Thứ Hai, 31 tháng 10, 2016

Hòa bình bắt đầu từ chính bạn


Phỏng vấn Thiền sư Nhất Hạnh của John Malkin, ngày 1/7/2003, được chuyển ngữ từ tiếng Anh
Tôi vừa được gặp Thầy Nhất Hạnh tại tu viện Kim Sơn ở miền Bắc California. Tôi rất hạnh phúc được ngồi trên gối thiền và uống trà với Thầy, nhưng tôi cũng vui không kém khi Thầy đưa tay chỉ xấp giấy câu hỏi mà tôi đang để bên cạnh. Nếu không thì e rằng một tiếng đồng hồ sau, cuộc phỏng vấn vẫn chưa thể bắt đầu dù đã có chuông báo giờ ăn trưa.
Thầy Nhất Hạnh, một thầy tu Phật giáo người Việt Nam đã được Mục sư Martin Luther Jr. đề cử cho giải Nobel Hòa Bình năm 1967, vì Thầy đã đóng một vai trò trọng yếu trong phong trào kêu gọi hòa bình cho Việt Nam. Thầy là tác giả của hơn một trăm cuốn sách như: Thương yêu thành hành động (Love in action), An lạc từng bước chân (Peace is very step), Phép lạ của sự tỉnh thức (The Miracle of Mindfulness), Không sinh không diệt, đừng sợ hãi (No Death, No Fear). Hiện nay Thầy đang sống tại tu viện Làng Mai, Pháp quốc.
(John Malkin)
John Malkin: Thưa Thầy, xin Thầy cho biết nguồn gốc của Đạo Bụt Nhập thế (hay đạo Bụt dấn thân - Engaged Buddhism) và Thầy làm thế nào để kêu gọi sự thay đổi xã hội dựa trên lòng từ bi?
Thầy:
Đạo Bụt Nhập thế cũng chỉ là đạo Bụt mà thôi. Khi mà bom đạn rơi trên đầu của đồng bào thì chúng tôi không thể ngồi tọa thiền suốt ngày trong thiền đường được. Thiền không chỉ là ý thức được những gì đang xảy ra trong thân hay trong cảm thọ của mình mà còn ý thức cả những gì đang xảy ra chung quanh mình.
Khi tôi còn là một sa di, chúng tôi - những người tu trẻ - đã chứng kiến bao khổ đau, mất mát do chiến tranh gây ra. Vì vậy chúng tôi thao thức thực tập đạo Bụt như thế nào để có thể đem áp dụng được vào đời sống xã hội. Điều đó không dễ, tại vì sự thực tập đạo Bụt lúc bấy giờ vẫn chưa thể hiện một cách trực tiếp tính chất nhập thế. Vì vậy chúng tôi phải tự mình khởi xướng, đó là hoàn cảnh ra đời của đạo Bụt Nhập thế.
Đạo Bụt phải dính líu tới đời sống hàng ngày của chúng ta, dính líu tới niềm đau nỗi khổ của chúng ta và của những người chung quanh. Chúng ta phải thực tập như thế nào để trong khi giúp đỡ cho một đứa trẻ bị thương, ta vẫn có thể duy trì được hơi thở chánh niệm. Chúng ta không nên đánh mất mình trong công việc. Làm việc cũng chính là thiền tập.
John Malkin: Những nhân duyên nào đã đưa Thầy đến nước Mỹ lần đầu tiên vào năm 1966, và chuyện gì đã xảy ra trong khi Thầy đang ở đó?
Thầy:
Tôi được trường đại học Cornell mời sang để thuyết giảng. Nhân cơ hội này, tôi trình bày về những khổ đau  đang diễn ra tại Việt Nam do chiến tranh gây ra. Sau đó tôi được biết là nhà nước Việt Nam không muốn tôi trở về quê hương. Vì vậy tôi phải ở lại và tiếp tục làm việc ở đây. Tôi không có ý định sang Tây phương để giảng dạy về đạo Bụt. Nhưng vì bị lưu đày khỏi quê hương nên tôi mới làm công việc này. Cơ hội để chia sẻ về đạo Bụt tại Tây phương đến với tôi một cách tự nhiên như vậy thôi.
John Malkin: Trong thời gian ở Mỹ, Thầy đã học được điều gì?
Thầy:
Điều đầu tiên tôi học được là: ngay cả khi có thật nhiều tiền bạc và quyền hành, người ta vẫn đau khổ như thường. Nếu trong ta không có đủ bình an và từ bi thì chúng ta không thể nào có hạnh phúc. Rất nhiều người ở châu Á muốn tiêu thụ như người châu Âu hay châu Mỹ. Vì vậy khi giảng dạy ở Trung Quốc, Thái Lan hay những nước châu Á khác thì tôi đều cho họ biết là ở Tây phương người ta đau khổ rất nhiều vì nghĩ rằng tiêu thụ sẽ mang lại cho họ hạnh phúc, vì vậy quí vị phải trở về với những giá trị truyền thống của mình và thực tập cho sâu sắc.
John Malkin: Thầy đã học được gì từ Mục sư Martin Luther King Jr. và phong trào dân quyền ở Mỹ?
Thầy:
Lần cuối tôi gặp Mục sư Martin Luther King là ở Genève, trong hội nghị hòa bình có tên là “Paix sur Terre” (Hòa bình trên Trái đất). Tôi nói với Mục sư King là nhân dân Việt Nam rất biết ơn Mục sư vì đã lên tiếng phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Người dân Việt Nam xem Mục sư như một vị đại Bồ tát, một người suốt đời tranh đấu cho nhân quyền của người dân đất nước mình, đồng thời luôn yểm trợ cho nhân dân Việt Nam. Tôi rất vui vì đã nói được điều đó với Mục sư King, vì chỉ ba tháng sau đó thì Mục sư bị ám sát.
John Malkin: Thầy nghĩ như thế nào về phong trào hòa bình lúc bấy giờ ở Mỹ?
Thầy:
Vào thập niên 60, người dân Mỹ rất từ bi và sẵn sàng yểm trợ chúng tôi trong việc chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Nhưng những người tham gia phong trào hòa bình ở Mỹ không có đủ kiên nhẫn. Họ rất dễ nổi giận khi những gì họ làm không đem lại kết quả như mong muốn. Có rất nhiều giận dữ và bạo động trong các phong trào hòa bình lúc bấy giờ.
