Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2013

TALIBAN VIỆT NAM


Một độc giả vừa gửi youtube cho thấy Trưởng ban tôn giáo tỉnh Bình Phước đích thân ra lịnh đập phá tượng Phật và triệt hạ chùa tại núi Bà Rá,

Trên Youtube không cho biết sự kiện xầy ra vào ngày nào, nhưng đủ cho thấy sự  kiện vô cùng lạ, chưa từng xầy ra sau 1975 đến nay đối với Phật Giáo.

Đã từng có những giang hồ trá hình đánh đập tu sĩ, gần đây nhất cũng là tại Bình Phước, xã Đăng Hà, huyện Bù Đăng, tu sĩ Thích Ngộ Chánh, sau khi làm việc với xã, địa phương yêu cầu thầy di dời tất cả tượng thờ đi nơi khác mà không nêu rõ lý do, thầy không chấp nhận biên bản, sau đó giang hồ đến chùa đánh thầy mà không đuợc cơ quan an ninh đến can thiệp.

Giờ đây, cũng tại Bình Phước, Ban Tôn giáo Tỉnh lại ra lịnh chặt đầu các tượng Phật và BỒ Tát, đập nát nơi thờ tự tại núi Bà Rá. Chưa rõ nguyên nhân, nhưng dù nguyên nhân nào, chính quyền cũng không thể có hành động vô ý thức như thế.

Thời chiến tranh, khi du kích núp trong các nơi thờ tự của tôn giáo, máy bay cũng không nỡ oanh tạc triệt hạ cơ sở. Huống nữa lúc hòa bình, cho dù cơ sở xây dựng bất hợp pháp, Ban Tôn Giáo chỉ có quyền làm việc với Ban Trị Sự Phật giáo Tỉnh để nội bộ giải quyết.

 PHật giáo là một tổ chức hợp pháp được  nhà nước chấp thuận , một tôn giáo có hiến chương, làm việc và điều hành theo pháp lệnh tôn giáo và hiến pháp Việt Nam, thì hà cớ  chính quyền xử sự như một băng đảng vô ý thức như thế.
Việc làm trên đây đã gây bức xúc cho quần chúng và cư dân mạng trong ngoài nước khi nhìn thấy hành động rất ư dã man không thua Taliban triệt hạ các biểu tượng Phật Giáo tại Afghanistan.

Dĩ nhiên đây không phải là chủ trương của trung ương, nhưng khi Ban Tôn Giáo tỉnh hành động, cũng phải thông qua các ban ngành trong Mặt trận Tỉnh. Vậy yêu cầu Bộ Nội Vụ, Ban Tôn Giáo chính phủ, an ninh tôn giáo và các ban ngành hữu quan hãy gấp rút xem xét giải quyết thỏa đáng việc nầy để hạ nhiệt sự bức xúc của quần chúng.
                                                     MINH  MẪN
                                                        16/4/2013 

Thứ Bảy, 13 tháng 4, 2013

NHẠC SĨ PHẬT GIÁO : HẰNG VANG






HẰNG VANG – NHẠC SĨ TÀI HOA CỦA PHẬT GIÁO


Không biết anh  thâm nhập Phật giáo từ lúc nào, nhưng lúc còn là Oanh vũ, năm 1945  anh đã tham gia sinh hoạt đoàn thể  tiền thân của Gia Đình Phật Tử hiện nay.

Anh sáng tác nhạc rất sớm, và cũng giữ trường trai rất sớm. Thập niên 1955 của thế kỷ 20, cộng đồng Phật giáo đã biết và nghe tên anh qua nhiều nhạc phẩm mang đậm tư tưởng Phật giáo. Hiện nay số lượng tác phẩm do anh sáng tác và phổ thơ đã trên 500 bản. Anh và nhạc sĩ Lê Cao Phan là hai cội sen già trong vườn hoa Đạo Phật.

Đặc biệt toàn bộ gia đình, gồm 5 gái 4 trai, 19 cháu nội ngoại, con cháu dâu rễ đều  được quy y và sống rất đề huề, an lạc. Đây là gia đình Phật giáo kiểu mẫu thấm đượm chất Phật.

