Thứ Ba, 1 tháng 8, 2023

THAM LUẬN:Hệ phái Khất sĩ.

 Khất sĩ là một hệ phái Phật giáo nội sinh; chắt lọc và kết hợp hai trường phái Bắc tông và Nam tông.Hơn nửa thế kỷ tồn tại và phát triển, đã quyện nhập vào niềm tin xã hội, đã có vị trí vững vàng trong Tôn giáo, và có một  sắc thái đặc thù trong cộng đồng Phật giáo Việt Nam.

Hình thái sáng tạo so với truyền thống hàng ngàn năm mà Phật giáo đã cắm sâu vào mạch sống dân tộc, vì thế đã có nhiều biến thể từ hình thức đến pháp hành cho thích hợp với căn tánh, tập quán bản địa; nhưng không thể nói là sáng tạo khi hình thức và công hạnh trở về nguồn trên dưới ba ngàn năm về trước mà đức Thích Ca đã khai sáng.

Nói là trở lại nguyên gốc, cũng phải thích hợp với thời đại đương thời, do vậy,  một số tiểu tiết được thay đổi nhưng vẫn không làm mất bản chất cơ bản của đạo giải thoát.

Kỷ niệm 100 năm ngày sinh đức Tôn sư Minh Đăng Quang, đây là cuộc hội thảo lần thứ hai được bốn ban ngành kết hợp tổ chức: Hệ phái Khất sĩ, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, Viện nghiên cứu Tôn giáo, và trường Đại học KHXH- NV.

-         Tuy xoay quanh những chủ đề:

-         Tổ sư Minh Đăng Quang

-         Sự hình thành và phát triển hệ phái Khất sĩ

-         Kiến trúc Phật giáo Khất sĩ, Bản sắc và thực trạng

-         Những đóng góp của Phật giáo Khất sĩ.

Những tiết mục yêu cầu không mới, nhưng sẽ có những cái mới dưới tầm nhìn và đánh giá của những nhà nghiên cứu, các học giả, hành giả và sử học.Chính vì những lý do đó, bản tham luận này xin được đóng góp những hiểu biết hạn chế so với nhà chuyên môn và ngay chính trong nội bộ của hệ phái.

 

I.                   Tôn sư MINH ĐĂNG QUANG:

 

 

a.     Bối cảnh lịch sử.

 

Đất nước ta, vào những năm thuộc thế kỷ 19, thực dân Pháp, xã hội bước vào thời kỳ giao thoa văn hóa Đông Tây,đã có nhiều bỡ ngỡ giữa hai thế hệ.Thế hệ trẻ ở thành thị sớm ảnh hưởng và tiếp thu nền văn minh Pháp  đem lại. Đa phần nông thôn, dân quê vẫn chưa thoát khỏi “phèn chua nước lợ”, cố bám ruộng đồng theo mạch sống tiền nhân; con em còn  vật vờ với con chữ “vuông” nhiều nét gọi là Hán tự.Dĩ nhiên lối chữ đó đã hạn chế học dụng đối với đa số trong dân gian,họ quan niệm muốn làm quan cần có con chữ chính vì thế tầm nhìn chỉ gói gọn trong “tứ thư, ngũ kinh (1).Đành rằng tiền nhân giúp cho con người có lễ hiếu, có đạo đức; xã hội ổn định nhờ tôn ti lễ giáo (Tam cang ngũ thường).

 

Khi xã hội được cởi mở,xem nhẹ đạo đức cổ nhân,  luân thường đạo lý bắt đầu có vấn đề; kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục… theo đó phát sanh hai mặt tương phản đối nghịch lẫn nhau.Riêng phạm vi Tôn giáo, Nho Thích Lão từng là cơ bản xây dựng xã hội, đã phải rút lui vào thôn làng, cận lân với dân quê chơn chất. Có nguy cơ đứng bên lề xã hội.Lễ hội truyền thống làng xã chỉ còn duy trì một số nơi ở đình làng, miếu mạo, riêng Phật giáo, người dân biết đến khi có tang gia hiếu quyến. Một số tín đồ Kito giáo hải ngoại ngày nay, chỉ có mặt tại nhà thờ khi sanh ra để rửa tội và khi chết đi xin phép cầu hồn, nghĩa là ít ra, đời người có hai lần biết đến tôn giáo của mình.Phật giáo là tôn giáo cổ truyền trên dưới hai ngàn năm, thế mà người dân đương thời chỉ xem Phật giáo là tôn giáo để cầu siêu một lần duy  nhất  trong đời. Xã hội Việt Nam thời bấy giờ, Phật giáo nói riêng và Tam giáo nói chung bị xếp vào loại mê tín, lỗi thời, quanh quẩn trong làng xã với đám dân dã nghèo khó.

 

Tuổi trẻ bon chen nếp sống mới,cửa chùa thiếu vắng người kế thừa, do vậy, để duy trì thiền môn, các sư phải lập gia thất để có con nối dõi, biến thành thầy tụng ma chay như một tôn giáo biến thái.(gọi là Lục hòa Tăng, hay còn gọi là Cổ sơn môn).Phật giáo miền Nam, nhất là miền Tây Nam bộ lúc bấy giờ chưa thâm nhập sâu vào quần chúng như miền Trung, do vậy đức tin cũng rời rạc, thưa thớt.

 

Không riêng tại Việt Nam, tình hình Đạo Phật suy thoái khắp vùng Đông Nam Á châu trước mãnh lực đồng tiền và đời sống thoáng đạt của nền văn hóa phương Tây đem đến. Ngọn gió lạ đã xô đẩy nếp sống cổ truyền đến miệng hố hủy diệt. Một số chư Tăng Miến, Thái,Campuchea.Tích Lan,Trung Quốc cũng đã ý thức được nguy cơ suy thoái của Phật giáo, cố gắng xiển dương, canh tân Phật giáo. sau nhiều năm vận động, đã cho ra đời một Hội Liên hữu Phật giáo thế giới vào năm 1950 tại Tích Lan, Phật giáo Việt Nam là một thành viên do Hòa Thượng Tố Liên làm trưởng đoàn.

 

Tuy nhiên, việc canh tân không thể một sớm một chiều đem lại kết quả như ý, Phật giáo ba miền vẫn còn trì trệ theo cổ tục. Một số chư Tăng được  bác sĩ Tâm Minh Lê đình Thám truyền đạt kiến thức Phật giáo trên nền tảng Âu học. Riêng miền Nam, các vùng bưng biền, ánh sáng Phật pháp chưa đủ chiếu sáng, phần lớn sư Tăng suy thoái đạo đức, thậm chí không hiểu sâu giáo lý, nằm lòng hai thời bái sám công phu; chỉ khác thế tục chiếc áo và cái đầu; sống thuần tục;để khôi phục đạo đức tiền nhân, đã sản sanh ra một đức Phật thầy Tây An và các đệ tử kế thừa.Hệ phái này đem đạo Phật đi vào xã hội nông thôn rất thành công, nhờ giáo dục bằng thi kệ bình dân dễ hiểu.Đến đời Đức Huỳnh Phú Sổ, Phật giáo rất thực dụng, chủ trương “học Phật tu nhân” ngay tại đời sống thường nhật, đến ngày nay, tinh thần tín đồ vẫn không lệch hướng. sống vì mọi người, người người làm từ thiện, nhà nhà làm công ích tuy cuộc sống họ không dư dả.Các vùng lục tỉnh đã xã hội hóa Phật giáo bình dân rất thành công.

 

Khi mà đạo đức suy thoái được cổ nhân Thánh hiền phục dựng trong tầng lớp thôn quê nơi ruộng nương, Thiền môn vẫn lặng lẽ an phận sớm kinh chiều  kệ, xa rời lòng dân, đức tin Tam bảo là thẻ nhang, vàng mã, bái lạy, ma chay…lệch hướng sang Thần quyền tả đạo; quy luật “cùng tất biến”, tiền bán thế kỷ XX, một Thánh nhân xuất hiện, một Phật Việt thổi luồng sinh khí vào nền tảng Phật giáo với sắc thái nguyên sinh của Đức Cồ Đàm thuở xưa, chủ trương – Thượng cầu, hạ hóa – nghĩa là trên cầu xin giáo pháp Thế tôn, dưới hóa độ chúng sanh.

 

b.      Mầm móng phục hưng Phật giáo nguyên sơ.

Trước tệ nạn suy thoái đạo đức Tam giáo, các Nho gia đành thúc thủ; cơ bản học lý Lão-Nho nặng tính cổ tục, phong kiến. đạo Lão mang tính triết học tâm linh, thoát li thực tế, nặng tính siêu nhiên khi mà xã hội có xu  hướng công nghiệp và thực dụng.Nho nặng về từ chương, lễ giáo khuôn phép, tạo một căn bản trật tự cho gia đình và an dân trong xã hội. Ràng buộc con người theo khuôn phép gia trưởng và quân quyền.Nó có giá trị khi xã hội loài người trong giai đoạn đang tiến hóa, không thích hợp với trào lưu mới.