Bất bạo động và từ bi là nền tảng của phong trào đấu tranh cho hòa bình. Nếu không có đủ bình an, sự hiểu biết và thương yêu trong chính tự thân thì những công việc mà chúng ta làm không phải thật sự là vì hòa bình. Chúng ta đều biết là hòa bình phải bắt đầu từ chính tự thân, nhưng không phải nhiều người trong chúng ta biết cần phải làm như thế nào để có được điều đó.
John Malkin: Người ta thường nghĩ rằng mình phải lựa chọn: một là dấn thân để mang lại sự thay đổi trong xã hội, hai là tập trung phát triển đời sống tâm linh cá nhân. Thầy nghĩ như thế nào về quan niệm này?
Thầy:
Theo tôi thì đây là cái nhìn nhị nguyên. Mục đích của sự tu học là để chuyển hóa khổ đau, khổ đau trong ta và khổ đau chung quanh ta - hai cái này có liên hệ mật thiết với nhau. Nếu đi lên núi để tu tập một mình thì ta sẽ không có cơ hội để nhận diện được sự giận dữ, ganh tỵ hay tuyệt vọng trong ta. Vì vậy, va chạm với những người khác cũng cần thiết, để ta có thể thấy rõ những tâm hành trong tự thân. Có như vậy, ta mới có thể nhận diện và nhìn sâu vào bản chất của những tâm hành đó. Nếu không hiểu được nguồn gốc của phiền não thì chúng ta sẽ không thể nào thấy được con đường đưa đến sự chấm dứt phiền não. Do vậy, khổ đau cũng rất cần thiết cho sự thực tập của chúng ta.
John Malkin: Lúc tòa tháp đôi của Trung Tâm Thương Mại Thế Giới (World Trade Center) bị phá hủy, có người hỏi Thầy sẽ nói gì với những kẻ đã gây ra thảm họa này. Thầy trả lời là Thầy sẽ lắng nghe họ với tâm từ bi để hiểu được khổ đau của họ. Xin thầy chia sẻ về sự thực tập lắng nghe sâu. Sự thực tập này giúp ích như thế nào trong hoàn cảnh cá nhân cũng như trong biến cố của Trung Tâm Thương Mại Thế Giới?
Thầy:
Trước tiên chúng ta phải thực tập lắng nghe chính mình. Nếu không biết lắng nghe chính mình thì khó mà lắng nghe được người khác hay một nhóm người khác.
Tôi khuyên người Mỹ nên lắng nghe chính họ trước, tại vì có rất nhiều khổ đau ngay trong biên giới của nước Mỹ. Có rất nhiều người đang sống trên đất Mỹ nghĩ rằng họ là nạn nhân của sự bất công và kỳ thị, họ chưa bao giờ được lắng nghe và được hiểu.
Tôi đã đưa ra một đề nghị rất cụ thể: chúng ta nên thành lập một nhóm người - một dạng như cơ quan dân biểu - để thực tập lắng nghe khổ đau của người dân đang sống trên đất Mỹ. Tôi tin chắc rằng có những người Mỹ có khả năng lắng nghe với tâm từ bi. Chúng ta phải tìm và mời họ tới giúp. Chúng ta phải kêu gọi những người có khổ đau tới nói cho ta biết những gì chất chứa trong lòng họ. Họ nên nói ra hết. Lắng nghe những chia sẻ như vậy không phải là chuyện dễ dàng.
Nếu nước Mỹ biết thực tập lắng nghe những khổ đau của người dân trong đất nước mình thì họ sẽ học hỏi được rất nhiều. Tuệ giác lớn sẽ phát sinh. Và căn cứ trên tuệ giác đó, người Mỹ sẽ bắt đầu đưa ra những biện pháp để sửa chữa lại những lỗi lầm đã làm trong quá khứ.
Nếu thành công thì nước Mỹ có thể đưa sự thực tập này áp dụng trên bình diện quốc tế. Sự thật là ai cũng đều biết nước Mỹ có khả năng đánh trả, đánh thật mạnh và làm cho nhiều người khổ đau. Nhưng theo tôi, nếu không trả đũa theo cách đó thì nước Mỹ sẽ được kính nễ hơn và có nhiều sức mạnh hơn nữa.
John Malkin: Sau biến cố ở Trung Tâm Thương Mại Thế Giới thì những người đã từng tin vào đường lối bất bạo động nói rằng: cần phải hành động, cần phải sử dụng bạo lực. Thầy nghĩ như thế nào?
Thầy:
Bạo động chỉ làm phát sinh thêm bạo động mà thôi. Chỉ có lòng từ bi mới có thể làm giảm bớt bạo động. Từ bi không phải là một sự mềm yếu như ta tưởng. Lòng từ bi đòi hỏi chúng ta phải có rất nhiều can đảm.
John Malkin: Theo tâm lý học Tây phương thì khi giận dữ, nếu muốn hết giận thì ta phải hét to lên hoặc đánh đấm thật mạnh vào gối. Trong cuốn sách Giận, Thầy đã chỉ trích phương pháp đó. Tại sao Thầy nghĩ phương pháp đó không giúp được cho người ta hết giận?
Thầy: Trong tâm lý học Phật giáo, chúng tôi dùng danh từ "hạt giống" để nói về tâm thức. Trong tâm chúng ta có hạt giống giận, nhưng đồng thời cũng có hạt giống từ bi. Sự thực tập của chúng ta là làm lớn lên hạt giống từ bi và làm nhỏ lại hạt giống giận. Chúng ta nghĩ là nếu trút cơn giận ra thì mình sẽ hết giận, nhưng điều này không đúng. Khi để cơn giận biểu lộ ra ngoài, hoặc bằng lời nói hoặc bằng bạo lực thì chúng ta chỉ tưới tẩm thêm hạt giống giận mà thôi. Hạt giống đó sẽ lớn mạnh lên trong ta. Phương pháp đó rất nguy hiểm.
Vì vậy nhận diện hạt giống giận và tìm cách trung hòa năng lượng giận bằng năng lượng của hiểu và thương là cách duy nhất để làm giảm bớt cơn giận trong ta. Chúng ta không thể chuyển hóa được cơn giận nếu ta không hiểu được nguồn gốc của nó.