Tuy tuổi gần 80, anh vẫn miệt mài sáng tác, và sống thanh đạm đầy đạo vị trong một góc phố cao nguyên trầm lắng. Chẳng những là nhạc sĩ tài hoa,  anh còn là một tín đồ đúng nghĩa thể hiện lòng từ đối với mọi sinh vật, dù bé nhỏ nhất như cái kiến con sâu.  “Nội tướng” của anh cũng là một trong những Phật tử thuần thành và ủng hộ anh hết mực trong việc tu tập và sáng tác. Hiện hai anh chị sống trong căn nhà khá đầy đủ. Chị là gái Huế nên việc nội trợ gia chánh đều đạt chuẩn “cung đình”. Tuy có những bữa ăn đơn giản, nhưng hương vị không thể thiếu chất Huế. Như vậy, Huế không chỉ bàng bạt trong ca từ nhạc lý của anh mà còn thấm đượm trong bữa ăn hàng ngày do chị đem đến. Sống trên cao nguyên nhiều chục năm, nhưng chất Huế vẫn chưa phai theo màu đất đỏ.

Anh em đồng hương  trên cao nguyên có sự gắn bó thâm tình với nhau, nên khi anh Hằng Vang muốn tổ chức đêm “Huế trên Cao ngyên”, tất cả anh em ra tay hỗ trợ mọi mặt; lúc bấy giờ, Hằng Vang như trẻ thơ biết suy tư với ống pipe trên môi, đi tới đi lui trong sân cứ như con trẻ lăn lộn bơi giữa hồ nước mát.

Có gần mới thấy anh là người khá dễ mến, rất chân thành và hồn nhiên. Vì thế, từ gia đình đến xã hội, từ chùa đến đồng hương trên xứ cao đều quý mến anh, trang trọng anh hết mực.

Có lẽ hơi thừa khi nói về nhân thân Hằng Vang, vì gia tài đồ sộ nhạc phẩm anh để lại cho Phật giáo đủ nói lên gíá trị của một con người, nhưng cũng cần phải nói về con người mà Đạo và đời luôn gắn kết một cách nhuần nhuyển, nhẹ nhàng như tơ trời vươn nhẹ trên không gian cao nguyên, để ra đời những nhạc phẩm  như mây khói, như hương sen phảng phất êm nhẹ trong các chương trình thơ nhạc Phật giáo.

                                                       MINH MẪN
                                                         10/4/2013

PHƯỚC BÁU XÂY CHÙA


Từ xưa, những ai hiểu về Phật giáo, đều biết đến quan niệm một trong những phước báu, đó là tạo tự, cúng dường Tam bảo, bố thí, phóng sanh, làm chuyện công ích như xây cầu đắp đường, nuôi dưỡng cô nhi và phụ lão…

Trong các nước chịu ảnh hưởng sâu đậm Phật giáo, không những quần chúng mà ngay cả vua chúa, quan triều đều tích công góp của xây chùa lập miếu. Chuyện kể, vua Lương Võ Đế hỏi Tổ Bồ Đề Đạt ma: “Trẩm xây 72 ngôi chùa, có công đức gì không?” Tổ đáp: - “không có công đức gì hết”. Dĩ nhiên vua rất ngỡ ngàng.

Trong quá khứ đã như vậy, hiện tại cũng không thiếu các mạnh thường quân, các đại gia, thậm chí  một số lãnh đạo trung ương  tại Việt Nam cũng đã xã bỏ bớt một phần tài sản để tái thiết hoặc xây dựng  chùa chiền khắp  Trung Nam Bắc, ( hẳn nhiên đa số cũng chỉ cầu phước mà thôi; đồng tiền đen hay trắng là việc khác)..

Gần đây, thiên hạ xôn xao vụ đại gia Trầm Bê bỏ tiền trùng tu tái thiết bảy ngôi chùa ở Trà vinh, gắn liển với hình ảnh, danh tánh của môn nhơn gia quyến treo khắp chùa K’hmer. Có lẽ đây là lần đầu tiên xuất hiện hình ảnh quái gở như thế.

Các triều đại Phật giáo cực thịnh tại nước ta, các vua xây chùa, cúng ruộng đất để bảo tồn và phát triển Tam Bảo, cùng lắm là ban “sắc Tứ” cho một danh lam, chứ chưa hề để hình ảnh , gia tộc, địa vị của hoàng tộc trong các chùa.

