Thứ Tư, 29 tháng 4, 2020

Ni giới Việt Nam tại Hoa Kỳ




Hoa Kỳ là đất nước non trẻ, hơn 300 năm, thế nhưng lại là vùng đất đầy nhựa sống, đủ để ươm mầm những hạt giống nhiều năng lượng; là vùng đất nhiều cơ hội cho tuổi trẻ tiến thân, là bàn đạp cho những ý chí cầu tiến chịu học hỏi; là một xã hội dễ phát triển cá nhân nhưng cũng là dễ trắng tay cho những cá nhân liều lĩnh trên con đường bon chen hưởng thụ bằng sự ỷ lại vào nguồn vốn ngân hàng. Phải nói Hoa Kỳ là một “xã hội chủ nghĩa không Cọng sản”, vì tất cả đều bình đẵng trước pháp luật, làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu thật đúng nghĩa.
Về hình thức, mọi công dân đều hưởng thụ vật chất giống nhau, nhưng do phước báu, do công sức, do tài nghệ và đẵng cấp xã hội mà chất lượng hưởng thụ vật chất khác nhau.

1 – Vốn là một đất nước đa chủng tộc, đa văn hóa; du nhập nhiều lãnh vực khoa học, tiến bộ, trong đó có cả Tôn giáo. Tin lành chiếm 52% dân số , 24% theo Công giáo Roma (Tôn giáo Hoa Kỳ, Wikipedia)

Phật giáo du nhập vào Mỹ
Phật giáo được du nhập đến Hoa Kỳ vào thế kỷ 19 cùng với những người nhập cư từ Đông Á. Ngôi Chùa đầu tiên tại Hoa Kỳ được thành lập và được xây dựng tại San Francisco năm 1853 bởi những người Mỹ gốc Hoa.

Cuối thế kỷ 19 những nhà truyền giáo từ Nhật Bản đến Hoa Kỳ, cùng vào thời điểm này, giới trí thức Hoa Kỳ bắt đầu để ý đến Phật giáo.
Người Mỹ nổi tiếng đầu tiên quy y đạo Phật là Henry Steel Olcott. Olcott cũng là người vẽ ra mẫu cờ Phật giáo mà sau này vào năm 1950 được nhiều giáo hội Phật giáo quốc tế công nhận là biểu tượng nhà Phật.Một sự kiện góp phần tăng trưởng Phật giáo tại Hoa Kỳ là Nghị viện Các Tôn giáo Thế giới diễn ra năm 1893, có sự tham gia của các Phật tử từ Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, và Tích Lan.

Ước tính số lượng Phật tử tại Hoa Kỳ dao động từ 0,5% đến 0,9%; con số 0,7% được CIA và PEW công bố. Theo Hiệp hội các nhà thống kê của Tạp chí Tôn giáo Hoa Kỳ xuất bản tháng 3 năm 2017, dựa trên dữ liệu từ năm 2010, Phật giáo là tôn giáo thiểu số lớn nhất trong 186 hạt trong số 3143 hạt trong cả quốc gia.

Điển hình như nhà thơ Mỹ Allen Ginsberg. Steven Seagal là một nam nhân Phật Tử cũng rất nổi tiếng và được biết đến rộng rãi qua các phim ảnh hành động mà anh thủ vai. Richard Gere là nam diễn viên người Mỹ. Ngoài nhà thơ Allen Ginsberg và nam tài tử Steven Seagal và diễn viên điện ảnh Richard Gere thì còn có những người Phật Tử trứ danh khác trên đất Mỹ như đạo diễn phim ảnh kiêm nhà biên kịch Oliver Stone[, ca sĩ nhạc sĩ họa sĩ kiêm diễn viên nữ Courtney Love, nghệ sĩ hài Martin Starr, và đại gia trong làng sản xuất phim ảnh tỷ phú George Lucas, tài tử nam phim ảnh lừng danh Robert Downey Jr., nữ minh tinh màn bạc nổi tiếng Goldie Hawn, và nhà sản xuất điện ảnh Anh em nhà Coen.
Phật Tử gốc Do Thái
Zoketsu Norman Fischer Thiền sư Phật giáo  người Do Thái là những tín đồ Phật giáo mà có cha mẹ không phải là Phật tử, người Do Thái xuất hiện và có mặt rất nhiều trong thế giới Phật giáo Hoa Kỳ .
 Phật giáo đã chính thức đến Hoa Kỳ vào ngày 8 tháng 9 năm 1893, khi Ðại hội cộng đồng tôn giáo thế giới được khai mạc tại Chicago, với sự tham dự của các đoàn đại biểu đến từ hơn 10 truyền thống tín ngưỡng thế giới. Ngoài các truyền thống Thiên chúa giáo và Do thái giáo, các tôn giáo Á châu như Ấn Ðộ giáo, Hồi giáo và Phật giáo cũng đều có mặt. 
Riêng Phật giáo Á châu, đại biểu Phật giáo Tiểu thừa từ Tích Lan, Thái Lan, Phật giáo Ðại thừa từ Nhật Bản và Trung Hoa đã tích cực đóng góp để đại hội đạt được “một thành quả cao cả và đáng vinh danh nhất của thế kỷ”. Trước đại hội, Phật giáo được chính thức ra mắt người dân Hoa Kỳ và ngược lại cũng đã được người dân Hoa Kỳ đón tiếp rất nồng nhiệt. 
Sau Ðại hội tôn giáo thế giới năm ấy, nhiều lãnh tụ Phật giáo đã lần lượt đến Hoa Kỳ hoằng hóa, thiết lập nhiều tu viện, chùa chiền, thuộc nhiều giáo phái khác nhau, chuyển hóa nhiều phật tử, đào tạo nhiều lãnh tụ Phật giáo người Hoa Kỳ, hình thành một nền Phật giáo của Hoa Kỳ với những tính chất rất đặc thù và viễn cảnh đầy triển vọng.
Ông P.Carus muốn mời Thiền sư Soyen Shaku ở lại hợp tác phiên dịch một số thư tịch tôn giáo Á châu sang tiếng Anh, nhưng Thiền sư đã từ chối và chỉ định ông Daisetzu Teitaro Suzuki làm việc đó giúp ông Carus. Ông D.T.Suzuki không phải là một người xa lạ đối với phật tử trên thế giới. Ông đã là tác giả khoảng 30 cuốn sách về Zen - thiền Nhật Bản, rất nổi tiếng và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng. Trong số những người cư sĩ có công trong việc truyền bá Phật pháp tại Hoa Kỳ, Tiến sĩ Suzuki phải là một trong những người đứng hàng đầu. 
Nhật Liên Tông được truyền sang Mỹ quốc từ đầu thập niên 1930 trong cộng đồng di dân Nhật. Tôn giáo này có một tổ chức cư sĩ, có tên là Soka Gakkai (Sáng Giá Học Hội), rất hữu hiệu trong việc truyền bá Nhật Liên Tông tại Nhật cũng như tại hải ngoại, nhất là tại Hoa Kỳ.
Nếu Tịnh Ðộ Tông Nhật đã đến Hoa Kỳ sớm nhất thì Thiền tông Nhật Bản - Zen mới là tông phái Phật giáo được truyền bá sâu rộng trong mọi giới Hoa Kỳ.
. Đến từ Tây Tạng:
Năm 1950, chính trị Tây Tạng có thay đổi. Năm 1959 Ðức Dalai Lama - lãnh tụ tôn giáo cũng như chính trị của xứ này, cùng nhiều lãnh tụ khác, rời khỏi Tây Tạng. Từ đó bốn tông phái chính của Phật giáo Tây Tạng được truyền sang đến xứ của người da đỏ. Bốn tông phái đó là: Nyingma, Kagyu, Geluk và Sakya.
Nhiều trung tâm Thiền Mật tông được ông lập nên tại Boulder, Vermont, New York, Boston, Berkeley, Los Angeles và Naropa Institute ở Rocky Mountain. Naropa Institute nay đã trở thành một đại học nhân văn của Hoa Kỳ. Năm 1974, vị tăng thống cao nhất tông phái Kagyu là Rangjung Rigpe Dorje, vị Karmapa thứ 16 sang Hoa Kỳ và tiếp theo đó là Ngài Kalu Rinpoché
Đến từ Trung Hoa:
Rất có thể là Sư Huệ Sơn cùng một số tăng sĩ Trung Hoa đã là những phật tử đầu tiên đặt chân vào nước Mỹ từ thế kỷ thứ IV, trước Columbus rất lâu.
Người tu sĩ Phật giáo Trung Hoa đem Thiền Trung Hoa vào Hoa Kỳ để rồi trở nên một truyền thống Phật giáo Trung Quốc lớn mạnh là Hoà thượng Tuyên Hóa.
Đến từ Hàn Quốc:
Thiền sư Phật giáo Ðại Hàn Soen-sa-nim đã từng giảng pháp tại Nhật Bản và Hồng Kông sau đệ Nhị Thế chiến. Ðến năm 1972, với một chút tiền, không một chữ tiếng Anh nào, sư sang Hoa Kỳ, định đến Los Angeles, mà tại đấy đã có một cộng đồng Ðại Hàn khá đông đảo.
Đến từ Việt Nam:
 Riêng đối với Phật giáo Việt Nam thì vào thập niên 1950 mới có tăng sĩ người Việt sang Mỹ, trong đó có Hòa thượng Thích Quảng Liên du học ở Đại học Yale theo ngành kinh tế.
Năm 1962 thì có thầy Thích Nhất Hạnh theo học ở Đại học Princeton ngành tôn giáo tỷ giáo (comparative religion). Năm 1966 ông là giảng viên ở Đại học CornellThích Trí Siêu và Thích Thuyền Ấn thì học triết học ở Đại học Wisconsin. Cả hai vị sau về Việt Nam biên soạn về Phật học. Cùng lúc đó thầy Thích Thiên Ân lấy bằng tiến sĩ văn chương ở Đại học WasedaNhật Bản, nhưng năm 1966 ông được mời sang thỉnh giảng bên Mỹ ở Đại học California tại Los Angeles, rồi lưu lại Mỹ năm 1967, chuyển sang dạy Thiền cho người Mỹ.
Nói tới sự du nhập của Phật giáo từ Việt Nam vào Hoa Kỳ cho người Hoa Kỳ thì phải nói tới Hòa thượng Thích Thiện Ân và Hòa thượng Thích Nhất Hạnh. 
- Hoà thượng Thiện Ân đã tới Hoa Kỳ từ năm 1966, làm giảng sư môn Triết lý Ðông phương tại Ðại học UCLA, sau khi đã tốt nghiệp Tiến sĩ về Văn chương Ðông Phương tại đại học Wasada, Nhật Bản. Ngài cũng giảng dạy Phật học, Thiền, tại một căn nhà nhỏ vùng Hollywood. Sau Ngài sáng lập nên trung tâm thiền học International Buddhist Meditation Center cho những người Hoa Kỳ muốn học thiền. Ðến năm 1973, Ngài thành lập đại học College of Oriental Studies (sau trở thành University of Oriental Studies) dạy Phật học, với giảng sư là những thiền sư, những nhà Phật học danh tiếng xuất thân từ những thiền viện Nhật bản, Thái Lan, Ðại Hàn và Tây Tạng. Năm 1970 Hòa thượng Thích Thiên Ân lập Trung tâm Thiền viện Quốc tế (International Buddhist Meditation Center) rồi đến năm 1974 thì tổ chức giới đàn trao giới luật cho đệ tử Mỹ xuất gia, chính thức đem thiền học và cách tu của người Việt đến Mỹ.

