Chủ Nhật, 10 tháng 7, 2011

CON ĐUỜNG ĐÃ CHỌN


Sáng 09/7/2011, Đức Đạt Lai Lat Ma đến sân cỏ truớc toà nhà Quốc Hội Mỹ lúc 10.30 để nói chuyện với luợng số quần chúng gần 30 nghìn nguời.

Nắng và nóng ở nhiệt độ 38, thế mà nguời Mỹ vẫn thản nhiên ngồi chờ từ sáng sớm.. Không bóng cây, không ô bạt. Ai đến sớm, đuợc vào trong khuôn viên rộng hơn một hecta. Bên ngoài là vòng rào luới nhựa và an ninh, một khoản cách 5m, là đuờng đi và lối thoát hiểm, có thêm một vòng rào nữa, sau hàng rào đó là những thính chúng đến muộn vì không còn chỗ vào, họ ngồi đứng quanh khu vực gần toà nhà Quôc hội. Bên ngoài đuờng xe, cũng lô nhô bóng nguời thèm muốn đuợc vào bên trong; ngoài vòng cuối cùng là an ninh mặc đồ đen, xe cứu thuơng, xe cảnh sát túc trực. Tại sân khấu, lực luợng an ninh đứng như trời trồng thì ngoài tuợng đài vòng xoay giao lộ, mô tô an ninh chạy quanh như diễu hành. Bên kia đuờng là dãy nhà thùng vệ sinh di động gần 100 cái không đủ giải quyết cho hàng vạn nguời có mặt. Âm thanh lộ thiên đủ cho nguời ở xa 200m nghe, nhưng màn hình rộng chỉ những nguời ở tầm 150m mới nhìn thấy. Trong thời gian gần 5 tiếng chờ đợi Đức Đat Lai Lạt Ma xuất hiện, nữ Mc nguời da đen tỏ ra linh hoạt và chuyên nghiệp làm cho hiện truờng nóng lên từng tràng vỗ tay tán thuởng. Nghệ sĩ Tây Tạng với điệu múa và trang phục truyền thống cũng đem lại cho quần chúng những thư giản cần thiết và cảm thông. Mục đơn ca của nguời Tạng còn mang âm huởng lai Tàu. Tất cả những tiết tấu, sắc màu y phục và âm ngữ chưa xoá nhòa nét văn hoá của tộc Tạng, một sắc dân thiểu số sống trên cao nguyên Hy Mã, gần với thiên nhiên cổ đại mà một thời, nền văn minh khoa học như cái gì lạ lẫm bị họ chối từ. Nhưng nền văn hoá đó đã gây sự lưu tâm của nhân loại ngày nay. Họ tiến bộ y học, có cả bệnh viện do các Tu sĩ thời xa xưa đảm trách, họ có thể mổ xẻ lúc bấy giờ, tuyệt nhiên họ không dùng Tây duợc như ngày nay. Họ có một đức tin kiên cố và một nền giáo dục đặc thù. Các tu viện đào tạo ra nhiều Lạt Ma uyên bác. Các Đạt Lai Lạt Ma thứ 2, thứ ba, thứ tư đến thứ năm đều đuợc xuất thân từ phái Cách Lỗ tại Triết Bang tự; Nơi đây, vừa là tu viện, vừa là học viện từng chứa 15 ngàn tu sĩ vào thế kỷ thứ 15.
Tibet là quốc gia rộng gầp 4 lần Việt Nam, dân số trên một triệu vào kỷ nguyên 15, hiện nay do bị Trung quốc đưa 7 triệu dân tộc Hán xen tạp và đồng hoá Tây Tạng, tộc Tạng hiện nay 6 triệu nguời, chưa kể 150 ngàn nguời lưu vong.. Một đất nuớc nằm ở độ cao gần 5 ngàn km so với mặt biển, Tibet ở Trung Á giáp Ấn Độ, Bhutan, Miến điện và Trung quốc. Một địa linh đã thu hút du khách thế giới. Có những địa danh như nuí thiêng Kailash, hồ thiêng Yamdrok, các chùa và cung điện nổi tiếng như Potala, Đại Chiêu tự. Xa xưa, Tây Tạng có trên 20 ngàn ngôi chùa, khi Trung Cộng thôn tính Tây Tạng, hơn 10 ngàn ngội bị phá huỷ , hàng triệu Tu sĩ và tín đồ bị giam cầm, sát hại. Đức Đạt Lai Lạt Ma 14 đã vuợt khỏi Tây Tạng khi Trung Quốc xâm lăng năm 1959, Ngài cùng một số Tăng sĩ và tín đồ đuợc chính phủ Ấn dành cho một vùng giáp Hy mã Lạp Sơn lập thủ phủ, tu viện, và chính phủ lưu vong đuợc gọi là Dharamshala, nằm phiá Bắc Ấn.
Phật giáo giúp cho Tây Tạng một nhân cách ôn hoà, quảng đại, và văn minh tâm linh, vì thế họ không trang bị vũ lực, quân Anh và Trung Cộng đã dễ dàng quấy nhiễu, thôn tính họ. Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 nhiếp chính thế quyền vào lúc Thế chiến thứ nhất bùng nổ, Trung quốc nội chiến, Anh Quốc bị chi phối chiến sự, vì thế Đạt Lai Lạt Ma không gặp sự khó khăn ngăn trở. Từ truyền thống đó, Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 kế thừa cả thế quyền lẫn giáo quyền, đuợc gọi là nhà lãnh đạo tinh thần cho dân tộc Tạng Chính quyền lưu vong đuợc tái lập, cũng từ Dharamshala, tu viện và học viện Phật giáo đuợc tiếp tục đào tạo các Lạt Ma và các giòng mật Pháp Kim Cang thừa..

