Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2015

*BAN HƯỚNG DẪN PHẬT TỬ

THAM LUẬN VỀ GIÁO DỤC pg
 VÀ NGÀNH GIÁO DC


Giáo dục là gì? Hiện nay khó mà định nghĩa dứt khoát; có rất nhiều định nghĩa khác nhau, ví dụ:

Như trong cuốn "The Educator’s encyclopedia" của ba học giả Mỹ E.W. Smith, S.W. Krouse và M.M. Atkinson, 1969, USA, cho rằng khái niệm giáo dục chuyển tiếp từ Phương Ðông đến thái độ Phương Tây và trong Larouse Universelle của Pháp định nghĩa: "Giáo dục là toàn thể những cố gắng có ý thức để giúp tạo hóa trong việc phát triển các năng lực thể chất, tinh thần và đạo đức của con người, hướng về sự toàn thiện, hạnh phúc và sứ mạng xã hội của con người".
(Trích dẫn từ Sư Phạm Lý Thuyết, nhiều tác giả, nhà xuất bản trẻ năm 1971).

Thế nhưng, theo W. O. Lester Smith, Giáo Sư Ðại Học Luân Ðôn, Chủ Tịch Hội nghiên cứu giáo dục Anh Quốc đã nói: "Khi nghĩ về giáo dục chúng ta không được quên rằng giáo dục có tính cách trưởng thành của một cơ thể sinh động. Trong khi có những tùy thuộc thường xuyên nó vẫn liên tục thay đổi tự thích ứng với những nhu cầu mới và hoàn hảo mới". 

Theo từ điển Từ Hải cho rằng "Giáo" là cho biết, "Giáo" là đánh để dạy con (người trẻ) bắt chước theo điều hay lẽ phải. "Dục" là nuôi dưỡng, sinh ra, làm cho lớn lên, v.v... Tóm lại, "Giáo Dục" là nếu người trên đặt ra thì người dưới phải bắt chước làm theo và nuôi con khiến cho con làm điều thiện.

Từ Ðiển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ Học, Trung tâm từ điển học, nxb Giáo dục, 1994, trang 379 có ghi: "Giáo dục 1. (động từ). Hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra. 2. (danh từ). Hệ thống các biện pháp và cơ quan giảng dạy giáo dục của một nước".

Như trong quyển "Giáo dục và ý nghĩa cuộc sống" của Krishnamurti viết: "Mục đích của giáo dục đích thực là rèn luyện trau dồi mối tương giao chính đáng không chỉ giữa các cá nhân, nhưng cũng giữa cá nhân và xã hội".


Bấy nhiêu cũng cho thấy định nghĩa về giáo dục khó mà toàn vẹn; vì thế, đôi khi giáo dục cũng có nghĩa rèn luyện, truyền trao kinh nghiệm, áp đặt... theo một khuynh hướng nhất định.


A/ ĐỐI TƯỢNG GIÁO DỤC
Giáo dục không đủ giá trị khi nó đứng một mình; giáo dục là giáo dục cái gì, giáo dục ai. Trong xã hội, giáo dục mang tính quần chúng, cộng đồng; trong học đường, giáo dục nhắm đến những đối tượng học sinh, sinh viên; trong chuyên ngành, giáo dục nhắm đến cán bộ, nhân viên; trong đảng phái, hội đoàn... đối tượng được giáo dục là đảng viên, hội viên... Thì trong Phật giáo nói chung và ngành "Hướng dẫn Phật tử" nói riêng đã có một đối tượng rõ ràng, nhưng là tập thể đối tượng gồm nhiều thành phần và trình độ khác nhau, tuổi tác khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, đó là điều kiện đặc thù mà không  một tổ chức nào gặp phải. Chính vì vậy, việc giáo dục không thể đi sâu vào chuyên biệt, không thể nào bằng tập thể đối tượng như thế để làm việc một cách máy móc. Muốn đạt hiệu quả trong việc giáo dục quần chúng Phật tử, nhất là chuyên ngành của "ban hướng dẫn Phật tử", cần có một phương án, một giáo trình rõ ràng cho từng nhóm đối tượng. Ví dụ nhóm tiểu thương, nhóm văn nghệ sĩ, nhóm giáo chức, chuyên viên, doanh nhân, thanh thiếu niên, học sinh sinh viên...

Trước 1975 và sau 1981, Phật giáo đều có Tổng vụ hoặc Ban ngành hướng đến quần chúng Phật tử như "tổng vụ cư sĩ" Thanh niên, sinh viên học sinh Phật tử vụ "Ban "hướng dẫn Phật tử", nhưng hầu như chỉ có ngành Gia Đình Phật tử cũng như ngành Thanh niên học sinh trước kia là có chương trình sinh hoạt, đào tạo rõ ràng. Vài năm gần đây, một số Ban ngành đã chịu khó hoạt động mà trước kia có tên nhưng không có kế hoạch sinh hoạt hiệu quả, do vị đứng đầu ngành không có kế hoạch hoạt động, không quen điều hành, không biết khởi sự hoạt động từ đâu và hoạt động thế nào cho có hiệu quả. Hiện nay, tuy vài ban ngành có chuyển biến, nhưng nặng hình thức trình diễn hơn là nội dung hoạt động để đạt hiệu quả. Riêng ngành "Hướng dẫn Phật tử" của Trung ương, chương trình thăm viếng các đơn vị địa phương, và vài hoạt động khác như để xác định sự có mặt mà vẫn chưa đưa ra mô hình và đề án giáo dục Phật tử cụ thể cho các ban "Hướng dẫn Phật tử" địa phương, vì thế, một số địa phương vẫn ì ạch dậm chân tại chỗ, thậm chí không có phương hướng rõ ràng để hoạt động theo đúng tinh thần Hiến chương và giáo lý.

B/ P
HƯƠNG HƯỚNG VÀ PHONG CÁCH GIÁO DỤC
Suốt tam tạng giao điển của nhà Phật là cả một phương trình giáo dục tổng thể từ cõi Nhân-Thiên cho đến Bồ Tát, Arahan và quả vị Phật. Riêng cõi Nhân và Thiên, đức Thế Tôn chú hướng tỉ mỷ đến từng động thái nhỏ nhặt dành cho tín đồ tại gia cũng như các bậc xuất sĩ. Là bậc thầy của cõi Nhân Thiên, đức Phật tùy đối tượng, tùy thời khắc và tùy địa phương, thổ ngữ, trình độ mà có cách giáo hóa khác nhau, thuật ngữ gọi là: - khế cơ - khế lý - khế thời. 

Giáo dục chúng sanh, đức Phật chia làm hai hạng, một là trách nhiệm của cư sĩ tại gia đối với gia đình và hộ trì Tam Bảo, tu tập bản thân để hưởng phước Nhân Thiên, vì người còn gia đình, bị ràng buộc trách nhiệm với xã hội và bổn phận với con cái, khó áp dụng cho việc giải thoát sanh tử, vì thế, "ngũ giới" và "thập thiện" là phương tiện rèn luyện nhân cách cho con người còn sống trong xã hội và phương hướng hoàn thiện hướng đến tương lai. Ngoài ra, Phật còn dạy tín đồ tại gia về cung cách cư xử trong gia đình như kinh Thiện Sinh. Dạy "tứ trọng ân" đối với cuộc sống...

Trong giới xuất sĩ, để hoàn thiện nhân cách của bậc thoát ly khi còn mang thân phàm, còn phạm phải nhiều sai lầm, đức Phật phải chế giới, giải thích giá trị của việc trì giới để từ đó sanh định, phát Tuệ. Thọ giới Sa Di, cũng đã phải thuộc lòng bốn bộ luật: Tỳ ni- oai nghi - Sadi - Cảnh sách. 

Tập cho một người tập sự chuẩn bị thọ đại giới, phải tập chú từ cách đi đứng, nằm ngồi, ăn uống, mặc đồ... đó là cách giáo dục khá hoàn chỉnh cho một tu sĩ. Một câu chuyện thật cảm động và tế nhị trong việc giáo huấn cho bậc xuất sĩ, La Hầu La là biểu tượng sơ đẳng cho việc chế giới và giáo dục:

"Khi đức Phật đến, La-hầu-la mang thau nước đến cho đức Phật rửa chân. Sau khi rửa chân, đức Phật đổ nước, chỉ để lại một ít trong chậu và hỏi La-hầu-la: “Con có thấy còn lại một ít nước dơ ở trong chậu không”. Câu trả lời “Dạ có thấy”. Đức Phật dạy: “Hạnh của một người tu cố ý nói dối cũng ít ỏi, chỉ đáng bằng một chút nước dơ còn lại trong chậu, không đáng kể đến, không được quan tâm”. Với những hành động tiếp theo cũng tương tự như vậy, với mục đích chỉ rõ tác hại của việc nói dối. Phật đổ hết nước trong thau và dạy con: “Người cố ý nói dối là người không có giá trị, không thể sử dụng vào bất cứ việc gì nên cũng đáng đổ đi, vứt bỏ đi như vậy”. Rồi Ngài lật úp chậu xuống: “Chậu lật úp nên không thể đựng bất kỳ vật gì vào trong đó, Sa môn hạnh của kẻ cố ý nói dối cũng bị lật úp, đảo lộn như cái chậu, không thể sử dụng được”.

Phật lật cái chậu lên và chỉ cho Ràhula thấy sự trống rỗng của nó: “Sa môn hạnh của kẻ cố ý nói dối cũng trống rỗng, trống không, không có gì”.

Để nhấn mạnh cho La Hầu La hiểu rõ vấn đề, Đức Phật đưa ra một ví dụ cụ thể hơn: “Như con voi lâm trận biết bảo vệ cái vòi là biết giữ mạng sống; nếu nó dùng luôn cả cái vòi tức đã thí mạng, vì khi vòi bị thương thì mạng sống của voi sẽ khó đảm bảo”. Cũng vậy, một người tu cố ý nói dối không biết tàm quý thì không điều ác nào, không có tội lỗi xấu xa nào mà không làm, điều đó sẽ làm cho kẻ ấy tổn phước, tổn đức và dẫn đến ác thú trong hiện tại và tương lai. Vì vậy, Phật cương quyết răn nhắc “không được nói dối, dù nói để đùa chơi”.