Phật giáo là một học thuyết vừa siêu nhiên, vừa thực dụng.Tùy duyên ứng biến, bởi “thế gian pháp tức Phật pháp”. Học thuyết Đại thừa (còn gọi là Phật giáo phát triển) đã giúp cho Phật giáo thích nghi với mọi thời đại, tránh được tính cứng ngắc của Nho-Lão. Tôn sư Minh Đăng Quang, để cứu vãng tình hình Phật giáo suy thoái trầm trọng, với chủng tử nhiều đời, đã thôi thúc Ngài thoát “thế tục gia”, tầm cầu giải thoát, mở ra con đường hưng phục chánh Pháp Như Lai.

Sau bốn năm trên xứ chùa tháp tu tập, nghiên cứu giáo lý Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Phát triển, Ngài đã quyết định trở về quê hương hành đạo và lập Giáo.

Xét thấy Phật giáo Phát triển linh hoạt nhưng do tính tùy duyên mà đi khá xa tính cơ bản luật học, Tăng phong đạo cách không còn đúng chuẩn theo giáo điều,đôi khi vài nơi làm cho khó phân biệt Phật giáo và Thần đạo.Sau thời gian nghiền ngẫm và thiền định, Người đã chứng ngộ tại Mũi Nai – Hà Tiên, bắt đầu thành lập giáo đoàn,ra truyền giáo với tên gọi Đạo Phật Giáo Khất Sĩ Việt Nam, nối truyền Thích Ca chánh pháp.( đây là tôn giáo nội sinh của Việt Nam ).

Với tôn chỉ tuyệt đối, lấy giới luật làm thầy, kinh điển làm đuốc soi, tạo một giáo đoàn nghiêm trang hạnh giới, một hình thái đặc thù ở miền Tây Nam bộ. Về hình thức cũng không khác Phật giáo k’hmer, nơi mà Phật giáo Nam truyền (nguyên thủy) đã có mặt và tồn tại khá lâu; hệ phái Khất sĩ là một giáo đoàn chiết lọc tổng hợp hai hệ phái Nguyên thủy và Đại thừa, về hình thức cũng như nội dung.Hình thức y cứ vào giáo lý nguyên thủy, tam y nhất bát, không nghi lễ rườm rà, nội dung hành trì theo luật tạng Bắc truyền và trường trai.

Nguyên tắc sống: làm thân người đều phải vay mượn nương nhờ lẫn nhau,do đó, “không tự lấy để trừ tham,không tự làm để tránh ác”. “uống hỏi xin nước,nằm hỏi xin đất,ăn hỏi xin lá, trái, ở hỏi xin cốc,hang.Không ngắt lá cây,phải lượm xin.Ăn quả chừa hột, đừng bứng gốc (không xin thái quá), không dùng đồ vật về sinh mạng của thú, người.Dứt tham ác thì sân si vọng động chẳng phát sanh.Chỉ ăn đồ xin mà thôi” (2).Nghĩa là không pha chế nấu nướng, ăn ngày một bữa, không ngủ 2 đêm tại một gốc cây. Không giữ tiền  bạc vật báu, quý kim… với hình thức mang tên Khất sĩ, nghĩa là người xin giáo pháp  tu hành, xin thực phẩm nuôi thân, rất mang tính khiêm hạ và luôn biết ơn.

Đây là thời kỳ chuyên nhất vào Tứ y pháp:

“Nhất bát thiên gia phạn

Cô thân vạn lý du

Dục cùng sanh tử lộ

Khất hóa độ xuân thu”.

Một bài âm hán: 

                           Nhất bát thiên gia phạn

                            Cô thân vạn lý du

                            Thanh mục đồ nhân thiểu

                             Vấn lộ bạch vân đầu 

II.                CƠ CẤU tổ chức và sự đóng góp cho Phật giáo Việt Nam.

 

c.       tổ chức giáo đoàn và luật học

Chư Tăng sống hòa hợp, 4 vị làm một Tăng, 20 vị lập thành tiểu giáo hội, 100 vị gọi là trung Giáo hội, 500 vị trở lên là đại Giáo hội. Sống chung theo tinh thần lục hòa

Sơ khai giáo đoàn 1 do Tổ sư Minh Đăng Quang thành lập vào năm 1944. Tổ vắng bóng, phát triển giáo đoàn do nhị Tổ Giác Chánh  điều hành. Giáo đoàn 1 có 21 ngôi tịnh xá.

 Giáo đoàn 2 do Trưởng lão Giác Tánh và Giác Tịnh thành lập.Có 15 ngôi tịnh xá ở Hàm Tân, Phan Thiết, Khánh Hòa, Quy Nhơn.

Giáo đoàn 3 do trưởng lão Giác An thành lập hành đạo tại Tây Nguyên như DakLak, Gia Lai, Kontum…

Giáo đoàn 4 do Pháp sư Giác Nhiên làm trưởng giáo đoàn. Tịnh xá phần nhiều ở các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam bộ như: Bà rịa Vũng Tàu,Đồng Nai, Bình Dương,Tây Ninh,Cần thơ, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang…

Giáo đoàn 5 do Trưởng lão Giác Lý thành lập năm 1960. Giáo đoàn 5 có 20 tịnh xá, tịnh thất ở Hội An (quảng Nam), Cam ranh,tháp Chàm,Bình Long, Bà Rịa-Vũng Tàu, Tp Hồ chí Minh, Bến Tre, Vĩnh Long, Gò Công…

Giáo đoàn 6 do Hòa Thượng Giác Huệ thành lập năm 1962, trụ sở tại giảng đường Lộc Uyển, quận 6 Tp Hồ Chí Minh. Giáo đoàn có 18 ngôi tịnh xá, tự viện và tịnh thất.

Giáo đoàn ni do Ni trưởng Thích nữ Huỳnh Liên thành lập Giáo hội ni giới Khất sĩ Việt Nam, trụ sở tại Tịnh xá Ngọc Phương, quận Gò Vấp, Tp Hồ Chí Minh. (3)

Trong một tập thể, để duy trì giáo đoàn có nhân cách,quan trọng về giới luật, giới luật còn là Phật pháp còn, giới luật ví như đôi chân, thiếu không đi được. Chư tăng được tôn trọng là nhờ có giới luật…và cũng từ Giới luật mới có Định để sanh Huệ.Vấn đề này hệ phái Khất sĩ cũng như Phật giáo Nguyên thủy bám sát luật nghi mà hành trì đúng với thời Phật sanh tiền.

Luật giới, theo Phật giáo Phát triền gồm có 5 bộ luật do năm bộ phái khác nhau,tuy nhiên những điều cơ bản không khác; ngày nay thông dụng nhất vẫn là bộ luật Tứ phần.Tổ sư  Minh Đăng Quang chiết lọc những điều cơ bản cho ra 114 điều căn bản thích hợp.

Tỳ ni, Sa di, Oai nghi,Cảnh sách là bốn bộ luật; Cảnh sách do Tổ Quy Sơn, Tổ Châu Hoằng giúp cho người xuất gia nghiêm trì thân tâm đúng khuôn phép nhà đạo.Thiền môn xa xưa rất nghiêm túc khi phát tâm xuất gia. Đức Tôn sư Minh Đăng Quang chẳng những giải trình chân lý qua văn chương giản dị mà còn thi kệ hóa đầy đủ một trăm mười bốn điều răn rất chi tiết,bao quát bốn bộ luật Trường hàng Thiền môn thở xưa; nghiêm túc để một vị Khất sĩ toát lên khuôn mẫu đáng kính.

Tuy mang hình thức Phật giáo nguyên thủy, chỉ thờ duy nhất đức Bổn sư,kinh kệ sáng tạo đơn giản, nhưng hành trì có khuynh hướng Bắc tông; vẫn trường trai.Nghi lễ Việt hóa bằng văn vần.Ngài dạy tỉ mỉ sát với luật học. Từ đi đứng, ăn nói, giao tiếp, hầu thầy, nhập chúng, ngủ nghỉ, đi vệ sinh, trì bình khất thực…phần nhiều trích từ Pháp tạng.

Thiền định, ngoài Vipassana, còn hướng dẫn nhiều đề mục quán tưởng từ vật thể đến ánh sáng…quán tử thi, quán thân thể (tứ niệm xứ),tứ vô lượng tâm,quán hơi thở (sổ tức)…Nhưng hình như ngày nay, chư Tăng Khất sĩ tự chọn cho mình một pháp hành nào đó ngoài các đề mục trên, dựa vào các pháp của chư tổ tiền nhân có kinh nghiệm và sở đắc,thích hợp với căn cơ của mỗi hành giả. Dù pháp hành nào, mục đích cũng đưa đến định lực để phát sanh trí huệ.