John Malkin: Nhiều người cho rằng hạnh phúc và giác ngộ chỉ có thể có được trong tương lai và chỉ một số ít người trải nghiệm được mà thôi. Như vậy giác ngộ hình như là một điều không thể đạt được.
Thầy:
Hạnh phúc và giác ngộ là những thực thể sống (living things) và có thể lớn lên. Chúng ta có thể nuôi dưỡng hạnh phúc và giác ngộ mỗi ngày. Nếu ta không nuôi dưỡng giác ngộ thì nó có thể chết đi. Nếu ta không nuôi dưỡng hạnh phúc thì hạnh phúc sẽ mất. Nếu ta không nuôi dưỡng tình thương thì tình thương cũng sẽ úa tàn. Cũng tương tự như vậy, nếu ta tiếp tục nuôi dưỡng cơn giận, sự hận thù, sợ hãi thì chúng sẽ lớn lên. Bụt nói rằng không có gì có thể sống mà không có thức ăn. Điều này cũng đúng với giác ngộ, hạnh phúc, lo buồn và khổ đau.
Trước tiên, giác ngộ phải là giác ngộ về cái gì? Ví dụ như khi uống trà, mình ý thức là mình đang uống trà. Ý thức về hành động uống trà là một hình thức của sự giác ngộ. Chúng ta đã uống trà biết bao nhiêu lần nhưng ta không biết là mình đang uống trà tại vì chúng ta bị đắm chìm trong những lo lắng, suy tư. Vì vậy có chánh niệm trong khi uống trà đã là một loại giác ngộ rồi.
Nếu chúng ta có khả năng chú tâm vào việc uống trà thì trong khi uống trà, ta đã có hạnh phúc. Ta có khả năng thưởng thức trà ngay trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây. Nếu không biết cách uống trà trong chánh niệm thì mình không thật sự uống trà, mà mình uống những lo buồn, sợ hãi hay giận dữ, khi đó mình không thể nào có hạnh phúc.
Tuệ giác cũng là giác ngộ. Ý thức được là mình đang còn sống, mình đang đi trên hành tinh xinh đẹp này, đó là một hình thức giác ngộ. Cái thấy đó không tự nhiên mà có được. Mình phải có chánh niệm để thưởng thức được từng bước chân. Và một lần nữa, mình phải giữ gìn tuệ giác đó để hạnh phúc được kéo dài. Nếu mình đi như bị ma đuổi thì hạnh phúc sẽ chấm dứt.
Những giác ngộ nhỏ này kéo theo những giác ngộ nhỏ khác. Và chúng ta phải luôn luôn nuôi dưỡng những giác ngộ nhỏ đó để giác ngộ lớn có thể xảy ra. Vì vậy một giây phút sống trong chánh niệm đã là một giây phút giác ngộ. Nếu chúng ta thực tập sống như vậy thì hạnh phúc và giác ngộ sẽ tiếp tục lớn lên. Nếu chúng ta duy trì hạnh phúc và giác ngộ thì buồn phiền và lo sợ sẽ không có nhiều cơ hội để biểu hiện ra. Không biểu hiện ra một thời gian thì chúng sẽ từ từ yếu đi. Nếu có người nào đụng chạm tới hạt giống buồn phiền, lo sợ, giận dữ trong ta thì ta biết trở về với hơi thở và nụ cười chánh niệm. Và ta có thể ôm ấp được khổ đau của mình.
John Malkin: Trong khi thiền, chúng tôi thường nhận thấy tâm trí của mình rất bận rộn và mình không thực tập đúng. Thầy nghĩ như thế nào về vấn đề này?
Thầy:
Thiền tập là niềm vui, là sự thưởng thức mà không phải là công phu lao tác. Khi được mời một tách trà, đó là cơ hội để chúng ta có hạnh phúc. Mình uống trà như thế nào để thật sự có mặt trong giây phút đó. Nếu không có mặt thì làm sao mình thưởng thức được trà? Hoặc như khi được mời ăn cam, mình ăn như thế nào để có tự do và hạnh phúc trong khi ăn. Mình phải tập luyện như thế nào để ăn cam cho đàng hoàng, để có được hạnh phúc và tự do trong khi ăn. Khi đến tham dự một khóa tu chánh niệm, quí vị sẽ được hướng dẫn cách thực tập để có được tự do và hạnh phúc trong khi ăn cam, trong khi uống trà hay trong khi đi.
Quí vị có thể thưởng thức từng bước chân trong khi đi. Những bước chân như vậy có tính chất nuôi dưỡng, trị liệu và đem lại cho quí vị nhiều tự do hơn. Nếu có được một người bạn đã từng thực tập giỏi pháp môn thiền hành thì người đó có thể yểm trợ cho quí vị. Quí vị có thể thực tập bất cứ lúc nào, không phải cho tương lai mà là cho giây phút hiện tại. Nếu hiện tại tốt đẹp thì tương lai sẽ tốt đẹp, tại vì tương lai được làm bằng yếu tố hiện tại. Nếu có khả năng đi từng bước chân tự do, an lạc thì dù quí vị đi bất cứ đi nơi đâu, nơi đó sẽ trở thành Tịnh độ của Bụt. Tịnh độ của Bụt không phải là vấn đề của tương lai.
John Malkin: Thầy đã băn khoăn không biết đức Bụt kế tiếp sẽ xuất hiện dưới hình thức của một cá nhân hay của một đoàn thể…
Thầy:
Tôi nghĩ là Bụt đã có mặt ở đây rồi. Nếu có đủ chánh niệm mình sẽ thấy được Bụt ở khắp nơi, nhất là trong tăng thân. Thế kỷ 20 là thế kỷ của chủ nghĩa cá nhân, nhưng chúng ta không muốn như vậy nữa. Chúng ta muốn sống với nhau như một đoàn thể. Chúng ta muốn đi với nhau như một dòng sông chứ không phải như một giọt nước riêng rẽ. Dòng sông có thể ra tới biển nhưng một giọt nước thì sẽ bị bốc hơi trên đường đi. Vì vậy cho nên chúng ta có thể nhận ra được sự có mặt của Bụt ngay bây giờ và ở đây. Tôi nghĩ rằng mỗi bước chân, mỗi hơi thở, mỗi lời nói có chánh niệm là sự biểu hiện của Bụt. Đừng tìm Bụt ở nơi nào khác. Bụt có mặt trong nếp sống tỉnh thức của chúng ta.
 