Khi La-hầu-la đã nhận ra lỗi lầm của mình rồi, đức Phật tiếp tục tiến xa hơn một bước nữa là dạy con thường phản tỉnh để thấy rõ và làm chủ tất cả những lời nói, hành động, suy nghĩ của mình. Ngài hỏi: “Cái gương dùng để làm gì”. “Bạch Đức Thế Tôn, gương dùng để soi”. Đức Phật dùng ví dụ cái gương để nhắc nhở La-hầu-la phải thường xuyên tư duy, tỉnh thức để nhìn lại mình, thấy rõ những hành động về thân, khẩu, ý của mình trong 3 thời: đã làm, đang làm và sắp làm. Đức Phật lại dạy: “Trong khi chuẩn bị làm điều gì bằng thân, khẩu, ý, con phải quán chiếu: hành động này có gây tổn hại cho mình hoặc cho kẻ khác không. Nếu, sau khi suy xét, con thấy rằng hành động đó sẽ có hại, thì con hãy đừng làm. Còn nếu con thấy rằng hành động đó có ích lợi cho con và cho kẻ khác, thì con hãy làm.”

Thay vì la mắng như hầu hết các bậc cha mẹ, đức Phật nhẹ nhàng ôn tồn giải thích, khuyên bảo. Cách hàng ngàn năm về trước mà đức Phật đã đạt đến trình độ giáo dục một cách khoa học như thế, mãi đến hàng ngàn năm sau, một số quốc gia tiến bộ mới áp dụng, cho thấy, việc giáo dục của Phật giáo là phương pháp sư phạm tuyệt đỉnh, thế mà, một số tu sĩ giáo dục điệu chúng hiện nay vẫn chưa thỏa đáng theo tinh thần nhà Phật, hà huống các cư sĩ học được những gì trong việc giáo dục của chư Tăng nói chung và Ban hướng dẫn Phật tử hiện nay?

Đối với hàng xuất gia trẻ tuổi, đức Phật rất chú trọng và quan tâm đến họ, dẫn dắt họ đi đúng đường hướng. Như trường hợp tôn giả Samiddhi xuất gia lúc còn niên thiếu, Ngài đã giáo dục tôn giả:
“Hãy từ bỏ tính toán,
Không chạy theo hư tưởng,
Từ  bỏ mọi tham ái,
Ðối danh sắc ở đời,
Vị ấy đoạn triền phược,
Không lo âu, không ái.”
[1]
[1] Kinh Tương Ưng (2013).Tập I. Tương Ưng Chư thiên. Phẩm Vườn Hoan Hỷ. Hà Nội: NXB Tôn Giáo. tr.48-49
Rút ra từ kinh nghiệm giáo dục của Phật, để thích hợp với trình độ thời đại, Ban hướng dẫn Phật tử cũng như chư Tăng cần sáng tạo phương cách giáo dục bằng sự gợi ý thay vì nhồi sọ từ chương theo lối cổ xưa, cũng không dùng hình thức đe dọa như địa ngục ma quỷ mà cần chỉ cho tín chúng thấy con đường sáng và quả báu tốt đẹp khi ly dục, ly bất thiện pháp trong cuộc sống hiện thực. Nhân quả hiện thời chứ không phải đợi đến kiếp sau, có như thế mới tránh cho tín đồ xem đạo Phật là đạo của cửa tử! Một khi tín đồ nhận thức đúng đắn giáo lý thì việc hưng thịnh của Phật giáo tự nó xuất hiện, không sợ tà giáo quỷ quái xâm hại Phật giáo; kẻ tà tâm làm mất uy tín nhà Phật tự nó cũng được quần chúng phát hiện. Và quần chúng sẽ không bao giờ mất niềm tin Tam Bảo trước những nghịch cảnh.

C/ TIÊU CHÍ GIÁO DỤC
Chẳng những nêu lên giá trị của việc chế giới trong cách giáo dục, cách so sánh, tỷ giảo theo lối giáo dục của đức Phật, mục tiêu vẫn là hướng con người đến một nhân cách toàn thiện. Đạo đức theo nghĩa lý nhà Phật là không làm khổ mình, làm khổ người và làm khổ chúng sanh. Vì vậy, để có một nhân cách hữu hảo, cư sĩ cũng như xuất sĩ cần lấy giới luật làm đầu; giới luật để ngăn ngừa bản thân tránh mọi sa đọa, còn có giá trị bảo vệ củng cố tổ chức giáo đoàn được trang nghiêm thanh tịnh. Người Phật tử có nhân cách thì vấn đề đi vào tín ngưỡng tâm linh mới được dễ dàng, đóng góp mọi công ích cho xã hội, cho nghiệp vụ, cho tổ chức mới đầy đủ ý nghĩa.Mục tiêu giáo dục của nhà Phật là nâng cao tầm nhận thức của tín đồ trước cuộc sống, đối trị trước những vấn nạn mà giáo dục thế gian không thể đáp ứng.

Thí dụ, cho dù là nhà đại trí thức thế tục, nhưng còn tiềm ẩn lòng tham thì xã hội vẫn còn bất an, tín đồ Phật giáo hiểu luật vô thường và nghiệp quả thì lòng tham sẽ được hạn chế, tệ nạn xã hội cũng sẽ giảm thiểu.Giáo dục Phật giáo không chỉ nâng tầm kiến thức phật học cho quần chúng mà còn giúp quần chúng chuyển hóa tập khí bất thiện tự bản thân.
Con người là đơn vị của xã hội, giải quyết nhân tố cơ bản tự khắc xã hội được thuần tịnh. Giáo dục Phật giáo khác với giáo dục thế gian ở điểm cơ bản nầy. Giáo dục thế gian áp đặt kiến thức lên tập thể, buộc đối tượng tuân thủ theo định hướng được truyền đạt, ngược lại, tinh thần tự giác của nhà Phật, tự thân ý thức chuyển hóa làm nền tảng để chuyển hóa xã hội. Chủ đích giáo dục của nhà Phật là con người chứ không phải là xã hội, và chính con người quyết định thành bại của đời mình chứ không do một ngoại lực siêu hình. Giáo dục Phật giáo chú trọng vào tâm thức trong khi giáo dục thế tục chú hướng vào kiến thức. Giáo dục Phật giáo của Ban hướng dẫn Phật tử phải thể hiện được bản sắc văn hóa Phật giáo Việt Nam và tinh thần nhập thế của đạo Phật.
D/ NỘI DUNG GIÁO DỤC
Giáo dục theo trường lớp khác với diễn giảng trước đại chúng. Diễn giảng là một chủ đề mang tính chung chung cho quần chúng có trình độ vừa phải, thường có khuynh hướng tâm lý xã hội, nhân cách đạo đức tương thích với giáo lý phổ thông. Còn giáo dục chuyên ngành có nghĩa như một lớp giáo lý chuyên biệt, để người cư sĩ nắm bắt được yếu lý cơ bản. 

"Ban hướng dẫn Phật tử" cần soạn những giáo lý cơ bản như: Thập nhị nhân duyên - nhân quả - tứ nhiếp pháp - lục độ - tứ diệu đế - 37 phẩm trợ đạo - quy y và ý nghĩa quy y; nhân cách của tín đồ đối với Tam Bảo. Thái độ đối với kẻ giả danh tu sĩ làm mất uy tín của Đạo.Trách nhiệm đối với gia đình và xã hội, cách bảo vệ đạo pháp.Ngoài ra, cần giúp cho tín đồ chọn một phương cách, một pháp môn tương thích với căn cơ để học và hành song song. Rất nhiều tín đồ suốt đời đến với chùa chỉ biết cúng dường và cầu nguyện, không được ai hướng dẫn giáo lý, không biết tu là thế nào, chính vì vậy không thể phân biệt chánh tà, dễ đi vào con đường lầm lạc của tà giáo. Gần đây, nội tình Phật giáo thường lên tiếng tà giáo thâm nhập vào đạo Phật, quần chúng Phật tử theo tà thần ngoại đạo, nhưng không bao giờ tự hỏi tại sao xuất hiện những hiện tượng đó mà các tôn giáo khác không hề có? Phải chăng chư Tăng không trang bị cho tín đồ một kiến thức Phật học căn bản và đức tin chân chánh? Lỗi đó không thuộc về tín đồ. Có những tín đồ được hướng dẫn phát tâm suốt đời tụng kinh Pháp Hoa hay bộ kinh nào đó mà không bao giờ hiểu ý nghĩa bộ kinh mình đang trì tụng, không được thầy hướng dẫn giải thích giáo lý, cứ xem đó là tạo phước, là cách tu, trong khi ý nghĩa Phước Huệ song tu là vừa làm lợi ích cho đời, vừa trao dồi trí tuệ cho mình. Không trễ lắm, Ban hướng dẫn Phật tử trung ương cần soạn thảo chương trình giáo dục cụ thể để nâng tầm kiến thức Phật pháp cho đạo chúng khi họ đã phát tâm dẹp bỏ mọi cám dỗ thế gian để đến với đạo.Từ đó, tín đồ mới có cơ sở để thực tập Văn - Tư - Tu.

E/ THÂN GIÁO-KHẨU GIÁO-Ý GIÁO
Một điều đặc sắc của nền giáo dục Phật học, ngoài trao truyền kiến thức, giáo lý nhà Phật, một vị thầy hướng dẫn, đồng nghĩa với giáo thọ sư phải thể hiện ngôn hành hợp nhất, đó thân giáo - khẩu giáo và ý giáo. "Y giáo bất y nhân" là câu nói trốn trách nhiệm của vị thầy thiếu nhân cách.Một bậc chân tu, lời nói và hành động luôn tương thích.Bậc chân tu không thể nói - hãy nghe lời tôi dạy, đừng nhìn vào nhân cách của tôi.Nhân cách của đức Thế Tôn luôn là bài học vô ngôn để đạo chúng, Tăng đoàn học hỏi. Cách đi, cách đứng, cách nói, cách làm của Đức Phật luôn là bài học sáng giá cho mọi người, chưa bao giờ nghe Phật bảo - hãy làm theo lời ta dạy mà đừng nhìn vào đời sống của ta. Thân giáo có một giá trị tạo niềm tin cho quần chúng, cho dù vị đó chưa bao giờ khuyên dạy một lời nào, đó là nhân cách đạo đức cần phải có của bậc thầy tâm linh đối với quần chúng; khẩu giáo là lời dạy chứng minh cho thân giáo, hay thân giáo cũng chứng minh cho khẩu giáo. Thân khẩu tương thích và song hành khi ý giáo được biểu thị qua ngoại tướng, đó là ý nghĩa của câu: "Thử tại tâm trung xuất hình ư ngoại".