Những năm gần đây, đại gia Hoàng phi Dũng ( còn gọi là Dũng Lò Vôi, Bình Dương) xây Đại Nam cũng không thấy để hình ảnh gia tộc vào đó. Ngoài Bắc có Đại gia Xuân Trường, xây chùa Bái Đính với quy mô lớn nhất hiện nay cũng không hề thấy tên tuổi của mình nơi ấy.

Và , một nước có trình độ thấp hơn Việt Nam như Lào, vua Setthirat, thế kỷ 16, cho xây ngôi chùa đầu tiên là Vat Si Muang (1563), Ngôi chùa thứ nhì được nói đến nhiều là Haw Phra Keo xây năm 1565, Ngôi chùa thứ ba được vua Setthathirat cho xây trên một ngọn đồi giữa các đồng ruộng ở Vieng Chan năm 1566 là Vat Pha That Luang. Ngôi chùa thứ tư được xây dựng năm 1560 ở Luang Prabang. Những hành trạng đó, trong chùa chưa hề thấy hình ảnh của vua và hoàng tộc nằm chểm chệ trong chốn trang nghiêm. Và Campuchea cũng vậy, chùa Vàng chùa Bạc nổi tiếng như thế, có công đóng góp không nhỏ của hoàng cung, thế mà, bức tượng Norodom  (1834-1904) cởi ngựa do vua Napoleon III tặng, đặt trên nền đất chùa, ngoài khuôn viên chứ không ở trong chùa. Ngoại trừ chùa của hoàng cung dành riêng cho gia tộc.

Và thời đại Asoka đại đế, có công chấn hưng và truyền bá Phật giáo, thế mà không có ngôi tu viện nào khắc tên Asoka. Thời Đức Thế Tôn hiện tiền,  tu viện Trúc Lâm  cũng như  những nơi mà các đại gia đương đại cúng dường, mọi người chỉ biết đến tên như ông Cấp cô độc, thái tử Kỳ Đà…chứ không hề có hình ảnh xuất hiện khắp chốn trang nghiêm.

Thế thì vấn đề đại gia Trầm Bê xuất hiện trước và trong chánh điện là một điều bất bình thường đối với Phật giáo. Lấy cớ rằng đại gia bỏ số tiền quá lớn nên sư sãi K’hmer và quần chúng đồng thuận để hình ảnh như vậy, nhưng xin thưa, tuy là chùa của người K’hmer nhưng  du khách  trong và ngoài nước  xem đó là cảnh quan tôn giáo chứ không phải chốn riêng tư của đại gia. Điều nầy không đáng trách Trầm Bê, vì dù sao một người trần tục vẫn còn dính mắc một chút danh lợi do chưa có hiểu giáo lý và chưa có hành trì tu tập; việc cúng dường để cầu phước báu và kiếm chút danh thơm trong cộng đồng Phật giáo , trong xã hội thì là việc bình thường. Điều đáng nói ở đây là các Hòa Thượng, sư sãi bản tự không giải thích cho các mạnh thường quân hiểu giá trị việc cúng dường, dù là bạc tỷ hay vài chục nghìn với tâm vô cầu, giá trị vẫn như nhau. Nếu bạc tỷ được ngang nhiên xuất hiện trong chính điện và những nơi tôn nghiêm thì nhà nghèo xem như kẻ đóng góp thầm lặng với niền tự ty mặc cảm của mình; Vậy Phật giáo bình đẳng chỗ nào??? Nhà chùa trọng giáu khinh nghèo hay sao???

 Chúng ta không phủ nhận công lao to lớn của các đại gia, nhưng giá trị đó hãy nằm trên bảng vàng ở một góc nào đó trong khung viên chùa như một kỷ niệm, Sự khiêm tốn đó sẽ tăng giá trị hơn là việc chạm khắc hình ảnh, tên tuổi gia đình mình ở khắp trong, ngoài chính điện, nơi tăng ni, phật tử lễ lạy, chiêm bái..

 Ban Trị Sự PG Tỉnh cũng cần điều chỉnh những chùa như thế để thể hiện đúng tinh thần  vô ngã của nhà Phật.