Tổ sư rất quan trọng trong việc tu tập Thiền định:”Không định không có thần thông quả linh,thì con người sẽ té sa vào nơi vật chất giả dối, nắm níu lấy ác tà loạn vong, chôn nhốt giết hại tâm mình. Cho nên tâm định thì trí mới huệ, huệ nhiều ít thì do định. Định nhiều thì huệ nhiều, định ít thì huệ ít, không định thì không có huệ”. Trong luật nghi Khất sĩ, pháp vi tế về Định, Tổ liệt kê 40 đề mục Thiền định theo bộ Thanh Tịnh Đạo luận. Không những thế, trong mỗi mục còn chi tiết hóa như :30 đề mục đem đến nhập định, 11 đề mục có thắng lực đem tâm từ sơ định đến ngũ định. Từ trang 132 đến 158 liệt kê các chi pháp của thiền định, qua đó, cho thấy Tổ đã thể nghiệm và nghiên cứu kỹ thiền định như thế nào.(4)

Hệ phái Khất  sĩ ngày nay đã mở rộng từ trong nước đến ngoài nước;hiện nay trong nước có 1395 Tăng, 1863 Ni, 550 tịnh xá; nước ngoài như Mỹ, Úc, Canada…có 50 tịnh xá, 100 Tăng ni,(5).Nội bộ đã khai hóa cho tu sĩ giao lưu văn hóa, hoằng pháp, học thuật, tin học, hành chánh, ngoại ngữ. Tăng ni thuộc hệ phái Khất sĩ đã có học vị tiến sĩ 43 vị, 30 thạc sĩ, 231 cử nhân, hàng trăm tăng ni tốt nghiệp Cao đẳng, Trung cấp phật học. Nhiều tịnh xá là cơ sở của trường Phật học.(6). Thỉnh giảng các giảng sư ngoài hệ phái trong mùa an cư  về Pháp Viện, Trung Tâm.Giao lưu với các thức giả, học giả để tô bồi kiến thức chuyên môn.Hàng năm,có cuộc hội tụ dự lễ tưởng niệm ngày Tôn sư vắng bóng,  để lắng nghe các giáo đoàn phản hồi ý kiến ưu khuyết của nội bộ.

Chính mở rộng vòng tay để hệ phái hội nhập và phát triển giữa lòng Giáo hội PGVN, cập nhận thường xuyên để xác nhận vị thế của hệ phái trong thời đại phát triển từng ngày, có như thế hệ phái không lỗi thời với thời đại.

d.     Kiến trúc

Kiến trúc là một đặc thù chưa từng có suốt thời gian đạo Phật du nhập vào Việt Nam. Chùa miền Bắc và Trung, xây dựng theo chữ Đinh hoặc chữ Khẩu, tuy khác nhau về chi tiết, nhưng diện mạo tổng thể tương đồng;  riêng hệ phái Khất sĩ,tính nhất quán trên 500 ngôi tịnh xá từ bắc chí Nam, từ trong ra đến nước ngoài: chính điện hình bát giác,cổ lầu hình tứ giác, tượng trung cho Bát chánh đạo và Tứ Diệu đế; trong chính điện bốn cột biểu trưng cho tứ chúng – Tăng, ni, thiện nam, tín nữ; tam cấp tượng trưng cho Tam bảo – Phật, pháp, Tăng. Nơi thờ Phật và Tổ là xây dựng trên nền tảng bát giác.Bảo tháp bằng gỗ gồm 13 tầng tượng trưng cho 13 nấc thang tiến hóa của chúng sanh hữu tình từ Địa ngục đến quả vị Niết bàn giải thoát hoàn toàn,(Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Thiên, nhơn, A tu la,Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán, Bich chi,Bồ tát, Như Lai).

Tuy nhiên, một vài nơi do địa thế, do tập quán địa phương hoặc do ảnh hưởng nặng về Bắc tông, lối kiến trúc có khác, bên trong vẫn thờ phượng trước Phật sau Tổ.Danh xưng bảng hiệu luôn đứng đầu bằng chữ Ngọc, cũng có những trường hợp đặc biệt không dùng chữ Ngọc như Pháp viện, tịnh xá Trung tâm... Cơ sở vật chất tương đối sung túc.Buổi sơ khai khi Tổ còn sanh tiền, tịnh xá thật đơn giản, chỉ xử dụng tre lá, để thích nghi với cuộc sống xã hội, ngày nay tịnh xá đã xây dựng bằng  cement cốt sắt. Thích nghi tập quán và nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng, sau nhà thờ Tổ, còn thiết kế bàn vong, cửu huyền, tượng Địa Tạng. Ngoài sân có cây Bồ đề và tượng Quan Âm.Còn xây dựng nhà nghỉ khách Tăng, cư sĩ. Có nhà trù mà xưa kia chư Tăng chỉ sống bằng việc đi trì bình.

Với lối xây dựng bát giác được xem là nghệ thuật đặc thù trong kiến trúc Tôn giáo, nhưng bên trong đại điện nơi thờ Phật và Tổ đã chiếm vị thế rộng lớn, không đủ chỗ cho tín đồ hoặc chư Tăng làm lễ, nhất là tự tứ hay tịnh xá có sự kiện lớn.

Nền tảng Bát giác, tịnh xá có 8 cửa, trong Bát chánh đạo ta khởi sự vào mắc xích nào cũng đưa đến một điểm, ta bước vào cửa nào của tịnh xá cũng đều nhìn thấy Phật, đó là một thâm ý của Tổ khi đề xuất lối kiến trúc đặc thù này.

Hiện nay, vài nơi chú trọng việc kiến trúc, chư Tăng khất sĩ bị chi phối, lo toan…không còn giữ được quy tắc “tam y nhất bác” hoặc sự thọ dụng  “tứ y pháp” như xưa, chiếm thời gian khá nhiều của công phu thiền định.Thậm chí, có những tịnh xá ít có khả năng phát triển, hoặc do tín thí nghèo, hoặc do sư trụ trì thiếu hoạt bác, không vận dụng để bộ mặt tịnh xá phát triển đồng bộ theo xu thế hiện tại, một vài nơi do điều kiện kinh tế địa phương, Tịnh xá chưa được tái thiết như ý nên không được lòng đồng tu..

Phần lớn các tịnh xá thiết lập thêm bảo đài Quán thế Âm, tụng kinh trì chú theo Bắc truyền, thuyết giảng được đưa lên trang mạng. Ngoài cúng hội  2 lần trong tháng, một số nơi tổ chức Vu Lan báo hiếu, mừng Phật đản sinh, đi từ thiện,phát quà người nghèo, khám bệnh miễn phí….Sinh hoạt hệ phái ít nhiều đã thay đổi, và dần dần hòa nhập vào cộng đồng Phật giáo toàn quốc, tuy vậy,  vẫn giữ được nét riêng của tông phái cho dù nội hàm có phần chuyển biến.

e.      Những đóng góp.

Trong thời buổi đất nước phân hóa, Đức Tổ sư Minh Đăng Quang khai sáng đạo Phật Khất sĩ từ năm 1944, lập đạo năm 1947 tại miền Tây nam bộ.Xã hội nhiễu nhương, nhân tâm li tán, được hệ phái của Phật thầy Tây An và đức Huỳnh Phú Sổ xây dựng nền tảng đạo đức cơ bản trong tầng lớp nông dân, Khất sĩ ra đời có lợi thế ổn định tín ngưỡng, đã hội nhập dễ dàng vào cộng đồng xã hội thời bấy giờ. Một sắc thái mới của Phật giáo Việt Nam, quần chúng không còn nhìn nhà sư như những tầng lớp làm thuê cho ma chay đám cúng. Không cúng kiến rườm rà, không áo mão xiêm y lòe loẹt, không cúng sao giải hạn đốt vàng mã, không xem bói toán. Đi đứng tướng mạo trang nghiêm, chuyên lo tu tập thuyết pháp  độ sanh; cũng không tham gia vào mọi hoạt động chính trị đương thời.

 Thời đệ nhất và đệ nhị Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Phật giáo lâm vào khủng hoảng, giáo đoàn Khất sĩ Tăng vẫn chuyên lo tu tập mãi đến 1975.

1981, 9 hệ phái tham gia lập thành Giáo Hội Phật giáo Việt Nam, trong đó có hệ phái Khất sĩ. Quá trình sinh hoạt xây dựng và phát triển Giáo hội mới, Hệ phái Khất sĩ do Hòa Thượng Giác Toàn lãnh đạo, nhiệt tình năng động đã làm cầu nối giữa các Tôn túc trong buổi giao thời, tạo sự gắn kết cảm thông để đem đến một tổ chức bền vững. Cũng từ đây, hệ phái Khất sĩ không còn là bóng mờ trong lòng Phật  giáo nhiều hoạt dụng.

Kể từ sau khi GHPGVN ra đời, nhiều nhiệm kỳ hoàn chỉnh, hệ phái Khất sĩ đã  đào tạo Tăng Ni đa số có căn bản Phật học qua các trường lớp, một số du học có bằng thạc sĩ, Tiến sĩ về tiếp tục đóng góp cho hệ phái và cho các cơ sở giáo dục Phật học.

Về hệ thống dọc hành chánh, các Tỉnh thành, quận huyện, hệ phái cũng được Giáo hội công cử vào các ban ngành thích hợp, hợp tác nhịp nhàng, năng động. Tuy nhiên, một vài nơi, Tăng sĩ thuộc hệ phái vẫn chưa được bổ cử vào vị trí tương xứng,( ví dụ tại Giáo hội huyện –Hốc Môn. Tịnh xá Ngọc Hạnh, sư Minh Phước không được tham gia vào tổ chức hành chánh, chỉ là một thành viên bình thường như các tu sĩ bình thường, trong khi Hốc Môn chỉ có một sư  thuộc hệ phái Khất sĩ duy nhất.