Phẩm song yếu của Pháp Cú cũng dạy:

10/ Ai rời bỏ uế trược
    Giới luật khéo nghiêm trì
    Tự chế, sống chơn thật
    Thật xứng áo cà sa
Ban Hướng Dẫn Phật Tử, vị đứng đầu ngành phải ý thức trọng trách mô phạm của mình ở cương vị đang có. Chư Tăng đủ uy tín thì đức tin tín chúng mới được kiên cố.Kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy:
“Trước hết tự đặt mình
Vào những gì thích đáng
Sau mới giáo hóa người
Người trí khỏi bị nhiễm”
(PC-158)
F/ MỤC ĐÍCH CỦA GIÁO DỤC
Tóm lại, giáo dục là hệ thống định hướng truyền đạt với một mục tiêu nhất định. Một khi thực hiện việc giáo dục, thành quả tiếp biến là tiếp thu, hoán cải, sáng tạo và nâng cao tầm hiểu biết, sự nhận thức, biến thành chất liệu chuyển hóa nhân cách. Ngoài phương cách giáo dục như áp đặt, nhồi sọ, từ chương, hoặc hỗ trợ sự sáng tạo bằng cách gợi ýhướng dẫn truy nhập kiến thức, truy tầm tài liệu hướng đến sự tốt đẹp và lợi ích cộng đồng, lợi ích cho nhiều thế hệ, bổi đắp sự hiều biết theo chiều hướng mới; giáo dục đôi khi bị những khuynh hướng đen tối lợi dụng để truyền đạt những phẩm chất xấu, nguy hại, bạo động. Vì thế, trong phạm vi tôn giáo, tín ngưỡng trở thành một hệ quả của quá trình thâm nhiễm nền giáo dục đạo đức tối yếu, đôi khi, từ nền giáo dục đạo đức chân chánh vượt khỏi phạm trù tín ngưỡng, chúng trở thành một hình thức đạo đức tổng thể của loài người - đó là lòng từ bi, tình thương vô điều kiện, không biên giới. Đức Thánh thiện Đạt Lai Lạt Ma nói:
"Không nhất thiết phải theo một tôn giáo nào mới biến cải được tâm thức mình. Dù tin hay không tin vào tôn giáo thì bất cứ một con người nào cũng đều có thể biến cải tâm thức mình. Dù rằng các truyền thống tâm linh có đưa ra các phương tiện giúp đạt được mục đích ấy, thì đấy không phải là con đường duy nhất buộc mình phải theo.
Chính vì lý do thật dứt khoát ấy nên tôi vẫn thường quảng bá về một "nền tảng đạo đức ngàn năm" có thể áp dụng cho tất cả mọi con người, dù có đức tin hay không"
Và: "Tất cả mọi chủ trương đặc thù về tôn giáo hay văn hóa đều đi đến chỗ lỗi thời, chính vì thế nên tất cả mọi người mới có thể đến gần với nhau trên một nền tảng đạo đức phi tôn giáo, được thiết lập dựa vào các nguyên tắc nhân bản mang tính cách toàn cầu hơn.
Đấy mới đúng là một cuộc cách mạng đích thực dựa trên những phẩm tính của con người như lòng từ bi, tình thương yêu, lòng khoan dung, sự kính trọng và biết ý thức trách nhiệm của mình."

Đây là một mẫu đối thoại ngắn giữa Thần học gia người Brazil, Leonardo Boff, và Đức Đạt Lai Lạt Ma:

“Hãy suy tư cẩn thận vì TƯ TƯỞNG sẽ biến thành LỜI  NÓI,
Hãy ăn nói cẩn thận vì LỜI NÓI sẽ biến thành HÀNH ĐỘNG,
Hãy hành xử cẩn thận vì HÀNH ĐỘNG sẽ biến thành THÓI QUEN,
Hãy chú trọng THÓI QUEN vì chúng hình thành NHÂN CÁCH,
Hãy chú trọng NHÂN CÁCH vì nó hình thành SỐ MỆNH,
Và SỐ MỆNH của anh sẽ là CUỘC ĐỜI của anh.

… và …
Không có TÔN GIÁO nào cao trọng hơn SỰ THẬT."
Đó là những thành quả cơ bản của quá trình giáo dục có định hướng thánh thiện trong một tôn giáo chân chánh. Tuy nhiên cũng cần có sự tương liên giữa gia đình - xã hội - môi trường giáo dục của tôn giáo và kế hoạch tác động của "ban hướng dẫn Phật tử". Giáo dục thế học đang mằn mò tìm kiếm một phương án giáo dục mới cho tương thích trình độ kiến thức thời đại, thì "Ban hướng dẫn Phật tử nói riêng và Phật giáo nói chung cũng cần định hình về hiệu quả một lối giáo dục mới để thoát khỏi lối mòn giáo dục truyền thống thiếu hiệu quả và xơ cứng, nhàm chán!
Việc giáo dục của thế học giúp con người thoát khỏi ngu dốt, lạc hậu, đói nghèo, bất công, bạo lực, vẫn còn lẫn quẩn trong khổ đau sanh tử cho dù sống trên mọi tiện nghi vật chất, thì giáo dục của Phật giáo, ngoài việc cung ứng kiến thức về giáo lý, truyền đạt cốt tủy của Phật học, còn hướng đến giúp cho nhân thân mỗi tín đồ là một mẫu sống an lạc, tự tại giữa bao ràng buộc của gia đình và xã hội. Nếu chưa đủ điều kiện đi đến giải thoát như các bậc xuất sĩ, thì an lạc ngay hiện tại chứ không phải đợi đến kiếp sau.Được như thế, việc giáo dục Phật học không biến người tín đồ thành kẻ thế trí biện thông chuyên lộng ngôn hý ngữ.
"Theo quan điểm KRISHNAMURTI ông cho rằng giáo dục không chỉ là một vấn đề huấn luyện tâm trí.Huấn luyện đưa tới hiệu năng nhưng không toàn vẹn, chỉ kéo thêm quá khứ, và một tâm trí như vậy có thể chẳng bao giờ khám phá ra được điều mới mẽ nào cả, đó là do đâu mà tìm kiếm những gì là nền thích đáng. Là một nhà tư tưởng lãnh đạo tinh thần phương Tây, ông đã ngao ngán với kiểu giáo dục con người bằng vật chất và máy móc, bằng giáo điều và quy luật. Với mục đích như vậy chỉ đem đến sự bất toàn và vô hiệu, ông cũng đề ra mục đích giáo dục để đem lại sự hòa điệu, sự khám phá và phát minh, sáng tạo những cái mới, bằng tinh thần vô tư và tự giác. Ông cho rằng phải tự đánh thức trí thông minh của mình bằng cách khảo sát cái tự tri là một điều quan trọng và cần yếu. Cũng như hoa hồng đang khoe sắc rực rỡ bên bờ suối dưới ánh nắng ban mai, nó đẹp thật hồn nhiên đến lạ lùng, khi ta chưa có một ý niệm nào biểu thị về nó và gán ghép cho nó có một ý nghĩa riêng."
Sở dĩ xã hội từng đạt đến một mục đích của giáo dục mà sự khổ đau vẫn tồn tại, vì việc giáo dục của thế tục đã đánh mất tinh túy cá nhân để chạy theo mục tiêu của xã hội, hay nói một cách khác, làm tăng trưởng bản chất xấu của cá nhân khi có tham vọng đạt đến một nhu cầu vật chất và ảo ảnh của hạnh phúc. Còn cố gắng đạt đến một xã hội công bằng thịnh vượng giàu sang mà hư chất trong mỗi cá nhân chưa được hóa giải thì vẫn là một xã hội tồn tại trên núi lữa khổ đau, đó vẫn là mầm móng của bạo loạn.
HT. Thích Thiện Siêu nhận định trong bài viết: "Bàn về mục tiêu của Giáo Dục Phật Giáo""Bao lâu ý nghĩa hạnh phúc chưa được xác lập thì xã hội còn phải mò mẫn phương hướng phát triển. Lịch sử đã ghi nhận bao nền văn minh đã sụp đổ vì những mục tiêu sai lạc trong phương hướng phát triển... chiến tranh, đói nghèo, bệnh tật suy thoái đạo đức, ô nhiễm môi sinh... là kết quả của những sai lạc ấy.Giáo dục phải chia sẻ trách nhiệm và xã hội trước những hậu quả gây khổ đau khôn lường đó".
Vì vậy, giáo dục nhà Phật không những không đánh mất tinh túy của con người mà còn triển khai bản chất cao đẹp tự thân tương thích với hoàn cảnh sống theo luật hỗ tương giữa con người và xã hội với chiều hướng phát triển tốt đẹp. Trong sự giáo dục đó luôn liên kết với huyết thống gia tộc, truyền thống tâm linh và quy tắc tập quán của xã hội. Quan trọng là sự giáo dục con người theo khuynh hướng nào, ích kỷ hay vị tha? Do không định hướng đúng mức, xã hội đã sanh ra lắm giai cấp, đảng phái chủ thuyết, đưa đến bạo loạn. Do quan điểm "sống là tranh đấu" và "đấu tranh giai cấp" với đạo đức của học thuyết mà xã hội bị đánh mất đạo đức nhân tính. Đức Phật đã thấy nguy cơ của những giáo lý, học thuyết chia rẽ con người, chia rẽ xã hội, nên ngài tuyên bố - tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, hay vạn vật đồng nhất thể để xóa mọi ranh giới cố chấp đem lại khổ đau cho cuộc sống. Giáo dục theo Phật giáo nhằm đem lại sự cảm thông, hiểu biết lẫn nhau, biết hy sinh, vị tha và tánh buông xả, biết khơi dậy những ưu điểm cá nhân có lợi cho mình và cho mọi người. Những tập khí huân tập trong quá khứ hay hiện kiếp, sẽ được chắt lọc và điều hướng theo khuynh hướng từ bi, trí tuệ và nhân hậu, phát triển cái thiện, chế ngự chuyển hóa cái ác. Cuộc sống luôn vận hành, những kiến thức thu nhập hoặc truyền đạt bị khô cứng sẽ biến thành tác nhân nguy hại. Do vậy, ngoài việc truyền đạt những giáo lý nền tảng, học chúng còn được đánh thức và khuyến khích tính "tự giác" để trở thành bông hoa "tự ngộ" khai nở cá biệt giữa biển giáo lý mênh mang của nhà Phật. Tự làm chủ thân-khẩu-ý là mục tiêu giáo dục của phật giáo, học chúng, hành giả không tự đánh mất mình bởi những ngoại duyên, xây dựng được những viên gạch nền tảng như thế là một thành công của các ban ngành Phật giáo nói chung và ban hướng dẫn Phật tử nói riêng. "Thắng muôn vạn quân không bằng tự chiến thắng mình, tự chiến thắng mình là chiến công oanh liệt nhất". Đó là câu nói được kết tinh bởi bao vấp ngã đau thương trước khi giác ngộ thực tế trong cuộc sống.
Với giá trị ưu việt của nền giáo dục Phật giáo, không riêng Albert Einstein mà Herbert George Wells (1866 - 1964) nhà cải cách xã hội, sử gia triết học người Anh đã nhận định: "Phật giáo mang lại sự tiến bộ cho thế giới văn minh và văn hóa chính đáng nhiều hơn bất cứ ảnh hưởng nào khác trong tiến trình nhân loại".
"Sự nghiệp giáo dục chỉ có thể thành công chừng nào sự nghiệp ấy trở thành ý thức và trách nhiệm chung của tất cả mọi người. Thiếu mất ý thức và trách nhiệm này, chúng ta không thể nói đến giáo dục hay xây dựng một môi trường tốt đẹp cho con người". HT T. Minh Châu đã nói.
Thái Hư đại sư (1889 1947) đã nói: “Nhân thành tức Phật thành”.
Kết luận
Giáo dục Phật giáo khởi xuất lúc đức Thế Tôn truyền đạt cho năm anh em Kiều Trần Như tại vườn Nai, từ đó, huấn giáo được triển khai cho mọi tầng lớp xã hội, giáo dục làm người, làm trời, làm Phật qua nhiều ẩn dụ, trực chỉ, khuyến hóa, vấn đáp, tự thuyết suốt 49 năm không ngơi nghỉ. Các thế hệ kế thừa luôn cung ứng cho xã hội và nhân loại những bậc chân đức thánh thiện vị tha mà lấy đức từ bi làm nền tảng và trí tuệ làm đuốc soi với trái tim cháy bỏng. Từ đó, cho ta thấy giáo dục phật giáo không chỉ sản sanh những con người có khối óc mà lẫn trái tim. Theo Platon, giáo dục Phật giáo là con đường đưa con người đến một viễn cảnh của sự toàn chân, toàn thiện và toàn mỹ.
Ban hướng dẫn Phật tử chọn mục tiêu nào để hoàn thành sứ mạng của mình???