Hy vọng những phản hồi của cộng đồng, nhà chùa nên điều chỉnh sớm để hình ảnh tôn nghiêm của Tam bảo được bảo vệ. Và các đại gia rút thêm bài học về tinh thần tôn trọng Tôn giáo của quần chúng. Có như thế, phước báu xây chùa mới đủ ý nghĩa.
                                                            MINH MẪN
                                                              19/4/2013

Thứ Năm, 4 tháng 4, 2013

TÔN GIÁO VÀ CHÍNH QUYỀN


Tôn giáo và chính quyền là hai thực thể song hành, tùy thuộc lẫn nhau trong một số trọng trách và nghĩa vụ trong xã hội Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, qua Pháp lệnh tín ngưỡng, văn bản pháp quy và Hiến chương, cho thấy Tôn giáo vẫn có một số đặc quyền tự quyết nội bộ sau khi thông qua các cơ quan chức năng về nhân sự, nội dung tổ chức…

Tuy nhiên, không thiếu một số địa phương, việc nhập nhằng quyền hạn giữa tôn giáo và chính quyền vẫn tiếp tục xẩy ra. Nhất là sở Nội vụ, ban Tôn giáo thường lấn quyền những BTS yếu kém. Trong số đó, có BTS PG Hải Dương. ĐĐ Thanh Vân nguyên là Trưởng BTS PG Hải Dương, qua nhiều nhiệm kỳ tỏ ra thiếu năng lực và không đủ uy tín với Tăng ni, quần chúng. Trong nhiệm kỳ 7 của Đại Hội  Phật Giáo Tỉnh, đại chúng đề bạt nhân sự mới, ĐĐ Thanh Vân cũng như Ban Tôn Giáo tỉnh gây cản trở, vì không chấp nhận thay đổi nhân sự, vì thế, mặc dù TW GH đã hoàn tất đại hội, thế mà Phật Giáo tỉnh Hải Dương vẫn dẫm chân tại chỗ, vì vậy Phật sự không thể phát triển.

Theo tinh thần nhiệm kỳ 7: “kế thừa – đoàn kết và phát triển” thì Phật giáo Hải Dương hoàn toàn đi ngược; nếu chính quyền không can thiệp sâu vào nội tình Phật giáo thì BTS PG HD cũng không đi vào bế tắt như hiện nay.

Để mở gút, TW có thể cử đại diện về tạm thời đảm nhiệm trưởng Ban trong 6 tháng đầu, sau đó sẽ hợp thức hóa toàn bộ nhân sự theo yêu cầu của Phật giáo Hải Dương.
Một tôn giáo mạnh thì nhịp độ sinh hoạt xã hội sẽ mạnh, cán bộ chuyên ngành tôn giáo nên ý thức trọng trách và quyền hạn hiện có để Phật giáo Hải Dương được thông thoáng và cởi mở.

Ban Tôn giáo chỉ có nhiệm vụ điều hướng sinh hoạt của tôn giáo theo đúng chính sách chứ không áp đặt tôn giáo theo cá nhân của mình. Có như thế Tôn giáo mới phát triển  một cách tự nhiên và đóng góp cho xã hội được hiệu quả hơn.

                                                    MINH MẪN
                                                      28/3/2013

Thứ Tư, 3 tháng 4, 2013

HUẾ GIỮA CAO NGUYÊN


Đêm 24/3/2013, chương trình Thơ nhạc  với chủ đề: “HUẾ GIỮA CAO NGUYÊN”, do anh em đồng hương Huế tổ chức với sáng kiến của nhạc sĩ Hằng Vang. Diễn ra tại chùa Hồng Phước – Daklak. Có sự tham dự của Hội Đồng Hương  Huế tại Daklak và một số thân hữu từ Sài Gòn - Huế lên tham dự.