Thứ Bảy, 29 tháng 10, 2016

BƯỚC VÀO SỰ THINH LẶNG


- Nguyễn Duy Nhiên



Mấy ngày nay trời trở lạnh.  Lại thêm cơn mưa ướt át luồn trong gió, thấm vào không gian làm mình cảm thấy lạnh hơn.  Tối qua trời có gió thật lớn, tôi nghe tiếng lá ào ạt nổi lên từng đợt ngoài sân, gió lùa ập mạnh vào khung cửa sổ.  Sáng bước ra ngoài, sân nhà đêm trước phủ đầy lá, giờ sạch không!  Khu rừng nhỏ sáng nay cũng đã rụng gần hết lá.
Vào những ngày được nghỉ, chúng ta thường có thì giờ dành riêng cho chính mình.  Nhưng bạn biết không, giữa một cuộc sống quen với những bận rộn và vội vã, đôi khi có dịp ngồi yên lại, dường như người ta lại cảm thấy rất xa lạ trước sự có mặt của một không gian lặng yên.
BƯỚC VÀO SỰ THINH LẶNG
Ngày xưa tôi có xem một cuốn phim với tựa đề “Into the Great Silence.”  Đây là một cuốn phim tài liệu về đời sống trong tu viện cổ Grande Chartreuse trên vùng núi Alps ở Pháp.  Cuốn phim quay lại những sinh hoạt hằng ngày trong hoàn toàn thinh lặng của các tu sĩ thuộc dòng tu kín Carthusian.
Người đạo diễn của cuốn phim đã phải sống trong tu viện nửa năm, và chỉ quay phim bằng ánh sáng của thiên nhiên.  Và để tránh ảnh hưởng đến đời sống thinh lặng của các tu sĩ, ông ta không được phép tiếp xúc, nói chuyện với bất cứ ai trong tu viện, và cũng không được mang theo một người nào khác trong đoàn làm phim.
Lẽ dĩ nhiên là sự thinh lặng trong tu viện không phải hoàn toàn tuyệt đối.  Cũng có lúc các vị tu sĩ nói chuyện và phát biểu, như trong các buổi lễ, khi sinh hoạt chấp tác, hay vào mỗi cuối tuần khi cùng đi dạo bên ngoài.  Nhưng tinh yếu của sự thực tập vẫn đặt trên nền tảng của một sự thinh lặng.
Cuốn phim mở đầu bằng một cảnh mùa đông, khi cả vùng núi Alps và tu viện phủ tuyết trắng xoá, vạn vật như đông đá.  Giữa khung cảnh thinh lặng, ngồi trong tu viện nhìn ra khung cửa sổ, ta dường như nghe được âm thanh của từng bông tuyết rơi.  Trong thinh lặng, ta có thể cảm nhận được sự có mặt của những sự kiện tầm thường chung quanh mình, một cách thật sâu sắc. Thời gian từ tốn xoay không gian, tiếng cây lá chuyển mùa, giọt nước đá tan trên cỏ, áng mây trôi ngang qua, bầu trời khuya vụn vỡ ngàn sao… tất cả đều đang vận hành tự nhiên trong một thế giới lặng yên.

ĐIỀU TA CẦN LẮNG NGHE LÀ CHÍNH MÌNH
Cuộc sống hằng ngày của chúng ta, so với cuốn phim ấy, là một thế giới hoàn toàn khác hẳn.  Những bận rộn chung quanh khiến ta không có thì giờ để ngồi yên, để thật sự tiếp xúc được với những gì đang có mặt.
Trên con đường đi, bạn có bao giờ nghe được âm thanh của một chiếc lá rơi, hay một khuya bước qua cửa sổ chợt dừng yên nhìn sân cỏ trước nhà ngập ánh trăng...  Thật ra, trong cuộc sống ngày nay chúng ta ít khi có cơ hội để sống với thinh lặng, mà tôi nghĩ dẫu có đi chăng nữa, ta có khả năng tiếp xúc được với nó chăng?
Tôi được nghe một người quen kể rằng có lần anh đi ăn trưa với một nguời bạn.  Anh chọn một quán ăn nhỏ vắng người, để hai người có dịp nói chuyện.  Trong tiệm ít khách, chỉ có những âm thanh hỗn tạp bình thường của tiếng chén dĩa trong nhà bếp, tiếng máy tính tiền, vài người khách nói chuyện ở dãy bàn bên kia, tiếng nhạc êm nhẹ…  Bất chợt điện trong phòng bị cúp!  Không gian chung quanh như đứng dừng hẳn lại, căn phòng đột nhiên trở nên im phăng phắc một cách lạ kỳ.  Anh bạn nói, sự thinh lặng bất chợt ấy thật khó chịu và như điếc cả tai It’s deafening!  