MINH MẪN
12/9/2015


Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2015

Những BẦY CHIM nép bóng bên nhau ...

Thật vui ,thật ấm ...ngồi lui ...cho tớ ngồi 
cạnh ...cho vui ...cho ấm ...!!!
Này nói cho mà biết ,to như con bò ,thôi để TỤI TÔI ngồi trên ...lưng 
đằng ấy nhá ..!!:-) cho vững ...:-)

​V​
ào mùa lạnh, các bầy chim thường nép sát vào nhau
​ 
để tạo giữ hơi ấm cho nhau. 


Image
Không phải là sâu đâu nhé.

Image
Bầy én nhỏ tựa vào nhau trên dây thừng.

Image

Zoom in (real dimensions: 574 x 526)Image

Image
Bầy én trong cơn bảo tuyết mùa xuân.

Image
Chim cú con nằm sát bên nhau trong tổ ấm.

Image
Các con chim Superb Fairy Wren con đang nép mình vào nhau bên 
cạnh chim cha mêt mỏi.

Image
Két Uyên Ương nép vào nhau.

Zoom in (real dimensions: 574 x 574)Image
Các chú ngổng conddang yên lành nằm ngủ bên nhau

Image
Gia đình chim bói cá.

Image

Image

Image
Tình Phụ Tử.

Image

Image
Ca1i lạnh của hừng đông.

Image

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2015

TỨC GIẬN VÀ CHỊU ĐỰNG

Khi ta chưa thấu hiểu cơn giận, dù có điều khiển được nó thì cũng chỉ là giải pháp tạm thời mà thôi.

Cơn giận từ đâu tới....
Mỗi khi nổi giận ta thường cho rằng chính người kia là thủ phạm đã làm cho ta giận, như thể cơn giận đang ở trong ta là do họ đem tới vậy. Vì thế ta luôn tìm mọi cách để trả đũa, dù ít nhất là một câu nói hay một hành động khiến người kia phải đau điếng hay tức giận thì ta mới hả dạ. Ta cho rằng mình phải làm như thế thì mới mạnh mẽ, để họ không còn dám chọc giận mình nữa. Sự thật là càng trả đũa thì cơn giận càng lớn mạnh và khiến ta càng đuối sức. Vì khi giận năng lượng trong ta bị đốt sạch, cơ thể liên tục phóng thích ra các chất kích thích adrenaline và cortisol gây rối loạn chu trình sinh học của cơ thể, nhất là nhịp tim và hơi thở tăng dồn dập. Ta sẽ rơi vào tình trạng "hôn mê tạm thời", nhìn mọi thứ đều sai lệch, suy  nghĩ không sáng suốt và không kiểm soát nổi mọi hành vi của mình.

Nếu thế hệ trước, gần nhất là cha mẹ, có mgan tính nóng giận thì ra khó thoát khỏi sự trao truyền từ nhiễm sắc thể (DNA). Ta còn chịu sự"tưới tẩm" từ cách nói năng và hành động hằng ngày của họ. Môi trường lớn lên và làm việc cũng đóng góp đáng kể cho tính cách nóng giận hình thành trong ta. Sự nuông chiều và nể trọng cũng rất dễ khiến ta có thói quen muốn gì được nấy hay muốn chứng tỏ quyền lực trước mọi người, vì thế chỉ cần có chút vấn đề không là ta lập tức nổi giận ngay. Ngoài ra, ta còn bị ảnh hưởng sâu nặng bởi tâm thức xã hội, nên ta luôn cho rằng nổi giận là bản năng tự vệ của con người, nhờ nó mà người khác mới không dám uy hiếp mình. Ta còn xem đó cũng là cách giải tỏa cảm xúc để ta lấy lại sự cân bằng mỗi khi gặp điều phiền toái. Nhưng thực chất là ta đã thất bại. Ta chưa thuần phục được bản tính hơn thua cố hữu, không biết cách giãi bày sự không hài lòng một cách hiểu biết hơn và đang làm cho tình trạng càng tồi tệ hơn.
 

Chuyển hóa cơn giận
Sau mỗi cơn giận, ta thương cảm thấy hối tiếc và ray rứt vì những phản dại dột và thấp kém của mình. Ta biết mỗi lần tức giận là mỗi lần ta đánh mất hình tượng đẹp và làm suy giảm niềm tin yêu trong mắt người khác, nên lòng cú dặn lòng sẽ không để cho cơn giận thao túng mình thêm lần nào nữa. Thế nhưng khi gặp chuyện trái nghịch, nhất là tổn hại đến quyền lợi hay danh dự, là cơn giận cứ không hẹn mà đến. Ngay lúc ấy dù được người khác nhắc nhở ta cũng gạt ngang, lý trí cũng phải đứng lặng chào thua cảm xúc. Từ thất bại này đến thất bại khác, ta dần trở nên căm ghét cơn giận của mình. Rồi có khi ta quay sang trách giận cho mẹ trao chi cái tính làm khổ mình khổ người như thế.

Thật ra, nếu hạt giống giận trong ta không được nuỗi dưỡng thường xuyên thì nó không đủ sức làm cho ta khổ. Ta đã vô tình tạo ra nó từ những điều bất như ý nhỏ nhặt trong đời sống hằng ngày mà ta không hay biết như: kẹt xe, xếp hàng mua đồ, dọi điện người thân không nhất máy, thức ăn không vừa miệng, người kia quên chào hỏi... đến những phiền toán do chính mình gây ra như: mở nhầm chìa khóa, uống nước bị bỏng miệng, trượt chân ở cầu thang, tìm mãi không ra quyển sách, hồi tưởng về quá khứ đau buồn... Nếu ta không quan sát và hóa giải bớt những phản ứng chống đối một cách âm ỉ từ những việc như thế, thì cơn giận chắc chắn sẽ hình thành như một quy luật tự nhiên. Khi nguồn năng lượng giận gần như được mạc định trong tâm thức, chỉ cần một hành động không dễ thương hay một hoàn cảnh trái ý nho nhỏ cũng đủ khiến cho nó bị kích động. Nó sẽ nhanh chóng biến thành con giận dữ dội mà chính ta cũng rất bất ngờ.

