buồn, phiền muộn, bất mãn, tiêu cực, chiêu cảm nhiều bất trắc; người có hệ thần kinh yếu , thường bị ám ảnh những âm lưu tạp loạn, phát ra những âm lực tà khí sai khiến xúi dục hành động, lời nói, ý nghĩ tiêu cực làm hại bản thân hoặc bạo lực với người chung quanh, họ bị ám ảnh ai đó hại họ hoặc; họ cũng thấy xuất hiện ánh sáng thuộc diện ảo ảnh ma quái.

Người có năng lực Thiền định chuyên sâu, âm lưu nội tại là suối nguồn thanh tẩy nghiệp thức; những hạt giống lưu trữ trong tạng thức  đều do ảo tưởng kết thành trong thế giới nhân quả. Hành giả chứng đắc Tứ thánh quả vượt khỏi sự chi phối nhân quả, xem hạt giống trong tàng thức là những ảo ảnh của tưởng thức; âm lưu tác động vào hệ thần kinh siêu thức xóa tan các chủng tử ảo ảnh, chuyển hóa mọi cảm thức vào trạng thái thanh tịnh tuyệt đối.

Hành giả thủ đắc trí tuệ phát sinh thì lòng từ cũng là tuệ giác. Từ bi và tuệ giác không hai. Những hạt giống tiêu cực hay gọi là năng lượng âm cũng dần được chuyển hóa sang trạng thái tích cực. Tính tham, cho dù tham dưới mọi dạng thức, mệnh danh tham thiện hay tham ác,tham ái cũng sẽ được chuyển hóa sang trạng thái buông bỏ, xả ly; cũng thế, sân hận cũng nguội dần chuyển sang trạng thái từ bi, thương xót, các kiết sử cũng thế, đều được chuyển hóa sang trạng thái tâm trong sáng, thoát khỏi nhị nguyên nhân quả mà không nhọc công quán xét từng trạng thái tâm để trừ diệt. Dùng tâm để diệt vọng tâm cũng đều rơi vào vọng tưởng.

Như vậy, nghiệp lực dẫn dắt chúng sanh trôi lăn vô số kiếp được cắt đứt bằng nhiều cách, dù cách nào cũng đều chuyển hóa chứ không áp đặt,ức chế, trốn tránh hay phủ nhận.

Trong cuộc sống thực tế đến phạm trù tâm linh, mọi ách tắt đều phải giải quyết bằng phương chuyển hóa để đưa đến thành công. Bởi trấn áp, trốn chạy, áp đặt biến chúng thành đối tượng phản ứng, chủ thể và đối tượng đều xoắn vào nhau thành bánh xe trôi lăn mãi khó dừng.

Tâm vô thường, cho dù sơ tâm xuất gia là một động lực cực mạnh, nhưng thời gian do giao tiếp, lợi dưỡng, cung phụng nhiều thuận lợi dẫn tâm lệch hướng, thiếu kiểm soát đôi khi đi ngược lại mục đích ban đầu. Người xuất gia  là người: “xuất thế tục gia – xuất phiền não gia – xuất tam giới gia”, sau thòi gian, có vị về sống chung với nhà Phật tử; có vị pháp sự đa đoan chiếm hết thời gian tu tập, sanh lắm phiền não giữa lúc bận tâm làm tiền, lo kinh doanh để xây dựng Tam bảo, thì việc xuất tam giới gia là việc không thể. Chư Tổ từng nói: “nhất niên Phật tại tiền, nhị niên Phật trung thiên, tam niên Phật xuất thiên”, nghĩa là năm đầu vào chùa  đi đứng nằm ngồi lúc nào cũng thấy Phật trước mặt,năm thứ hai thấy Phật lững lờ giũa trời lúc nhớ lúc quên, năm thứ ba thì Phật không còn thấy nữa. Người phát tâm cầu đạo luôn giữ tâm kiên cố đòi hỏi phải lánh xa mọi nhu cầu lợi dưỡng tham ái mới khỏi chệch hướng.Xã hội ngày nay cũng thế, cuộc sống đảo lộn do tâm bất thường, từ nếp sống hưởng thụ, trang phục đôi khi không nhận ra con trai hay con gái. Phật tử thay chư Tăng đắp y lên pháp tòa giảng đạo trong khi chư Tăng bận rộn toan tính thay tín đồ làm kinh tế, chẳng những thế, còn có nữ hộ pháp phía sau quản lý tài chánh, khuynh loát Tăng chúng trong chùa.

Chuyển hóa là pháp hành giúp xóa tan mọi kiết sử nếu hành giả chuyên tâm hành trì miên mật, ngược lại, tâm lơ đểnh thì chuyển hóa cuộc sống “Thiên nhân chi đạo sư” biến thành “thiên nhân chi tà sư” mà mình không hề biết.


MINH MẪN
04/62020