Sau 30 Tháng Tư năm 1975 với làn sóng người Việt tỵ nạn sang Mỹ, nhu cầu Phật pháp đưa đẩy Hòa thượng Thiên Ân lập nên Chùa Việt Nam, Los Angeles, tức ngôi chùa đầu tiên của người Việt ở Mỹ. Ngôi chùa thừ nhì là chùa A Di Đà. (1)

Sau năm 1975, một số người Việt Nam sang Hoa Kỳ thì Hòa thượng đã lãnh đạo một phong trào phật tử Hoa Kỳ trợ giúp dân tỵ nạn trên nhiều phương diện về đạo cũng như về đời. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ (VietNam Buddhist Churches in America) được thành lập với trụ sở là chùa Việt Nam tại Los Angeles. Tháng 10 năm 1980, Ngài viên tịch. Trung tâm thiền học được giao cho học trò Ngài là ni sư Karuna Dharma. Cố Hòa thượng Thích Mãn Giác được cử đến thay người điều khiển Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ.

- Hòa thượng Nhất Hạnh đã ra khỏi nước và đến Hoa Kỳ từ năm 1961, nhưng Thầy chỉ thực sự mang Phật giáo Việt Nam vào xã hội Hoa Kỳ từ năm 1983 tại Berkely, California. , khi Thầy thành lập một dòng tu Tiếp Hiện, mà Thầy đã sáng lập ra khi còn ở Việt Nam,

- Ngoài hai vị trên, nhiều tăng sĩ Phật giáo Việt Nam, đã theo làn sóng di cư sang Hoa Kỳ, lập chùa cảnh tại những nơi có đông người di dân Việt Nam như Orange County, San José tại tiểu bang California, Houston, tiểu bang Texas… mà mục đích chính là để cung ứng Phật sự truyền thống Tịnh Ðộ tông cho dân Việt di cư. Ðây không phải là những trung tâm Phật học, Thiền học hay tu tập thực sự, do đó không thu hút được nhiều phật tử chính gốc Hoa Kỳ như các trung tâm Phật giáo Nhật Bản, Ðại Hàn, hay Tây Tạng. Ảnh hưởng của các chùa chiền Việt Nam này chỉ quanh quẩn trong một cộng đồng bé nhỏ, không giúp ích đáng kể vào việc phát triển Phật pháp tại xứ này. 

- Kể từ năm 1998, ngành Thiền Trúc Lâm Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Thiền sư Thích Thanh Từ cũng đã sang tới Hoa Kỳ và được tín đồ Phật giáo Việt Nam hâm mộ. Thầy Thanh Từ đã thành lập những thiền thất chuyên tu, tại Orange County tiểu bang California, Houston tiểu bang Texas, cho những ai muốn học Thiền hay tu hành, dù là xuất gia hay tại gia. Hiện nay ngành Thiền Trúc Lâm còn phôi thai, nhưng với một tôn chỉ đứng đắn, một tổ chức quy mô, đào tạo ra nhiều tăng sĩ giỏi, đạo cao, hạnh cả, và được sự ủng hộ của quần chúng trong cộng đồng, ngành này có một triển vọng tốt trong tương lai tại xứ này. 
                                                         ***
Cũng khác với nhiều nước bên Á châu, phái nữ theo đạo Phật rất đông, hoặc bằng hoặc là đông hơn phái nam. Do đó, cũng như trong nhiều cơ chế khác ở xã hội Mỹ, Phật giáo Hoa Kỳ được “nữ giới hóa”, nghĩa là trong đó tiếng nói cũng như quyền lợi của phái nữ được đề cao và tôn trọng. Sự đóng góp của phái nữ vào công việc truyền bá phát triển Phật giáo rất đáng kể. Rất nhiều ni sư, nữ thiền sư, những ni sư trưởng, được đào tạo tại Nhật Bản, Trung Hoa, Ấn Ðộ hay ngay tại Hoa Kỳ đã xuất hiện, ban pháp thoại, giảng kinh, viết sách, viết báo để hoằng dương Phật pháp. (2)
2 –
Chư ni Việt Nam có mặt tại Mỹ .
Thích nữ Trí Hải (1938 – 2003) là một danh ni Việt Nam. Năm 1960, ni trưởng sang Mỹ du học và tốt nghiệp Cao học ngành Thư viện (M.A) tại Đại học Princeton (Hoa Kỳ). Ni sư là một trong những giảng viên đầu tiên giảng dạy tại Thiền viện Vạn Hạnh và Trường Cao cấp Phật học Việt Nam, từng làm Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam. là một tác gia và dịch gia Phật giáo.