Năm 2010, Đức Đạt Lai Lạt Ma tuyên bố từ nhiệm thế quyền và không tái sanh nữa. Đây là quyết định khó khăn, Ngài trăn trở nhiều năm khi đưa ra quyết định nầy. Chính quyền lưu vong cũng bàn thảo rất nhiều để đủ can đảm vuợt qua mọi xúc cảm tràn đầy nuớc mắt mà nhân dân đã dành cho Ngài. Tuy Ngài lưu vong trên 50 năm, nguời dân và Tăng sĩ trong nuớc vẫn huớng về Ngài , cho dù Trung Cộng lập lên một Ban Thiền Lạt Ma mới. Qua thời gian hơn nửa thế kỷ kêu gọi cho một Tây Tạng tự trị bất thành, nhận thấy rằng tuổi trẻ Tây Tạng lưu vong đủ khả năng về kiến thức và chính trị kế thừa Ngài. Để đoàn kết trong cộng đồng Tây Tạng giữa giới ôn hoà và tuổi trẻ năng động bất khuất hỗ trợ chính quyền lưu vong dễ dàng làm việc. Và về tâm linh tín nguỡng, Ngài cũng đã chọn đuợc môt vị kế thừa thứ 15; Do đó, trong bất cứ cuộc gặp gỡ nào, từ công cộng đến nghị truờng, từ nội bộ đến quốc tế, Ngài đều khẳng định việc rút lui chính truờng và lãnh đạo tinh thần là cần thiết, có nghĩa hiện tình chính trị đã thay đổi.

Ngài là một nhà lãnh đạo tôn giáo giành đuợc cảm tình hầu hết của nhân loại. Rất nhiều lần đuợc chính phủ Hoa Kỳ tiếp kiến và các chính khách thế giới trân trọng. Ngài trân quý kiến thức khoa học song song với lãnh vực tâm linh và hài hoà với mọi tôn giáo. Ngài dung hóa và giản dị. Tuy ngôi vị nguyên thủ của một quốc gia, Ngài vẫn có phong cách của một nguời chân lấm tay bùn; vì thế Ngài đã giữ đuợc tình cảm tuyệt đối của đại đa số. Ngài chinh phục nhân loại không bằng cuơng vị nguyên thủ hay một chức sắc tôn giáo mà đã chinh phục bằng trái tim thuơng yêu của một bậc hoá thân. Đó là hành trạng của một vị Bồ Tát.

Suốt 11 ngày sinh hoạt tôn giáo tại Washington DC là suốt 11 ngày làm việc liên tục của Ngài, ngày nào cũng cầu nguyện hoà bình cho thế giới, tiếp xúc , nói chuyện với các cấp thẩm quyền và thành tâm trong pháp nghi để chuẩn bị cho một Pháp hội quan trọng – đó là lễ Quán Đảnh Kalachakra. Một Pháp hội 10 năm diễn ra một lần cho lễ Quán Đảnh. Đây là lễ Quán Đảnh truyền qua Mạn Đà La, mà Mạn Đà La quan trọng tối thuợng là Mạn Đà La hình thành bởi cát màu đuợc tịnh hoá bởi năng lực vi diệu của các Lạt Ma. Có loại Mạn Đà La bằng gấm do hoạ sĩ vẽ thì chỉ là Mạn Đà La mà không thể là Kalachakra. Ngày 13 đến ngày 16/7 là ngày khởi sự chuyên sâu vào mật pháp, có nguời nghĩ rằng đây là lễ Quán đảnh cuối cùng do Đức Đạt Lai Lạt Ma truyền trao, vì 10 năm sau mới tái hiện như thế.

Tất cả những gì Ngài chọn, tất cả cả những gì Ngài làm và tất cả những gì Ngài nói đều là hành hoạt của một vị Thánh, của một vị Phật. Chính vì thế Con Đuờng Ngài đã chọn truớc tình thế mới của nhân loại ngày nay là điều tất yếu báo hiệu cái gì đến sẽ đến. Những ai hữu duyên thọ nhận pháp Quán đảnh trên xứ sở tự do nầy là món quà vô giá của đời minh, hãy trân quý và tinh tấn trên con đuờng giải thoát tâm linh.