Phía Nam và miền Trung, hệ phái Khất sĩ sinh hoạt nội bộ và hợp tác với Giáo hội đương nhiệm khá chặt chẻ. So với hệ phái Nam Tông kinh, lượng Tăng Khất sĩ tham gia Giáo hội vẫn khá nhiều. Miền Tây Nam bộ, Phật giáo Nam Tông K’hmer đương nhiên có mặt từ thượng tầng đến hạ tầng cơ sở hành chánh. Tất cả đó là hiện tượng đáng hoan hỷ mà các nước có mặt các hệ phái Phật giáo  chưa làm được.Riêng phía Bắc, Phật giáo Khất sĩ có mặt từ tháng 12 năm 2008 do HT Thích Giác Ngộ, phó BTS PG Lâm Đồng ra Hà Nội truyền pháp tại chùa Tảo Sách, chùa Quán Tinh, chùa Định Quán, chùa Kim Liên…thành lập đạo tràng Như Lai Thanh Tịnh Thiền được nhiều giới từ bình dân đến trí thức, từ sinh viên đến công nhân viên chức tham gia rất hoan hỷ.(3)

Góp mặt trong một tổ chức là hiện tượng đoàn kết ắt phải có, cái nghịch lý là càng năng nỗ, càng bị chi phối thời gian, hội họp, đóng góp.. . đã tiêu tốn thời gian tu tập mà xưa kia Tăng đoàn chỉ đi trì bình, về độ ngọ,thiền định, giảng giải cho tín đồ.

Ngày nay, Tăng khất sĩ ngoài những việc đóng góp công sức và tài vật cho giáo hội chung, còn phải lo phát triển cơ sở, sinh hoạt giáo đoàn, nghiên cứu sách vở, tài liệu để đáp ứng kịp thời trình độ tín đồ.Thời gian tu tập đã bị hạn chế.

Bệnh hoạn cũng là vấn nạn. Có những chư Tăng “tiên thiên bất túc, hậu thiên thất nghi”, nghiệp bệnh đeo đuổi suốt cuộc hành trình xuất gia,tài chánh có hạn, việc hành trì không được như ý. Nên chăng, Giáo hội Khất sĩ lập nơi điều dưỡng đặc biệt giúp chư Tăng khỏi phải nương vào bệnh viện xã hội bên ngoài!

f.       Tăng phong đạo cách.

Một giáo đoàn mà vị giáo chủ vắng bóng trên nửa thế kỷ, vẫn giữ được hình thức, Tăng cách, luật nghi, kiến trúc, giới hạnh nghiêm túc quả là hiếm.

Một vài nghi cách thay đổi do xã hội, cuộc sống bắt buộc.Ví dụ thời Phật sanh tiền, chư Tăng đi bát, không giữ tiền bạc vật quý, nhưng truyền  qua Trung quốc,chư Tăng phải canh tác tự sống, thay đổi xiêm y cho thích hợp tập quán bản địa; cũng từ đó,ảnh hưởng nghi tắc Nho gia phải bày ra cúng kiến, thờ phượng rườm rà, áo mão kiểu vua quan cung triều. PGVN cũng ảnh hưởng lấy đó làm phương tiện hòa nhập dần dà đi xa khởi điểm.

Qua nhiều thập kỷ, để đem Phật giáo trở lại nguyên sơ,đức Tôn sư Minh Đăng Quang dung nạp hai hệ phái Bắc truyền và Nam Tông cho ra một Phật giáo Việt Nam chính thống.Đem nghi thức đơn giản vào đời sống theo nguyên thủy nhưng vẫn không không đánh mất tinh thần Phật giáo phát triển.Vẫn độ Ngọ như Nam truyền, ăn chay như Bắc tông.

Từ 1981,luật nghi Khất sĩ cũng phải thay đổi ít nhiều, khi đã tham gia vào một tổ chức mệnh danh là GHPGVN.Truyền thống khất thực đã hạn chế, chư Tăng cư trú không luân chuyển như trước 1975. Những vị có chức phận ngoài tu tập phải đóng góp công sức tài vật cho tổ chức và xã hội theo yêu cầu. Một số ít cố gắng không giữ tiền và vật quý. Một vài vị cũng bị xao lãng Tăng cách ít nhiều, thậm chí nói năng tuy không quá đáng nhưng cũng không còn khép mình, khiêm hạ như một vị khất sĩ ngày xưa.

Tóm lại

Khất sĩ vẫn là một hệ phái đặc thù của Phật giáo Việt Nam. Hình thức vẫn giữ được “ca sa” thời Phật. Dung hợp cả Bắc và Nam truyền trong giáo luật qua cuộc sống thường nhật.Tăng phong đạo cách của một tu sĩ gương mẫu còn duy trì được luật giới. Tứ nhiếp pháp đã vận dụng cho việc hoằng hóa thành công.

Tuy có những đoàn khất sĩ đương thời như:Khất sĩ của Đại sư Huệ Nhật (1945),Liên tông Tịnh độ Non bồng của ngài Thiện Phước còn gọi là Mẫu trầu(1957), Khất sĩ Sơn lâm (1960), giáo đoàn Khất sĩ  Ca Diếp (1972).Nhóm Khất sĩ thuộc Tịnh Độ tông Việt Nam (1955) khất sĩ tu tịnh của ngài Từ Huệ(1952).; nhưng không duy trì được bao lâu vì thiếu những tiêu chuẩn cơ bản về tôn chỉ,tổ chức, luật học, sống chung…

 

Tâm linh và duy vật, công nghiệp và nông gia đã nhạt nhòa ranh giới khi các hệ phái Phật giáo nói chung và Khất sĩ nói riêng, chung tay vạch một lối đi giữa lòng dân tộc.Cơ sở Tôn giáo phát triển, hệ phái phát triển, chỉ cần nội chất tâm linh đồng bộ song hành là đóng góp to lớn cho dân tộc.

Cần chú trọng sức khỏe của chư Tăng. Ngày nay, y dược có cả Tây y, Đông y, thuốc Nam Thuốc Bắc..không nhất thiết phải theo luật định dùng cây, cỏ, vỏ, lá như xưa.

Một khi hòa nhập, tuy không hòa tan, ít nhiều nội chất cũng có thay đổi; đó là định luật không gì là bất biến, nhờ biến mới phát triển. Hy vọng, Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam sẽ là cốt lõi để duy trì niềm tin cho quần chúng, đúng nghĩa :NỐI TRUYỀN THÍCH CA CHÁNH PHÁP  đã tuyên xưng.

 

MINH MẪN

24/7/2023

 

Bí chú:

(1)  (Đại học,Trung Dung, Luận ngữ, Mạnh tử).

(kinh Thi, kinh thư, kinh lễ, kinh dịch, kinh Xuân Thu)

(2)  (tứ y pháp trong Luật nghi Khất sĩ)

(3)  Wikipedia

(4)  Website phattuvietnam: Đạo tràng theo hệ phái Khất sĩ đầu tiên ở miền Bắc

(5)  Chơn lý tập 1, trang 357,

(6)  Tạp chí văn hóa Phật giáo

(7)  Biên niên sử hệ phái Khất sĩ

****************************

 

Bản tóm lược tham luận.

 

Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam xuất hiện trong một giai đoạn đặc biệt của đất nước khi bị bảo hộ của Pháp. Xã hội tồn tại hai sắc thái rõ rệt.Nông gia và thành thị.Do tính tương phản của văn hóa và nếp sống đó, một thời gian dài xã hội bất an, xáo trộn về mặt chính trị lẫn tín ngưỡng.

Cùng tất biến là định luật sinh tồn. Những học thuyết Khổng Nho hay Đạo gia không thể vận dụng nội hàm để thoát khỏi cơ chế thực dụng và khoa học, đành thúc thủ duy  trì mạng mạch như hạt giống ẩn sâu vào lòng đất chờ thời tiết thích hợp nảy mầm. Riêng Phật giáo Việt Nam, một thời gian khá dài bị bình dân hóa để thích nghi xã hội Khổng Nho, Thiền môn mang màu sắc đa thần để tùy duyên tồn tại, đôi khi cũng tùy tiện lạc dẫn quần chúng vào cơn mê lộ.May thay, các tôn giáo nội sinh miền Tây Nam bộ đã xuất hiện kịp thời tạo điểm tựa và niềm tin cho quần chúng, chung tay phục dựng nền tảng đạo đức và tâm linh dân tộc.

Cũng từ ý lực tự tồn, Phật giáo Việt Nam nẩy mầm một nhánh mới từ gốc cổ thụ mà hai ngàn năm qua cũng từng đâm chồi các nhánh mới.Phải chăng, địa linh sanh nhân kiệt, tiếp tục phát sanh một đức Phật thầy Tây An, một đức Huỳnh giáo chủ, một đức Tôn sư Minh Đăng Quang đủ để xã hội trăm hoa đua nở sắc màu tâm linh, ổn định đức tin trong buổi giao thoa ý hệ khoa học thực dụng và sinh hoạt truyền thống; từ nền tảng đó, hệ phái Khất sĩ đã kịp thời mang luồng gió mới trong nếp sống thiền môn, không hòa nhập xã hội, không lìa xa thế nhân.Bản chất trung đạo của bậc xuất trần đã vực dậy nét mờ nhạt của Phật giáo Việt Nam. Khoác lên mình lớp áo mới để :” Một bát cơm ngàn nhà

                                          Thân chơi muôn dậm xa

                                          Chỉ vì việc sanh tử

                                          Giáo hóa độ người qua”.