Năm 1979, Sư Bà Đàm Lựu được Hòa thượng Thanh Cát tọa chủ Chùa Giác Minh, Palo Alto bảo lãnh sang Hoa Kỳ. Năm 1980, Hòa Thượng đề cử Sư Bà về vùng San Jose để hành đạo và sáng lập Chùa Đức Viên.
Ni Trưởng Thích Nữ Như Chánh du học Nhật Bản, sau đó sang Hoa Kỳ và viên tịch tại đó.
Sư Bà Diệu Từ tỵ nạn qua Nhật Bản và sau đó di cư sang Hoa Kỳ, trú tại Sacramento và Nam California. Sư Bà Thích Nữ Giác Hương, Sư Bà Thích Nữ Như Hòa, Sư Bà Thích Nữ Nguyên Thanh, Ni Sư Thích Nữ Thanh Lương . TKN. Thích Lệ Thành, Ni Sư Thích Nữ Như Hòa ,Ni Sư Thích Nữ Pháp Đăng ,Ni Sư Thích Nữ Diệu Đáo, Ni Sư Thích Nữ Nhu Liên, Ni Sư Thích Nữ Liên Chi, Ni Sư Thích Nữ Diệu Từ, và còn nhiều ni giới đến Hoa Kỳ trước và sau 1975, hiện nay tu sĩ Tăng –Ni tiếp tục đến lưu trú trên xứ sở cờ Hoa.
                                              ***
Thời gian đầu, chư Tăng, chư Ni có mặt trên đất nước còn nhiều xa lạ về ngôn ngữ, tập quán, nhất là truyền thống tín ngưỡng, vì thế, sinh hoạt theo truyền thống quê nhà, quanh quẩn bởi nhóm tín đồ tỵ nạn lớn tuổi, lấy ma chay đám cúng làm cơ bản sinh hoạt; mục đích duy trì cuộc sống, chưa có kế hoạch truyền bá Phật pháp ra ngoài khu vực dân tỵ nạn đồng hương; ngôn ngữ là một trở ngại lớn cho việc giao tế. Hàng tuần các cụ đến chùa với con cháu, nhưng thời gian sau, thế hệ cao niên quá vãng, tuổi trẻ không còn hứng thú đến chùa, ngoài vấn đề ngôn ngữ, nghi lễ không còn thích hợp với cuộc sống thực dụng.Muốn có người kế thừa, khó mà có một tuổi trẻ ở Mỹ khép mình làm điệu, chỉ có ở Việt Nam bảo lãnh qua Mỹ để kế thế.Cũng như hầu hết cộng đồng người Hoa, các sư Việt Nam co cụm trong cộng đồng người Việt tỵ nạn, vì thế, khó mà phát triển ra xã hội Âu Mỹ đương đại.

Tuổi trẻ Âu Mỹ không cần niềm tin Tôn giáo,nghĩa là không sống bằng trái tim như lớp cha ông của họ, họ cần khối óc, biết nhận xét, phân tích hợp lý với trình độ khoa học hiện đại. Chính vì bảo thủ truyền thống tin ngưỡng “phúc cho kẻ nào không thấy mà tin” Ki Tô giáo ngày càng lâm vào bế tắt, các nhà Thờ phải đóng cửa, chuyển nhượng cho chùa, trường học, bệnh viện…

Nhiều dòng nữ ở Mỹ đang chuẩn bị cáo chung”hoàn thành sứ mạng” trong an bình vì không còn ơn gọi nữa.
 Hôm 20-10-2018, hãng tin Công Giáo Hoa Kỳ cho biết một cuộc hội thảo về tương lai của các dòng nữ tại Mỹ đã được tổ chức tại Oakbrook, ngoại ô thành phố Chicago bang Illinois, trong hai ngày 25 và 26-9 vừa qua về đề tài ”Trung thành với hành trình: cùng nhau trong tình hiệp thông”.
 Tham dự cuộc hội thảo có 50 người gồm các GM, nữ tu, chuyên gia giáo luật và một số người khác. Trong số các tham dự viên có ĐHY Joseph Tobin, nguyên là Bề trên Tổng quyền dòng Chúa Cứu Thế, và hiện là TGM giáo phận Newark, bang New Jersey, kiêm Chủ tịch Ủy ban GM Mỹ về giáo sĩ, tu sĩ và ơn gọi.
 Giúp dòng nữ sắp chấm dứt chuẩn bị
 Cuộc hội thảo diễn ra trong bối cảnh số nữ tu tại Mỹ giảm sút trầm trọng và điều này có nghĩa là Giáo Hội cần giúp đỡ chuẩn bị tương lai. Theo các dữ kiện do Văn phòng toàn quốc Hoa Kỳ về các nữ tu hồi hưu, thuộc HĐGM Hoa Kỳ, thì trong vài thập niên sắp tới đây, sẽ có 300 dòng nữ tại Mỹ sẽ không còn nữa.

 Số nữ tu tại Mỹ giảm 75%
 Trong vòng 53 năm qua, tức là từ năm 1965, số nữ tu tại Mỹ giảm sút 75% và không hy vọng có sự thay đổi trong chiều hướng này. Năm 1965 có 181.421 nữ tu tại Mỹ, nhưng năm 2016 chỉ còn 47.160 nữ tu trong đó 77% trên 70 tuổi. Trong số 420 dòng nữ tại Mỹ hiện nay có 300 dòng nữ chuẩn bị cáo chung trong một vài thập niên tới đây vì không có ơn gọi và số nữ tu còn lại ngày càng cao tuổi.

 Nữ tu Carol Zinn thuộc dòng thánh Giuse ở Philadelphia, Giám đốc điều hành Liên hiệp các Bề trên dòng nữ tại Mỹ cho biết vấn đề hiện nay không phải là chuẩn bị bán các nhà mẹ của các dòng, nhưng còn đi xa hơn nữa.

 An bình trước viễn tượng đau buồn
 Đức Cha Joseph Kutz, TGM giáo phận Louisvill bang Kentucky, nhận xét rằng sự đau buồn và mất mát là thực tại mà các tham dự viên cảm thấy, nhưng nhiều dòng nữ cũng cảm thấy an bình vì đang ở trong tiến trình hoàn tất sứ mạng và hành trình. Đức TGM nói: ”Thật là một cuộc trao đổi rất lành mạnh, một cuộc đối thoại thực sự, dựa trên lòng quí trọng sâu xa của chúng tôi đối với các tu sĩ nam nữ cũng như sự đóng góp của họ. Tôi rời cuộc hội thảo này với tinh thần được khích lệ và phấn khởi”.

 ĐHY Tobin CSsR
 ĐHY Tobin cũng nói với báo ”Tường trình về các nữ tu hoàn cầu” (Global Sisters Report) rằng ”Tôi xúc động vì niềm an bình mà các nữ tu tìm được trong việc chuẩn bị kết thúc sứ mạng. Có một sự đau buồn khi thấy cái chết của một dòng tu thường có nghĩa là sự biến mất của một đoàn sủng đặc thù trong Giáo Hội.. nhưng cũng có một sự thanh thản lớn nơi các nữ tu”.

 ĐHY Tobin cho biết ngài nhớ lại lời cụ già Simeon trong ngày Chúa Hài Đồng Giêsu được dâng hiến tại Đền Thờ: ”Lạy Chúa, xin cho tôi tớ Chúa ra đi bình an, vì mắt con đã thấy ơn cứu độ của Chúa”.

 Nữ Tu Carol Zinn cũng nói rằng ”An bình đến khi các nữ tu ý thức sự kết thúc là thành phần của mầu nhiệm Vượt Qua, chết đi và sống lại, đó là điều trong trọng tâm của niềm tin Kitô giáo”.(3)

Tin lành cũng không khá hơn khi mà tuổi trẻ ít khi có mặt hàng tuần tại Hội Thánh.
Một số cơ sở Phật giáo của người Hoa có mặt khá sớm tại Hoa Kỳ, nhưng sau đó cũng khó duy trì;Thế nhưng 164 cơ sở Phật giáo Tây Tạng khắp thế giới, vẫn duy trì và phát triển trong khi chỉ có  57 Thầy luân phiên giảng dạy, hướng dẫn Thiền tập, trong khi Thiền tập không phải pháp hành cơ bản của Phật giáo Tây Tạng.(4)

TT Thiên Ân, Thiền sư Thanh Từ tuy không phát triển mạnh như Thiền sư Nhất Hạnh, nhưng vẫn được người bản xứ, nhất là giới trí thức và tuổi trẻ quan tâm, tham dự và ủng hộ. Họ đến với hệ phái Phật giáo này không phải để cúng dường hay nghi lễ bằng niềm tin mà đến để học hỏi, chia xẻ và thực hành sự lợi ích thiết thực trong cuộc sống xã hội công nghiệp có quá nhiều áp lực đưa đến stress.