MINH MẪN
09/7/2011

Thứ Sáu, 8 tháng 7, 2011

KALACHAKRA VÀ NGÀY SINH NHẬT


Pháp hội diễn ra tại Nation’s Capital thuộc Thủ Đô Washington DC; một hội trường chứa khoảng 14 ngàn người, bán ra 12 ngàn vé, chư Tăng Ni 800 vị và còn lại là khách mời.
Trước đó hai hôm, chư Tăng Tibet tự trang hoàng pháp hội, các công đoạn khác như thực phẩm suốt thời gian của lễ, cúng dường hoa trái, in bảng tên và những văn bản, sách quảng cáo…đều do người Việt tại Washington hỗ trợ, vì cộng đồng Tibet tại Thủ đô rất ít.
Thông lệ sinh hoạt tại Mỹ, thường từ 9, 10 giờ sáng, nhưng buổi lễ đã diễn ra rất sớm, vì thế, 6g hội trường đã mở cửa, các khâu làm việc khá nhịp nhàng và an ninh cũng không đơn giản, mà cũng không làm cho khách tham dự khó chịu. tất cả đều nhã nhặn lịch sự. Một số chư Tăng và quan khách trú tại khách sạn, chùa hoặc tại nhà cư sĩ. Vùng ngoại ô vào thành phố thường kẹt xe, vì thế phần lớn người tham dự đều đáp Metro, đường ngầm xuyên phố thị và sông Potomac để đến Thủ Đô.
Hội trường là vòng tròn khép kín có nhiều cửa hướng ra các ngã đường khác nhau trong Thành phố. Ở hội trường gồm nhiều tầng lầu và nhiều màn hình rộng giúp cho khán giả cách xa lễ đài chính hơn 50m vẫn thấy rõ hoạt cảnh của Pháp hội. Trên lễ đài, từ rất sớm, Đức Đạt Lai Lạt Ma cùng chư Tăng Kinh sư Tibet đã làm lễ Tịnh thổ rất nghiêm trang, thành khẩn. Sau đó, một thời Pháp ngắn do Đức Đạt Lai Lat Ma thuyết giảng mang nhiều ý nghĩa về tôn giáo, đạo đức chính trị và xã hội của con người. 10 đến 12g là lễ chúc mừng sinh nhật lần thứ 76 của Ngài. Trong buổi lễ có sự hiện diện của người cháu Thánh Gandhi và người con của cố Mục sư là Martin Luther king III, đều là những nhân vật đại biểu cho tinh thần đấu tranh bất bạo động và đều bị ám sát dưới bàn tay cực đoan bạo động. Trong phần chúc mừng Khánh tuế của Ngài trước khi các đoàn đại biểu đến mừng thượng thọ và lễ Ngài, đoàn đồng ấu với nhạc cụ truyền thống Tây Tạng trổi lên như gợi nhớ một vùng đất xa xăm trên cao nguyên Hy Mã xa xưa mà Ngài từng sanh trưởng nơi đó. Hơn chục em hát mừng, nhưng gương mặt vẫn không biểu lộ được nét hân hoan của tuổi trẻ đối diện với nhà lãnh đạo tinh thần đáng kính của họ, tương phản với người phụ nữ âu Mỹ chỉ huy hợp xướng tỏ ra năng động hưng phấn. Tuy ngắn gọn nhưng xúc động làm cho gương mặt hồn nhiên thánh thiện của Đức Đạt Lai Lạt Ma có nét trầm tư. Sau đó, gồm nhiều quốc gia khác nhau, trong đó, đặc biệt làm cho mọi người thấm lệ khi MC giới thiệu đoàn Việt Nam và đoàn Tibet, tiếng vổ tay và tiếng la vang dội. Người ta nhìn thấy được nét ưu ái của Ngài khi người phụ nữ Việt Nam chắp tay phủ phục trước mặt. Cầm tay đại biểu Việt Nam, Người nhìn thẳng như ban phúc lành và chia xẻ sự cảm thông. Chiếc khăn trắng choàng qua đầu ba phụ nữ Việt trong làn sóng vổ tay nhiệt liệt. Tín đồ Tibet trang phục truyền thống có lẽ đến từ Ấn độ, Ngài vui vẻ sờ lên chiếc kẹp mào gà trên tóc của họ, cả hội trường cười ồ thích thú. Vốn tính hài hước, Ngài luôn làm khán giả nhộn nhã. Trong lúc nầy, các tín đồ của Ngài khắp nơi đổ về với nhiều sắc phục đặc thù, mang âm hưởng vùng cao nguyên và tiếng nói của một dân tộc lưu vong. Trong lúc Ngài và đồng bào của Ngài hiện diện trên đất nước tự do thì còn bao nhiêu Tăng sĩ và con dân của Ngài đang nằm trong lao ngục đói lạnh, chịu nhiều cực hình của địa ngục trần gian tại quê hương mình, vì vậy hàng năm đều có lễ cầu nguyện hòa bình cho tinh cầu nầy đừng còn chiến tranh, thiên tai và khổ đau. Chư Tăng Tibet tuy đi đứng có vẻ tự tại nhưng tự thân các vị đã được thuần thục trong môi trường giáo dục tu viện khá nghiêm khắc. Ngày nay, Tibet đã được mọi người biết đến nhờ uy danh của Đức Đạt Lai Lạt Ma, pháp tu của Kim Cang Thừa cũng đã có chỗ đứng trong thế giới Âu Châu và Âu Mỹ.
Đến phần phát biểu của quan khách tham dự, không phải bằng ngôn ngữ ngoại giao mà với cả tấm lòng và sự tôn kính dành cho Ngài, cháu ba đời của Thánh Gandhi cũng như con Mục sư Martin Luther King ca ngợi Ngài và chia xẻ nỗi khó khăn của Tibet. Đặc biệt, có tiếng nói của một Giám Mục Anh giáo Desmond TUTU Nam Phi, một câu noi nổi tiếng về Kito giáo: “ khi họ đến họ có cuốn kinh Thánh, chúng tôi có đất đai, họ bảo chúng tôi nhắm mắt cầu nguyện, mở mắt ra, chúng tôi có cuốn kinh Thánh, họ có đất đai”Hơn 5p phát chiếu lời của Giám Mục, cả hội trường chia xẻ cảm thông niềm bất hạnh của kẻ bị trị. Vẫn giọng hài hước của Đức Đạt Lai Lat Ma, Ngài đáp từ trước những tấm lòng và sự ưu ái của các quan khách cũng như những Thiện nguyện viên tổ chức cho cuộc đại lễ cầu nguyện hòa bình và Mừng sinh nhật của Người. Ngài không quên nhắc nhở mọi người về mọi khía cạnh chính trị, văn hóa, kinh tế phải được xây dựng trên nền tảng đạo đức tâm linh.
Tất cả hội trường, không ai bảo ai, tự động đứng lên khi Ngài đến cũng như lúc đi, bằng cả tôn kính tự đáy lòng. Sau khi chấm dứt nghi lễ buổi sáng, từ 12.30 đến 1.30 dành cho bữa ăn trưa. Ngài cùng chư Tăng tiếp tục cầu nguyện, trong buổi lễ, nghi thức Kim Cang thừa , chư tôn đức tẩy tịnh thân tâm và thế giới rất ư chí thành. Những nghi lễ như thế, nếu là Việt Nam, Hòa Thượng chủ sám chỉ niêm hương chứng minh rồi lui về hậu liêu an nghỉ, riêng đây, Đức Đạt Lai Lạt Ma cùng với ban Kinh sư hành lễ suốt 10 ngày, mỗi ngày hai thời, kể cả giảng pháp mà không tỏ ra mỏi mệt với tuổi 76.
Phải chăng, tính giản dị, bình đẳng, hài hòa, tinh tế và hồn nhiên của Người đã chiếm lĩnh trái tim của đại bộ phận nhân loại trên hành tinh nầy ngoại trừ ma chướng?
Ngài có công lớn đem Phật giáo vào thế giới phương Tây, mang lai hòa hợp giữa các tôn giáo, trồng cây Bồ Đề ở vị trí tương xứng với nhân loại ngày nay. Một Tibet nhỏ bé, nghèo nàn nhưng có một nhân cách vĩ đại thể hiện qua một Đạt Lai Lạt Ma, mà lễ Kalachakra đã hoành tráng trong buổi khai mạc sang nay