Người con đất Thần Kinh, cho dù tha hương nơi đâu, cho dù thời gian xa Huế bao lâu, trong tâm tưởng luôn canh cánh nỗi nhớ  một vùng đất mà mình vẫn tự hỏi, Huế có gì để nhớ để thương? Huế cũng như bao mãnh đất thân yêu khác của nước Việt, nhưng Huế có Hương giang lững thững như kẻ thất tình, Huế có núi Ngự như chàng trai ngồi đợi ai đó với dáng vẻ mộng mơ. Người dân Huế chẫm rãi thả gót chân trên phố vắng, không bon chen vồ vập chỗ đông người. Cảnh vật  thong dong như  áng mấy trôi không cần điểm đến. Đất Thần kinh khô cằn như đôi tay trắng của nông dân sau mùa thu gặt…thế nhưng, tất cả những thứ ấy đã sản sanh những nét văn hóa lưu lại muôn thuở. Huế có nhạc cung đình, có văn hóa ẩm thực bình dân quến khách, Huế có tính kiêu kỳ  kiều diễm; Huế có đò dọc ru khách vào mộng những đêm trăng thanh; Huế đã sản sanh lắm anh tài lịch lãm. Mỗi người dân là một nguồn thơ, giòng nhạc lai láng, vì thế không lạ khi Huế có nhiều nhạc phẩm níu kéo gót chân những người con tha phương lập nghiệp, cho dù ở chân trời góc biển nào, cũng tìm cách về hội nhập đất tổ quê cha một lần, chỉ để ngắm lại giòng sông, nhìn tháp Thiên Mụ, nằm dài ở dốc Nam Giáo, lắng lòng trong đồi cây Núi Ngự. Ai có ra đi rồi mới nhớ lại quê; ai đã một lần đến Huế mới thấu hiểu sự quyến rũ thầm lặng của xứ sở chỉ có chùa miếu, lăng tẩm, sông, núi …Chính vì thế, những người con xứ Huế trôi giạt vào Cao nguyên, muốn lưu lại cái gì đó lắng sâu trong tâm khảm, để cùng nhau hội ngộ, chia xẻ nỗi niềm viễn xứ, đêm thơ nhạc “Huế Giữa Cao Nguyên” được hình thành.

Những anh em góp phần cho đêm văn nghệ cũng chỉ là những tâm hồn nghệ sĩ, đóng góp bằng cái tâm chứ không phải cái chuyên của những nhà tổ chức sự kiện. Tuy luộm thuộm nhưng vẫn nói lên được hồn thơ và nét Huế. Rất tiếc, buổi hội diễn quá đơn điệu chỉ ca-ngâm mà không có một hoạt cảnh thay đổi không khí, và quan trọng – chỉ thể hiện được một vế qua các bài nói về Huế mà không cho khán thính giả thấy được chất Cao nguyên đang nuôi dưỡng tâm hồn Huế, hay nói cách khác – Huế sanh sôi nảy nở trên đất đỏ trù phú Cao Nguyên. Bài thuyết minh lịch sử  nước Việt qua các triều đại  quá dài, thiếu hoạt cảnh minh họa, làm cho khán thính giả chỉ ngồi nghe giữa cái lao xao chung quanh như đang chờ đợi một tiết mục hấp dẫn nào đó, diễn trường trở nên trống trãi lạ thường!

Điều đáng ca ngợi tinh thần của anh em đồng hương:
Sáng/3/13 nhà thơ Kiều Trung Phương và nhà thơ  VN Mai văn Hoan cùng nhà giáo Nguyễn Động (Kim Đông) lên Ngự Bình lấy đất, sau đó đến núi Ngự Bân (nơi Nguyễn Huệ lên ngôi tiến quân ra Bắc đánh đuổi quân Thanh lấy lại Thăng Long, thống nhất nước nhà) để cáo tế, lại qua Nghinh Lương Đình lấy nước sông Hương. Nhà thơ Mai Văn Hoan trao cho Kiều Trung Phương và nhiếp ảnh gia Thừa Thiên là Đỗ văn Tri đem lên Buôn ma Thuộc trao cho Ban tổ chức, chia cho Hội đồng hương  thờ kính.
Với tinh thần  tha thiết quê hương như thế thật cảm động, chỉ có những người con của Sông Hương núi Ngự mới thể hiện sâu sắc chứ không chỉ có nhạc và thơ!
                                                           MINH MẪN
                                                                02/4/13


                                                  

Thứ Năm, 21 tháng 3, 2013

TỪ LỰC - ÁNH SÁNG VÀ TỰ TẠI


Mọi tôn giáo chính thống, mọi trường phái tâm linh giải thoát, đều lấy lòng Từ làm nòng cốt. “Từ Lực” là năng lượng vốn hằng hữu trong vũ trụ; nó là sự tương quan kết nối mọi sinh vật hữu thể và vô hình, vì nó là lực hút hóa giải mọi ô tạp, đố kỵ, tỵ hiềm và ích kỷ.