Tứ y pháp triệt để áp dụng để trang nghiêm giáo đoàn, lục hòa cộng trụ để phát triển Tăng đoàn , Giới-định-tuệ để thăng tiến tâm linh.

1981 GHPGVN thành lập, hệ phái Khất sĩ là một trong 9 hệ phái chung tay xây dựng ngôi nhà chung. Hòa thượng Giác Toàn thay mặt hệ phái rất năng động liên kết chư Tôn túc các hệ phái, tạo cảm thông trong buổi giao thời.Từ đó Hệ phái Khất sĩ nghiễm nhiên không còn là hệ phái nhạt nhòa trong sinh hoạt thiền môn như trước 1975.

Hệ thống Khát sĩ có 6 giáo đoàn Tăng và một giáo đoàn Ni phân tán kháp ba miền, gồm 550 cơ sở tịnh xá. 1395 Tăng, 1863 Ni. Nước ngoài có 50 tịnh xá, 100 Tăng ni.

Việc xây dựng ngôi nhà chung là nhiệm vụ tất yếu, phát triển nội bộ hệ phái cũng là vấn đề quan thiết không kém. Cơ sở hạ tầng nhiều nơi đã và đang tái thiết.Một số tịnh xá đã mở khóa tu cho tín đồ. Nghi lễ phát triển sang đọc tụng các kinh Bắc truyền. Chư Tăng ni trẻ tranh thủ tiếp thu kiến thức Phật học tại các quốc gia có trường chuyên Phật giáo.

Ngày nay không còn phân biệt hệ phái để cùng trao đổi hiểu biết lẫn nhau, vì bất cứ hệ phái tông môn nào cũng đều mang hương vị giải thoát của đức Thế tôn.

Hiện tượng hệ phái Khát sĩ ngày nay không còn là hệ phái cá biệt trong ngôi nhà chung Phật giáo Việt Nam. Cá biệt chăng là một tập thể cộng trụ lục hòa tuyệt đối trung thành với tôn chỉ “Nối truyền Thích Ca Chánh pháp” của đức Tôn sư Minh Đăng Quang.

 

MINH MẪN

24/7/2023

Thứ Ba, 25 tháng 7, 2023

PHẢN HỒI VIỆC QUẢN LY THÙNG CÔNG ĐỨC


Gần đây, sau thông tư số 4 của bộ Tài chánh về việc quản lý thùng công đức, mặc dù đang làm công tác quản lý các cơ sở di tích lịch sử, thế nhưng,vẫn rộ lên những lo âu chưa nên có với các am tự viện. Thêm vào đó, một vài trang mạng đưa lên những sự việc liên quan đến chùa Ba Vàng, gây xôn xao dư luận.

TT Thích Chúc Thái Minh chùa Ba Vàng xác nhận không có đoàn kiểm  tra nào đến chùa kiểm kê, và chùa cũng không tránh né việc kiểm kê theo luật định. Nguồn tin thiếu ý thức như vậy, nhà nước cần xử lý để tránh xáo trộn xã hội.

Trở lại vấn đề thông tư số 4 của Bộ Tài chánh: chương I quy dịnh chung, mục số 3. Thông tư này không điều chỉnh:

a)     Quản lý, thu chi tiền công đức, tài trợ  đối với cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo chưa được: chủ tịch UBND cấp tỉnh, Bộ trưởng bộ Văn hóa,thể thao và du lịch, hoặc Thủ tướng chính phủ cấp bằng xếp hạng di tích hoặc UBND cấp tỉnh đưa vào danh mục kiểm kê di tích của địa phương theo quy định của  Luật Di sản văn hóa.

b)    b) Quản lý, thu tiền công đức, tài trợ cho hoạt động Tôn giáo của tổ chức Tôn giáo, tổ chức Tôn giáo trực thuộc.

Tóm lại, 4 chương 18  điều chưa có điều khoản nào trực tiếp quản lý thùng công đức các chùa không thuộc di tích lịch sử. Có thể đây là bước đầu sau khi áp dụng thành công thông tư số 4.

Thử đặt vấn đề, nếu các chùa, cơ sở tôn giáo đặt dưới quyền kiểm soát của Bộ tài chánh như kiểm soát tài chánh, kinh tế thì sự việc sẽ như thế nào?

Một khi các trụ trì chỉ là ông từ giữ chùa ăn lương nhà nước, thế cũng tiện vì trụ trì khỏi phải trách nhiệm; nhưng chùa hư xuống cấp, liệu nhà nước tu sửa kịp thời hay phải đợi qua bao nhiêu ban bệ như một số di tích lịch sử đã phải chờ đến khi hư sập đổ nát ?.

Bao nhiêu chi phí cho cuộc sống hàng ngày nếu chùa có đông nhân khẩu, điện nước và bao việc phát sinh ai phải giải quyết.

Liệu quản lý thùng công đức được không, khi trụ trì nhận thù lao bên ngoài, ma chay đám tiệc từ gia chủ. Hoặc tín đồ cúng riêng cho chư Tăng mà không qua thùng công đức?

Ngoài phản ứng của chư Tăng trước việc quản lý thùng công đức, tín đồ sẽ phản ứng như thế nào khi họ gửi gắm đức tin vào chùa?

Sẽ còn bao nhiêu phức tạp phát sinh nếu bộ tài chánh chỉ nghĩ đến nguồn lợi trước mắt mà các cơ sở tín ngưỡng dân gian như núi Bà Đen Tây Ninh, chùa bà Châu đốc…đem lại.

Chùa là cơ sở tín ngưỡng không chỉ đáp ứng nhu cầu tâm linh cho quần chúng, mà còn là nơi tu tập cho những bậc có tâm xuất trần.Tạo hoang mang cho bậc chân tu sẽ có hậu quả khó lường.

Gần đây có những tu sĩ trẻ thiếu nhân cách, đã phô trương sự giàu có do bá tánh cúng dường Tam bảo,  làm khó chịu cho xã hội, đưa đến sự chú tâm của nhà nước. Nhưng đó chỉ là con sâu làm rầu nồi canh, không phải tuyệt đại đa số đều như thế. Những bậc chân tu rất cẩn trọng khi sử dụng đồng tiền của bá tánh, vì nhân quả không chừa một ai. Đạo Phật là đạo Nhân quả, kẻ lạm dụng của thường trụ không tránh khỏi nghiệp quả. Chỉ có người không tin nhân quả mới lạm quyền thùng công đức.

Giả dụ, nhà nước không trực tiếp quản lý thùng công đức, lập tam đầu chế gọi là ban quản trị, để dòm ngó lẫn nhau, có nghĩa không tin vào thầy trụ trì, vậy  xem nhà chùa phải chăng là một cơ sở kinh doanh?

Cơ sở kinh doanh do nhà nước quản lý đều thua lỗ, chả lẽ lập Ban quản trị nhà chùa có lời chăng?

Tóm lại, dù dưới hình thức nào thế tục xen vào Tam bảo đều không thể, trên hai ngàn năm có mặt trên đất nước này, nếu Phật giáo xảy ra như vậy, quả thật, biến Phật giáo thành thế tục đáng ghi vào sách kỷ lục thế giới.

Một văn  bản của Bộ tài chánh đưa ra thật tối nghĩa, rườm rà gây nhiều ngộ nhận.

MINH MẪN                                                                                                              24/7/2023

 

 

 

 

 

Thứ Tư, 5 tháng 7, 2023

HOA LÒNG

Vu Lan 1972


Trong căn phòng hẹp trên lầu một, hàng ngày là lớp học cho khóa sinh trường Huần Luyện Giảng sư do HT Huyền Vi đảm trách, hôm ấy Phật tử tổ chức cài hoa nhân mùa Vu Lan.

Văn nghệ vườn cũng do PT trình diễn, khán thính giả tòan là tín đồ chùa Phật Quang và Tăng sinh nội trú; tôi lẫn khuất đám đông về phòng nằm đọc sách, vì không thích huyên náo, vả lại, cứ mỗi độ Vu Lan về, gợi lại trong tôi niềm ray rức nội tại như dằn vật lẫn nhau !

Lần đầu tiên tôi dự lễ Vu Lan tại chùa Vạn Thọ, Tân Định, các em GĐPT do chị An hướng dẫn, thật cảm động khi từng bàn tay bé bỏng, hồn nhiên, dâng quà lên cho cha mẹ, chúc thọ mẹ cha. Với bài hát Bông Hồng Cài áo, bằng giọng non nớt thiếu điêu luyện đệm theo động tác dâng hoa; từng khay hoa lần lượt đi vòng những người tham dự; đến trước tôi, em thiếu nữ chắp tay nghiêng đầu hỏi:

= Bạch thầy, chọn hoa nào ạ ?