MINH MẪN
06/7/2011

NGƯỜI VÀ TA


Ngày 4/7, ngày lễ Độc lập của Hoa kỳ. lần thứ 235 năm.
Dưới quyền cai trị của vua George đệ tam. Anh bóc lột sưu thuế quá cao, 13 tiểu bang đương thời là những đại tư sản địa chủ, vì thế họ nổi dậy đòi độc lập.
(13 tiểu bang đầu tiên của Hoa kỳ: Connecticut, New Hampshire, New York, New Jersey, Massachusetts, Pennsylvania, Delaware , Virginia, North Carolina, South Carolina, Georgia, Rhode Island, Maryland).
Qua nhiều cuộc tranh đấu gay go, 1774, các đại biểu của 13 tiểu bang bấy giờ họp tại Philadelphia, được gọi là Quốc Hội Lục địa. Do tướng George Washington thống lãnh binh đội chống lại Anh quốc; 13 bang nầy trở thành 13 bang đầu tiên khi Mỹ độc lập với nước Anh. Nhưng mãi đến 1776, ngày 4/7 ký bản tuyên ngôn độc lập đến tháng 8 mới ra đời, tuy nhiên họ vẫn chọn ngày 4/7 là ngày độc lập quốc gia. ( tuyên ngôn Độc lập do Thomas Jefferson soạn thào cũng là vi Tổng Thống thứ ba của Mỹ). Việc hình thành một quốc gia rộng lớn gồm nhiều chủng tộc và trình độ khác nhau, chỉ trong vài thế kỷ, trở thành một quốc gia hùng cường, đứng đầu thế giới, là cả một vấn đề không đơn giản. Tuy Hoa Kỳ cũng từng xẩy ra nội chiến Bắc Nam, do Tổng Thống Abraham Lincoln đề xuất bãi bỏ chế độ nô lệ, nhưng tinh thần quân tử của tướng lãnh hai miền, Lee và Grant đã bắt tay nhau xóa bỏ hận thù để xây dựng đất nước. (Họ chưa hiểu gì về tinh thần quân tử của Khổng học như Việt Nam, thế mà cung cách xử sự giữa kẻ chiến thắng và người bại trận lại là trang sử đẹp đáng hãnh diện cho một đất nước cờ Hoa.). Từ giữa thế kỷ 19 đau thương đó, cho họ bài học lịch sử, chưa đầy một thế kỷ, họ vươn lên như một sức mạnh vũ bão giữa một tinh cầu đang nhiều biến động lúc bấy giờ. Ngày nay, dân số 295.734 tiệu, diện tích 9.629.091 km2, với một tinh thần dân chủ và chính sách đúng đắn đã đưa đất nước vào vị thế hàng đầu trên hành tinh về mọi mặt. Cho dù có những lúc gọi là khủng hoảng kinh tế, thất nghiêp gia tăng, mức thu nhập của người dân vẫn cao ngất ngưởng. Người dân bản xứ hay những người nhập cư, di trú đều hãnh diện là một công dân Mỹ. ( dĩ nhiên là cỏi ta bà thì không thể đòi hỏi mọi sự toàn thiện). Chính vì thế, ngày độc lập hàng năm, không những chính phủ tổ chức mà ngay cả các hội đoàn đều hưởng ứng rầm rộ với nhiều sắc thái của mỗi địa phương. Trong đó, một số người Việt cũng hồ hởi tham gia.
Đêm pháo hoa tại Hoa Thịnh Đốn, hàng vạn người có mặt rất sớm để dành chỗ. Bên bờ sông Potomac, cách ngọn tháp bút chì non 1km, anh chị câu lạc bộ nhiếp ảnh Việt Nam cũng chiếm cứ một vùng trên trăm người và người Mỹ các sắc tộc cũng có mặt như một ngày hội. 9giờ 15 tối pháo hoa mới bắt đầu, thế mà 5g sáng đã có người đến chiếm chỗ vừa làm cuộc picnic, vừa có nơi đậu xe và chọn khu vực ưu thế để chụp những tấm ảnh đẹp nhất.
Sáng ngày 4/7, đoàn diễu hành rầm rộ, trong đó một số người Việt cũng làm xe hoa tháp tùng. Có thể họ hưởng ứng như một công dân Mỹ vì đất nước đã cưu mang họ, có thể đó là dịp để thể hiện sự hoài vọng một thời quá khứ; một số khác họ lặng lẽ đau buồn làm thân lạc loài nơi đất khách, vui gì khi dân tộc mình chỉ là chốt thí trên bàn cờ chính trị thế giới, vì vậy họ muốn quên quá khứ. Cái gọi là đồng minh thì là đồng minh của chủ nghĩa thực dụng, đó là lẽ đương nhiên của bất cứ quốc gia nào cũng vì quyền lợi của đất nước minh. Một số trẻ em sinh trưởng và thành đạt trên đất Mỹ, họ không còn biết quê hương của ông bà cha mẹ mình là đâu, vì cuộc sống và được sự giáo dục của âu Mỹ, dĩ nhiên họ đã là người Mỹ; có những trẻ trên 18 tuổi mà nói tiếng Việt lơ lớ như người nước ngoài, vậy thì lịch sử của dân tộc họ cũng không thể am tường. Vì thế họ chưa đủ hiểu biết của một thế hệ kế thừa để xây dựng đất nước khi so sánh tính