Khi phát hiện ra cơn giận đang nổi lên và sắp sửa "bung" ra thành lời nói hay hành động, ta hãy mau chóng tìm cách tách ly ra khỏi đối tượng vừa mới tác động vào cơn giận của mình. Lý tưởng nhất là ngồi trong căn phòng yên tính, hay dạo bước trên con đường râm mát. Trong trường hợp không thể thể tách rời khỏi hoàn cảnh thì ta hãy ngồi yên đó, cố gắng đừng mở lời nói thêm một câu hay một từ nào, dù ta cho đó là lời giải thích thỏa đáng. Mọi hành vì xảy ra trong cảm xúc giận hờn đều sẽ khiến ta hối tiếc sau này. Ta hãy cố quên đối tượng kia đã làm hay đã nói điều gì với ta, mà chỉ chỉ đem hết tâm ý tập trung vào hơi thở để làm lắng dịu cơn bão cảm xúc. Nếu ta đã có sẵn kỹ năng theo dõi hơi thở để định tâm thì chỉ 15 phút sao là ta sẽ vượt khỏi. Cũng như khi căn nhà của ta bất ngờ bị cháy thì ta chỉ cần lo chữa cháy để cứu lấy những tài sản quý báu bên trong, chứ đừng vội vã truy cứu hay trừng phạt kẻ mà ta đã tình nghi đã đốt nhà. Chuyện đó "hạ hồi phân giải".

Hơi thở là điểm tựa rất an toàn mỗi khi ta bị những cơn bão cảm xúc tấn công mà ta không biết phải làm sao. Tuy nhiên, nếu cứ sử dụng mãi cách này thì ta sẽ không bao giờ hiểu rõ bản chất cơn giận của mình. Koong hiểu rõ cơn giận thì muôn đời ta cũng không thể chuyển hóa được nó, sẽ mãi bị nó phiền nhiễu. Cho nên, sau khi luyện tập được thói quen nhìn lại bản thân mình mỗi khi nổi giận, thay vì tìm cách trả đũa, ta hãy dành nhiều thời gian để quan sát cơn giận của mình. Hãy chú tâm quan sát tiến trình từ khi cơn giận biểu hiện lên bề mặt ý thức, thôi thúc ra hành động, đến khi nó tan biến. Khi có kinh nghiệm, ta sẽ phát hiện ra cơn giận vốn không có thật. Nó chỉ là nguồn năng lượng được sinh ra từ vài sai sót trong sự vận hành của guồng máy tâm thức như: nhận thức sai lầm, trí tưởng tượng phóng đại, cảm xúc nhạy bén, các giác quan không được phòng hộ cẩn thận. Nên chỉ cần duy trì khả năng quan sát tiến trình ấy lâu bền, bằng thái độ không thành kiến, từ từ ta sẽ thấy rõ những gì đã tạo nên cơn giận và dễ dàng chuyển hóa nó.
Tuy nhiên, lỗi thường mác phải là ta mong muốn mình sẽ hết nóng giận ngay khi bắt đầu luyện tập. Một thói quen được hình thành trong thời gian quá dài thì không thể thay đổi trong một sớm một chiều được. Tiến trình quan sát cơn giận có thể đem tới cho ta những khó chịu bất ngờ trong giai đoạn đầu, nhưng dần dà ta sẽ quen và còn cảm thấy rất thú vị như đang xem một bộ phim hành động. Ta cứ ngồi đó quan sát cơn giận của mình nổi lên một cách tự nhiên, nhưng khác với mọi lần là ta có quan sát. Lẽ dĩ nhiên, cơn giận vẫn cứ xảy ra theo tốc độ riêng của nó và ta không có ý đuổi theo để dập tắt. Ta chỉ quan sát để thấu hiểu cơ chế hoạt động của nó như thế nào thôi. Mỗi lần quan sát sẽ cho ta một cái thấy mới mẻ về bản chất vô thường của cơn giận. Nhận thức sai lầm trong ta từ đó sẽ rơi rụng. Ta cần kiên nhẫn luyện tập để điều chỉnh lại cơ chế hoạt động của tâm thức, chứ không phải muốn trấn áp hay điều khiển cơn giận. Khi ta chưa thấu hiểu con giận, dù có điều khiển được nó thì cũng chỉ là giải pháp tạm thời mà thôi.
Có thương đừng giận
Ta cũng đừng vội thỏa mãn với kết quả thực tập ban đầu, dù ra không còn gì để giận nhưng trước nữa. Thậm chí, ta có thể mỉm cười thật tươi để nghe lời quở trách của sếp hay hành động bất cẩn của một bạn đồng nghiệp. Hãy đợi đấy! khi về đến nhà, nếu bất ngờ ta bị người thương nghi ngờ hay phán xét một cách vô căn cớ, thì cơn giận năm xưa có thể sẽ quay trở về ngay lập tức. Thế nhưng, ta lại hay biện minh rằng "có thương mới giận". Ta nghĩ đối với người dưng nước lã thì như thế nào, ta cũng mặc kệ, ta chẳng quan tâm vì họ chẳng liên quan gì đến ta. Đằng này, một người sống với ta chừng ấy năm trời, lúc nào cũng tin yêu và sẵn sàng cho họ tất cả, mà họ lại đối xử với ta như thế thì đó là sự xúc phạm rất nặng nề. Nhưng sự thật là ta đang tức tối trước những "đòn tấn công"mà ta không hề có ý thức phòng thủ. Vì ta cho rằng khi ta đã hết lòng với ai thì người đó không được quyền làm cho ta tổn thương.

Đòi hỏi một người đừng bao giờ có những lầm lỡ với ta, chỉ vì ta đã từng nâng đỡ hay hiến tặng cho họ quá nhiều thứ thì đúng là một ảo tưởng. Thử đổi lại vị trí ấy xem ta có làm như thế được không? Đời sống ngày càng nhiều áp lực, chỉ mỗi khó khăn kinh tế thôi cũng đủ khiến người khác mất hồn mất vía rồi, nên việc bỏ bể bản thân và hành động sai sót cũng rất đỗi thường tình. Nếu ta là người có hiểu biết và đang bình ổn thì hãy giúp họ tươi tỉnh lại, để họ nhận diện ra chính mình và sự mầu nhiệm của cuộc sống đang hiện hữu.

Chư lẽ nào ta lại muốn quẳng tiếp vào họ cơn thịnh nộ nảy lửa để thiêu đốt họ thêm? Trừ phi không tự chủ được mình, chứ ta đừng bao giờ cố gắng giả bộ nổi giận để mong bên kia thức tỉnh và hành động đúng đắn trở lại. Không ai thích dóng nhận những cảm giác nặng nề và khó chịu cả. Dù biết mình có lỗi và không thể phản kháng ra mặt, nhưng họ sẽ rất mệt mỏi và bất mãn ta. Không cẩn thận thì cách đó có khi bị hiểu lầm là thái độ trừng phạt không thương tiếc, nên họ sẽ nuôi hận trong lòng và sẽ làm cho tinh trạng tồi tệ hơn.

Nên nhớ, phiền não vốn rất tinh tế. Nếu không có một kỹ năng quan sát thật tốt thì ta khó mà phát hiện hết sự vận hành của nó. Để rồi một ngày nào đó ta không thể ngờ cơn giận cuồng điên bỗng từ đâu tràn ra như thác lũ. Cũng do ta thường quá chủ quan tưởng mình không còn giận hờn nữa, hoặc nghĩ rằng mình chỉ giả bộ để ra uy, hay cố gắng trình diễn để lấy lòng kẻ khác, mà ta không thấy những đợt sóng tức giận đang ngấm ngầm bên trong. Mỗi ngày một chút, năng lượng giận hòn kết tinh thành một khối rất lớn mà người ta thường gọi đó lànội kết. Khối nội kết này gần như chi phối mọi hành vi của ta. Lúc nào nó cũng khiến ta cau có hay gây sự với đối tượng ấy, mặc dù họ chẳng làm gì ta cả. Hóa ra, ta đã không hiểu hết cái tâm cố chấp và chưa đủ độ lượng của mình, dù trong ý chí ta cho rằng những chuyện ấy không đáng chi cả. Thế mới biết, thấu hiểu hết những ngõ ngách sâu kín trong tâm còn quan trọng hơn là dập tắt được một cơn giận.

Cho nên, khi nào ta vẫn còn quá quan trọng và luôn tìm cách nâng niu cái tôi của mình thì cơn giận sẽ vẫn còn. Trong khi đó, tình thương chính là "khắc tinh" của cơn giận.
                                                          Cơn giận cũng vô thường
                                                          Nắng bừng vỡ màn sương
                                                          Mời lên tâm tỉnh thức
                                                         Càng nhìn lại càng thương  



Chịu đựng

Nhẫn nhục không phải là thái độ hèn nhát, mà đó là sự thực tập mở rộng dung lượng trái tim để chứa đựng được những khó khăn lớn.

Chấp nhận để đi tới

Khi nghe bác sĩ báo tin đã bị ung thư, thông thường ta sẽ hốt hoảng và gào khóc kên: "Ồ không, không thể nào như thế được. Tôi có làm gì đâu mà phải bị ung thư. Tại sao không phải là ai khác mà lại là tôi". Ta còn tưởng là mình không thể sống nổi khi nhận được hung tin ấy. Nhưng rồi chừng vài tuần hay vài tháng sau, ta cũng học cách chấp nhận được sự thật mình đã bị ung thư. Dù phải cần có những phương thuốc tích hợp để chữa trị lâu dài nhưng tế bào ung thư đã chậm phát tán, vì ta đã tạo được năng lượng hòa thuận với chúng mà không ra sức kháng cự hay ghét bỏ nữa. Theo y khoa, tiến trình trị liệu đã bắt đầu xảy ra. Chấp nhận mình có bệnh là can đảm nhìn vào những khó khăn của cơ thể mình trong thực tại để kịp thời cứu giúp, chứ không phải là thái độ bỏ cuộc. Cũng vì chạy theo những tham vọng hay vì ý thức chủ quan mà ta đã để cho cơ thể mình xuống cấp trầm trọng. Đến khi nó không còn đủ sức để phục vụ cho ta nữa thì ta lại bực tức, trách móc và căm ghét nó. Đó là thái độ thiếu hiểu biết và thiếu tình thương với chính mình.