Nhưng giây phút ấy đã khiến anhchợt dừng lại và ý thức được rằng, sự ồn ào trong cuộc sống đã giúp chúng ta tạm làm khỏa lấp một khoảng trống trong chính mình.  Có lẽ vì vậy mà người ta lại thường tìm cách trốn tránh sự yên lặng, để khỏi phải đối diện với một sự trống vắng trong ta…
Tôi nhớ có một đoạn trong cuốn phim, vào một ngày cuối tuần đi ra ngoài, họ cùng ngồi với nhau bàn thảo về một vài nghi thức trong buổi lễ ban sáng.  Một vị tu sĩ phát biểu, “Không phải mục đích của những biểu tượng là để chúng ta tìm hiểu về ý nghĩa của chúng, mà chính ta mới là điều cần phải được tìm hiểu.”  Thật ra, những lễ nghi hình thức chung quanh chỉ để giúp ta quay lại và thấy ra được chính mình mà thôi.  Các tu sĩ ấy không hề đặt câu hỏi về sự thinh lặng, mà chính sự thinh lặng đã đặt ra câu hỏi về chính họ.   
Và bạn cũng đừng nghĩ rằng thinh lặng có nghĩa là ta không làm gì cả, mà khi ta có một sự thinh lặng, ta sẽ tiếp xúc được với những yếu tố mầu nhiệm tự nhiên đang có mặt chung quanh mình, với một cái nhìn sâu sắc.
VẪN LÀ NHIỆM MẦU
Nhưng mầu nhiệm không có nghĩa là sự việc sẽ xảy ra theo ý mình muốn, mà mầu nhiệm có nghĩa là vì nó trong sáng tự nhiên.  Có thể đối với ta thì trời xanh mây trắng mới là mầu nhiệm, nhưng đối với người khác có thể trong cuộc đời họ đang cần một ngày mưa mát.  Một buổi sáng bước ra ngoài, dưới nắng ấm, thân ta vui khoẻ, hoặc một chiều bước chân ở sở về, tâm ta đầy những lo lắng và mệt mỏi.  Cả hai giây phút ấy có thật sự là nhiệm mầu như nhau không bạn hả? 
Tôi nhớ có một vị thiền sư thường ca ngợi giây phút hiện tại nhiệm mầu.  Có một thiền sinh phát biểu, trong giây phút này anh ta đang gặp những vấn đề khó khăn và có nhiều đau đớn, đời sống đâu có gì là nhiệm mầu?  Vị thiền sư đáp, tuy cuộc sống có những lúc khó khăn, không dễ chịu, nhưng nó vẫn là nhiệm mầu.  It’s not pleasant, but it’s still wonderful!
    Nó nhiệm mầu là vì ta vẫn có điều kiện để tiếp xúc được với thực tại, để thấy được những gì thật sự đang xảy ra, để buông bỏ những dính mắc của mình, để thấy sự vận hành của pháp, để biết được sự có mặt của tuệ giác và tình thương chung quanh ta.  Mà tất cả những điều ấy chỉ có thể xảy ra trong giây phút này mà thôi!
THÊNH THANG NHƯ BẦU TRỜI
Hạnh phúc không phải là vì sự việc xảy ra theo ý mình, mà do ở thái độ buông xả của ta.  Trong một khoá tu tôi được học một bài kệ về hạnh phúc, và tôi vẫn thường thầm ghi nhớ nó vào mỗi buổi sáng, trưa, chiều, tối, trong những ngày bên ngoài nhiều mưa gió hoặc vào những hôm trời đầy nắng ấm.
Mong cho trong tôi không có sự thù nghịch nào
Mong cho tâm tôi được an vui và hạnh phúc
Mong cho thân tôi được an ổn và nhẹ nhàng
Mong cho tôi được thảnh thơi
Nhưng bạn cũng đừng nghĩ đó là một sự mong cầu nào hết, vì mục tiêu của nó là cả một bầu trời rộng mênh mông!  Thật ra những lời kệ ấy không phải là một sự tập luyện hay mong muốn nào mà chỉ để nhắc nhở cho ta có một thái độ buông bỏ, và trở về lại với những gì trong lành đang có mặt sẵn trong ta.
    Hãy buông bỏ đi những khổ đau không cần thiết, vì trong ta không có một sự thù nghịch nào, chỉ là an vui và hạnh phúc, là an ổn và nhẹ nhàng.  Mỗi niệm như một mũi tên buông thả, bay thong dong vào bầu trời cao rộng thênh thang, nơi nào nó đến cũng là mục đích.  Vì trong một sự tĩnh lặng lớn mọi việc đều có mặt trong sáng và tự nhiên.