Đối với Thánh nhân, chư Phật, chư Bồ Tát, các đại minh sư là hiện thân của một năng lượng vô biên và vô điều kiện. Các Ngài đến để phục vụ chúng sanh không điều kiện, không ngoài mục đích hướng dẫn chúng sanh trở lại hội nhập với tính thể uyên nguyên của chính mình.
“Từ lực” vốn là thể trong sáng, nhân hậu, khi chúng sanh gợn sóng vô minh. “Từ lực” biến thành “ái lực”, một tình thương có đối tượng, có điều kiện, tức có ích kỷ; Nguy hiểm nhất là tính vô cảm. Cho dù tình thương hạn chế trong gia đình, trong vật nuôi vẫn còn cơ may phát triển, nhưng con người không biết động lòng trước đồng loại hay hoàn cảnh đau thương nào đó, sẵn sàng ra tay sát hại bất cứ người và vật; lòng nhân không còn thì nói gì đến lòng Từ! Nói thế, không có nghĩa họ không có lòng Từ, nhưng vì ác nghiệp sâu dầy che án mất lòng Từ, phải cần thời gian học hỏi và được sự hướng dẫn, hoặc gặp một cơ duyên nào đó được “Từ lực” khai hóa.
Hành trạng của “Từ Lực”: Nguyên thể vốn như như bất động, nhưng có công năng chuyển hóa làm tan rã tính đông cứng của tâm thái vô cảm. “Từ lực” hiện tướng qua các bậc chân đức, minh sư, Thánh nhân, Bồ Tát… để chuyển hóa chúng sanh qua những phương thức hành thiện, bố thí, cúng dường, phóng sanh và Thiền định.
Các hành giả tâm linh dễ khai triển “Từ lực” nhiều hơn là sinh hoạt tôn giáo. Vì hành giả tâm linh loại bỏ tất cả giáo điều, giáo sản, giáo luật, giáo hội và vô số điều lệ của tôn giáo mà hành giả luôn trực chỉ chân tâm. Trong khi tôn giáo bị ràng buộc lắm giáo quy của một tổ chức, vì thế càng sanh thêm những trách nhiệm mà một hành giả tâm linh muốn rời bỏ. Một khi “Từ Lực” xuống cấp thành “lòng nhân”, tất phải có đối tượng để thực thi “lòng nhân” thì khai sanh ra công việc hành thiện. Công việc từ thiện trong tôn giáo cũng như tự phát của quần chúng không tôn giáo mang tính phong trào, mang tính vị tha, thậm chí trở thành thói quen thiếu cảm tính. Một chùa thường đi cứu trợ mỗi năm nhiều chuyến số tiền lên hàng tỷ, chi phí xe cộ vận chuyển nhiều hơn số tiền bố thí cho mỗi khẩu phần. Từ miền Nam ra Trung hoặc các vùng cao phía Bắc, chi phí vận chuyển rất lớn, người nhận thí phần không quá 500 ngàn (mươi ký gạo, thùng mì, đường sữa, dầu ăn, bột ngọt và 100 ngàn tiền mặt)… Đó là nguồn an ủi cho dân nghèo nơi vùng cao, vùng xa lây lất với số quà đó cũng được mươi bữa cho một gia đình, thế 20 ngày còn lại thì sao? Quần chúng thường ủng hộ các công tác cứu trợ như thế trở thành thói quen thiếu kiểm soát, thậm chí tạo cho dân chúng nơi đó có tính trông chờ, ỷ lại. Nghĩa là ta thường cứu nghèo chứ không phải cứu ngặt. Công tác từ thiện như thế vốn từ tấm lòng vị tha, nhưng nếu dùng suy nghĩ, sử dụng nguồn kinh phí đó, với bao tấm lòng đó, có hiệu quả hơn thì giá trị lòng vị tha sẽ nhân lên gấp bội. Trong khi đó, quanh ta, biết bao người tại thành phố, kể cả Phật tử đang cần một số tiền để cứu nguy mạng sống nằm chờ trong bệnh viện. Nói như thế không phải ta bỏ mặc đồng bào mình đang thiếu ăn. Hàng tỷ đồng mỗi năm, ta có thể tạo một nghề nghiệp cộng đồng cho địa phương với những nghề thích hợp từng bản địa mới xóa được kiếp ăn chờ sống chực. Nếu không thì công tác như thế chẳng hóa là muối bỏ biển! Vì thế lòng nhân cần đi đôi với ý thức.