Đạo Phật đến Mỹ bằng nhiều đường và nhiều Tông phái của nhiều quốc gia, mỗi hệ phái có một cách sinh hoạt cá biệt, nhưng trên vùng đất mới, ngoài việc bảo lưu  truyền thống, cần hội nhập những yếu tố đặc thù cá biệt của dân bản địa.
                                                   ***
Trong thời gian đầu, chư Ni không ứng phú ma chay như một vài chùa Tăng chuyên nghiệp, một số Ni chưa thông thạo ngôn ngữ bản địa; duy trì sinh hoạt thường nhật cho chùa đã là khó, làm sao đủ điều kiện hòa nhập vào môi trường giáo dục học đường, tuy nhà nước sẵn sàng cấp học bổng và hỗ trợ điều kiện học tập; chư ni phải làm bánh trái, nhang đèn, thực phẩm chay, thậm chí thu nhặt phế liệu như sư bà Đàm Lựu cùng đệ tử lúc đầu mới đến Hoa Kỳ, để cuộc sống không nhờ vào sự cúng dường của bá tánh  khi còn trên quê hương. Công dân Mỹ, cho dù đồng lương khá cao, nhưng thuế,bill điện nước, nhà cửa, xe cộ… mọi thứ đều nợ ngân hàng, ít khi có tiền mặt. Các cụ lớn tuổi hưởng trợ cấp chính phủ chỉ vừa đủ, tằn tiện lắm cũng chỉ vài mươi đô bỏ vào thùng Tam Bảo,lấy đâu ra cúng dường như ở Việt Nam.
                                                         ***
Trên 43 năm, cuộc sống dần ổn định, một số chư Ni được tham dự vào nền học vấn của xứ người. Một số lượng không nhỏ ni trẻ đã xuất ngoại du học tại các nước như: Ấn Độ, Trung Quốc, Đài Loan, Miến Điện, Sri Lanka, Thái Lan, Nepal, Anh Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Singapo,…Riêng tại Mỹ, số lượng Ni có học vị so với các quốc gia khác thì không nhiều, nhưng chất lượng kiến thức, học hàm đủ bảo đảm đào tạo cộng đồng Ni tương thích với chủ trương của  Sakyadhita, và yêu cầu sự phát triển PGVN hiện nay trên đất nước Hoa Kỳ..

Tình hình chung của người Việt, thích cá biệt hơn là hội nhập, chưa thấy một tổ chức nào dù ngoài đời hay trong đạo có sự thống nhất trọn vẹn. Sau 1963, GHPGVNTN ra đời không bao lâu lại chia làm hai hệ thống.  Sau 1975, GHPGVNTN tại hải ngoại cũng biến tướng nhiều Giáo hội, nhiều hội đoàn như Về Nguồn, Tăng già Bản thệ, Tăng đoàn, Giào hội Linh Sơn,Tăng già thế giới.vv…thế thì chư Ni Việt Nam liệu có đủ năng lực hiệp thông với số lượng Ni giới tại bản địa để thống nhất một số tiêu chí mà ni sư Giới Hương đã nêu:
Giữ gìn oai nghi tế hạnh
Trì tụng giới tỳ kheo ni, thức xoa ma na, sa di ni mà mình đã thọ trì
Thể hiện tinh thần kính Phật trọng tăng
Vâng giữ Bát Kính Pháp, ( tương lai khi trình độ một số Ni phát triển liệu có đi vào vết xe của một số Ni Đài Loan đòi hủy bỏ bát kỉnh pháp)!
Tụng kinh, hướng dẫn khóa tu, khóa thiền, các đại lễ Vu Lan, Phật đản, Bát quan trai, niệm Phật, giảng dạy... tại bổn tự, các chùa khác và cộng đồng.
Có lẽ năm điều trên, đa phần Ni giới đều nghiêm túc tuân thủ, nhưng Tổ chức lớp bồi dưỡng luật cho chư ni có cần một luật sư chuyên tu hướng dẫn mà hiện nay ở Mỹ chưa có một vị chuẩn theo yêu cầu.

Giáo hội và quý ni trưởng cần có đối sách kịp thời trong việc sử dụng nhân tài một cách hợp lý, để tất cả chư ni thấy được trọng trách của mình đối với Phật pháp. Ni giới nên thực hiện chí nguyện, phát huy vai trò và nhiệm vụ trong các lãnh vực mà đất nước Hoa Kỳ hay nói chính xác cộng đồng Việt-Mỹ đang mong muốn ni giới chúng ta đóng góp.
Có nhiều đất dụng võ vì nhiều websites (như website: www.huongsentemple.com của Chùa Hương Sen, Perris, Cali) sẳn sàng đăng và chờ đợi các sáng tác của ni giới. Các  Tổng Vụ Ni bộ nên tạo một website cho Ni giới Vietnam tại Hải ngoại để đặc biệt cho các sinh hoạt của chuyên giới Ni với nhau.

Tạo một mạng xã hội liên kết các ni với nhau, đặc biệt các ni trẻ có nhiệt huyết dấn thân... thăm hỏi, tương thân, tương trợ, tôn trọng lẫn nhau và chia sẻ các hoạt động Phật sự giữa các chùa với nhau (chưa dám nói đến toàn cầu, chỉ dám nói đến các ni cùng chung giáo hội với nhau, cùng chung lý tưởng và ý thức hệ). Tăng cường sự tương tác hoằng pháp qua mạng giữa ni giới và Phật tử. Điều này giúp trình độ Phật pháp và ứng dụng Phật pháp trong xã hội sẽ được nâng cao trong ni giới.
Nên có các khóa hành trì bằng tiếng Anh, tạo thư viện kinh sách trực tuyến, hướng dẫn và truyền tải thông tin tu học online. Không ngừng đổi mới và hiện đại hóa phương cách hoằng pháp cho phù hợp với đất nước Hoa Kỳ.
Tham gia kiến thức thế học như văn hóa, công nghệ, vi tính, y tế, xã hội, pháp luật... nâng cao nội và ngoại điển.
Đào tạo Ni giới giàu năng lượng tu tập, có kinh nghiệm trong hành trì, giảng dạy trong và ngoài nước, trong và ngoài bổn tự, thuyết trình một cách mạch lạc và sâu sắc, để trở thành những giáo phẩm, những lãnh đạo sáng ngời của Phật giáo.
Với sự lớn mạnh và những giá trị của ni bộ, ni giới sẽ là những nhân tố tích cực đóng góp cho những thành đạt của Phật Giáo Việt Nam tại hải ngoại. Ni giới đóng một vai trò quan trọng cùng với chư tăng xây dựng một xã hội Phật giáo Mỹ-Việt tốt đẹp. Bằng cách này, Ni giới đã, đang và sẽ xây dựng chỗ đứng của mình trong lòng xã hội Việt-Mỹ và sẽ là một sự kết nối tích cực ở cấp độ toàn cầu để nuôi dưỡng tâm linh vì lợi ích của tất cả trên toàn thế giới.
Mùa Kiết Hạ An Cư, ngày 26/06/2018
Thích Nữ Giới Hương (6)

Những ý tưởng cũng là lý tưởng của Ni sư Giới Hương cho một tương lai Ni giới tại Hoa Kỳ rất xác thực, nhưng từ lâu, Ni chúng quen từ nhà trù lên chánh điện ra sau vườn, làm sao cởi bỏ tập quán thủ phận để nuôi dưỡng “phát túc siêu phương”mới là điều quan trọng.Nữ giới thâm nhiễm sâu nặng tư tưởng “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, tư tưởng này không còn phù hợp trên đất nước văn minh tiến bộ, thậm chí họ còn xem phụ nữ là số một. Thời đại ngày nay, thế gian cũng như Tôn giáo, phụ nữ đã làm nên lịch sử mà nam nhi chưa chắc có được.
Ni sư Wuyin, người sáng lập và cũng là tu viện trưởng của Viện Phật giáo Quốc tế Luminary (LIBS) tại Đài Loan, Đài Loan cũng còn nhiều Ni sư xuất sắc về mặt lãnh đạo, tổ chức Từ thiện, cơ sở giáo dục, điều hành y viện… Ni sư Tsomo, người Mỹ, tại San Diego, lãnh đạo tổ chức Sakyadhita, và còn nhiều chư Ni khác tỏ ra năng động, sáng tạo đóng gớp khá nhiều cho việc phát triển Phật giáo trên thế giới.

Việt Nam đã từng có những gương mặt sáng giá trong Ni bộ, trong thời kỳ đất nước còn phân ly, thì việc giao lưu văn hóa, du học dễ dàng như ngày nay không thể không có những Ni tài mở đường cho PGVN trên đất nước cờ Hoa. Nếu chư Ni không muốn đi vào con đường xã hội, văn hóa, giáo dục, dịch thuật, trước tác như các đàn chị đã đi, trên mãnh đất màu mỡ đa dạng và non trẻ như Hoa Kỳ, biết đâu sẽ có một Ni sỹ là nhà khoa học thực dụng liên kết với khoa học tâm linh cho một Phật giáo phát triển đồng bộ mà những tôn giáo bản địa không còn sức hấp dẫn đáp ứng nhu cầu trí tuệ song hành với đức tin.