Có nhiều người tỏ ra rất tự tin khi tuyên bố: "Tôi không bao giờ chấp nhận thất bại". Đó là lời tuyên bố rất ngây thơ, vì không ai mà không từng thất bại dù họ đang rất thành công. Nên nhớ, những điều kiện đưa tới sự thành công có khi nằm ngoài tầm tay, ta không thể cưỡng ép nó đến với ta khi ta chưa tìm ra sự liên kết đúng đắn. Tất nhiên, cảm giác thất bại rất khó chịu. Ta vừa mất mát những gì mà mình hết lòng đầu tư, vừa tỏ ra bình thản trước mọi người. Nhưng tất cả sức ép đó đều do chính ta tạo ra. Nếu ta biết nhìn đúng đắn và khoáng đạt hơn về vị trí của mình và bản chất của đời sống thì chắc chắn ta sẽ bớt ép uổng mình phải như thế này hay thế kia. Như khi ta phạm lỗi, dù đã được người ấy tha thứ, nhưng ta lại không chấp nhận bản thân mình. Ta không thể nào tin nổi một người có hiểu biết vững chãi như ta mà lại vướng vào lỗi lầm không đáng ấy, nên ta căm ghét và muốn trừng phạt nó. Cũng bởi vì ta áp đặt mình phải luôn hoàn hảo, trong khi bản thân còn rất nhiều chỗ yếu kém cần được ta nhìn nhận và chăm sóc. Chấp nhận yếu kém là trung thực với chính mình, là vượt qua được những thói quen đặt để hay sự đối phó không cần thiết.

Khi ta đã luyện tập được thói quen chấp nhận những yếu kém của chính mình, chấp nhận được những điều không như ý xảy ra theo nguyên tắc nhân quả và duyên sinh của cuộc sống, thì ta cũng sẽ dễ dàng chấp nhận những vụng về và lầm lỡ  của kẻ khác. Nhìn lại, ta thấy phần lớn lý do không chấp nhận của ta chỉ vì ta thấy người kia không còn gì hay ho để cho ta hưởng thụ, hoặc ta không muốn sự xấu xa của họ làm ảnh hưởng đến danh dự của mình. Chứ không phải vì ta muốn giúp họ cố gắng để tiến bộ hơn như ta giải thích. Nếu ta thật lòng vì cuộc đời họ thì sự chấp nhận kia không phải là thái độ dung dưỡng cho thói hư tật xấu. Trái lại, nó còn giúp họ có thêm niềm tin và nghị lực để vượt qua bản thân. Vì họ thấy mình vẫn còn giá trị trong mắt người thương và họ còn tin tưởng tình thương chân thật luôn vượt ra khỏi sự sòng phẳng. Nên dù ta có chấp nhận hay không chấp nhận thì sự thật vẫn cứ diễn ra theo tiến trình của nó. Nếu chọn lựa thái độ chấp nhận, không tiếp tục tránh né hay chống đối nữa, tức là ta đã bắt tay vào tiến trình tìm hiểu sự thật và tháo gỡ. Vấn đề dù vẫn còn đó, nhưng ta không còn thấy nặng nề và khó chịu nữa. Ta sẽ đủ kiên nhẫn tìm thêm điều kiện thích hợp để giúp nó được chuyển hóa.
 
Khả năng chịu đựng 
Tùy vào nhận thức của mỗi người và thói quen luyện tập mà khả năng chấp nhận rất khác nhau. Có những vấn đề người khác chấp nhận một cách bình thường nhưng ta lại phản kháng kịch liệt, và ngược lại. Ngay cả chính ta cũng liên tục thay đổi mức độ chấp nhận. Có những điều tưởng chừng ta không bao giờ chấp nhận, nhưng bây giờ ta lại thấy cũng được; và có những điều ta đã từng chấp nhận một cách rất dễ dàng, nhưng sau này ta lại than chịu hết nổi. Khi chấp nhận được ta thường cho rằng tại đối tượng kia dễ thương; còn khi không chấp nhận được thì ta lại đổ thừa tại họ tăng thêm mức khó chịu. Chứ ta không hề nghĩ rằng chính cơ chế tâm thức của ta đã không còn giữ nguyên trạng thái ban đầu. Có thể nhận thức của ta đúng đắn hay lệch lạc hơn, trí tưởng tượng tạm dừng hoạt động hay phóng đại hơn, cảm xúc suy yếu hay mãnh liệt hơn, và những phiền não trong ta đã tan biến hay phát triển hơn. Vì vậy, ta đừng quá tin vào sự chấp nhận hay không chấp nhận hôm nay của mình. Dù ta đang rất ổn khi thực hiện một quyết định, nhưng với thời gian thì chính ta và đối phương cũng sẽ có những chuyển biến rất bất ngờ.

Ta nên biết rằng trái tim ta luôn có khả năng chứa đựng. Trong kinh Anguttara Nikaya, đức Phật từng đưa ra hình ảnh về sự chứa đựng rất hay. Giả sử có một người lấy một vốc muối bỏ vào trong tô nước thì tô nước ấy sẽ rất mặn, đến mức không thể uống được. Nhưng nếu họ cho vốc muối ấy xuống dòng sông, dù cho cả chục ký muối, thì nước của dòng sông vẫn uống được như thường. Nước của dòng sông uống được không phải vì nó không có chứa muối. Mà vị lượng nước quá mênh mông nên với số muối ấy thì chẳng có nghĩa lý gì cả. Ai mà không có những nỗi khổ niềm đau hay khó khăn, nhưng vấn đề là trái tim mỗi người có đủ lớn để chứa đựng nó hay không. Nếu trái tim ta nhỏ mà khó khăn bên ngoài quá lớn thì tất nhiên ta sẽ không thể nào chứa đựng nổi. Một người cha quyết định từ bỏ đứa con hư hỏng vì sợ nó làm ảnh hưởng những đứa con còn lại thì không hẳn đó là một quyết định sai. Nhưng thực chất ông đã thất bại. Tình thương của người cha vốn bao la như dòng sông thì tại sao không chịu nổi nắm muốn bé nhỏ của con? Một trái tim thật sự rộng lớn thì đâu cần đòi hỏi gì thêm nơi đối tượng đang quá yếu ớt.

Ta thường hiểu lầm chữ nhẫn nhục có ý nghĩa là đè nén hay cắn răng chấp nhận. trong khi ý nghĩa của nó rất hay và rất gần gũi: chịu đựng. Chịu có nghĩa là ồng ý chấp nhận; đựng có nghĩa là cái khả năng dung chứa. Chấp nhận mà không có khả năng dung chứa thì cũng như không. Dòng sông vì có cái dung lượng lớn hơn cái tô gấp chục ngàn lần, nên nó mới chứa đựng được nhiều muối. Thi hào Nguyễn Du cũng đã từng nói: "Có dung kẻ dưới mới là lượng trên". Người có khả năng dung chức được kẻ khác, dù kẻ ấy có như thế nào cũng không bao giờ ghét bỏ hay loại trừ thì đó mới đích thực là người lớn, người bề trên. Cho nên, nhẫn nhục không phải là thái độ hèn nhát, mà đó là sự thực tập mở rộng dung lượng trái tim để chứa đựng được những khó khăn lớn. Ta không thể nói tội tình gì mình phải nhẫn nhục. Cuộc đòi không phải lúc nào cũng thuận lợi theo ý ta đâu. Nếu ta không chuẩn bị sẵn sàng một dung lượng trái tim khá lớn, thì sẽ có lúc ta phải gục ngã trước hoàn cảnh hay đánh mất người thương vì khả năng chấp nhận quá yếu kém của mình.

Điều tuyệt diệu là trái tim ta có thể mở rộng tới mức vô cùng - vô lượng tâm - không có biên giới. Tâm ta có thể ôm trọn trời đất này và cả vũ trụ, nếu nó phá vỡ được ranh giới của cái tôi bé nhỏ. Nhưng chẳng cần phải đi hết cả thế gian này để trải lòng ra như biển như đất thì ta mới có thể ôm hết muôn loài. Chỉ cần có thể chấp nhận bất cứ một đối tượng nào đó, thấy họ chính là một phần thân trong bản thể vô ngã của mình, thì ta sẽ không thấy mình đang cố gắng chấp nhận gì cả. Chấp nhận mà như không chấp nhận. Có khả năng chấp nhận một cách tự nhiên như thế thì ta sẽ chấp nhận được tất cả mọi đối tượng. Đạt đến trình độ này là ta đã tìm thấy được con người chân thật vĩ đại của mình. Mọi vô thường biến hoại trên cuộc đời sẽ không còn đủ sức uy hiếp ta được nữa.

                                                         Nắm muối không hề mặn
                                                         Với lượng cả dòng sông
                                                         Lỗi lầm kia bé nhỏ
                                                         Với cõi lòng mênh mông.