“Từ lực” hóa thân thành lòng nhân thì năng lực cũng một phần bị suy giảm, cũng như tôn giáo biến thể từ nguồn cội tâm linh thì cũng mang lắm nhiêu khê trong cuộc sống. Một khi “từ Lực” hóa thân thì lòng nhân mang nhiều phản diện: - bố mẹ thương con bằng cách chiều chuộng, cũng có khi la mắng đánh đập cũng vì thương con. Một góp ý sửa sai với lòng tốt cũng có nhiều cách, hoặc khen tặng, hoặc nặng lời khích tướng cho đối tượng tự ái mà thay đổi. Không thể nhìn hiện tượng mà đánh giá, hãy nhìn thiện ý của kẻ hành động. Có khi ngọt lời nhưng ý thâm độc, có khi nặng lời nhưng ý tốt dựng xây. Và dĩ nhiên nặng lời mang tính thù hận không phải lòng nhân của tín đồ tôn giáo. Cái gì cũng có hai mặt:- thật và giả rất giống nhau nhưng khác nhau ở phẩm chất “lòng từ”.
Tín đồ một tôn giáo chân chánh, luôn có sự hiện hữu của lòng Từ đi đôi với sự thờ kính, vì vậy, Phật giáo thường bảo: “Phụng sự chúng sanh tức cúng dường chư Phật”. Chúa Jesus cũng từng hạ mình rửa chân cho tông đồ… Không những thể hiện lòng Từ còn mang tính bình đẳng. “Từ lực” vốn có đủ ánh sáng tuệ giác, nhưng khi chiết lược qua tâm phàm, biến thành “lòng nhân”, đôi khi trí tuệ bị giảm nên hành thiện thường khiếm khuyết và bị lạm dụng.
 Hành giả luôn đắm chìm trong Thiền định, tâm thức nâng cao, hòa nhập cùng từ lực vũ trụ, thì “Từ lực” luôn là ánh sáng, thân tâm luôn thanh thản tự tại và tuệ giác thường hằng. Do Từ lực mà chiêu cảm chúng sanh dễ hơn việc hành thiện mà tâm còn lắm ô trọc. (có nghĩa một hành giả tâm linh đạt một năng lượng “từ lực” cao tuy không bố thí tài vật, chúng sanh vẫn tôn kính, trong khi hành thiện mà thiếu công năng hành trì thì chỉ tạo được lòng biết ơn đối với kẻ thọ nhận, chưa chắc khuyến hóa có kết quả). Vì thế, trong xã hội luôn phức tạp, người tín đồ, ngoài việc hành thiện của “lòng nhân”, cần nâng cấp “lòng nhân” lên “lòng Từ” để rồi, trên con đường chuyển hóa tâm linh, sẽ biến tâm thức thành một “Từ Lực”. Lúc bấy giờ không còn phải vận dụng thế trí để phán đoán phân biệt đúng sai của hành động mà Tuệ tri luôn có mặt cùng “Từ lực” để hỗ trợ cho mọi hành động một cách tự tại thanh thản.

“Từ Lực – ánh sáng tâm linh và phong thái tự tại” là kết quả tất yếu  của mọi hành giả trên con đường tiến hóa giải thoát. Tín đồ tôn giáo không thể là người thừa hành tín ngưỡng mà là có trọng trách chuyển hóa tín ngưỡng tôn giáo thành hành giả tâm linh vì mục đích giải thoát; nhưng hầu hết chúng ta biến thành tín đồ ngoan đạo hơn, như thế thay vì muốn đến với tôn giáo để thoát khỏi hệ lụy thế gian, chúng ta lại tròng thêm vào cổ một cái ách mới, cái ách tín đồ cuồng nhiệt, thế là bị giam chân trong vòng xoay mới của cuộc sống thế tục. Đức Phật không muốn chúng ta là tín đồ thuần thành gọi dạ bảo vâng, Ngài muốn mỗi chúng ta theo chân Ngài tự thắp đưốc lên mà đi, vì Ngài từng bảo, không ai là thầy của chúng ta ngoài giáo Pháp của Ngài; kết quả của một giáo pháp là tràn đầy “Từ Lực – Tuệ giác và Tự Tại”.

                                                           MINH MẪN
                                                               21/3/13