.Ni sư Giới Hương có lý khi nêu  “điểm cần ở giảng sư là năng lượng kinh nghiệm, năng lượng tu tập và truyền đạt... và cả ngôn ngữ truyền đạt.” cũng thế,Ni sư Chodron tin tưởng “Chư Ni được đào tạo, có học thức, biết tu tập thì mới có thể giảng dạy giáo lý một cách mạch lạc và sâu sắc, giúp cho nhiều tín đồ chuyển hóa tâm thức của họ, làm cuộc sống thanh thoát hơn. Đạo pháp chỉ trường tồn ở những nơi có sự ứng dụng và hành trì lời Đức Phật trong một thời gian dài”,
                                                 ***
Với không gian mở như Hoa Kỳ, Tôn giáo không còn phải thụ động, khép kín mà phải dấn thân, hòa nhập, góp phần công ích trong xã hội. Dưới cái nhìn thực dụng của Mỹ,không ai có thể ngồi không, sống bám hay chờ thời. Kinh nghiệm, học hỏi, tiếp sức cho xã hội là cách tồn tại vững chải để truyền đạt lý tưởng Tôn giáo hoặc tâm linh của một nền văn hóa xa lạ từ phương Đông.Không nên có tư tưởng đào tạo một đệ tử kế thừa trụ trì, chăm sóc thầy lúc về già, Đức Phật dạy hàng đệ tử “hãy là người thừa kế chánh pháp, đừng thừa tự tài vật”.vậy hãy nghĩ đến tương lai của Phật giáo cần phát triển trên một đất nước thực dụng, không mơ hồ, không đặt nặng đức tin vào thế giới sau khi chết,”hiện pháp lạc trú” của Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã ăn khách và cắm rễ tại Mỹ cũng nhờ tính thực dụng hiện tại, không cần hứa hẹn đến tương lai.Giải quyết những bức bách, những áp lực trong đời sống hiện tại và bây giờ.chính pháp hành tưởng chừng thực dụng  nhưng thẩm thấu bản chất tâm linh mã xã hội công nghiệp đang cần.

Khuynh hướng Tây Âu ngày nay thích chuyên về Thiền định để khám phá nội tâm, pháp hành, mà không mặn về nghi lễ Tôn giáo, vì trên 2000 năm Tôn giáo đã nhốt con người trong một đức tin mù quáng từng đưa đến xung đột qua những cuộc “thập tự chinh”.
                                                     ***
Dĩ nhiên con đường đi không thể phẳng lì, tương lai còn nhiều thách thức đối với tất cả, nhưng một thách thức khá lớn đối với chư Ni chưa quen dấn thân, còn nhiều e ngại. Một nữ tướng Trí Hải quá khứ, một nữ kiệt Giới Hương hiện tại, chưa đủ cầm cờ tiên phong cho những người con gái của Đức Phật người Việt trên xứ cờ Hoa???

MINH MẪN
29/4/2020


Tham cứu:
(1)  (Nguồn từ Huỳnh Kim Quang. "Năm mươi năm Phật giáo Việt Nam tại Mỹ". Việt Báo Tết Bính thân. Tr 35-39) (1)
(2)     ("International Buddhist Meditation Center (IBMC), our history")
( 3)   G. Trần Đức Anh OP – Vatican).
( 4)   (Ðào Viên tạp chí nghiên cứu phật giáoSự phát triển của Phật giáo ở Hoa Kỳ)
( 5 ) Tổ chức FPMT (Foundation for the Preservation of the Mahayana Tradition, tạm dịch là Tổ Chức Bảo Tồn Truyền Thống Đại Thừa)






















 












   
:







.


Thứ Ba, 14 tháng 4, 2020

BÓNG HẠC VỀ TÂY.



Giòng sinh diệt miên viễn mãi tuôn về biển cả chân thường, nghiệp thức bốc hơi, làm mây vô định, duyên đủ đầy hiện tướng nhân sinh!.


 Qua bao thế hệ đổi dạng thay hình, dưới mái Thiền môn Phật Việt cũng không còn thuần chất Lâm Tế nguyên thủy, nhưng không vì thế mà sen và súng dị biệt.
                                                 ***     

Ấy thế, ai bào các trưởng tử Như Lai không có nội lực hành trì? Các bậc chân tu, nếu không là cao Tăng thạc đức thì cũng là ánh nhiên đăng tiếp Tăng độ chúng với thân giáo và tâm hành. Bình Định là vùng đất không màu mỡ về kinh tế, nhưng thấm đẫm đức tin tâm linh qua bao đời trầm lắng thịnh suy quốc mệnh. Huế  nổi danh một Báo Quốc, Khánh Hòa có Hải Đức thì Bình Định cũng là nơi cung ứng cho Phật giáo bao Tăng tài uy đức xuất thân từ Nguyên Thiều. 



Bản thân đã là thế, nhưng nào quên trọng trách tiếp dẫn hậu lai khi mà cuộc sống còn vây quanh bao “nhiêu khê” bế tắt; dẫn dắt đồ chúng áp dụng nông thiền của Tổ Bá Trượng song hành việc học gia giáo; Thầy Thị Quả và Thầy Đồng Văn là học Tăng đầu tiên của lớp gia giáo, nay hình thành Tăng sai nhận nhiệm vụ trong và ngoài nước.Đây là lúc Ngài tiếp nhận ngôi chùa Bình An sau 1975 đầy gian khó.
Với hạnh nguyện: “Tiếp dẫn hậu lai báo Phật ân đức”, năm 1982, Hòa Thượng nhận hai vị đệ tử xuất gia đầu tiên, ban cho Pháp tự: Giác Hiệp và Giác Quảng. TT. Thích Giác Hiệp đã tốt nghiệp khóa III Trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam cơ sở II tại TP. Hồ Chi Minh, Tiến sĩ Phật học tại Đại Học Delhi, Ân Độ năm 2004, hiện đang là Ủy viên HĐTS GHPGVN, Phó trưởng Ban Phật giáo Quốc tế Trung ương, Phó Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Lào Cai, giảng viên Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Thủ đô Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, khai sơn và trụ trì chùa Hiệp Giác TP. Hồ Chí Minh. TT. Thích Giác Quảng hiện là Ủy viên Ban Nghi lễ BTS GHPGVN tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, trụ trì chùa Kim Long, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Có hơn 30 vị đệ tử xuất gia khác của Hòa thượng, như: TT. Thích Giác Khánh, TT. Thích Giác Hiển, ĐĐ. Thích Vạn Hương, ĐĐ. Thích Vạn Nhẫn,  v.v…ngoài ra, rất nhiều đệ tử y chỉ của Hòa thượng đã trưởng thành và hành Đạo khắp nơi trên thế giới, như:  Thượng tọa Thích Vạn Đức – Cộng Hòa Liên Bang Đức, Thượng tọa Thích Giác Tín – Úc Châu, TT. Thích Đồng Phước – Hoa Kỳ, v.v…
Dĩ nhiên, ngoài những đệ tử chân truyền, còn nhiều học Tăng học Ni thành danh cũng từ sự đào tạo tại Nguyên Thiều do Ngài xây dựng trên căn bản luật học. Với Thân Khẩu Ý Giáo tròn đầy, đức hạnh thanh cao, Ngài nhiều lần được Giáo Hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bình Định cung thỉnh vào hàng Thập sư Tôn chứng cho nhiều giới đàn từ năm 2000 đến 2010 tại Bình Định, đặc biệt lên ngôi vị Giáo Thọ A-xà-lê tại Đại Giới Đàn Kế Châu (2013) và Tâm Hoàn (2017),…
                                                              ***
Hạt giống nẩy nở hoa thơm trên mãnh đất khô cằn thế sự. HT Đồng Chơn là một trong vài ánh sao đêm trên nền trời Trung Việt. Chồi hoa cố vươn ra trong những kẽ đấ, tuy mỏng manh nhưng dẫu sao cũng góp thêm sắc màu cuộc sống, xác định cho dù suy vi, Phật pháp vẫn luôn có sức sống từ những chồi non thầm lặng. Dù dòng Thiền Lâm Tế Nguyên Thiều. Chúc Thánh, Liễu Quán, Gia Phổ,Thiên Thai, Tào Động…pháp mạch có gián đoạn, nhưng tông phong vẫn duy trì truyền thừa nguồn cội.Đạo lực chí nguyện có cao vời cũng không qua khỏi luật vô thường; bản mệnh thân lưu ly như Đức Bổn sư, cũng xuôi theo dòng sinh diệt nhân quả. Hòa Thượng cho dù là ánh sáng giữa bầu trời đêm,hàng hậu học cũng phải chịu tâm tang qua những dòng thơ văn tưởng niệm. Lời than ai oán, ái biệt ly khổ vẫn là tiếng dế miên trường của kiếp nhân sinh, khi mà 22 tháng 3 năm 2020 là giờ khắc quyết định kết thúc một kiếp người, nhưng là niềm tin khởi đầu tốt đẹp cho một nhân lành cả đời người chuyên sâu hành trì tác duyên pháp sự của một cao Tăng. Tuy trụ thế 74 năm, hạ lạp 52 mùa Hạ, nhưng dòng sinh diệt miên viễn không thể hạn giới tâm nguyện của một bậc thánh thiện vô ngần.Tuy ngài truyền thừa tông môn Lâm Tế, nhưng thủ đấc luật học đặc thù.