10 điều đáng buông bỏ nhất để cuộc đời an nhàn, phú quý

Có những điều, nếu khư khư ôm lấy trong lòng chỉ khiến bạn thêm phiền muộn, đau khổ mà thôi. Dưới đây là 10 điều người xưa răn nhất định phải học cách buông.
Người xưa có câu: “Cầm lên được, hạ xuống được”. Có những điều, học được cách buông bỏ là tự cho mình cơ hội để được sống hạnh phúc, thấy cuộc đời ý nghĩa, để trọn đời hưởng an nhàn, phú quý.
Hạnh phúc của đời người được xây dựng trên nền tảng bình an và tự tại. Hạnh phúc là ước mơ mà cả đời con người hướng đến.
Thế nhưng, càng lăn lộn, càng tranh đấu để có được hạnh phúc, thì hạnh phúc càng xa tầm tay con người. Có rất nhiều người giàu sang, đạt được những gì mình mong muốn nhưng vẫn không cảm nhận được hạnh phúc. Bởi họ luôn gặp phải căng thẳng, đấu tranh để giữ vững những gì mà mình đang có. Sân si càng nhiều thì lòng người càng không tịnh.
Vì thế, có những thứ nhất định phải buông thì cuộc đời mới an nhàn, phú quý.
Buông bỏ oán giận
Oán giận sẽ làm giảm nhân cách, làm giảm nhiệt huyết và tiêu diệt ý chí của con người. Đời người sẽ không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió, có bầu trời trong xanh, cũng sẽ có bầu trời u ám đầy mây, có thuận cảnh cũng có nghịch cảnh.
Bất kể điều gì không hài lòng thì đều là một loại khảo nghiệm, thử thách, một cách tôi luyện. Oán giận không thể giải quyết được vấn đề, chỉ làm tăng thêm phiền não mà thôi. Thay vì oán giận chi bằng hãy thay đổi!
Buông bỏ quá khứ
Chúng ta biết điều đó là rất khó khăn, đặc biệt là khi quá khứ dường như tốt hơn nhiều so với hiện tại và tương lai lại có vẻ đáng sợ. Thế nhưng, hãy suy nghĩ, hiện tại là tất cả những gì mà bạn có và nó chỉ tồn tại duy nhất một lần. Bạn mơ ước khao khát quá khứ trong khi bỏ qua hiện tại của chính mình.
Bạn hãy ý thực được mọi việc mình đang làm và hãy tận hưởng cuộc sống, bởi vì cuộc sống là một hành trình mà không phải là một điểm đến. Sẽ rất tốt nếu bạn có một tầm nhìn rõ ràng về tương lai và bạn chuẩn bị sẵn sàng cho điều đó, nhưng luôn luôn hãy là chính mình ở đây và ngay bây giờ.
Buông bỏ lo âu thường nhật
Đây chính là một trong những lý do ngăn cản bạn chạm tay vào hạnh phúc.
Buông bỏ tự ngã
Phàm là những người luôn lấy mình làm trung tâm thì là người ích kỷ. Những điều họ muốn đều là vì bản thân họ, không bận tâm đến cảm nhận của những người khác. Họ luôn cảm thấy bản thân mình là đúng, không muốn nghe người khác góp ý.
Hãy buông bỏ tự ngã, buông bỏ tư thái, đứng vào vị trí của người khác, hoán đổi suy nghĩ, bạn sẽ nhận thấy rằng tâm của bạn càng ngày càng lớn, con đường đời càng ngày càng rộng mở.
Buông bỏ việc sống theo mong đợi người khác