Tôi lưỡng lự phân vân mặc dù cũng đã chuẩn bị cho mình một câu trả lời, buổi lễ thật cảm động nên tôi hơi bối rối, - mình phải chọn hoa nào ư ? Màu nào cũng là hoa hồng cả, thế nhưng cha mẹ còn, không thể nhận màu trắng tang tóc ! Màu hồng ? không, vì đời tôi đã thiếu tình thương từ tấm bé. Khi lọt lòng mẹ, tôi phải sống với bà con nội ngoại;   Ở quê ngoại, ruộng đồng xứ Huế cằn cỗi, nghèo nàn thê lương đến độ con trâu cũng lòi xương mông xương sườn, con người má hóp da nhăn, trẻ con làm sao lớn khỏe được khi khoai lang, khoai mì khô là món ăn hàng bữa !Trong số anh em, tuy tôi con trưởng, nhưng không được một tình thương như bao đứa con ruột cần có; sau ngày đình chiến, tôi được trả lại gia đình.


Ba tôi là giám đốc ngân hàng nông thôn ở một quận lỵ đèo heo hút gió dọc quốc lộ duyên hải song song dãy Trường sơn, gia đình theo nề nếp phong kiến lạc hậu, mẹ tôi ảnh hưởng một phong cách cư xử cay nghiệt, độc tài đối với mọi người trong gia môn, ba tôi tuy nghiêm khắc nhưng nhu nhược trước mãnh hổ của mẹ tôi, hầu như ngoài bổn phận làm ra tiền, ba tôi không có quyền gì trong gia đình, quyết định chỗ ở, xin di chuyển công tác, đến việc nuôi con gà con heo, dời bàn đổi ghế, dọn bàn thờ đều do mẹ tôi chỉ định; bà con nội ngoại rất sợ mẹ tôi, họ thường bảo – tôi và mẹ tôi xung khắc tuổi,tôi chả tin lắm, nhưng mỗi lần về sống chung là đủ  chuyện xåy ra. Phần lớn mọi đổ bể hằn hộc trong gia đình đều trút lên đầu tôi, tôi thường bị văng miểng khi ba mẹ tôi bất hòa, bị đòn lây khi em tôi làm quấy; Cái  đánh đập dành cho tôi cũng là lối hình phạt quân sự. Năm lên bảy tuổi,tôi giữ đứa em gái một hai tuổi bị té, ba tôi sút một cú phạt  "đền", rất may, tôi chỉ văng đi vài thước mà không bị  va vào  trụ "golf" nào. Mỗi lần ăn đòn, mẹ tôi bắt nằm im, gần đủ 100 roi qui định mà la khóc hoặc nhúc nhích xuýt xoa là bỏ, đánh lại từ đầu. Trên đầu, vai, lưng tôi vẫn còn vết roi nứt da từ tấm bé, những bó roi mây luôn để sẵn trong nhà như những dụng cụ tra tấn vẫn ám ảnh trong tôi. Bao đêm trái gió trở trời làm đau nhức vết  thương bị những trận đòn chí tử, tôi chỉ biết rên khẻ, hai hàng nước mắt thấm khóe giữa canh khuya trên chiếc chỏng tre ở nhà bếp, thèm được bàn tay ai đó vuốt ve an ủi.Tôi tủi thân nhìn những đứa bé cùng lứa nhà kế bên được cha mẹ âu yếm. Các buổi học ít khi được liên tục, vì phải giữ em hoặc đi chợ; Đến trường, tôi nhặt từng mãnh giấy trắng học trò hoang phí để đóng thành tập, chép bài, mượn sách của bạn về tốï chép,  vì không có tiền mua; Thức thật khuya để cố gắng học cho kịp bạn hoặc viết lại những bài mà những buổi không được đến trường; Đột xuất đi xuống, bà nhìn thấy thức khuya, thế là củi đòn giáng vào đầu, bà la hét:- mầy phá của, hao dầu đèn của tao.Thỉnh thoảng tôi bị phạt đứng trên bảng đen hoặc quì gối vì không thuộc bài, thầy đâu hiểu vì tôi không có thì giờ để học. Ngay cả cái ăn tôi cũng không đủ no,  tôi chui vào góc cửa ngồi ăn, hết bát cơm mẹ đưa, nhìn ánh mắt mẹ, thế là tôi không dám xin thêm, đành đi rửa bát. Một hôm tôi thèm cái bánh tráng nướng phồng hấp dẫn, còn thêm cục mắm ruốt, món ăn phổ biến của người dân Phan Rí, 50 xu một cái chả đáng là bao nhưng không bao giờ tôi có tiền trong túi, đành liều, tôi mua chịu, mấy hôm sau, ngườii bán bánh đòi tiền mẹ tôi, thế là một trận đòn thừa chết thiếu sống, cộng thêm một ngày bỏ đói để bù lại cái bánh tráng và cục mắm ruốt ấy..

Bao nhiêu cái khắc khe đã un đúc tôi trở thành con người cứng rắn, khô khan. Nhiều lần thoát ly gia đình, tôi về lại nội, ngoại ở Hội An và Huế rồi cũng bị bắt lại.

Tuổi trẻ không thể sống thiếu tình người trong một không khí cô đặc, nặng nề luôn lo sợ bị đe dọa đánh đập hành hạ; Khi gia đình đổi vào Phan Thiết, tôi đi qua chiếc cầu sắt, nhìn xuống giòng nước xanh chảy ra biển, tôi thèm được gieo mình xuống để  thoát khỏi nổi u ám đau buồn, tôi viết thư tuyệt mệnh để lại gia đình bên cạnh bình sữa tôi vừa khuấy cho em lúc khuya, ra đến cầu sắt lúc 05 giờ  sáng, nhìn giòng nước mang ánh sáng hiu hắt từ  các ánh đèn xa xa bên kia sân ga tàu hỏa, tôi bổng chạnh lòng nhớ lại bầy em, nhớ người cha nghiêm khắc, nhớ người mẹ cay nghiệt, tôi qua lại mấy lượt trên cầu, cuối cùng đi thẳng về nhà ga, chui qua hàng rào để vào toa xe, trốn trong cầu tiêu mãi đến khi xe chuyển bánh, tôi chả biết xe về đâu, miễn là đi khỏi cái gia đình khủng khiếp ấy. Suốt thờii gian tàu vào đến Sài gòn, tôi nhịn đói, nhịn khát, nhưng trong lòng trãi rộng niềm phấn khởi nơi chân trời mới.

Tôi phấn đấu lắm mới học kịp bạn bè khi tuổi quá quy định, nhưng cũng chả được suông sẽ, không hoàn thành bất cứ lớp học nào, vi thế, bằng tiểu học cũng không có được.. Rồi nhân duyên đến, tôi yêu màu áo giải thoát. Thật sung sướng khi mặc vào người, cái áo Nhật bình bạc màu, chừa chóp tóc giữa đầu; cuộc sống hoàn toàn mới lạ, thanh thoát, nhẹ nhàn, bây giờ chung quanh tôi những người ăn nói rất hiền dịu, từ tốn, tôi không còn thấy tầm nhìn soi bói, đe dọa – cuộc sống như là bình đẳng; Ngày tháng như  thế lớn dần theo sự trưởng thành lòng nhân huân tập từ đạo giáo.


Tôi trãi qua mấy mươi mùa Vu Lan, chứng kiến nhiều lần hoa nở trên áo, cũng bao lần tôi xao xuyến u buồn nhớ về quá khứ…

Những đám đông,hội hè giải trí đều xa lạ đối với tôi. Do vậy, tôi rút khỏi lễ cài hoa tại Phật Quang năm xưa; bé Thanh, cô gái 18 tuổi, đã mang đến tận phòng cài lên áo tôi cành hoa trắng mà không hề hỏi sự lựa chọn của tôi; Vâng, bé Thanh đã nhường cánh hoa của cô ta, một cánh hoa u buồn mất mẹ,không phải trút nổi u buồn cho tôi, nhưng Thanh muốn chia xẻ niềm vui Vu Lan với tôi. Tôi cảm xúc im lặng, mắt ngó xuống – vẫn là cánh hoa mọi năm – 23 năm trước lễ Vu Lan của GĐPT chùa Vạn Thọ – tôi ấp úng trả lời câu hỏi nghiêm túc của thiếu nữ cài hoa năm xưa:

- Cho xin cả 2 màu trắng đỏ!

Hai cánh hoa cài lên ngực áo Nhật bình giữa sự kinh ngạc của mọi người – bàn tay người thiếu nữ ngần ngại ngỡ như nghe nhầm tôi nói –rồi 2 đóa hoa vẫn nở trong tôi.

Mọi người cười ầm cả lên như điều kỳ lạ; tôi cúi xuống nhìn màu hoa trắng đỏ – màu trắng trong hay màu tang tóc hồn tôi dành cho gia đình; Màu đỏ thắm tình hiếu tử hay vết thương còn đó của đời mình…

Thanh rút lui từ lúc nào,tôi vẫn tần ngần ngắm nhìn cánh hoa trắng đang ngự trị trong tôi. Trên phòng – buổi lễ vẫn huyên náo, càng vùi sâu hồn cô lữ trong không gian u tịch riêng lẻ.

Vâng, tôi xin chọn tất cả, bởi vì máu thịt này, thân thể này, bàn tay này vẫn do cha mẹ sinh ra !