PGVN nói chung, môn đồ pháp quyến nói riêng đã vuột khỏi tầm tay một “hương trắc mộc, thà là cánh hạc bay cho không gian cao rộng, còn hơn  phận cá chép trong chốn ao tù, khi nghiệp thức mãn phần.

MINH MẪN
14/4/2020










Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2020

CÒN GÌ CHO THẦY





Cứ mỗi lần nhìn hình ảnh thầy nằm thiêm thiếp lúc đến thăm trước hai ngày thầy viên tịch, lại bồi hồi xúc động; Nhạc phẩm - Trọn nghĩa ơn Thầy (gia huy music: Tâm ca) cũng là điệu khúc sâu lắng làm dậy sóng tình thầy- trò suốt thời gian chìm lặng vô thanh.

Câu hỏi đầu tiên của thầy khi Tâm Huệ (Đổng Nghiêm) đến thăm, lúc Ngài vừa về lại Thanh Minh Thiền viện năm xưa – Minh Mẫn giờ sống ra sao? Ôi, câu hỏi tuy đơn điệu nhưng thắm đẩm tình thầy. Khi còn an trú ở Thái Bình, thầy nghe MM được trả lại tự do sau 10 năm xa cách, thầy gửi cho 10 ngàn (vào năm 1987) kèm vài giòng tâm cảm, khi đọc, không cầm được nước mắt. Còn nhớ trong đó có câu: - Trời đất mênh mông mà không có đất cắm dùi (nghĩa là lúc đó MM đang sống ở vỉa hè để bơm quẹt gas)! Lá thư nhỏ bằng bàn tay, một tu sĩ trẻ đến mượn xem rồi đem đi luôn. Vậy là tuyệt tích của thầy.

Thầy tình cảm, thủy chung, nhân hậu, cương trực, hiếu thảo, trí tuệ, uyên bác, ôn hòa và cũng rất kiên định... bao nhiêu đức tính ưu việt nhân cách làm người, thầy đều có đủ. Bộc trực, nóng tánh biểu hiện cho lòng tốt, nhưng lại là điểm yếu để đối phương khai thác, từ đó, bao nhiêu thông tư, văn bản đã chặt hết chân tay. Theo hòa thượng Thích Thái Hòa nói với BBC News Tiếng Việt hôm 24/2:

"Tôi không nghĩ ngài là người tạo ra một vài khó khăn cho sự hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất từ bên ngoài. Đó là điều không bao giờ có, bởi cương vị một Tăng thống, không ai muốn như thế cả. Nhưng có thể, do tiếp nhận từ những nguồn thông tin thiếu chuẩn mực nên dẫn đến như vậy."

Tinh thần đồng đội của thầy làm cho những ai hy sinh vì lý tưởng, càng sẵn sàng hy sinh. Thầy từng nói: - “Nếu các ngài muốn theo vinh quang thì cứ đi, còn con thuyền này dù có nát, bể hay chòng chành thì hãy để chúng tôi tự lo lấy”, lòng thủy chung và tinh thần trách nhiệm đã đè nặng trên đôi vai Ngài suốt quảng đời còn lại, Ngài vẫn hiên ngang dấn bước.
                                                             ***
27 tháng 11 năm 1928 Thái Bình đã sản sinh– một người con trác tuyệt về mọi mặt, đúng với cái tên Đặng Phúc Tuệ. Khi xa quê vào Nam ăn học, gắn liền trách nhiệm với Phật giáo thời bấy giờ khi chính quyền áp đặt Phật giáo vào Dụ số 10, lúc ấy ngoài 30 tuổi, đã từng bị tù tội, bị bạo hành phải lâm trọng bệnh di chứng đến tuổi già.

Ngài Xuất gia vào năm 14 tuổi (1942) tại chùa làng Thanh Lam, tỉnh Hà Đông, nay là thành phố Hà Nội. Bổn sư của Ngài là cố Hòa thượng Thích Đức Hải tại chùa Linh Quang, tỉnh Hà Đông. Năm 1944, Ngài thọ giới sa di. Năm 1947, ngài đăng đàn thọ đại Cụ túc giới. Năm 1951 du học tại Srilanka và Ấn độ. Làm Phát ngôn nhân kiêm Thanh tra của Viện Hóa Đạo vào năm 1972, và là Tổng thư ký Viện Hóa Đạo của Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất năm vào 1974.

Ngài đã từng giảng dạy tại Viện Đại học Vạn Hạnh, Đại học Văn Khoa Sài Gòn, Viện Đại học Hòa Hảo (An Giang), Giáo Hoàng Học viện Piô X (Đà Lạt) và các phật học viện. Người còn là tác giả của những tác phẩm phiên dịch, sáng tác rất giá trị, nhất là bộ Phật Quang Đại tự điển, đã phải 2 lần dịch khi bản dịch đầu tiên ở Thái Bình bị tịch thu. 2 năm sau dịch lại tại Thanh Minh Thiền viện Sàigòn.

Năm 1999, Ngài làm Viện trưởng Viện Hóa Đạo. Sau khi hòa thượng Thích Huyền Quang viên tịch năm 2008, Ngài là Xử lý Thường vụ Viện Tăng thống. Theo chúc thư để lại thì Hòa thượng Thích Quảng Độ được chọn làm Tăng thống thứ năm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Tháng 11 năm 2011 trong Đại hội kỳ IX của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tổ chức ở chùa Điều Ngự, Tp Westminster, Quận Cam, California, Ngài mới chính thức là Đệ ngũ Tăng thống.

Trong quá trình điều hành Giáo hội, hết lòng phục vụ Phật giáo theo kỷ cương truyền thống, dĩ nhiên với tính khí bộc trực, tuy có người không thích nhưng không ai xem nhẹ nhân cách của Người. Thuở còn là Thanh tra cho GHPGVNTN, do tính trong sáng, bộc trực, Ngài gặp không ít chướng ngại của những đối tượng thiếu minh bạch, nhiều lần xin từ nhiệm để lo việc văn hóa giáo dục, nhưng Giáo Hội lúc bấy giờ không ai đủ nhân cách thay thế. Chính vì thế, khi đảm trách gánh vác sinh mệnh GHPGVNTNT trong cơn sóng gió, với hiện tướng của một bậc trượng phu, quân tử, uy vũ bất năng khuất, hương thơm lan tỏa, uy tín phát tiết, tuy ở một  góc nhỏ trên mảnh đất của tinh cầu, tinh thần vô úy bất khuất và bất bạo động đã tỏa hương thơm khắp hoàn vũ. Do vậy, những giải giành cho Ngài như Giải quốc tế Homo Homini vào năm 2003, Giải tưởng niệm Thorolf Rafto năm 2006, Ngài được nhiều lần đề cử cho giải Nobel Hòa bình. Thiết nghĩ, cho dù bao nhiêu giải quốc tế cũng chưa đủ phủ trọn tầm vóc của một đấng anh minh!

Một chút dư âm hoài niệm !
Năm 1945, miền Bắc hai tỉnh Thái Bình, Nam Định, người chết đói nằm ngổn ngang khắp đường phố, dưới sự chỉ dạy của Hòa thượng Thích Đức Hải, Người cùng thầy lập trại cứu tế giúp dân. Người cũng đi bộ hai ngày đường về quê, cõng người anh sắp chết vì đói để về chùa chăm sóc. Người chăm sóc mẹ già nơi cảnh cô liêu rét mướt thiếu thốn mọi bề đến khi mẫu thân gửi xác trên quê nhà, rảnh tay, Ngài gia công cho việc phiên dịch và tiếp tục sứ mạng với GHPGVNTN, tâm tư luôn nghĩ đến sinh mệnh của Phật giáo Việt Nam.

Tháng 3 năm 1990 tại Hà Nội, các nhà nghiên cứu, gồm các ông: Nguyễn Văn Phát, Trương Đình Nguyên, Vũ Tá Nhí Trưởng phòng Văn bản Viện Hán Nôm... Nguyễn Tương Lai, Trưởng phòng Thái Học Viện Đông Nam Á, Mai Xuân Hải, Trưởng phòng Ứng dụng Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Nguyễn Văn Phát, Giáo sư khoa Trung Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trương Đình Nguyên, Giáo sư khoa Trung Văn trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội đều đến thỉnh vấn sở kiến của Người về chuyên môn văn học. Mục đích cuộc gặp gỡ này cũng là thỉnh mời Hòa thượng tham gia Phân viện Nghiên cứu Phật học nhưng ngài chối từ.                                                                                            
                                                            ***
Với nhân cách và trí tuệ của Ngài, Thiền sư Nhất Hạnh tôn kính Ngài là một vị BỒ TÁT VÔ UÝ.