khác biệt : tinh thần mã thượng và tính hận thù giữa hai dân tộc. Một Tổng Thống tranh cử có thể nêu xấu đời tư của nhau, nhưng khi một vi đắc cử thì vị kia đánh điện thư chúc mừng và hợp tác làm việc. Kẻ giàu và người nghèo đều có nhà - xe và việc làm như nhau, chỉ khác nhau là chất lượng của tiện nghi vật chất, đúng là một xã hội chủ nghĩa không Cộng sản. Thậm chí những kẻ không nhà, chính phủ có chính sách an sinh xã hội rất tốt, họ tài trợ, đài thọ cuộc sống cho những người đó. Những ngày tuyết lạnh, họ đi khắp thành phố để mang kẻ vô gia cư về trú ấm trong nhà dành sẵn. Người thất nghiệp và về hưu, có chính sách hỗ trợ đãi ngộ. Cơ sở vật chất vô cùng hoành tráng. Trục lộ giao thông chằng chịt và mở rộng hàng ngày, vì mỗi năm có hàng triệu xe hơi cho tuổi trẻ đủ 16, thế nhưng tệ nạn ách tắc vẫn xẩy ra như cơm bữa. Nhìn chung, đất Mỹ là một thiên đường sống cho những người dân trong các xã hội đói nghèo. Nhưng, tiện nghi vật chất không đem lại hạnh phúc nếu người dân không tìm được suối nguồn tâm linh để cân bằng với đời sống vật chất quá tiện nghi.
Ta có hơn 4.000 năm văn hiến nhưng chưa có một kỳ tích về cơ sở vật chất đáng nói và chưa có một tinh thần thượng võ cao đẹp như một quốc gia non trẻ không đầy 300 năm lập quốc. Dân tộc nào cũng có lòng yêu nước, một dân tộc tạp chủng như Hoa kỳ mà người dân còn biết bảo vệ quốc gia với tinh thần thoáng đạt và độ lượng, thì Việt Nam ta, ảnh hưởng Tam giáo sâu nặng, hà cớ lòng hận thù dai dẳng để xã hội không có cơ hội đoàn kết gắn bó, chính vì thế mà đất nước luôn bị ngoại thuộc. Chúng ta thông minh can đảm nhưng không ngồi lại với nhau, vì mỗi người đều có cái ngã quá lớn. Chúng ta không chịu lắng nghe vì ai cũng bảo vệ cái biết của mình. Ai cũng ngờ vực lẫn nhau vì mình chưa tin chính mình. Tệ nạn tràn ngập vì đạo đức tôn giáo bị lạm dụng. Cuộc sống bất an vì chính mình chưa được an. Bao giờ đất nước chúng ta được an bình thịnh vượng? Vũ khí không hẳn là sức mạnh của một dân tộc. Bhutan là một đất nước nhỏ hẹp, dân số trên 600 ngàn, thế mà không bị đe dọa bởi ngoại bang. Tinh thần quần chúng đoàn kết nhờ một tôn giáo duy nhất là đạo Phật. Quá tin vào sức mạnh quân sự, khí tài thì luôn sống trong cạnh tranh, lo sợ khống chế lẫn nhau, vì thiếu tinh thần tự tin và đoàn kết quần chúng mà chất keo kết dính vẫn là tâm linh tín ngưỡng.
Phật giáo là một tôn giáo chiếm đa số trong nước, từng là chỗ dựa tinh thần cho dân tộc; trong quá khứ, Phật giáo từng thể hiện bổn phận đối với dân tộc, trách nhiệm hiện nay của Phật giáo là gì để gọi là đồng hành cùng dân tộc khi nghiệp vận đất nước như chỉ mành treo chuông? Người Phật tử trong cũng như ngoài nước đặt trọn niềm tin nơi đức Phật, họ nhiệt tình tinh tấn tu tập, nhưng người lãnh đạo tinh thần cho quần chúng là ai hiện nay???
Nhìn lại tinh thần hồ hởi của đại bộ phận công dân Hoa kỳ nhân ngày độc lập và họ hãnh diện một tuyên ngôn Độc lập- nhân quyền của Thomas Jefferson với lá cờ mà Francis Hopkinson đã đem đến một quốc gia phồn thịnh, văn minh, tự do đứng dầu thế giới hiện nay, là điều chính đáng vì các nhà lãnh đạo của họ sáng suốt, đưa đất nước thoát khỏi sự khống chế của Anh Quốc.
Người Việt tá túc trên đất người làm sao khỏi đau buồn khi mình không sinh ra từ đó, phải vui cái vui của người nhưng buồn cái buồn riêng của một thân phận tha phương. Dẫu quê hương mình có rách nát thì tiếng chuông chùa kết nối tình làng nghĩa xóm vẫn là nguồn an ủi cho tuổi già mà trên xứ sở thực dụng, họ phải đối mặt với viện dưỡng lão và nỗi cô đơn. Nhìn người rồi ngẫm lại ta vẫn còn nhiều băn khoăn trăn trở. \
Ôi, một quê hương Việt Nam luôn bị đọa đày, chinh chiến từ thời lập quốc đến nay; luôn là một gia tài rách nát và chia rẽ.
MINH MẪN
04/7/2011