Nhiều người sống cuộc sống của mình theo những gì người khác nghĩ là tốt nhất cho họ, mà bỏ qua những mong muốn thật sự của bản thân. Họ cố gắng sống theo sự mong đợi của người khác chỉ để làm hài lòng những người này, họ tự đánh mất bản thân mình và cũng không kiểm soát được cuộc sống của mình.
Bạn có một cuộc đời, bạn phải sống cuộc đời của mình, đừng để cho những ý kiến của người khác lôi kéo bạn khỏi đường đời của mình.
Buông bỏ đố kỵ, ghen ghét

Đố kỵ, ghen ghét là một loại độc dược có thể khiến con người đánh mất bản tâm của mình, thậm chí rồn con người đến chỗ chết. Chứng kiến người khác sống tốt thì liền nghĩ “xem họ sống tốt được đến lúc nào?”, nhìn thấy người khác xuất sắc thì ở đằng sau nói xấu, thậm chí âm thầm hãm hại.
Đố kỵ sẽ gặm nhấm dần bản tính của một người khiến người đó trong đầu tràn ngập ác niệm, trong nội tâm không an định, người khác cũng thời khắc đề phòng, lánh xa. Kỳ thực, mỗi người đều có con đường của riêng mình, không cần phải ghen ghét đố kỵ, cũng không cần phải “ao ước thèm muốn” được như họ, cố gắng làm tốt bổn phận của mình thì những gì nên được có sẽ có.
Buông bỏ sợ hãi vô hình
Loại bỏ cảm giác sợ hãi những thứ vô hình, như kiểu sợ tai nạn giao thông, sợ những sự cố khi đi chơi xa.. Hãy bỏ hết đi những ý nghĩ ấy là thực sự sống một cách tự do, duy ý chí.
Buông bỏ dục vọng, tham niệm

Con người thường sẽ có rất nhiều dục vọng, tham niệm. Tham của cải tiền tài, ham mê sắc dục, cái đẹp, ham hưởng thụ, thậm chí ngày ngay người ta còn mong muốn được nhận nhiều của cải phi nghĩa khiến đạo đức ngày càng tiêu vong. Người có nhiều tham niệm thì trong lòng sẽ bất an.
Người xưa nói: “Tâm túc tắc vật thường hữu dư, tâm tham tắc vật thường bất túc.” Chỉ khi biết đủ, thì con người mới sống được hạnh phúc, mới cảm nhận được vẻ đẹp của vạn vật trong cuộc đời!
Buông bỏ so sánh trong tâm
Loại bỏ đi suy nghĩ những người khác luôn hạnh phúc hơn, giàu có hơn, thành đạt hơn bạn. Mỗi người có một lối đi riêng, không việc gì bạn phải so sánh mình với những người không cùng chí hướng.
Buông bỏ tiêu cực

Người có tư tưởng bi quan thì tinh thần sẽ sa sút, nhìn vấn đề sẽ luôn nhìn thấy mặt không tốt, nghĩ sự việc gì cũng nghĩ đến mặt không thành công, thường tự cảm thấy bản thân không bằng người khác. Người xưa có câu rằng, ông trời sinh ra ai thì người đó tất sẽ có hữu dụng.
Mỗi người đều có ưu điểm nổi trội của riêng mình. Phát huy ưu điểm của bản thân, thực sự đặt tâm vào làm những việc mình có khả năng, sau một thời gian sẽ có thể thành công!