Trí Quang Thượng Nhân tặng cho Hòa thượng Thích Quảng Độ là: "Phật pháp công thần".

Nhà thơ Tâm Nhiên có câu “Đại hùng tâm giữa cuộc bể dâu” nói về Người. Riêng bà Thái Kim Lan nhận định:

Có lẽ tôi nói một chút về tính cách thống nhất Phật giáo, mà có lẽ qua thầy Thích Quảng Độ, đối với chúng tôi, sự xuất hiện của thầy Thích Quảng Độ trong thời gian những thập nhiên ở thế kỷ XX hay và đẹp lắm.
“Ở chỗ đây là một vị tu sỹ người Bắc vào trong Nam và tinh thần Phật Giáo Việt Nam ở Bắc, đó là nguồn, là cái gốc và chính các vị đại lão ở miền Trung, cũng như ở trong Nam đều nhìn hình ảnh Phật giáo ngoài Bắc giống như là cái gốc của mình.
“Thì tôi nghĩ sự có mặt của cố Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ ở trong không gian Việt Nam này là một tiêu biểu để cho sự thống nhất việc Phật giáo Nam – Trung – Bắc có đầy sức sống và mảnh lực.
“Bởi vì chúng ta phải nhớ là đời Trần, đời Lý, Phật giáo là biểu tượng và sức mạnh giành lại độc lập, giữ lại độc lập cho Việt Nam, bởi vậy thành thử hình ảnh của thầy rất đẹp ở trong tâm tưởng của chúng tôi.
“Và tôi nghĩ rằng việc này, Phật tử cũng như mọi người nếu khác ý kiến cũng nên suy nghĩ lại để chúng ta thấy là Phật giáo Việt Nam nên là một, để nó có sức mạnh hơn,” bà Thái Kim Lan nói với BBC.

Dĩ nhiên, sau sự mất mát to lớn của một thạch trụ PGVN, hàng hậu học cảm thấy trống vắng bâng khuâng, có người than - 

Đến khi ông mất đi nhiều người mới chợt nhận ra rằng nước Nam đã mất một vị Chân Sư.

Sau ngày vắng bóng, trên thế giới vô vàn lời tán tụng, nhắc nhở về Ngài,Người vẫn là ngôi sao sáng trên bầu trời Phật giáo Việt Nam, sẽ đi vào giáo sử PGVN thời hiện đại.

***
Ngày 22/11/2018, hòa thượng Thích Nguyên Lý đưa hòa thượng Thích Quảng Độ về chùa Từ Hiếu. Và từ đó đến lúc viên tịch, hòa thượng sống ở đây. Một danh Tăng cao đức không chùa, không tài sản, lúc mãn phần không nghi thức rườm rà, không thỉnh mời, không chấp điếu, không  xây tháp. Tro cốt về với biển khơi của Tổ quốc, đã xác định dù sống hay chết vẫn là con dân đất Việt, luôn là tinh thần PGVN.

92 tuổi trải qua bao thăng trầm vinh nhục, nhưng chí khí vẫn hiên ngang, vẫn yêu cuộc sống, nhìn thế gian như ảo ảnh phù du; dù là thân hay thù, vẫn chỉ một lòng nhân ái. Ngay cả việc sống chết, đối diện với tử thần, Người cũng hài hước, xem nhẹ. Ta hãy đọc bài thơ “Nói chuyện với tử thần” sau đây:

NÓI CHUYỆN VỚI TỬ THẦN

“Xà lim trông hệt cái nhà mồ
Mỗi lần mở cửa tôi ra vô
Thấy như chôn rồi mà vẫn sống
Tử thần, tôi sợ con cóc khô.

Tử thần nghe vậy bèn sửng cồ
Nửa đêm đập cửa tôi mời “dô”
Sẵn có thuốc lào phèo mấy khói
Tử thần khoái trá cười hô hô.

Trong khi vui vẻ tôi trò chuyện
Tử thần đắc ý nói huyên thuyên
Trần gian địa ngục ham chi nữa
Thôi hãy bay mau vào cõi tiên.

Tớ xem tướng cậu cũng hiền hiền
Mà sao thiên hạ sợ như điên
Mỗi lần thấy cậu lò dò tới
Chúng nó hè nhau bỏ tổ tiên.

Ấy cũng bởi vì chúng nó điên
Chớ anh coi tướng ta rất hiền
Đứa nào hết số ta mới rớ
Bảo chúng làm ăn đừng có phiền.

Tớ đây tuy có chút lo phiền
Nhưng mà cũng chẳng ham cõi tiên
Trần gian địa ngục tớ cứ ở
Mê loạn cuồng say với lũ điên.

Trần gian ta thấy bết hơn tiên
Thân bị gông cùm tâm chẳng yên
Sống trong hồi hộp trong lo sợ
Dẫu phải thánh hiền cũng phải điên.

Trần gian tớ thấy béo hơn tiên
Ấy cũng bởi chúng có giấy tiền
Kim cỗ ngàn đời người vẫn thế
Có tiền đầy túi nó mua tiên.

Mọi người còn đắm mộng triền miên
Hạ tuần trăng đã dọi vào hiên
Tử thần âu yếm hôn tôi biệt
Phóng ngựa ma trơi về hoàng tuyền.

Còn một mình tôi vào cõi thiền
Lâng lâng tự tại cảnh vô biên
Bồ Đề phiền não đều không tịch
Niết Bàn sinh tử vốn vô biên”