Nguồn: Hiểu về trái tim - Minh Niệm

PHÁI ĐOÀN PHẬT GIÁO VIỆT NAM THAM

DỰ PHÁP HỘI DHARAMSALA 2015

Giác Hạnh Hoa
Nhân duyên hội đủ, vào ngày 7/9/2015, tại Tu viện Namgyal, Dharamsala, Ấn Độ, đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, vị lãnh đạo tối cao của Phật giáo Tây Tạng đã bắt đầu 3 ngày thuyết giảng đặc biệt dành cho cộng đồng Phật giáo các nước Việt Nam, Singapore và Hàn Quốc.
Tham dự Pháp hội Dharamsala năm nay, có hơn 300 Tăng Ni và Phật tử Việt Nam đến tham dự trong đó có 58 Tăng Ni đang học thạc sĩ, phó tiến sĩ và tiến sĩ tại Ấn Độ cùng 276 Phật tử Việt Nam đến từ khắp nơi trên thế giới. Ngoài ra còn có hơn 2000 Tăng Ni và Phật tử đến từ Singapore và Hàn Quốc cùng nhiều quốc gia khác. Chủ đề pháp thoại của đức Đạt Lai Lạt Ma dành cho Phật tử Việt Nam năm nay là "Nhập Bồ Tát hạnh" của Bồ tát Tịch Thiên Shantideva và “Thứ tự tu tập" do Ngài Liên Hoa Giới Acharya Kamala'sila soạn tác.
Đây là lần thứ 5 chính thức Đức Dalai Lama thứ 14 dành riêng cho cộng đồng Phật tử người Việt Nam trên khắp thế giới, ngoài ra các doanh nghiệp Việt Nam ở Bắc, Trung, Nam cùng đã cùng nối kết nhau để xin các buổi pháp thoại riêng của Đức Dalai Lama, điều đó cho thấy  tình cảm cao quí của Ngài dành cho các Phật tử Việt Nam là rất đặc biệt. Chúng ta thấy rất vinh dự khi được dự phần vào những sự kiện mang tính lịch sử đó.
Theo TT. Thích Nhật Từ, đồng trưởng Ban tổ chức Pháp thoại 2015 còn cho biết trong ba lần Thượng tọa được có cơ duyên gặp gỡ riêng với Ngài, Ngài đã bày tỏ lòng quí mến dành cho cộng đồng Phật Giáo Việt Nam và Ngài đã nhìn thấy tiềm năng phát triển Phật giáo Việt Nam là rất lớn. Điều thứ hai, đây là pháp hội gắn kết việc mừng sinh nhật lần thứ 80 của Đức Dalai Lama. Điều thứ ba trong 14 đời Dalai Lama thì Đức Dalai Lama thứ 14 được xem là đặc biệt nhất, ở chỗ Ngài chịu trách nhiệm mang tính sứ mệnh rất cao cả giới thiệu Phật pháp cho cộng đồng Phật giáo Tây Tạng nói riêng và cho cộng đồng Phật giáo thế giới nói chung. 56 năm Ngài lưu vong tại Ấn Độ, trong 56 năm đó những đóng góp to lớn của Đức Dalai Lama cho cộng đồng Phật giáo thế giới làm cho tất cả công đồng Phật giáo thế giới phải thừa nhận Ngài xứng đáng ngồi riêng một chiếu về phương diện hoằng pháp. Ngài giới thiệu về đạo Phật rất là tri thức và khoa học, nhằm giúp cho cộng đồng thế giới yêu quí mến đạo Phật và những người khác tôn giáo bắt đầu nhận ra được nền minh triết rất là đặc biệt  của đức Phật và từ đó họ trở thành Phật tử… Đức Dalai Lama thứ 14 của Tây Tạng là  một vị cao Tăng Phật Giáo vĩ đại của thế giới hiện tại và có thể là nổi tiếng nhất trong lịch sử Phật Giáo với tầm ảnh hưởng khắp địa cầu của Ngài. 
Với ba đặc điểm đó, ngày hôm nay, đoàn Việt Nam với sự có mặt của gần 300 người tham dự Pháp hội đến từ trong nước và cộng đồng người Việt trên khắp thế giới, trong đó có 62 Tăng Ni sinh  đang theo học tại Ấn Độ.
Trong buổi  thuyết pháp sáng nay Đức Dalai Lama đã truyền tải với 3 nội dung chính đó là:
1-Tất cả các chúng sinh đều muốn được hạnh phúc và đều muốn diệt trừ khổ đau. Chỉ có con người mới có khả năng chuyển hóa được khổ đau để có được hạnh phúc đó là trí tuệ. Ngài không hề nói đến một đạo Phật tín ngưỡng.  Nguyên nhân hạnh phúc hay khổ đau cũng tự mình tạo ra và cũng tự mình chuốc lấy…Nếu chỉ có tu tập mà không cần học thì chưa phải là người có trí tuệ, muốn có trí tuệ thì cần phải có tu tập có thứ tự…
2- Bản tánh con người rất muốn được yêu thương, tất cả các loài vật cũng đều muốn được yêu thương. Lòng từ bi phải được tỏa ra từ bên trong chứ không phải giả vờ, mà điều đó muốn có thì  phải có năng lực từ bi, Ngài lấy ví dụ cả đến con vật nhỏ nhất chúng đang bò đi, nếu chúng ta chọc ghẹo chúng, chúng co lại, nếu không thì chúng rất thoải mái. Con chó con mèo chúng rất thích được yêu thương vuốt ve, tuy chúng không biết cười, nhưng chúng rất thích được bình an…
3- Hữu thần và vô thần: Bằng các kinh nghiệm tu hoc thì Ngài vẫn tôn trọng các tôn giáo khác dù là hữu thần. Ngài đề cao đạo đức thế tục. Đạo Phật sử dụng tư tưởng triết học để nhìn nhận và đánh giá vấn đề này…
Ngài nhấn mạnh Tư tưởng Tứ Thánh Đế là nền tảng giáo pháp của đạo Phật và tất cả đều liên hệ đến nhân quả…
Sau buổi thuyết giảng buổi sáng dành cho cộng đồng Phật giáo Việt Nam. Chúng ta đều nhận thấy phong cách của Ngài là rất thong dong tự tại. Chúng ta đến với pháp hội ngoài việc được nghe trực tiếp Ngài giảng pháp, đồng thời chúng ta cũng phải học đức tính của Ngài là không gò bó. Ngài thể hiện tố chất của lòng từ bi của một nhà lãnh đạo Phật giáo thế giới…
Buổi chiều là Phần tóm tắt lại nội dung của Đức Dalai Lama giảng buổi sáng do Viện trưởng Tu viện Namgyal và các cao tăng do Đức Dalai Lama chỉ định đảm trách. Sau phần tóm tắt là phần đặt các câu hỏi dành cho Phật tử Việt Nam và các Phật tử nước ngoài.
Sau phần thảo luận đoàn Phật giáo Việt Nam được đặc biệt thăm viếng và đẳnh lễ cung điện thu nhỏ của Đức Dalai Lama trong khuôn viên tu viện Namgyal.
Kết thúc một ngày pháp thoại đầu tiên dành cho các cộng đồng Phật tử Việt Nam là phần lễ thắp đèn Hoa đăng ngay tại sân Tu viện Namgya, đây cũng là lần đầu tiên đoàn Phật tử Việt Nam được cho phép làm điều này. Buổi lễ thắp đèn hoa đăng được TT. Thích Nhật Từ nói nên ý nghĩa của ánh sáng Hoa đăng tượng trưng cho ánh sáng của trí tuệ và lòng từ bi và ý nghĩa của việc thắp đèn Hoa đăng tại pháp hội này, nhân dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 80 của Ngài. Trong buổi lễ Hoa đăng tất cả cộng đồng Phật tử Việt Nam cùng các chư Tôn đức Tăng Ni đều cùng niệm danh hiệu Quán thế Âm Bồ tát vì theo Phật giáo Tây Tạng,  Ngài Dalai Lama là hiện thân của Bồ Tát Quán Thế Âm và cùng nguyện cầu chúc sức khỏe Ngài.






Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2015

Ba Chú Tiểu, Thiền, Tịnh, Mật


Có ba chú tiểu đồng Sư tu trong một ngôi chùa. Sư Phụ đặt Pháp danh cho ba chú là: Tu Tịnh, Tu Thiền và Tu Mật.

Hằng ngày, Chú tiểu Thiền thích ngồi thiền, chú tiểu Tịnh thích tu niệm Phật. Còn Chú tiểu Mật thì thích trì chú. Ba chú tiểu cùng một Sư phụ mà căn cơ lại khác nhau, phương pháp tu khác nhau.

Phật tử về chùa để học hỏi tu tập, họ gặp ba chú để đàm Đạo, để học hỏi, tu tập. Chú Tiểu Thiền xiển dương Pháp môn Thiền Tông khuyên Phật tử tu thiền định tốt hơn. Trong khi chú tiểu Tịnh xiển dương Pháp môn Tịnh Độ bảo tu Tịnh Độ tốt hơn. Còn chú tiểu Mật muốn xiển dương Mật Tông cho rằng trì chú tốt nhất. Quý Phật tử thật sự hoang mang, không biết tu theo ai cho đúng. Nếu chọn sai một ly, đi tới một dặm! Nếu tu sai dễ sinh tử luân hồi. Quý Phật tử mới thưa rằng: “Vậy chú nào tu đúng đây?”

Chú tiểu Tịnh giải thích trước:
 - Đức Phật dạy rằng: “Nếu chúng sinh nào trì niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà từ một ngày đến bảy ngày đạt đến nhất tâm bất loạn sẽ được vãng sinh về cảnh giới Tây Phương của đức Phật A Di Đà”. Đó là nơi Tiểu Tịnh sẽ về! đó ạ! còn hai chú Thiền, Mật sau khi chết không biết đi về đâu nữa.

Chú tiểu Tịnh hỏi chú tiểu Thiền rằng:
 - Hằng ngày chú ngồi thiền để làm gì? Sau khi chết chú đi về đâu? Sinh về cảnh giới nào? Hãy trả lời thử xem!
 - Trời! Làm gì mà hỏi một tràng, Thiền không kịp thở luôn í! Từ từ, để tui thở đã rồi trả lời chú! Hehe.

Ngồi thiền để cắt đứt vọng tưởng, lắng đọng tâm tư trở về thanh tịnh, diệt trừ phiền não, để tâm tịnh. Tâm tịnh tức cảnh giới tịnh. Tâm tịnh thì Ta-bà tịnh. Vạn pháp do tâm khởi và do tâm biến hiện ra tướng. Tướng tự tâm sanh, vạn Pháp duy nhất tâm, tâm là chủ. Cho nên tâm tịnh tức Tịnh độ tịnh, Ta-bà chính là Tịnh Độ - Chú tiểu Thiền nhanh nhảu trả lời.

Chú tiểu Tịnh hỏi tiếp:
 - Đức Phật dạy trong kinh A Di Đà rằng: “Hằng ngày chúng ta phải niệm Phật gieo chủng tử nhân duyên với đức Phật A Di Đà”. Sau khi chết được được đức Phật A Di Đà phóng quang tiếp dẫn về cảnh giới Cực lạc. Còn chú không niệm Phật. Sau khi chết lấy gì mà vãng sinh hở???

Chú Tiểu Thiền cười bảo:
 - Tịnh độ đâu xa, Tịnh Độ ngay Ta Bà! Tâm tịnh là cảnh giới Niết bàn, còn mê thấy Ta-bà, Tịnh độ, giác Ngộ rồi thì Tâm chính là cái mục đích Thiền cần về. Không cần về Tịnh độ đâu ạ!

Chú tiểu Tịnh đáp lại:
 - Vậy chú nói sai rồi, chính đức Phật nói kinh A Di Đà và khuyên chúng sinh niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà, để được vãng sanh về Tây Phương. Ngài không bảo chúng sinh niệm danh hiệu của Ngài.