 VU LAN  1972

   MINH MẪN

 

 

 

Thứ Bảy, 1 tháng 7, 2023

MỘT CHẶNG ĐƯỜNG


Nếu bảo đời người là trăm năm, thì 25 năm đúng một phần tư thế kỷ. Nếu đời người 60 năm thì 25 năm non phân nửa, như thoáng chớp ngoài song!

Có nhìn lại mới thấy giấc ngủ đời người chưa no con mắt, thế mà bon chen cuộc thế trãi thảm đau thương.Sân khấu đời người là vậy, nhưng đâu phải ai cũng vậy.Ai từng tỉnh giấc Nam Kha mới tạo cho mình vỏ kén an thân, nương tựa chính ốc đảo tự thân tìm lần tánh giác, một bộ phận quá ít so với gần 7 tỷ người tràn đầy nghiệp lực áp lực nặng nề trên tinh cầu nhiều biến động.

Cũng có một bộ phận xây dựng niềm vui riêng, hoặc thanh cao, hoặc ô trọc cho quên đi kiếp dã tràng xe cát.Dĩ nhiên kiếp ô trọc lầm lủi như động vật đi vào bóng đêm, ngày mai chỉ là canh bạc, chung rượu…hôm nay. Một bộ phận nào đó gửi niềm tin lên đấng tối cao, cao bằng ý thức ngưỡng vọng. Một bộ phận phục vụ nhân sinh bằng kỷ thuật thực dụng, bằng khoa học vật lý; cũng không ít nhóm người thi vị hóa cuộc sống qua thơ văn, bút pháp, dẫu biết rằng hư hư thực thực vẫn làm như thực giữa cõi hư hư; đó là lối trốn chạy tao nhã. Nếu nghệ thuật văn hóa lồng vào văn hóa tôn giáo, văn hóa tín ngưỡng, lại là chắp cánh bềnh bồng vào lãnh vực thực thực hư hư!

Biết là hư hư, vẫn xây dựng hư hư làm thực thực cho đôi chân dẫm vào nghệ thuật thăng hoa cuộc sống.Ôi, cao nguyên nghìn trùng đất đỏ Lâm viên nuôi dưỡng những khối óc  sâu sắc, tư tưởng thanh tao từ dòng người trôi giạt, đeo theo đức tin kiên cố.Chọn bạt ngàn khí lạnh cho Buôn Ma nở hoa, một loại hoa không sắc lại có hương. 25 năm tồn tại giữa cao nguyên thiếu thốn như loài hoa mọc trên đá chênh vênh vẫn cố cho ra một sắc màu tươi nhuận, vẫn cố sống bằng dưỡng chất tình người.

Nhập thể vào hoa rừng mới cảm nhận sức sống kỳ diệu của rừng hoa,khác với hoa rừng, hoa Vô Ưu mãnh liệt với thời gian không như mỏng manh sớm nở chiều tàn. 25 năm cung cấp hương vị đa dạng với chất liệu thanh cao, hơi thở trong lành khỏe mạnh tung đi khắp nơi như dưỡng khí miễn phí. Giá trị như thế không đơn giản để tồn tại như thế. Anh em trong Ban biên tập đã trăn trở từng đêm cho mỗi kỳ báo; đầu tư não trạng nhiều hơn đi tìm chi phí in ấn.

Thấp thoáng hình bóng của những mạnh thường quân hỗ trợ ấn phí cũng như bao  tiêu, Trời sinh ra Huyền Lan sao còn sinh ra Vô Ưu để gắn vào nhau như một linh kiện cho Vô Ưu tồn tại. Sao quên được ngày nào anh Tạ Nam Trân, anh Lê Tất Sỹ xuống tận Sài gòn gõ cửa từng chùa khi Vô Ưu cụt vốn. Không cụt vốn sao được Mỹ An gặp nợ khó đòi.Người đòi nợ lắm khi vừa lái xe vừa lót dạ khoai sắn, bánh xôi…để rồi lại thui thủi ra về như người thất…Bấy giờ cái lạnh cao nguyên chưa bằng cái lạnh xót xa của anh em đối diện với tương lai của báo nhà.

Dù một phần tư đời người hay gần phân nửa kiếp sống, sự có mặt và tồn tại của Vô Ưu phải kể tuổi thọ đáng nói trong làng báo tự lập.Ơn nặng đọc giả, nghĩa nặng thầy trò Phước Hoa Long Thành, tình nặng cần mẫn của anh em Ban biên tập,trân quý những cây bút cho hương sắc đa dạng, nay được TT Giác Phổ kề vai gánh bớt một phần sức nặng, bấy nhiêu đủ cho Vô Ưu hãnh diện với thời gian, và dĩ nhiên, sự tồn tại của Vô Ưu không thể tính bằng thời gian mà tính bằng tình cảm những người đã dành cho sắc hương xứng với tên Vô Ưu của Phật giáo.

Một sân chơi lành mạnh tao nhã cho những cây bút yêu nghề, một mãnh vườn tiếp nhận mọi tình cảm cho Vô Ưu tồn tại, một công việc miệt mài của anh em điều tiết nội dung..ôi 25 năm xứng đáng cho bao tấm lòng hào hiệp.

Kỷ niệm sinh nhật 25 năm góp gió muôn phương cho ra hương sắc trân quý là việc đáng tôn vinh.

MINH MẪN

PL 2566 -  DL 2023

Thứ Bảy, 3 tháng 6, 2023

LẠI LÀ VẤN ĐỀ


PHẬT ĐẢN năm nay khởi sắc, từ Nam chí Bắc các tỉnh thành đều chưng bày xe hoa, tại Sài gòn, nhiều quận huyện cũng làm xe hoa và đi diễu hành với hàng loạt xe bốn bánh, hai bánh, cờ ngủ sắc tung bay như trăm hoa đua nở.

Trong khi đó, một số vùng quê nghèo, không có chư Tăng, phật tử vẫn tự động tổ chức lễ đài tắm Phật, cờ hoa trang nghiêm, đặc biệt vùng cao như Buôn ma Thuộc, cộng đồng sắc tộc cũng tham gia như mọi năm, vẫn lễ bái, vẫn tắm Phật, vẫn tụng kinh khá thuần thục.

Được biết vùng Hà Tỉnh, một vài nơi chùa quê rất nghèo, không có Tăng ni trụ xứ, thế mà Phật tử vẫn cố thực hiện nghi lễ mừng đản sanh.Trưởng nhóm Đạo tràng tuyên đọc Thông điệp Phật đản của Giáo hội cho tín đồ am hiểu,thế mà BTS PG Thành phố ngăn cấm với lý do chùa chùa cổ chưa được chính quyền công nhận.Nghi lễ Tôn giáo không tùy thuộc vào cơ chế hành chánh; chính quyền không ngăn cấm chùa sinh hoạt thì tại sao Thành hội lại ngăn cấm? Hiến chương không quy định Phật tử không có quyền đọc Thông điệp, chính quyền không cản trở chùa tổ chức mừng Khánh đản. Giới Tăng lữ một số nơi cứ nghĩ quyền lãnh đạo nắm trong tay, có quyền “xin cho” theo bản năng mà không nghĩ đến quyền “đức tin” của tín đồ, không lãnh đạo theo Hiến chương, không biết đến tiền đồ Phật giáo trong xã hội mà có nhiều Tôn giáo bạn đang phát triển. Đáng ra, những chùa quê nghèo thiếu mọi phương tiện vật chất, Thành hội không bổ cử Tăng ni về trụ xứ để hướng dẫn tín đồ tu tập, thì ít ra cũng hướng dẫn và khích lệ phật tử giàu tâm Đạo. Năm 1997,  mùa Đản sinh cũng từng xảy ra những điều không nên có một vài nơi do tính cửa quyền của giới lãnh đạo Phật giáo địa phương.Tính bất nhất phải chăng do hệ thống thiếu thống nhất?

Nghe đâu cũng từ vùng ngoài đó, lễ lạc thành và Đản sanh, các vị Đại Đức đứng ra tuyên đọc Thông điệp trong khi mấy Thượng Tọa ngồi nghe.Nếu là diễn văn khai mạc lễ lạc thành thì trụ trì (cho dù là Đại đức) có quyền tuyên đọc. Nhưng Thông Điệp, vị giáo phẩm cao nhất đang có mặt, phải là người tuyên đọc Thông điệp, đó là nguyên tắc hành chánh.

Thời nay, một số vị chưa phân biệt thế nào thuộc hành chánh, cái nào thuộc lãnh vực Tôn giáo nên thường xảy ra thượng hạ bất phân.Ngày xưa, vào những thế kỷ trước, chùa thuần về tu tập, hành chánh chưa xen vào Tôn giáo, nên lễ bái thuần về tín ngưỡng.Một khi hòa nhập vào thời đại mới, tổ chức Tôn giáo cũng phải hệ thống hóa tương hợp với xã hội đương đại.Giáo hội ra đời từ 1981 đến nay đã trên dưới 50 mà một số BTS địa phương vẫn “trống đánh xuôi kèn thổi ngược”.

Bao giờ chư Tăng một số địa phương, nhất là những vùng có các Tôn giáo bạn đang nỗ lực phất triển, vẫn còn ngủ quền trên quyền lực và quyền lợi, chẳng lạ gì theo thống kê, tín đồ Phật giáo giảm sút thảm hại hàng năm!