MINH MẪN
09/4/2010 kỷ niệm nhân thất thứ 7 của một y chỉ Tôn sư


Thứ Tư, 1 tháng 4, 2020

ÔN DỊCH VÀ TÌNH NGƯỜI






Tình hình Vũ Hán trong thời gian cực điểm, người dân thất vọng trước sống chết cận kề, kẻ nhảy lầu tự sát, người bung tiền xuống lầu khi thấy đồng tiền cả đời gom góp bằng công sức, giờ đây trở thành vô nghĩa khi sự sống không thể bảo về bằng đồng tiền.
Tình hinh lan tỏa nhanh trên 200 quốc gia vì dịch Covid 19. Ai cũng thủ riêng cho mình, cho gia đình những vật thực  cần thiết, thậm chí tranh nhau từng cuộn giấy vệ sinh đưa đến ẩu đả. Hiện tượng như thế, ai cũng cho đó là đương nhiên trước việc sống còn. Thi thoảng cũng không thiếu những tấm lòng vị tha như một thực khách Tip 9.400 USD khi ăn tối ở nhà hàng MỸ Hai thực khách dùng bữa hết 90,12 USD, song để lại 9.400 USD tiền tip để giúp nhà hàng vượt qua gia đoạn khó khăn vì dịch bệnh.
Louis Galvan, chủ nhà hàng tại Houston, bang Texas, bày tỏ: "Thành thật mà nói, chúng tôi không nghĩ chuyện này có thể xảy ra. Họ đã để lại một khoản tiền thưởng cho toàn bộ nhân viên nhà bếp và dịch vụ, thật bất ngờ"…. chia đều cho mỗi nhân viên 300 USD. Và dĩ nhiên còn nhiều tấm lòng tốt khác âm thầm chia xẻ cho nhiều mãnh đời bất hạnh trước thiên tai ôn dịch hiện nay.
Điều đáng nói, Việt Nam là nước không giàu, nhất là người miền Nam, nhưng có quá nhiêu tấm lòng giàu nhân nghĩa.
Hãy xem các điểm ăn từ thiện để biết người dân xem trọng tình nghĩa hơn tiền của trong hoạn nạn .
🇻NHỮNG ĐIỂM CƠM MIỄN PHÍ HAY CÓ GIÁ DƯỚI 5000đ
💝1. Nụ Cười 1: số 6 Cống Quỳnh - Q1
- Phục vụ : từ 10h30 sáng các ngày từ thứ 2 - thứ 7 hàng tuần
- Giá bán : 1000đ
💝2. Nụ Cười 2: 371 Tân Sơn Nhì , P.Tân Thành, Q.Tân Phú
- Phục vụ : từ 10h30 sáng các ngày từ thứ 2 - thứ 7 hàng tuần
- Giá bán : 1000đ
💝3. Nụ Cười 3: 1276 Huỳnh Tấn Phát , P. Phú Mỹ , Q7
- Phục vụ : từ 10h30 sáng các ngày thứ 2,4,6) - Ngày chẵn.
- Giá bán : 1000đ
💝4. Nụ Cười 4: 132 Bến Vân Đồn, Q4
- Phục vụ :từ 10h30 sáng các ngày thứ 3,5,7) - Ngày Lẻ.
- Giá bán : 1000đ
💝5. Quán Cơm Chay Xã Hội Cường Béo 154/4 Tôn Thất Đạm, Phường Bến Nghé , Quận 1, HCM
- Phục vụ : cả tuần
- Giá 5000đ
💝6. Điểm phát cơm CLB Từ Thiện Hỷ Lạc
66 Vạn Kiếp, Phường 3 , quận Bình Thạnh
- Phục vụ: chủ nhật tuần 2 và chủ nhật tuần 4 trong tháng( 1 tháng phục vụ 2 lần)
- Giá : MIỄN PHÍ ( Ngoài cơm còn có sữa và chuối)
💝7. Quán cơm 2000đ (Số 88/13 Bình Trưng, P. Bình Trưng Đông (Q2, TP.HCM).
- Phục vụ: Cả tuần
- Giá : 300 suất miễn Phí, 100 suất 2,000đ.
💝8. Bếp ăn từ thiện Bảo Hòa (220 Đinh Tiên Hoàng, Quận 1, TP HCM))
- Phục vụ : cả tuần
- Giá bán : 2,000đ
💝9. Quán Ăn Chay Từ Tâm (33 Trần Nhân Tôn, Phường 2, Quận 10, TP HCM) - Đối diện cổng sau cao đẳng kinh tế thành phố
- Phục vụ : T2, T4, T6
- Giá bán : 5,000đ
💝10. Quán Cơm Nhà Thờ Hầm (Đường số 3, cư xá Lữ Gia, Quận 11). Quán nằm trên đường Nguyễn Thị Nhỏ
- Phục vụ : T2, T4, T6
- Giá bán : 2,000đ
💝11. Quán Cơm Thiện Tâm (174/30A đường Chu Văn An, phường 12, quận Bình Thạnh)
- Phục vụ : Từ 10h30 - Tất cả các ngày
- Giá bán : 2,000đ
💝12. Chùa Vạn Thiện (Hẻm 360 đường Trần Phú, Phường 4, Quận 5 - TPHCM). Nằm gần ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Sư phạm, ĐH Sài Gòn, Cao đẳng Phát thanh Truyền hình 2
- Phục vụ : Ngày 30, 1, 14, 15 (âm lịch) hàng tháng
- Giá bán : MIỄN PHÍ
💝13. Cơm Chay Xã Hội (Số 53 Vũ Tùng, Phường 1, Quận Bình Thạnh, TP HCM)
- Phục vụ : Tất cả các ngày. (Ngày 2 bữa)
- Giá bán : 2,000đ
💝14. Quán cơm chay 5k (Đường Chương Dương gần Chợ Thủ Đức, từ ngã 4 Thử Đức quẹo xuống hướng chợ Thủ Đức khoảng 1,5Km, quẹo phải khoảng 400m, bên tay phải)
- Phục vụ : Tất cả các ngày. (Ngày 2 bữa)
- Giá bán : 2,000đ
💝15. Quán cơm chay từ thiện tương trợ Nụ Cười 2 (Số 46/22 Nguyễn Ngọc Nhựt, phường Tân Quý, quận Tân Phú, TP.HCM)
- Phục vụ : T2, T4, T6
- Giá bán : 2,000đ
💝16. Quán cơm từ thiện quận Tân Bình (2/5 Chấn Hưng, Phường 6, Quận Tân Bình, TP HCM)
- Phục vụ : T3, T5
- Giá bán : 5,000đ
💝17. Cơm chay Vợ Thằng Đậu (Số 40, Đặng Văn Bi , Quận Thủ Đức, Tp. HCM)
- Phục vụ : Hàng ngày: 10 giờ 30 - 11 giờ 30 trưa
- Giá bán : MIỄN PHÍ
💝18. Quán cơm chay từ thiện Bình Thạnh (Số 53 Vũ Tùng Phường 1, Quận Bình Thạnh, TP HCM)
- Phục vụ : Hàng ngày: 10 giờ 30 - 11 giờ 30 trưa
- Giá bán : MIỄN PHÍ
💝19. Nhà hàng Tano central (Ngã tư Lý Tự Trọng - Hai Bà Trưng)
- Phục vụ : 16h00 từ Thứ 2 đến Thứ 6 hàng tuần
- Giá bán : 2,000đ.
💝20.Quán cơm Thuần Chay NHÀ TÔI
Địa chỉ: 16 Trần Đình Xu. Phường Cô Giang, Quận 1
Hotline: 0907351224
(Nhận cơm hộp nấu sẵn, gạo, mì...)
💝21. Quán Buffer MÃN TỰ VEGAN
Địa chỉ: 14/2 Tôn Thất Đạm, P. Nguyễn Thái Bình, Q1
Hotline:
(Ăn và nhận phần cơm sẵn mùa dịch)
💝22. Quán Buffer MÃN TỰ VEGAN
Địa chỉ: 201 Nguyễn Thị Minh Khai, P. Nguyễn Cư Trinh, Q1
Hotline:
(Ăn và nhận phần cơm sẵn mùa dịch)
💝23. Quán Buffer MÃN TỰ VEGAN
Địa chỉ: 55 Nguyễn Chí Thanh, P.9, Q5
Hotline:
(Ăn và nhận phần cơm sẵn mùa dịch)
💝24. Địa chỉ : 155 HÙNG VƯƠNG P9 Q5
💝25. Quán cơm BÌNH AN
Địa chỉ: 49 Ngô Quyền, Phường 6, Quận 10
Hotline:
(Nhận cơm hộp nấu sẵn)
💝26. Tại tiệm Đạt Tattoo 32 đường Thích Quảng Đức, phường 5, quận Phú Nhuận.
💝27. Fresh Fruit Bình Dương
ĐC: 09 Hoàng Hoa Thám, Hiệp Thành, TDM ( đầu đường vào khu dân cư K8, cách cổng chào 50m bên tay trái)
(Nhận gạo)
💝28. Tiệm tạp hóa KCN Mỹ Phước 3, Bến Cát, Bình Dương
💝29.Số 18 Chế Lan Viên, phường Tây Thạnh, Quận Tân Phú Tp.HCM (quán Nướng Yaki)
💝 Ngô Quyền phường 6 Quận 10 Tp.HCM (quán Chay Bình An).
Để cho các cơ sở từ thiện hoạt động tốt,rất mong sự chung tay giúp đỡ của cac MTQ
Những hình ảnh này gây xúc động không ít trong xã hội.
Từ thiện trở thành truyền thống của người dân VN nói chung, nhất là người dân Nam bộ. Các bếp ăn từ thiện ngày ba bữa trong các bệnh viện, xây cầu, khoan giếng, dựng nhà, giúp học sinh nghèo, phòng thuốc miễn phí….đa phần là tín đồ đạo PG Hòa Hảo, sau này lan tỏa đến một số chùa và những tấm lòng vàng trong xã hội. Họ sẵn sàng hiến khách sạn cho dân nghèo vô gia cư,một đại lý vé số miền Tây Nam bộ cũng hỗ trợ người bán vé số năm mươi ngàn đồng mỗi ngày tạm ngưng  buôn bán theo yêu cầu của nhà nước. Một công ty phát hành vé số miền Tây cũng giúp dân hàng trăm suất thực phẩm trong mùa dịch. Ngoài lề đường, thường xuyên có tủ bánh mỹ miễn phí, nước uống đóng chai…và nhiều hình thức thiện nguyện khác.
Điều muốn nói ở đây là họ biết đem của cải chia sớt nhau như một hình thức giải nghiệp cho nhau thay vì  tích trữ. Trong cơn hoạn nạn chung của xã hội mới thấy rõ những tấm lòng vàng lá rách đùm lá nát.Dẫu sao, người dân ta vẫn còn giữ được lòng nhân ái, vị tha do phần lớn các tín ngưỡng Tôn giáo đã thấm sâu vào máu thịt và hơi thở của dân tộc.
Giờ đây, những dị biệt quan điểm chính trị, tôn giáo, đảng phái không còn cần thiết, cái trước mắt là sinh mạng con người, mọi người cần chung tay giúp nhau vượt qua những khó khăn của xã hội, trong đó, nghiệp quả là cốt lỏi đưa đến hiện tượng  hôm nay, tấm lòng và bàn tay giải quyết một phần nghiệp quả và xây dựng tô bồi thêm nhân thiện để giải trừ quả xấu.
Mong dịch bệnh sớm qua để người dân được an lành tiếp tục xây dựng cuộc sống.

MINH MẪN
01/4/2020