 Chú tiểu Thiền bảo:
 - Chú Tịnh nói vậy không hiểu Phật rồi, do Chú muốn xiển dương Pháp môn Tịnh Độ nên nói thế thôi? Tây Phương ở đâu? chú có thấy chưa? Tôi nói Chú hiểu nhé!

 - Vì đức Phật bảo chúng sinh niệm danh hiệu của Ngài. Khác gì đức Phật tự Ngài tôn xưng mình. Đức Phật chủ trương phá ngã cho nên đức Phật phương tiện diễn nói cảnh giới Tây Phương và Danh hiệu Phật A Di Đà. Thực ra đức Phật A Di Đà và Phật Thích Ca là một chư Phật đồng nhau đều có Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Công Đức. Cũng như chú đi tu, Sư Phụ đặt pháp danh, và Pháp tự, gọi tên nào chẳng được, mặc dù hai tên nhưng chỉ là một!

 - Chú tiểu Tịnh lại nói tiếp:
 - Nếu Ta-bà là Tịnh Độ vậy suốt đời tu niệm Phật. Sau khi chết tái sinh lại Ta-bà à? vậy tu làm gi? Nếu như chú nói Ta-bà là Tịnh Độ. Tu niệm Phật sau khi chết cũng trở lại Ta-bà. Vậy gọi luân hồi sinh tử, giải thoát chỗ nào? Vậy tu để làm gì?

 - Xí mê! Đợi tui thở đã! Chú hỏi từng câu một đi! Hỏi thế tui nghe còn không kịp huống chi trả lời chú. Kaka……Từ từ, bình tĩnh nhé chú!! Chú tiểu Thiền tìm cách thối lui vì bí lối rồi. Cũng may bấy giờ có mấy Phật tử khi nghe hai chú đàm Đạo. 

Chú nào lý giải cũng có lý hết cả. Một vị Phật tử bảo:
 - Vậy thì tại sao? chúng ta không kết hợp hai Pháp môn lại, thành Thiền Tịnh song tu? Tu như vậy cho chắc ăn! Rủi sai một Pháp còn một Pháp! Hehehe

 Chú tiểu Tịnh đáp rằng:
 - Cần gì phải kết hợp! Khi ngồi niệm Phật tụng Kinh, thân ngồi ngay thẳng nghiêm trang thanh tịnh, không tạo ác. Khẩu thì đọc kinh những lời Phật dạy - khẩu thanh tịnh. Ý thì tư duy lời Phật dạy chân lý gì trong kinh. Đó là tam nghiệp thanh tịnh. Tâm thanh tịnh rồi thì cần gì phải ngồi thiền chứ???

Nghe chú Tịnh trình bày có lý nên chú tiểu Thiền cười và im lặng. Chú tiểu Tịnh quay sang hỏi chú Mật
 - Hằng ngày chú trì chú để làm gì? Sau khi chết vãng sinh về cảnh giới nào???
 Ê! Đang hỏi chú Thiền mà, quay 1800 sang tui vậy? Làm giật mình, đang tập trung coi chú Thiền trả lời sao mà!
 - Ha ha! Thế chú Mật cứ trả lời đi! Để chú Thiền nghỉ xíu đã! Không khéo chú ấy lên Niết bàn sớm thì khổ!!
  
Ba chú tiểu và mấy vị Phật tử phát lên cười khoái chí. Sau trận cười, chú Mật mới trả lời:
 - Thôi! Để Mật trả lời với chú Tịnh! Chú Thiền cứ thủng thẳng mà nghỉ nhé! Hi hi. Chú Tịnh này tính ra cũng cao thủ đó chứ! Chú Mật bảo:
 Tu Mật cũng như tu Tịnh! Trong những câu Chú là danh hiệu của chư Phật chư vị Bồ tát, Hộ Pháp, Thiện thần. Mục đích niệm Chú để diệt trừ phiền não, tam nghiệp thanh tịnh, Tâm tịnh là an lạc giải thoát.

Chú tiểu Tịnh lại nói:
 - Thế cũng vậy! Chú tu cũng không biết sau khi chết đi về đâu, vì hằng ngày Chú không có gieo duyên với đức Phật A Di Đà thì làm sao về Tây Phương? ở Ta-bà chơi nhé.

 Lúc bấy giờ Phật tử nghe chú tiểu Tịnh nói có lý ai cũng ngã theo ủng hộ chú tiểu Tịnh. Bấy giờ Sư Phụ đi đến bảo rằng:
 - Hồi nãy giờ ba đứa con cãi khan cổ rồi, mệt lắm đúng không? Ba đứa con hãy vào đây. Sư Phụ cho uống nước:
  
Sau đó Sư phụ lấy 3 cái ly. Sư phụ rót ba ly nước khác nhau, 1 ly coca cola, 1 ly pepsi, và 1 ly 7 up. Ba ly ba màu khác nhau đưa cho ba chú tiểu tự chọn uống. Chú tiểu Tịnh chọn coca cola để uống, chú tiểu Thiền thì chọn nước Pepsi để uống, chú tiểu Mật thì chọn nước 7 up. Sau khi uống xong, Sư Phụ hỏi:
  
- Ba chú uống nước cảm thấy thế nào?
 Ba chú tiểu (Tịnh, Thiền, Mật) đồng thưa rằng:
 - Bạch Sư Phụ thật là ngon ạ!
 Sư Phụ hỏi tiếp mục đích các con uống nước để làm gì?
 - Dạ uống để giải khát đó ạ!
                                      Inline imageInline imageInline image
 
 Sau khi Sư Phụ nghe ba chú tiểu (Thiền, Tịnh, Mật) trả lời như vậy Sư Phụ giải thích như sau:
 - Nếu các con ngồi đó tranh cãi lý luận, hơn thua, ai đúng ai sai thì tất cả chỉ ngồi im, không đi đâu cả!
 - Giáo lý Phật chia ra tam thừa: Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Bồ tát thừa. Đạo Phật có tám vạn bốn nghìn Pháp môn tu, chia ra nhiều Tông Phái, cũng vì căn cơ chúng sinh khác nhau, để chúng sinh cảm thấy Pháp môn nào phù hơp căn cơ với mình áp dụng tu tập. Không phải sự phân chia đó để cho thấy Thiền tông hơn, Tịnh độ tông hơn, hay Mật tông hơn…Tu còn thấy chỗ hơn thua cao thấp là còn chấp ngã, là còn sinh tử. Giáo Pháp của Phật không ngoài mục đích :

"Chư ác mạc tác
 Chúng thiện phụng hành
 Tự tịnh kỳ ý
 Thị chư Phật giáo”
  
Nghĩa:

“Không làm các điều ác
 Nên làm các điều lành
 Giữ tâm ý trong sạch
 Đó là lời chư Phật dạy”
 
Còn việc tu hành, sau khi chết đi về đâu là do mình. Khi quý vị tu diệt trừ phiền não, tâm ắt thanh tịnh. Tu thiền, tu Tịnh, tu Mật cũng vì mục đích để tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh thì an lạc, tự tại vô ngại, muốn đi đâu thì đi, có khó khăn gì đâu? Muốn vào địa ngục thì đi như Ngài Địa Tạng, muốn lên Tây Phương đức Phật A Di Đà, muốn qua Đông Phương như đức Phật Dược Sư, muốn xuống Ta-Bà như Bồ Tát Hộ Minh (đức Phật Thích Ca), đi vào Ngã Quỷ như Ngài Quán Thế Âm hóa thân Tiêu Diện. Khi tu đạt đến tâm tự tại vô Ngại, đi cảnh giới nào cũng được cả, chẳng khó khăn gì cả.

Chúng sinh khi tu ở bên bờ mê ao ước được qua bên bờ Giác. Còn chư Phật, Bồ Tát ở bên bờ Giác trở lại bờ mê (lục Đạo luân hồi). Không phải là nghiệp lực tái sinh mà là hạnh nguyện độ sinh. Như Ngài Địa Tạng vào Địa Ngục, Ngài Quan Âm hóa thân vào loài Ngã Quỷ. Bồ Tát Hộ Minh xuống Ta-Bà độ sinh, chẳng lẽ gọi là tái sinh sao? Đó là hạnh nguyện từ bi độ sinh của quý Ngài. Tâm đạt đến tự tại vô ngại muốn đi đâu đi hà tất gì quý vị suốt ngày cứ xiển dương tu thiền hơn, tu Tịnh hơn, tu Mật hơn. 

Cũng giống như trong thế gian này, quý vị có giấy thông hành, quý vị muốn đi nước nào đi, ai ngăn cấm quý vị? Vậy ngồi đó tranh luận, làm mất tín tâm Phật tử có ích chi? Sanh tử đại sự, thời gian vô thường tấn tốc qua nhanh. Không lo tu hành diệt trừ phiền não, suốt ngày các con cứ tranh luận hơn thua.

Các con chỉ dậm chân tại chỗ thôi. Ngồi đó cãi hồi vô thường đến chỉ mang nghiệp lực đi, có ích gì đâu.  Các con hãy nhớ điều này:
  
 “Thị nhật dĩ quá, mạng diệt tùy giảm.
 Như thiểu thủy ngư, tư hữu hà lạc
 Đại chúng! Đương cần tinh tấn, như cứu đầu nhiên.
 Đản niệm vô thường, thậm vật phóng dật”

 Nghĩa là:

 “Một ngày đã hết, mạng cũng giảm dần,
 Như cá cạn nước, thử hỏi vui gì?
 Đại chúng!
 Hãy siêng tinh tấn, như đầu bị đốt,
 Chỉ nhớ vô thường, chớ mặc buông lung"

Sau khi nghe những lời dạy của Sư Phụ, ba chú Thiền, Tịnh và Mật không còn tranh cãi nữa, chú nào cũng tự giữ Pháp môn của mình tu tập sống trong hòa hợp. Sau khi Sư Phụ viên tịch, ba người đệ tử này hoằng dương Phật Pháp phát huy và thu hút nhiều tín đồ Phật tử tu tập. Làm cho ngôi nhà Phật pháp phát huy và trường tồn mãi mãi.
 Inline image