Cao tăng sau khi viên tịch được đặt xác trong ang, ba năm sau mở ra thật kỳ lạ


Thân thể của các vị cao tăng tu Phật có trở thành bất hoại hay không? Có lẽ câu hỏi này thật khiến nhiều người quan tâm.

cao-tang
Sau khi viên tịch, nhiều nhà sư được tiến hành hỏa táng và xuất hiện xá lợi tử. Bên cạnh đó, một số vị trải qua nghi lễ bao gồm đặt xác ngồi trong ang (hay chum, vại), đóng kín ang, cuối cùng là mở ang sau ba năm. Nếu xác thân nhà sư không bị phân hủy thì sẽ được dát vàng và được đặt trong chùa thờ phụng.
nha-su-2
Ngày 10/1/2016, chùa Phổ Chiếu, núi Tử Mạo, thành phố Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến tổ chức nghi thức khai ang xác lão hòa thượng Phúc Hậu. Sau khi mở ang, mọi người thấy thân xác không hề bị phân hủy, râu tóc vẫn còn nguyên, vị hòa thượng đã tu thành thân thể bất hoại.
nha-su-3
Như vậy, nghi thức sẽ chuyển sang bước tiếp theo, đó là dát vàng nhục thân.
nha-su-4
Thông thường, quá trình dát vàng phải mất khoảng ba tháng. Nhục thân sẽ được chuyển tới một căn phòng riêng, các chuyên gia sẽ lau sạch thân thể nhà sư bằng rượu, bọc nhiều lớp vải gạc.
nha-su-5
Sau đó, họ sẽ phủ lớp sơn mài, sơn vàng và để khô.
nha-su-6nha-su-7

nha-su-11
Để hoàn tất quá trình, họ tiến hành dát lá vàng ở bên ngoài.
nha-su-12
Cuối cùng, tượng Phật ở thế ngồi đả tọa được khoác bộ áo cà sa trông thật uy nghiêm. Lão hòa thượng Phúc Hậu đã tu thành thân thể bất hoại, công đức viên mãn.
nha-su-10
Thế giới của chúng ta có thật nhiều điều kỳ diệu và khác lạ mà cho đến nay khoa học chưa thể lý giải. Thiết nghĩ, tri thức của con người vẫn còn hạn hẹp trong vũ trụ bao la này.

Thứ Năm, 27 tháng 10, 2016

BÊN TRONG TƯỢNG PHẬT

Chụp X đối với con người là chuyện rất bình thường, tuy nhiên chụp  X cho pho tượng Phật nghìn năm thì có thể đây là chuyện chưa từng có. Không những thế, kết quả còn khiến các nhà khoa học chấn động.

tuong-phat

Tại Trung tâm Y tế Meander ở Utrecht, Hoà Lan, một cuộc nghiên cứu tượng Phật được tiến hành bởi các nhà khoa học, trong đó có chuyên gia về nghệ thuật Phật giáo Erik Bruijin, bác sĩ Reinoud Vermeijeden, và bác sĩ Ben Heggelman. Đây là tượng Phật nghìn năm tuổi, được cho là pho tượng thất lạc từ năm 1995 của làng Yangchun, huyện Đại Điền, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc.

tuong
                                                          phat 2
Các nhà khoa học chăm chú nhìn lên màn hình máy X để chờ đợi kết quả.
tuong
                                                          phat 3
Các nhân viên đang kiểm tra tỉ mỉ pho tượng Phật.

Kết quả đưa ra đã khiến mọi người hết sức kinh ngạc, nguyên nhân là bên trong tượng Phật có chứa một xác ướp. Người ta tin rằng xác ướp bên trong tượng Phật là của một nhà sư Thiền tông, qua đời từ năm 1100 sau Công nguyên.

tuong
                                                          phat 4
Bên trong tượng Phật có chứa một xác ướp.

Rất có thể đây là vị cao tăng được người đời tôn kính. Vì thế khi ông viên tịch, người dân đã tạo pho tượng từ chính cơ thể ông để thờ cúng.
Trước đó, bức tượng Phật được trưng bày tại Bảo tàng Drents ở Hoà Lan, sau đó đã được đưa đến Hungary để làm thí nghiệm. Các nhà khảo cổ còn phát hiện bên trong tượng Phật có những trang giấy với ký hiệu và chữ Hán cổ. Tuy nhiên ý nghĩa của xác ướp bên trong tượng Phật vẫn còn là một bí ẩ


Thứ Sáu, 21 tháng 10, 2016

Đừng tìm hạnh phúc nơi nào xa quá





Đừng tìm hạnh phúc nơi nào xa quá Hãy quay về tìm nó ở trong ta Chỉ cần tâm thanh thản sẽ nhận ra Vì hạnh phúc là điều đơn giản nhất
 
Khi ăn uống biết ngon là hạnh phúc Khi tai còn nghe rõ những âm thanh Khi mắt còn thấy rõ áng mây lành Khi đi đứng nói làm đều tự tại
 
Biết giúp ích nhân loại điều thiết thực Biết sẻ chia vật chất lẫn tinh thần Biết cảm thông mọi rắc rối thế nhân Biết trang trải bằng tình thương chân thật
 
Người hạnh phúc nhất là người trầm tĩnh Trái tim người thật sự vị nhân sinh Mọi việc làm có chánh niệm phân minh Sự an tịnh tâm hồn luôn có mặt.
  
( Tường Vân ) Suy ngẫm !