MINH MẪN

01/6/2023

P.l 2567

 

 

 

Thứ Hai, 22 tháng 5, 2023

PHẬT NGỰ TRONG TA


365 Ngày thoáng như giấc mộng, ngày Đản sanh của đức Từ phụ cũng chạy đua với thời gian, nhất là những tín đồ thuần thục, ngày nào các U còn bỡ ngỡ thiết kế lễ đài lần đầu nơi vùng quê chưa có Tăng ni hướng dẫn, giờ đây tràn đầy kinh nghiệm.

Hải Dương, một tỉnh cách Hà Nội trên dưới 100km,tại thôn nghèo Kinh Dương,huyện Bình Giang, phật tử Hà Nội như:Tuệ Hiền, Diệu Hoa, Phúc Tâm, Diệu Hiền,Tinh Phủ,Minh Vỹ,Tịnh Hương,Diệu Liên…đệ tử của Thiền viện Trúc Lâm Sùng Phúc Phúc kết hợp một số Phật tử các nơi kéo về vùng quê để đem ánh sáng Phật pháp, lần đầu tiên, bà con nơi đây mới biết thế nào là Phật đản.

Các U trên 60 trèo cao để treo cờ, căng bạt.Từ Nam gửi ra cúng  tượng sơ sanh; lần đầu tiên ấy, đã gieo hạt giống tín ngưỡng vào lòng người chân lấm tay bùn chưa bao giờ nghe đến hai chữ Đản sanh!

Phật Đản 2567  lại về trên quê hương, trong khi các nơi chỉ chuẩn bị thiết trí lễ đài, xã Thái Dương, nhà chị Đỗ thị Thiêm, Pd Chơn Phúc Tâm, các U đã hoàn thành trang nghiêm nơi “mộc dục”. Năm nay được sư cô Huệ Tín trụ trì chùa Phúc Chủ cùng địa phương về làm lễ hôm 3/4  âm lịch, thêm một niềm vui cho bà con trong xã.

Các tỉnh phía Bắc do Phật tử chủ động thiết trí đón mừng Từ phụ ra đời như Hải Dương thật hy hữu. Tỉnh thành nào cũng được như Hải Dương, Phật giáo chả mấy khi trăm hoa đua nở.

Phật giáo không chú trọng hình tướng, nhưng quần chúng cũng phải cần hình tướng để xác định niềm tin Tam bảo. Đối với những bậc chọn con đường xuất thế thì hình tướng đôi khi chướng ngại đường tu, nhưng tín đồ là thành phần nhập thế để đem đạo vào đời, hình tướng trở thành phương tiện ắt cần phải có.

Những chị em phật tử thiền viện Sùng Đức đã đem ánh sáng Phật pháp cho bà con xa đô thị, hạnh nguyện này có lẽ sẽ được tiếp nối đến những vùng xa xôi khác mà nhóm chị em là hạt giống gieo mầm, cũng sẽ là tấm gương “Đại chúng hóa Phật đản” trên toàn quốc.

Chư Tăng cần khuyến khích Phật tử giúp một tay để triển khai không những mùa Phật Đản mà còn những đại lễ trong năm cho nguồn sống Phật pháp được khởi sắc. Phật giáo du nhập vào đất nước ta khá lâu, qua 4 thế kỷ Đinh, Lê, Lý, Trần thấm sâu vào dân tộc, thời gian còn lại như hạt mầm chìm sâu vào quê hương. Ngày nay, tuy chùa chiền phát triển về cơ sở vật chất, nhưng tinh túy nuôi dưỡng linh hồn dân tộc đã mờ nhạt. Giáo hội đã hoàn chỉnh cơ cấu tổ chức về hành chánh, nặng về hình thức mà bỏ quên nội chất.

Phật đản 2567 trở về trên quê hương, cần có một kích thích tố khởi sắc cho mọi miền như sự khởi sắc tại Hải Dương. Các chị, các U năng động tự bảo nhau, sau khi hoàn thành tâm nguyện, đứng nhìn thành quả rồi tự nhìn nhau mỉm cười mãn nguyện.Năm nay được thêm hai thanh niên tham gia đứng nhìn các bà các chị hớn hở, mồ hôi thấm đẫm.Lần đầu tiên họ cầm gáo tắm bảo tượng như còn ngượng ngập. Những chị còn lại sau khi tắm Phật, lo chế biến thức ăn, , vui hưởng cùng nhau một mùa Đản sanh tràn đầy hoan hỷ. Họ ngồi lại cùng bàn chuyện 365 ngày sau đáo hạn.

Thế mới biết Phật ngự trong ta, vì mọi chúng sanh đều có Phật tánh!

MINH MẪN

 Phật lịch 2567 - 05/4 Quý Mão – 22/5/2023

















Thứ Bảy, 13 tháng 5, 2023

TUYÊN NGÔN NHÂN PHẨM


Trong xã hội con người, từ thời xa xưa, dân trí còn thấp kém, giá trị con người được định đoạt bởi quyền cai trị của mỗi quốc gia, từ đó có những hà khắc và nhân phẩm không được tôn trọng. Thế quyền đã vậy, một số Tôn giáo cũng xem quyền lực lãnh đạo là quyền tối thượng, là chân lý; con người trở thành vật hy sinh khi không đồng quan điểm của giáo phái. Điều này hiển nhiên trong suốt quá trình xung đột Tôn giáo với Tôn giáo; quyền tự do con người bị chà đạp, bạo hành khi con người đi ngược lại quan điểm của Giáo hội, mới có thảm án với nhà thiên văn học Galileo, và Bruno, trước Tuyên Ngôn Nhân quyền ra đời 400 năm. ( Người là một tu sĩ dòng Đa Minhnhà triết học, nhà toán học và nhà thiên văn học người Ý. Bruno cho rằng các ngôi sao chỉ là các mặt trời bên ngoài Thái dương hệ và có các hành tinh của chúng xoay quanh, và có khả năng rằng tại các hành tinh này có thể hình thành sự sống. Ông cũng khẳng định rằng vũ trụ là bao la vô tận và do vậy không có thiên thể nào là "trung tâm".Do quan điểm trái với Giáo hội La mã, Bruno bắt đầu bị Tòa án dị giao Roma thiêu sống, dưới sự chủ trì của Hồng y Bellamino, do việc chối bỏ một số giáo lý Công giáo nền tảng

Suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm, con người phải chịu thống khổ bởi đạo luật khắc khe của giới thống trị, vì thế, năm 1948, TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN ra đời để bảo vệ quyền làm người, nhân phẩm và quyền lợi được minh định theo pháp luật, được giải thoát khỏi sự sợ hãi và khốn cùng…

                                                     ***

Tại phương Đông, lấy con người làm tâm điểm để giải quyết cuộc sống. Đưa con người thăng hoa, hòa nhập với vũ trụ, theo học thuyết Ba La Môn, con người là một phần của vũ trụ, tiểu ngã cần trở về với Đại ngã (Đại ngã là đấng sáng tạo). Đạo gia Trung Hoa thời cổ đại quan niệm Đạo gia chủ trương "Thuận theo tự nhiên", trái ngược với tư tưởng Pháp gia là dùng pháp trị dân;xuất phát từ tư tưởng Đạo giáo của Lão Trang, Đạo giáo chủ trương tâm thái bình thản trước việc sống chết.Ngoài ra có một pháp hành gọi là Tiên đạo,lấy âm dương ngũ hành, thủy hỏa ký tế làm căn bản để luyện đan, giúp hành giả tiến vào cảnh giới Thần tiên khi đắc pháp.

Riêng Phật giáo, lấy con người làm đối tượng để giải quyết mọi mâu thuẩn từ xã hội đến nhân thân; xác định con người là tối quan trọng. “Tam điểm như tinh tượng – hoành câu tợ nguyệt tà – phi mao tùng thử đắc – Tố Phật dã do tha”. Chữ Tâm hàm tàng mọi khả năng mang lông đội sừng,hay thành Phật.Giá trị nhân cách và nhân phẩm được Thái Tử Sĩ Đạt Đa xác quyết trên trời dưới Trời, chỉ có con người là trân quý nhất:

 “Thiên thượng Thiên     hạ                                                                                         Duy ngã          độc    tôn                                                                                                     Nhất thiết          chúng          sanh”                                                                                               Giai hữu Phật tánh

(trong bộ kinh Trường A Hàm quyển một phẩm Sơ Đại Bản Duyên và kinh Đại Bản thuộc Trường Bộ). Kinh Đại Bát Niết Bàn ngài xác định Ngã là Như Lai Tạng, không phải bản ngã chứa đầy tục lụy ngã chấp này.

Như vậy cho thấy Đạo Phật là Tôn giáo duy nhất đề cao phẩm chất con người, không những lấy con người làm đối tượng xây dựng xã hội, trách nhiệm gia đình, tôn ty giai cấp mà còn đưa con người đến giai tầng cực thiện, giải thoát.

Do sự xác quyết về nhân cách, khả năng của con người, lời tuyên bố khi vừa sanh ra đã mang một giá trị như một TUYÊN NGÔN NHÂN PHẨM của mọi thời đại.

(Nhân mùa Đản sanh 2567)

MINH-MẪN                                                                                                                              13/5/23