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2011

PHẬT TỬ VIỆT KIỀU VỚI SỰ ƯỚC VỌNG.


Mùa hè nước Mỹ nóng không thua ở Việt Nam; vùng Hoa Thịnh Đốn đã như thế thì các bang gần sa mạc sẽ như lò bánh mì thôi. Nhưng ít ai phải chịu cái nóng như thế, vì trong nhà , máy lạnh 24/24, bước ra ngoài là lên xe cũng có máy điều hòa. Cộng đồng kiều bào không nóng bởi khí hậu nhưng nóng bởi nghiệp vận đất nước và vận mệnh Phật giáo.

Tin tức hàng giờ về tình hình biển Đông, về cuộc sống của ngư dân bị đe dọa, về tính ngạo mạn của Trung Quốc, về tính nhu mỳ tinh tế của lãnh đạo Việt Nam, về xáo trộn vô đạo đức của xã hội…Cộng đồng Việt Kiều tuy sống trên xứ hòa bình, nhưng luôn nóng lòng hướng về quê mẹ. Bên cạnh đó, sinh hoạt tín ngưỡng trên đất khách cũng làm bức xúc không nhỏ cho số phận của một tôn giáo truyền thống VIỆT NAM đang lan tỏa trên đất cờ Hoa.
Truyền thống tín ngưỡng ăn sâu vào máu huyết của người con Việt.Từ thưở khai hoang miền Nam, quần chúng đi đến đâu, tự động lập chùa đến đó. Tuy miền Nam Việt Nam trên 300 năm tuổi, đã có trên 15 ngàn ngôi chùa. Miền cao nguyên đất đỏ thưở nhà Ngô di dân lập ấp, đa phần người miền Trung tay lấm chân bùn, cũng tạo dựng những ngôi Tam Bảo thô sơ để thờ phượng mặc dù chưa có tu sĩ; họ tự chăm sóc và cùng nhau tu tập. Như thế cũng không lấy làm lạ khi những người dân, lập cư trên đất âu Mỹ, họ góp công tích của để xây dựng cơ sở thờ tự. Có những nơi chưa đáp ứng đủ điều kiện theo luật pháp Hoa Kỳ, họ tạm thời mua nhà dân để làm nơi thờ phượng.Có những chùa như Từ Liên, Atlanta, tuy diện tích 5 mẫu, xây dựng chưa có đủ khoảnh đất đậu nhiều xe hơi khi có lễ lộc, cũng chưa được sinh hoạt công cộng. Điều nổi bật số di dân người Việt theo đạo Phật, không những giới bình dân, mà ngay cả giới trí thức được đào tạo từ nền giáo dục của Mỹ như Bác sĩ, kỷ sư, chuyên gia…và một số sĩ quan thời Việt Nam Cọng Hòa, không xuất gia thì cũng là những tín đồ tại gia ngoan đạo. Những thành phần nầy tuổi ngoài 60, một khi họ hướng về Phật, họ gạt bỏ mọi tị hiềm chính trị, mọi bon chen thế gian để sống cuộc đời mẫu mực của một Phật tử tại gia. Có những em sinh viên, thanh niên du học, họ cũng tìm đến chùa cách xa hàng trăm km vào ngày nghỉ hoặc cuối tuần. Họ tự tìm học giáo lý qua website, băng dĩa và sách vở. Những thời khóa tu tập và các buổi giảng do các tu sĩ được thỉnh mời từ các bang xa xôi, họ tham gia nhiệt tình. Trên đất nước rộng mênh mông, người ở gần chùa cũng phải 15km, thường thì rất xa. Có những Phật tử bên Canada hoặc Úc, cũng bay qua tham dự các khóa tu do các danh Tăng hướng dẫn. Thường thì họ tham dự để nhìn đời sống thanh tịnh của Tăng sĩ, học hỏi thân giáo hơn là kiến thức Phật học. Tâm lý chung của các Kiều bào – xa quê hương, sau những ngày giờ chật vật với công việc, trống vắng lúc con cái không sống chung với cha mẹ khi đã tự lập, họ quá mệt mỏi với mọi sự quá khích, và những mất mát đau thương trong quá khứ như giấc mộng kinh hoàng, họ học thuộc bài học ngàn đời về sự vô thường của kiếp sống, họ quay về chùa như quay lại với niềm tin tiên tổ mong có điểm tựa và an ủi tâm linh, vì thế Tam Bảo là mỏ neo níu kéo họ giữa cuộc sống thực dụng của xã hội mà họ cảm nhận thiếu tình liên đới ruột thịt.
Số tu sĩ hiện diện chưa đáp ứng đủ với sự mong mỏi của quần chúng, và số lượng Tăng sĩ trên xứ người cũng thiếu nhất quán trên tinh thần Lục Hòa của đạo Phật. Nhiều khuynh hướng khác nhau do tác động thời cuộc, dẫn đến nhiều tổ chức Giáo hội khác nhau ra đời, vì thế Tăng đoàn Phật giáo hải ngoại trở thành những mảnh vỡ phản ảnh những bộ mặt dị dạng của Phật giáo Việt Nam. Trong khi các giáo đường Kito vắng bóng màu cờ chế độ cũ theo lịnh Vatican thì một số chùa Việt Nam vẫn còn bị áp lực một biểu tượng quá khứ đó đè nặng trong sinh hoạt cộng đồng. Quần chúng quá ngán ngẩm, chính vì thế họ trân quý sự tu tập và thuần túy tín ngưỡng tâm linh như một gia bảo của đời mình.
Một số tu sĩ trẻ bị cuốn hút bởi vật chất, một số ít danh Tăng hấp dẫn khá đông quần chúng bởi nhiều thủ thuật khác nhau do khéo che đậy được những vi tế trong Danh-lợi-tình. Có những vị hướng dẫn giáo lý chưa đủ nghĩa để tương thích với căn cơ thính chúng, cũng có vị đem cả lý số dịch học, địa sinh học của Trung Quốc vào dạy song hành với việc tu tập. Dĩ nhiên đó chỉ kích thich tính tò mò của đại chúng chứ không thể tương thích với giáo lý giải thoát của đạo Phật, Phong thủy, bói toán là thế gian pháp làm sao giúp quần chúng cần tu học xuất thế gian pháp? Chẳng những thế còn có thể làm chướng ngại việc tu tập. Những khóa tu học nơi giảng đường phải mướn từ các trường học hoặc các điểm công cộng, vì các chùa không đủ chỗ, và vị giảng sư như thế không phải cư dân địa phương mà họ đến từ các bang xa xôi khác, họ có đạo tràng, có máy móc quay phim, bán băng dĩa đi theo phục vụ như một dịch vụ doanh nghiệp. Có giảng sư xuất thân từ tông phái Đài Loan hoặc được tu học bởi các chân sư Tàu, khi giảng cho người Việt, mặc dù họ là người Việt, họ vẫn buộc thính chúng tụng đọc tiếng Tàu như họ, trong khi trên màn hình có cả âm Tàu, tiếng Anh và tiếng Việt. Một số hãnh diện thích thú khi tụng đọc tiếng nước ngoài, một số vị cao tuổi họ chỉ quen với kinh chữ Việt. có người không thích như thế. Trong thời khóa tu có cả hướng dẫn thao tác thể dục lấy từ trang mạng. Có người nói đùa – đến để nghe pháp tu học chứ đâu phải để tập thể dục, các khóa huấn luyện thể dục ngoài đời còn chuyên nghiệp và đầy đủ hơn thế, cần gì phải đến đây. Nếu học phong thủy địa lý thì tìm thầy chuyên môn mà học, chuyên nghiệp hơn kiểu qua loa không đâu vào đâu như vậy. Dạy tu học Phật mà xen tạp đủ loại pháp thế gian như cơm chiên thập cẩm như thế chiếm hết thời gian, làm giảm mục đích chính việc tu tập. Tìm những vị giảng chuyên sâu vào giáo lý quả là rất hiếm. Những vị chân tu thật học quá ít trong khi quần chúng tín đồ khát khao giáo pháp. Kinh tế thị trường và tiếp thị len sâu vào Phật giáo qua ngõ hoằng pháp. Chính vì thế, cộng đồng kiều bào mong có một tổ chức thống nhất Phật giáo để việc tu học không bị pha tạp. Việc nầy không bao giờ có, kể cả thời cực thịnh của Phật giáo, vẫn chưa có một sinh hoạt và tu học thống nhất. Phật tử trong nước ngao ngán tu sĩ thế nào thì ở hải ngoại, phần lớn tu sĩ cũng tạo sự thất vọng trước khát vọng của họ như thế ấy. Một ước vọng duy nhất của quần chúng hải ngoại là cần một tu sĩ chân chính, không bị vật dục cám dỗ, có thể không cần một Tăng sĩ có kiến thức uyên bác, không nhất thiết phải một kinh sư giỏi nghi lễ, cũng không hẳn phải là một tu sĩ giảng hay có sức ru ngủ; hình ảnh một bậc chân tu không nặng tiền của, không sống xa hoa, không tiền hô hậu ủng, không tư hữu quả là không tưởng đối với họ. Nói thế không có nghĩa là không có những bậc chân tu, vì họ chưa đủ duyên gặp thôi. Một số quần chúng thích âm thinh sắc tướng, chư Tăng đủ để đáp ứng, thích giảng sư hoa hòe hoa sói nói đùa mua vui mà không đi sâu vào giáo lý, cũng không thiếu. Muốn một giảng sư uyên bác kiến thức lại càng không khó. Những hình thái như thế, tín đồ hiểu đạo và chuyên hành trì công phu, họ không cần thiết. Nhu cầu của họ cần một Tăng tướng nơi thân giáo chứ không chỉ ở khẩu giáo. Rất may trên đất khách chưa xuất hiện dạng thầy cúng với giá cả không thương lượng. Trong xã hội Việt Nam, kinh tế thị trường có thể du di- thuận mua vừa bán, cò kè bớt một thêm hai, nhưng ma chay theo Ngọ thì không có vấn đề kèo nèo thêm bớt.
Quần chúng cũng xót xa khi thấy các sư Việt Nam sống xa hoa chung quanh quần chúng còn nghèo đói. Người không làm ra của cải mà hưởng thụ trên những của cải sang trọng. Trong khi đó, trách nhiệm hoằng truyền cho tín đồ đói pháp nơi vùng xa, vùng sâu lại không hề quan tâm, chuyện đó nhường cho ngoại giáo thực hiện. Chùa đua nhau phát triển như loại hình kinh doanh thời đại, đó không phải là tín hiệu một Phật giáo hưng thịnh, bởi lẽ tư chất của tu sĩ đang thiếu một nội lực cần thiết. Nếu một tu sĩ không có nội lực mà chỉ phát triển ngoại hình , tu sĩ sẽ là một trong những giai cấp thượng tầng của xã hội mà lịch sử tôn giáo thế giới đã từng kinh qua, như Bà La Môn từng là giai cấp giáo sĩ liên kết chặt chẽ với giới cầm quyền.
Quần chúng tín đồ tuy than vãn mà vẫn cứ nhắm mắt cung phụng những vị mà họ có cảm tình. Than trách giai cấp tu sĩ mà lỗi phần lớn chính phát sanh từ tín đồ mù quáng. Những thập niên 1930 khi cư sĩ đứng ra nổ lực chấn hưng Phật giáo để rồi sản sanh hàng loạt Tăng tài cung ứng cho giáo hội sau khi đất nước chia hai. Chính những Tăng tài đó đã đưa Phật giáo thoát khỏi ách nạn thời đại 1963. Sau 1975, các bậc cao đức lần lượt về với quá khứ, để lại một khoảng trống quá lớn cho Phật giáo Việt Nam, Khi các trường Phật học được phục hồi, học viện Phật giáo đã cung ứng cho Giáo hội một số rất ít những Tăng Tài giữa hàng ngàn Tăng ni sinh tốt nghiệp và hàng trăm tu sĩ xuất dương du học với một mớ bằng cấp cao ngất. Có lẽ lúc nầy cư sĩ phải tiếp tục gánh lấy trách nhiệm cùng với chư Tăng chấn hưng đạo Phật. Tín đồ không chỉ là người hộ pháp cung ứng vật chất cho Tam bảo, tín đồ vẫn là thành viên của Tăng già trong tứ chúng của đạo Phật, vì thế, Phật giáo hưng suy, tín đồ có một phần trách nhiệm. Việc cung ứng vật chất quyết định việc nên hư của các tu sĩ trẻ. Một tu sĩ vào đời được quần chúng cung phụng sùng bái như Thánh sống, họ sống trên của cải không do mồ hôi công sức họ làm ra thì tuổi non trẻ đó chưa biết trân quý tấm lòng của quần chúng và tương lai của một Phật giáo, vì họ chưa ý thức được trách nhiệm vô hình của một sứ giả Như Lai. Những tín đồ tại gia, trong nước cũng như ngoài nước, bản thân không dám tiêu xài, vợ chồng con cái cũng dè xẻn từng đồng để cúng dường chư Tăng; có người ở khu nhà ổ chuột, lao động chân tay, thế mà việc tiêu xài của một số Tăng sĩ, từ vật dụng nhỏ như cell phone, thuốc lá đến bất động sản, đều là những loại cao cấp trong xã hội. Một hành khất không dám ngữa tay xin tiền một tu sĩ ngồi trên xe đời mới lúc ngừng lại ngã tư. Vậy Tăng sĩ ngày nay là thành phần nào trong xã hội? Hình ảnh một thanh niên ăn chơi sa đọa, hưởng thụ phung phí trong một gia đình rách nát, nói lên tinh thần vô trách nhiệm với gia phong, , do gia đình dung dưỡng quá mức, một Tăng sĩ cũng thế, tín đồ cũng quá mức cung phụng mà không cần biết tu sĩ đó xử dụng đồng tiền vào việc gì cho Tam bảo.
Tệ nạn phần lớn ở đất Mỹ, tu sĩ nặng tâm vì tiền, vì thế bằng mọi cách phải có tiền, muốn thế, phải lập chùa, một khi có chùa là có bao nhiêu nhu cầu và áp lực khác về sinh hoạt xã hội và nghĩa vụ thuế má. Cái vòng lẩn quấn cuốn hút biến tu sĩ thành nhữung nhà sáng tạo kinh doanh không vốn. Thế là thủ thuật hoằng pháp, gây quỹ dưới mọi hìuh thức, khai thác tâm lý quần chúng một cách tinh vi mà ít ai biết. Giới trí thức Phật giáo luôn quan tâm đến nghiệp vận tôn giáo mình trên quê hương cũng như nơi đất khách. Họ vẫn ngồi lại mỗi khi có dịp, nỗi ưu tư được nêu ra nhưng chưa bao giờ có đáp án khả dĩ, vì muốn thanh lọc, canh tân trong giới Tăng sĩ, cần phải có một vị đủ uy đức; Tại Âu Mỹ, mỗi vị thượng thủ đều cát cứ một tổ chức, một giáo hội với những danh xưng khác nhau, không ai phục tùng ai. Trong nước, tuy có hệ thống Giáo hội duy nhất, những chức sắc càng cao thì uy tín càng thấp bởi thân giáo bất cập với ngôn hành. Tăng ni và quần chúng cũng thiếu niềm tin. Chính vì thế, phương cách canh tân nội tình Phật giáo của 1930 không thể áp dụng trong thời đại vật chất quyết định xã hội ngày nay. Cho dù kinh tế đại chúng của xã hội tư bản hay kinh tế thị trường định hướng theo xã hội chủ nghĩa cũng đều là cơn lốc cuốn hút mọi người con Phật chưa biết dừng lại. Tinh thần “Tri túc” của Phật giáo, các tu sĩ ngày nay chưa biết đâu là đủ thì “Tam thường bất túc” của một hành giả khó mà thực hiện.
Phát triển xã hội, phát triển tôn giáo…y cứ trên vật chất, lấy kinh tế làm thước đo thì việc chấn chỉnh Tăng thân cũng phải từ phương tiện vật chất song song với kế hoạch giáo dục. Nội tình giáo hội áp dụng giáo chế đối với tu sĩ thì hàng ngũ cư sĩ cũng phải biết điều tiết hợp lý trong việc cúng dường, bởi lẽ mọi sự cúng dường không phải đều là hợp lý khi mà người xử dụng đồng tiền không đem lại hiệu quả cho Tam bảo và giúp tu sĩ có một nhân cách xứng đáng. Xã hội Cọng sản xa xưa quản lý bao tử quần chúng để điều hành đất nước thì việc quản lý kinh tế chặt chẽ trong việc cung ứng cho tu sĩ cũng giúp cho họ biết xử dụng đồng tiền mồ hôi nước mắt của tín đồ, một cách hợp lý. Nội quy Làng Mai áp dụng cho Tăng thân cũng như các cộng đồng tu viện chân chánh của Phật giáo trong một số quốc gia đều hạn chế việc tư hữu, điều nầy giúp cho hành giả không vướng bận vật chất, chuyên tâm vào việc tu tập hiệu quả hơn. Luật Phật cũng không cho tu sĩ chất chứa tiền của ngoài “tam y nhất bát”. Khi có tư hữu là lòng tham phát sanh, từ đó bản ngã cũng tồn tại, cho dù vi tế. Một tu sĩ thuộc hàng đại gia thì việc tiếp xúc với quần chúng cũng khó mà bình đẳng, kẻ nghèo khốn, khó mà được thầy lắng nghe. Ngay cả một tổ chức nghiêm túc như Kito giáo Vatican, một vị thụ phong Linh mục đều có lời khấn về đức “ nghèo khó” thế mà các Linh mục Triều ở các giáo xứ “khó mà nghèo”, vậy một tổ chức lỏng lẻo như Phật giáo cũng không thể đòi hỏi tu sĩ tri túc nếu bản thân vị đó không tự giác. Tuy nhiên, cũng không thiếu nhiều bậc chuyên tu ẩn thân nơi rừng sâu núi thẳm và một số ở thị thành, vẫn giữ được đời sống thanh bần.
Tín đồ là người hộ trì Phật pháp, phải cung dưỡng Tăng ni, nhưng cung dưỡng thế nào để tu sĩ không hư hỏng, biết rằng bản chất hư nên cũng do nhân thân của tu sĩ, nhưng ngoại lực cũng góp phần quan trọng. Nếu ngoại hộ không tạo duyên thì cái nhân xấu cũng khó phát triển. Cái ưu tư cho tiền đồ Phật pháp ngày nay của phần lớn giới Trí thức Phật tử không chỉ than vãn với nhau mà phải gúp cho quần chúng bình dân có ý thức về việc hộ trì Tam bảo, trong đó vật chất là nền tảng phát triển mà cũng là nền tảng để hư hoại Phật pháp. Tại sao chư Tăng không nhập chúng mà mỗi thầy phải lập một ngôi chùa riêng biệt? Tiền của bá tánh bị phân tán mỏng như thế thay vì có thể đào tạo một tu sĩ hoàn chỉnh cả mặt kiến thức lẫn đạo đức hầu củng cố nội lực cho tiền đồ Phật giáo! Quyết định chỉnh đốn Phật giáo Việt Nam ngày nay trong cũng như ngoài nước, cư sĩ có một ý thức đóng góp rất quan trọng. Đó là lối thoát cần phải có.


MINH MẪN
Virginia 30/7/2011